Thursday, May 9, 2024

NÓI VỀ TÍNH CÁCH ĐẠO ĐỨC TRONG XÃ HỘI CON NGƯỜI

 

NÓI VỀ TÍNH CÁCH ĐẠO ĐỨC TRONG XÃ HỘI CON NGƯỜI

 

Trước khi nói về tính cách đạo đức bó buộc cần phải nói qua cái đẹp. Bởi chính cái đẹp và cái đạo đức có liên quan thiết yếu với nhau. Tính đạo đức là cái đẹp trong tâm hồn và cái đẹp là sự cảm nhận hay cái nhìn mỹ thuật bên ngoài. Cái bên ngoài thường là cái tai nghe mắt thấy hay cảm nhận bằng giác quan nói chung đó đều là hiện tượng vật lý khách quan mà ý thức hay tâm hồn con người tiếp nhận. Nhìn một đồ vật đẹp, một cảnh tượng đẹp, nghe một bản nhạc hay, cảm thấy bề mặt một vật thể nào đó thích thú, dễ chịu, đó đều là những cái đẹp ngoại diện, mang tính vật lý mà tâm hồn hay ý thức con người nắm bắt được.

 

Cũng tương tự vậy, đạo đức chính là cái đẹp về tâm hồn, nó hoàn toàn trừu tượng, một sự cảm thức khách quan tự nhiên nhưng không thể do đạc được bằng các đặc điểm hay tính cách vật lý như cái đẹp ngoại diện như từ đầu đã nói. Hay đạo đức cũng là cái đẹp, nhưng cái đẹp trừu tượng thuộc tâm hồn, không phải cái đẹp ngoại diện đầy tính chất cụ thể nơi mọi sự vật thực tế ý thức con người có thể tiếp nhận được. Tuy vậy nói chung lại mọi cái đẹp luôn luôn bắt buộc có sự cân đối, hài hòa, hữu lý, trật tự nào đó mà tâm hồn có thể chấp nhận được. Mọi cái bừa bộn, lộn xộn, vô trật tự, phi mỹ thuật đều không thể gọi là đẹp được. Đạo đức cũng vậy, cái đẹp đây là sự hài hòa, hữu ích trong đời sống, đáp ứng tính tốt đẹp về nhận thức, cũng chính là điều mà không ai chối cãi được.

 

Đạo đức là cái đẹp nơi tâm hồn, tức tâm hồn khách thể nơi biểu hiện và tâm hồn chủ thể nơi tiếp nhận. Người có đạo đức trước hết phải là người có tâm hồn đẹp, và người cảm nhận được tính đạo đức của người khác cũng phải trên cơ sở như thế. Đây chính là sự đồng điệu trước hết phải có như điều kiện hay ý nghĩa trước tiên và căn bản nhất.  Người có đạo đức thì thường tìm tới những người có đạo đức như một sự mong muốn hòa hợp hoặc hoàn toàn ngược lại cũng như thế. Tính hòa điệu không những là sự thỏa mãn tâm hồn mà còn là sự hữu ích, ích lợi chung cho cả cá nhân và xã hội. Cái đẹp đạo đức trước hết do tâm hồn mang lại, nhưng nguồn gốc sâu xa của nó chính là từ văn hóa giáo dục, từ truyền thống văn minh nhân loại mà con người từ ngàn xưa đã vốn có.

 

Loài vật không có tính đạo đức bởi vì chúng chỉ sống theo trạng thái hay xu hướng tự nhiên khách quan hoang dã. Chúng là chuỗi thức ăn lẫn nhau một cách tự động khi có yêu cầu đòi hỏi và sự thuận tiện mà không cần suy nghĩ gì khác. Trong khi đó các giống vật đã được thuần hóa từ lâu đời như gia súc, phần lớn chúng cũng được hòa điệu và có tình cảm gần gũi với con người, nhưng đó chỉ là thói quen cần thiết hay đẹp đẽ nào đó mà không thể mang ý nghĩa đạo đức đúng nghĩa như giữa con người lẫn nhau cũng như với xã hội con người theo kiểu khách quan, bao quát. Nên đạo đức chính là ý nghĩa tinh thần, mà thực thể này thì loài vật hoàn toàn không có. Bởi tính nhân văn, nhân bản là tính của con người, do bản thân con người và sự đào tạo giáo dục qua bề dày của lịch sử truyền thống là điều mà bản thân loài vật không thể nào đạt đến.

 

Nên đạo đức nói chung không những là cái đẹp, cái hòa điệu trong tâm hồn, mà còn là yêu cầu an toàn cho cả bản thân cũng như cộng đồng xã hội. Sống trong tình huống hay hoàn cảnh xã hội phi đạo đức cá nhân con người luôn cảm thấy bất an và xã hội nói chung cũng đều chông chênh như vậy. Có nghĩa đạo đức luôn luôn là giá trị thiết yếu của nhu cầu đời sống, là cái đẹp của cảm thức cá nhân lẫn cái đẹp hài hòa cho nhu cầu an toàn của xã hội. Cá nhân an toàn thì xã hội cũng an toàn hay ngược lại. Căn cơ hay ý nghĩa tự thân của yêu cầu đạo đức cá nhân cũng như xã hội vẫn là như thế. Con người chỉ cảm thấy an toàn khi sự tiếp xúc với đồng loại mình được hoàn toàn tin cậy, và sự an toàn này được bảo đảm cũng như được nâng lên thành sự hòa điệu chung, đó chính là giá trị và ý nghĩa đạo đức căn cơ nhất mà con người có được hay luôn luôn nhắm đến.

 

Vậy đạo đức là gì nếu không phải trước tiên là sự hiểu biết và tấm lòng thành thật. Sự hiểu biết là nấc thang giúp cho đạo đức được lên cao hay xuống thấp đều tùy theo mức độ hay bản thân của chính sự hiểu biết đó. Người có học nhiều dĩ nhiên ý nghĩa đạo đức cũng sáng tỏ hơn so với người ít học, nhưng điều này cũng không hoàn toàn chắc chắn lắm vì còn tùy vào cơ địa hay bản chất khuynh hướng bẩm sinh mà người đó vốn có. Nên kết quả cuối cùng của đạo đức là sự kết hợp của hai mặt, xu hướng bản thân và trình độ hiểu biết. Do vậy đạo đức không phải chỉ là sự thụ động học theo người khác mà là sự chủ động nắm vững được các nguyên lý để nhằm cư xử, hành vi theo tính tự giác và linh hoạt của mình. Càng sàng lọc và thấm đượm được những nguyên lý đạo đức căn cơ hay tinh vi nhất, đó mới chính là ý nghĩa, giá trị hay kết quả đạo đức mà một người có thể có được hay đạt tới được.

 

Thành đạo đức luôn luôn có ba phương diện mà một người có thể biểu hiện ra được. Đó là sự nhận thức sâu sắc và đầy đủ, đó là lời nói được công nhiên phát biểu ra, và cuối cùng là hành vi thực hiện nơi bản thân mình cũng như có liên quan đến người khác nói chung. Nếu sự nhận thức không đầy đủ, hành vi đạo đức cũng không trọn vẹn hay có khi chỉ là sự ngụy tạo hay giả dối. Nếu lời nói phát ra chỉ là quanh quẹo, không xác đáng, không trung thực, đạo đức đó có khi chỉ là sự giả dối, sự lường gạt. Cuối cùng hành vi đạo đức phải là hành vi mang lại kết quả thiết thực, cụ thể, không phải chỉ mang đến phản tác dụng, phi kết quả, tức kiểu chỉ man trá hay phỉnh gạt suông. Nên đạo đức chỉ có ở những tâm hồn chân chính và thành thật. Bất kỳ có sự giả dối nào, đó đều không phải đạo đức mà thực chất chỉ là đạo đức giả, một thứ hoàn toàn nhân danh hoặc giả hiệu. Đạo đức giả thì cũng bằng phi đạo đức hay phản đạo đức.

 

Nói khác đi, đạo đức thật sự luôn luôn phải theo đúng những nguyên lý khách quan bó buộc, không phải kiểu tự biên tự diễn có thể chỉ chủ quan hay dối gạt. Như không làm thiệt hại cho người khác là đạo đức, không dối gạt người khác là đạo đức, không làm gì phi phẩm hạnh tốt đẹp của bản thân mình là đạo đức, không làm gì đi ngược lại các giá trị và mục tiêu tốt đẹp của xã hội là đạo đức, tức đạo đức luôn phải đi đôi với cái đẹp, cái tốt, không thể nào theo chiều ngược lại. Vả đạo đức không những phải đi đôi với cái đẹp, cái tốt, mà còn đi đôi với cả sự hữu ích. Bất kỳ cái gì chỉ vô ích hay đi ngược lại tính ích lợi, thực chất vẫn đều không phải là đạo đức đúng nghĩa. Nên mọi sự phá hoại, sự tiêu cực, sự thụ động tai hại nào đó đối với bản thân, đối với người khác cũng như với toàn xã hội cũng đều không phải đạo đức. Cách đây đã nhiều ngàn năm, người xưa từng đưa ra một tiêu chuẩn hay nguyên lý đạo đức rất chân xác, đó là câu nói “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân”, tức bất kỳ điều gì mình không muốn người khác làm cho mình cũng không thể tùy tiện làm cho người khác.

 

Cho nên không ai bị mất của, bị lừa dối, bị sát hại, bị ức chế, bị nô lệ, thì mọi sự trộm đạo, ăn cướp, ăn trộm, gian dâm, lừa gạt, dối trá, sát nhân, bạo lực nói chung đều phi đạo đức hay phản đạo đức. Trong các điều này đạo đức cũng thường đi theo với pháp luật là như thế. Có điều đạo đức và pháp luật thường là hai phạm trù thực chất khác nhau. Đạo đức hướng về lương tri lương năng bên trong nội tâm, còn pháp luật thường khi chỉ là ý chí tập thể kiểu bề ngoài. Nên pháp luật đôi khi có thể sai vì ý chí chủ quan nhất thời nào đó, còn đạo đức vẫn luôn luôn đúng, chỉ trừ mức độ chính xác của nó như thế nào đó mà thôi. Nên luân lý đạo đức có thể thay đổi theo hoàn cảnh, ý nghĩa xã hội, nhưng đạo đức như nguyên lý, nguyên tắc thì ở xã hội nào cũng có dù tiềm ẩn hay công khai khác nhau. Ví dụ đấu tranh giữa cá nhân con người là điều luôn luôn có, nên tính đúng sai, hướng thượng hay hướng hạ, cao quý hay xoàng xỉnh là điều cần nên quan tâm tới. Trong khi đó đấu tranh giai cấp là điều chưa chắc đúng bởi vì nó còn nhiều điều mơ hồ và chưa có cơ sở thực tế khách quan nào cả.

 

Thế cho nên dùng đấu tranh giai cấp để gây hận thù giữa con người trong xã hội đó thực chất là phi đạo đức dầu có nhân danh bất cứ điều gì hay như thế nào mặc kệ. Nên bất kỳ cái nào không có cơ sở xã hội khoa học khách quan mà chỉ cảm tính, ý chí hay thị hiếu chủ quan, chưa chắc đã mang ý nghĩa, giá trị, hay mục đích đạo đức mà hoàn toàn có thể ngược lại. Thành ra đạo đức luôn luôn là ý nghĩa lương hảo nơi cá nhân con người cũng như xã hội loài người. Mọi ý thức quanh co giả dối, không trung thực, không lành mạnh, không lương hảo đều đễ dàng xa rời đạo đức, phi đạo đức, ngược lại đạo đức nếu con người không có đủ năng lực hay trình độ nhận thức để phán xét. Nên nói chung đạo đức luôn phải đi theo với lương tri, lương năng mà không thể mù quáng. Đạo đức là ý nghĩa chiều sâu của tâm thức lương hảo lẫn cả sự thể hiện, biểu hiện tốt đẹp ra nơi bình diện xã hội. Tính chất lý thuyết và tính chất thực hạnh của đạo đức mật thiết liên quan và cùng thể hiện ra trong cả hai chiều hướng đó. Nền tảng của đạo đức là trình độ và ý nghĩa nhận thức về đạo đức cũng như mọi giá trị cùng mục đích khách quan của nó.

 

Trong thời xa xưa, đạo đức chỉ thường đi liền với cảm thức luân lý, là giá trị truyền thống từ ngàn đời truyền lại. Mọi sự đúng sai hay dở ở đây đều đặt trên tiêu chí cảm tính cá nhân cũng như xã hội. Mọi cái gì đã được chắt lọc qua không gian và thời gian là đều tốt cho cá nhân và xã hội thì đều quan niệm đã trở nên tiêu chí đạo đức và không cần bàn cãi nữa. Bởi vậy đạo đức cũng trở thành cơ sở của pháp luật. Nhưng trong thời hiện đại, cả khoa học và chính trị đều trở nên thiết yếu, nên đạo đức cũng không thể xa lạ, tách rời mà còn gắn bó, gần gũi với cả hai điều này nữa. Nhưng trong khi khoa học bó buộc luôn phải là sự nghiên cứu khách quan vô tư chuẩn xác để tìm ra các nguyên lý, quy luật hướng dẫn tri thức đúng đắn và thực hành, ứng dụng hiệu quả trong thực tế, chính trị vẫn có thể nghiêng về ý chí chủ quan, nghiêng về lợi ích nhất thời của yêu cầu lợi ích thiển cận nào đó như điều thông thường vẫn đều hay thấy. Điều này chỉ làm cho chính trị dễ thành thiển cận, trong khi chính trị đúng đắn và hiệu quả nhất phải là chính trị khoa học, tức được thực hiện trong ý nghĩa và mục tiêu theo kiểu khoa học.

 

Thành nên đúng ra đáng lẽ chính trị phải luôn đi sát theo khoa học và đạo đức như là yêu cầu khách quan bó buộc cao nhất, nhưng trong thực tế nó thưởng hoàn toàn ngược lại. Chỉ bởi vì chính trị thường hay gắn với những tham vọng cá nhân cùng với những quyền lợi riêng biệt. Trong số các quyền lợi này cả quyền lợi tinh thần cùng vật chất đều luôn chủ yếu. Quyền lợi tinh thần như tham vọng công danh sự nghiệp, khuynh hướng quyền hành bản thân, quyền lợi vật chất như lợi lộc riêng tư, luôn luôn là những điều không thể tránh. Kiểu chính trị ý thức hệ như quyền lợi giai cấp hay cả mục đích hoang tưởng, hư tưởng đắm đuối, mơ mộng hoặc chỉ thuần túy nhân danh vẫn là điều trong thực tế thường thấy hoặc cũng rất dễ thấy. Đó là thực chất của mọi loại chính trị độc tài toàn trị, nó chỉ che đậy những quan điểm cá nhân duy ý chí hay diễn tuồng riêng biệt mà không phải đều đích thực đạo đức hay khoa học khách quan thật sự.

 

Trong khi đó chỉ có nền chính trị tự do dân chủ đích thực mới là nền chính trị đúng đắn vì khách quan thật sự. Bởi vì tự nó không đi ngược lại bất kỳ nguyên lý có giá trị tiên quyết, thiết yếu và khách quan nào, mà ngược lại luôn luôn phù hợp cùng thích ứng với chúng. Như nguyên lý bình đẳng giữa người và người, nguyên lý phát triển tự do không bị kìm chế ràng buộc, nguyên lý công bằng xã hội một cách tự nhiên, khách quan và thiết thực, nguyên lý bảo đảm tính khoa học kỹ thuật cách hiệu quả trong nhận thức và thực hành, nguyên lý nhân văn tôn trọng mọi giá trị tốt đẹp và mục đích chính đáng của con người, tôn trọng con người vì con người và vì ích lợi chung của toàn xã hội mà không nhân danh sai trái hay vì bất cứ những mục tiêu che đậy riêng tư nào khác. Ngược lại mọi ý nghĩa ý thức hệ này đều chỉ là tiền chế, chủ quan, cứng nhắc hay hạn hẹp. Nó chỉ có thể giả tạo, o ép, đóng khung xã hội một cách giả tạo, giả dối, kìm hãm, mà thực chất không giúp ích gì cho xã hội cũng như lịch sử nâng cao và phát triển.

 

Bởi vậy nghiên cứu mọi ý nghĩa, giá trị, và các nguyên lý khoa học khách quan, để càng ngày càng phát triển và đào sâu; nghiên cứu các giá trị đạo đức cá nhân và xã hội để càng ngày càng tăng tiến và mở rộng; đó là nghĩa vụ của tất cả mọi công dân thiện chí, sáng suốt và tài năng, trong bất kỳ phạm vi nào của xã hội, đều là điều luôn luôn cần thiết và hữu ích. Chính nền tảng tự do dân chủ trong xã hội mới bỏ đảm phù trợ cho kết quả đó mà không thể nào khác. Nâng cao dân trí, thúc đẩy mọi sự hiểu biết chính đáng trong xã hội đó mới là ý nghĩa và mục đích tốt đẹp của chính trị mà không phải ngược lại. Chính trong điều kiện tự do dân chủ của xã hội và sự hiểu biết rộng rãi của dân chúng mà vẫn tạo được nền chính trị hiệu quả và ổn định đó mới là tài năng của người lãnh đạo mà không phải ngược lại. Tức dùng sự độc tài toàn trị chặt chẽ để hãnh diện về sự ổn định nào đó đều là sự giả dối, kiểu vụng múa chê đất lệch, thực chất chỉ đều phản chính trị, phản đạo đức, phản nhân văn đúng nghĩa.

 

Chính vì thế đạo đức cá nhân và đạo đức xã hội luôn luôn thiết yếu và quan trọng đối với xã hội. Đạo đức cá nhân là phẩm hạnh tự có của cá nhân. Đạo đức xã hội là phẩm hạnh của người đó hướng về xã hội. Mục tiêu cuối cùng vẫn phải có nguồn gốc từ cá nhân và đã trở thành giá trị phổ biến chung cho toàn cộng đồng hay xã hội. Đó nói chung là bản chất thật, giá trị thật, nhưng không phải thuần túy chỉ là sự phô trương hình thức hay giả dối. Đặc biệt nó phải thật sự có ở những người đứng đầu xã hội hay cầm quyền chính ở một đất nước. Có vậy sự lựa chọn chung mới là đích thực và hiệu lực mà không phải kiểu áp đặt, giả tạo và bó buộc. Bầu cử tự do dân chủ thực sự trong một đất nước để lựa chọn ra những người cầm quyền đích thực và thực chất, đó mới là nền chính trị chân chính, do dân và vì dân, còn nếu không cũng chỉ là sự ngụy trị gian dối, giả dối, và cũng chẳng mang ý nghĩa hoặc giá trị gì chính đáng hay tốt đẹp cả.

 

NON NGÀN

(09/5/2024)

   

**

Wednesday, May 8, 2024

NÓI VỀ ĐẢNG PHÁI VÀ CHÍNH TRỊ

 NÓI VỀ ĐẢNG PHÁI VÀ CHÍNH TRỊ

 

Vấn đề chính trị là vấn để muôn đời của xã hội loài người. Loài vật ngay đến loài thực vật nhiều khi cũng sống thành bầy đàn như một yêu cầu sinh tồn do các hoàn cảnh hay tình huống nào đó, nhưng đó chỉ là phản ứng tự vệ theo chủng loài, không gọi được là chính trị. Chỉ xã hội loài người mới luôn mật thiết đến ý nghĩa và nhu cầu chính trị vì con người có lý trí, có trí tuệ, có văn minh, hiểu biết và văn hóa. Đây là điều không những làm cho chính trị luôn cần thiết mà còn chính đáng. Bởi chính trị thật ra chỉ là sự tổ chức và điều hành cuộc sống chung xã hội sao cho hiệu quả và tốt đẹp nhất. Trong lịch sử phát triển nhân loại, cho dầu các thể chế xã hội hay mô thức chính trị ra sao thì vẫn phải luôn có, luôn thay đổi và biến chuyển theo thời gian hoàn cảnh nhưng không bao giờ bất biến hay tồn tại cứng nhắc.

 

Thời phong kiến quân chủ, chỉ cần một cá nhân với lực lượng và sức mạnh nào đó riêng của mình đánh thắng và chinh phục được mọi đối thủ khác, cá nhân đó và lực lượng nhân sự của nó chiếm được toàn diện chính quyền và được lên làm vua, có khi làm hoàng đế trong một lãnh thổ rộng lớn kiểu như các đế quốc thế thôi. Câu ngạn ngữ được là vua thua là giặc luôn luôn thích ứng ở đây. Và một nước không thể có hai vua là điều thường vẫn chính đáng như thế. Có nghĩa chính trị là điều đi đôi với quyền hành là chuyện tự nhiên và khách quan, nhưng chính trị và quyền hành đó là tốt hay xấu tùy theo trường hợp lại là chuyện khác. Phù hợp và có ích lợi với hoàn cảnh xã hội là có chính nghĩa, còn không thì ngược lại thế thôi. Có chính nghĩa thì triều đại đó tồn tại dài lâu còn không thì ngắn ngủi. Dẫu nguyên lý khách quan ngày xưa là kiểu cách cha truyền con nối là điều thông thường nhất nhằm bảo đảm quyền lợi riêng có khi nhằm cả sự ổn định và an toàn chung.

 

Nhưng đến các thời đại về sau thì mọi sự việc đã dần dần hoàn toàn khác hẳn. Xã hội đã phát triển tiến bộ, lịch sử đã tiến lên, con người dần dà có sự hiểu biết sâu sắc và rộng rãi hơn, nguyên lý điều hòa xã hội cũng thành phải thay đổi khác. Mỗi cá nhân hay thành tố của xã hội càng ngày cảm thấy mình có quyền bình đẳng với mọi người hơn, chính trị trở thành nhẹ nhàng hơn, chỉ là sự quản lý xã hội nhằm lợi ích chung mà không còn là đặc quyền tuyệt đối cứng nhắc của bất kỳ ai hay lực lượng nào nữa cả. Bởi triều đại bây giờ là phải do toàn dân hay toàn xã hội quyết định và quản lý theo lý trí mà không phải bởi sức mạnh mơ hồ hày mù quáng nào đó áp đặt nữa. Đây chính là thời đại của dân chủ, của thể chế cộng hòa phổ biến mà không còn tùy thuộc vào vua chúa nào, nếu đó không kiểu chỉ nhằm biểu kiến như trong các chế độ cộng hòa kiểu đại nghị và các nghi thức hay hình thức vua chúa chỉ còn nhằm để biểu trưng hay làm vì.

 

Quyền mọi con người đều bình đẳng, quyền bầu cử ứng cử để lựa chọn những người tốt, tiêu biểu, có năng lực và có thiện chí để thiết lập chính quyền, đó là chính trị kiểu mới và thực chất đã tồn tại ổn định qua rất nhiều thế kỷ trong thực tế. Thể chế cộng hòa dân chủ thực chất đã thay thế hẳn cho mọi chế độ độc tài toàn trị kiểu phong kiến hay vua chúa xưa kia. Bây giờ không còn quyền áp đặt tùy tiện cho xã hội nữa mà quyền dân chủ tự do ứng cử bầu cử đã hoàn toàn chính đáng và chính thức thay vào đó và ý nghĩa chính đáng cũng như cần thiết của chính trị cũng đã được nâng lên tầm cao mới hiện đại và văn minh hơn. Bởi mọi người là bình đẳng, đã trở nên nguyên lý khách quan bất di bất dịch, nên chính trị phải gắn với quyền ứng cử bầu cử tự do là hoàn toàn chính đáng và thiết yếu, đó là nhu cầu khoa học và thực chất của xã hội mà không còn là bất kỳ mọi thứ quyền lực mù mờ nào như trước kia nữa. Bởi mọi cá nhân đều có quyền hạn và có trách nhiệm với toàn xã hội mà mình là thành viên trong đó đã trở thành một sự thật, một chân lý khách quan đương nhiên không ai được quyền phủ nhận hay đi ngược lại được.

 

Nhưng mọi sự tổ chức và điều hành hiệu quả trong xã hội đều luôn luôn cần thiết, xã hội nói chung hay xã hội trong từng khu vực đều luôn như vậy, nên mọi việc tuyển trạch người nhằm điều hành xã hội cũng luôn cần thiết như thế. Bất kỳ sự hình thành tổ chức nào dù nhỏ lớn người ta cũng dễ dàng quen biết nhau hơn, hiểu biết nhau rành mạch căn kẽ hơn, dễ kiểm soát và kết hợp nhau hiệu lực hơn, đó là ý nghĩa của sự hình thành ra các đảng phái chính trị hay gọi là các chính đảng là như thế. Nhưng đó chỉ là công cụ của chính trị chung, để nhằm giúp cho các yêu cầu ứng cử bầu cử mà không gì khác. Không thể có đảng chính trị nào tự mình cầm quyền chung dù bất kỳ lý do hay mục đích nào, mà nền chính trị tổng quát hay chung nhất phải là của toàn dân, toàn xã hội, vượt lên mọi cái riêng tư cục bộ để trở thành giá trị lớn nhất và có ý nghĩa bao trùm nhất. Bởi mọi đảng phái luôn có tính phe phái, đó là thực tế tâm lý và bản năng tự nhiên của con người khách quan, nên không thể có đảng nào được tự ý cầm quyền, mà đảng chỉ là tập hợp người nào đó giúp cho xã hội trong bầu cử ứng cử nhằm tạo ra chính quyền chung và quyền lực chung của toàn xã hội, đất nước vậy thôi. Đảng phái hay đi với phe phái đó là mặt tiêu cực của bất kỳ tổ chức phe nhóm nào kể cả đảng chính trị là điều cần phải luôn nhất thiết né tránh chúng.

 

Nên nói chung chính trị không phải là quy luật hay giá trị bất biến nào đó của xã hội mà chỉ là nhu cầu và mục đích linh hoạt, thiết thực của xã hội qua từng thế hệ, từng giai đoạn hoàn cảnh, từng mục đích thiết thực nào đó, qua từng thời kỳ, của tất cả mọi người hay toàn xã hội. Thế nên mọi chính đảng đều cần thiết và bình đẳng với nhau nhưng không được quá đà hay lạm dụng. Chính đảng nhiều quá thì thành hổn tạp và không cần thiết, chính đảng chỉ có một là điều phi lý, quái đảng và phản tác dụng đối với xã hội, nên thường chỉ cần vài ba chính đảng có ý nghĩa và giá trị thực tế là đủ, chí ít cũng hai chính đảng ngang ngữa để đối lập nhau tạo nên thế cần bằng, hiệu lực trong chính trị. Và mỗi chính đảng chỉ là quy luật vận động riêng của nó, nên nó chỉ là công cụ cho bầu cử ứng cử của toàn xã hội hay đất nước mà không thể có mục đích khuynh loát riêng tư của nó được. Bởi như thế là trái với nguyên lý, nguyên tắc khách quan tự nhiên, trái với mọi yêu cầu chính đáng tự nhiên của toàn xã hội.

 

Học thuyết Các Mác là học thuyết duy nhất nhằm vào đấu tranh giai cấp nên ngay từ tiên khởi nó chủ trương là đảng duy nhất, đây là loai đảng cầm quyền mà không còn là đảng nhằm giúp cho sự bầu cử ứng cử hoàn toàn dân chủ tự do của toàn xã hội. Mác tự mệnh danh đảng cầm quyền của mình là đảng của giai cấp công nhân, là đội tiền phong của giai cấp công nhân vô sản nhằm lãnh đạo, thúc đẩy toàn xã hội đi lên hay tiến đến vô sản. Đó chỉ là quan điểm hay tư tưởng riêng tư của cá nhân Mác hay đôi người theo Mác, nhưng có gì bảo đảm đó là chân lý khách quan hay thiết yếu của toàn lịch sử xã hội. Chính đây là điều cho thấy tính mê tín và tính độc đoán trong tư duy của Mác. Nó trái với nguyên lý mọi người đều bình đẳng là nguyên lý khách quan tự nhiên nhất, trái với nguyên lý lịch sử chung là không bất kỳ cá nhân hay đoàn nhóm nào có thể tiền chế ra nó được, không thể có quyền định khung tùy tiện cho nó được, mà lịch sử là lịch sử phát triển đi lên của cả chủng loài, không bất cứ một ai có thể o ép, quyết định riêng tư về sự phát triển khách quan, tự do, chính đáng và cần thiết, thiết yếu của toàn lịch sử.

 

Bởi vì không bất kỳ ai có thể nhân danh riêng mình về bất kỳ điều gì cả. Làm sao có thể tin tưởng ngôn ngữ bề ngoài của mọi con người. Làm sao tin tưởng ở ngôn ngữ trong khi cái quyết định nhất chính là các tính chất nội hàm của cá nhân đó. Bất kỳ đảng phái nào, nhân danh giai cấp nào, lấy nền tảng khách quan nào để có thể làm tin tưởng được vào điều đó. Bởi mỗi người đều có thể có những tình huống đặc thù nào đó của cá nhân mình, làm sao mọi ngôn ngữ bề ngoài luôn bảo đảm cho người ta tin chắc được, lại còn sự trà trộn của những kẻ thời cơ, cơ hội vào thì sao, đâu có thể tránh hết được. Nên quan điểm của Mác đảng duy nhất lãnh đạo là hoàn toàn mù quáng và thiếu cơ sở khách quan khoa học. Vả chăng quan điểm về tính biện chứng, tự cho xã hội tư bản phải tự chôn, đảng vô sản tất yếu lãnh đạo lịch sử chẳng qua kiểu quan điểm cuồng tín, bất chấp chân lý và lịch sử khách quan, chỉ ru ngủ quần chúng mê muội, mà phản lại lịch sử, phản lại mọi sự phát triển đi lên của toàn xã hội.  

 

Trong khi nhu cầu phát triển lịch sử cũng là nhu cầu về quyền hạn của mọi cá nhân cũng như nhu cầu về mưu cầu hạnh phúc chính đáng của mỗi cá thể con người, cũng như toàn xã hội. Đó là ý nghĩa cho sự phát triển lịch sử chính đáng và khách quan nhất, mà không thể bị o ép tùy tiện, hay phải theo bất kỳ công thức đã được tiền chế kiểu mê tín dị đoan, hay độc đoán hay hoang tưởng nào hết. Bởi làm như vậy, cũng là tướt mất mọi nhân quyền chính đáng của mỗi cá nhân thành viên, cũng như của toàn xã hội, tức đất nước liên quan. Công thức của Mác nhằm thực hiện kiểu một mô thức một xã hội không có giai cấp chỉ có thể là điều hoang tưởng và không thực tế. Bởi đẳng cấp luôn luôn là sự kiện bên trong lẫn bề ngoài của mỗi cá thể tự nhiên về nhiều mặt và giai cấp xã hội cũng chỉ là một hệ lụy kiểu như thế. Một hạt cây lúc đầu là đồng nhất tính tuy dầu cũng đã có cấu trúc vi mô nhất định bên trong. Rồi hạt nẩy mầm và phát triển ra cây to lớn với mọi cành lá xum xuê rậm rạp đó là nhu cầu và kết quả khách quan tự nhiên của cây là điều không thể nào khác được. Xã hội loài người cũng vậy, mọi sự phát triển không thể nào quay ngược lại khởi điểm ban đầu là quy luật khách quan và chắc chắn nhất. Xã hội cộng sản nguyên thủy kiểu hái lượm ăn chung làm chung không có tư hữu riêng là thực tế đã bị vượt qua hàng vạn năm qua ở trong lịch sử phát triển của xã hội loài người thì không bao giờ có thể quay lại được nữa, đó chỉ là điều ngụy biện ngang trái và hoàn toàn phi lý, xuẩn động của Mác.

 

Vả chăng lịch sử xã hội mọi mặt chỉ có tiến tới mà không thể quay lui. Tiến tới bằng lý trí, bằng trí tuệ, bằng khoa học kỹ thuật khách quan mà không thể quay lùi theo cảm tính, theo bản năng hoang dã nào cả, đó chỉ là sự mê tín ngớ ngẩn, sự cuồng tín đen tối, chỉ có tính phản động mà không thể nào và không bao giờ là sự tiến lên hay sự phát triển khách quan, chính đáng và cần thiết của toàn xã hội. Nên chính nguyên lý tự do dân chủ mới là nguyên lý đã trở nên thiết yếu và chính đáng hiện đại của toàn xã hội mà không còn ý nghĩa hay giá trị độc tài theo bất kỳ phương diện hay khía cạnh thời xa xưa của trạng thái xã hội còn nhiều lạc hậu trong quá khứ được nữa. Nguyên tắc tự do dân chủ khách quan đi theo với nguyên tắc tam quyền phân lập là quy luật cơ bản, thiết yếu, cần thiết nhất mà xã hội loài người đã tìm ra, cũng như loài người đã tìm ra cơ chế của thị trường và của tiền tệ trong xã hội tư hữu và tư bản là thiết chế khách quan và hiệu quả trong xã hội là điều không thể nào chối bỏ được. Mác chủ trương một xã hội không có tư sản, không có giai cấp, không có tư hữu chỉ là điều hoàn toàn không thực chất, không thực tế, phản lại mọi khách quan tự nhiên mà xã hội con người cũng như vạn vật đều phải có, chỉ là điều hoàn toàn phi lý và quái đản vốn chưa hề từng có trong lịch sử quá khứ về mọi mặt. Lại nữa ý nghĩa mặt trái của xã hội cũng như cá nhân có thể vẫn hàm chứa yếu tố xấu, yếu tố tiêu cực nào đó, như là điều mà Mác chủ quan hay nông cạn chỉ coi thường hay không hề nghĩ đến. 

 

Nên nguyên lý hay nguyên tắc độc tài vô sản của Mác là nguyên lý phản khách quan tự nhiên, phản xã hội và con người và phản cả nhân văn mà không bất kỳ ai có thể chấp nhận, ngoại trừ sự cưỡng chế phi lý bắt buộc xã hội phải cam chịu, mà Mác chính là một nguyên nhân từng gây tác hại. Một sự phản động trắng trợn lại tự nhận là cách mạng chính là một lỗi lầm hay kể cả tội ác của Mác đối với toàn xã hội loài người trong quá khứ bởi nó từng gây ra bao nhiêu hậu quả và hệ lụy suốt gần một thế kỷ ở nhiều nơi mà không ai phủ nhận được. Cách mạng kiểu xóa bài làm lại, đốt rừng trồng lại, thực chất chỉ là kiểu điên gàn, trái nguyên lý, trái phương pháp khách quan trong thực tế, chỉ là điều phi lý và hoàn toàn hư tưởng mà Mác đã phạm phải. Một công việc mà hoàn toàn không tới đâu chỉ đưa lại mọi sự hoang phí cho con người và cho lịch sử, đó là chủ trương hay chủ thuyết hoàn toàn hoang tưởng, hư tưởng, chẳng mang lại lợi ích gì mà chỉ gây kìm hãm xã hội mọi mặt, chỉ gây phá hoại cho xã hội và lịch sử qua một thời kỳ trong quá khứ rồi chắc chắn phải bị đào thải mà không thể gì khác. Bởi khía cạnh tiêu cực tột cùng của học thuyết Mác là khía cạnh hư vô chủ nghĩa lẫn mục tiêu vô chính phủ là điều hết sức trái trớt và phi lý nhất đối với bản thân con người cũng như đối với xã hội và lịch sử.

 

Trong khi đất nước ta qua gần trăm năm bị thực dân Pháp đô hộ, cả dân tộc bị mất chủ quyền, người dân không có nhân quyền về nhiều mặt, đó là điều hoàn toàn đáng tiếc. Nhưng sau khi đánh đuổi người Pháp bằng bao nhiêu máu xương hao phí nhất lại rơi vào vòng khống chế ý thức hệ hoàn toàn phản khách quan tự nhiên lại là điểu uổng phí không kém. Đó là một thực tế đáng buồn của một đất nước và dân tộc từng có lịch sử oanh liệt hàng ngàn năm trong quá khứ cũng thật sự là điều hết thức tiếc rẽ. Lỗi lầm này chính là do đất nước và nhân dân Nga đã gây ra ở nhiều nơi cho nhân loại trong suốt thế kỷ 20 mà tới bây giờ nhiều người còn chưa nhận ra được và trong đó có hệ lụy của chính nước ta. Thật sự chân lý của thế giới hay của lịch sử loài người luôn luôn chỉ là một, đó chính bởi thực tế khách quan đòi hỏi mà không phụ thuộc vào bất cứ cá nhân nào hay đoàn nhóm phe phái nào. Dùng sự tuyên truyền cố ý chủ quan để xuyên tạc lịch sử, để bẻ quặt lịch sử khách quan đều có thể nói là tội lỗi hay tội ác đối với dân tộc, đất nước mình cũng như đối với toàn nhân loại trong bất cứ thời đại nào cũng vậy.

 

Bởi trong thế gian này chỉ có con người là trên hết, chỉ có toàn thể loài người là trên hết, đó là sự thật mà không phải bất kỳ cá nhân nào, đoàn nhóm nào, sự kiện nào, hay lý thuyết nào có thể thay thế vào đó được. Bởi mọi cái cá lẻ đều không thể thay thế vào những cái chung nhất, mọi sự kiện đặc thù riêng biệt đều không thể thay thế vào cho khách quan lịch sử bao quát, rộng rãi nhất. Đó là nguyên lý và ý nghĩa khác biệt giữa dân chủ tự do và độc tài mọi loại là đều như thế. Con người cá nhân luôn luôn dễ có ngôn ngữ giả dối và ý đồ đen tối nào đó là điều khó có thể tránh được. Cho nên nguyên lý xã hội dân chủ tự do, nguyên lý tam quyền phân lập để chế ngự nhau, để kiểm soát nhau là điều nền tảng cần thiết không bao giờ có thể đi ngược lại được. Bất kỳ mọi ý đồ đi ngược nào chỉ có thể là ngụy biện và dối gạt mà không thể nào khác. Xã hội con người không thể chỉ dùng bản năng, cảm tính hay thị hiếu nhất thời chủ quan vẫn phải luôn là yêu cầu bó buộc và chắc chắn nhất. Bởi quần chúng số đông vẫn luôn là thực tế đàn bầy dễ tính nhất, thụ động nhất và dễ bị chế ngự, dẫn dắt nhất. Do đó xã hội luôn luôn cần những thành phần tinh hoa cho những trường hợp và giai đoạn thời kỳ nhất định. Nhưng trên nhất vẫn là những nguyên lý khách quan khoa học chắc chắn nhất mà không phải chỉ hiểu biết hay nhận thức chủ quan. Chính vì thế mà bất kỳ xã hội ngu dân nào theo kiểu bầy đàn, hay bất kỳ cá nhân nào chủ trương điều đó vì quyền lợi bản thân sai trái của riêng mình đều không thể chấp nhận được, chỉ vì nó luôn luôn trở nên rào cản, trở thành sức mạnh phản động mà không thể bất kỳ xã hội tiến bộ, dân chủ tự do và nhân bản phát triển trong sáng nào có thể mù quáng chấp nhận theo cách hoàn toàn tiêu cực và thụ động theo cách đó.

 

TIẾNG NGÀN

(08/5/2024)

 

**

Tuesday, May 7, 2024

NÓI VỀ Ý NGHĨA VÀ VAI TRÒ CỦA CÁ NHÂN TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI

 

NÓI VỀ Ý NGHĨA VÀ VAI TRÒ CỦA CÁ NHÂN

 TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI

 

Cá nhân mỗi người, hay từng cá thể trong xã hội, vốn vẫn luôn là yếu tố nền tảng hay cơ bản  phải có cho mọi sự phát triển của lịch sử xã hội khách quan tự nhiên, không ai có thể phủ nhận được. Coi tập thể mới là nền tảng chỉ là sự lệch lạc, sai nguyên lý khách quan, vi tập thể lấy đâu mà ra nếu không có những thành tố cá thể được tập hợp lại. Đây là nguyên lý chung của mọi sự vật và tất nhiên xã hội của loài người cũng vậy. Chất lượng của tập thể là do chất lượng từng cá thể quyết định, đây là quy luật của số đông mà không phải chỉ số đông mang mang tính định lượng thuần túy. Coi nhẹ hay quên vai trò của cá thể tức cũng là coi nhẹ con người, coi nhẹ mục tiêu nhân bản, coi nhẹ cá nhân như là mục đích của chính nó, trở thành sai ý nghĩa và sai cả nguyên lý.

 

Bởi thật ra mỗi cá nhân là gì, không phải chỉ thuần túy thân xác mà thật ra là đầu óc hay ý thức nằm trong nó. Mỗi cá nhân con người đều cao hơn mọi cá thể loài vật chính là mang ý nghĩa ở đó. Thân xác tự nó không suy nghĩ được nhưng chính là đầu óc hay não bộ suy nghĩ, nhận thức cho nó. Xác thân chỉ là cơ cấu vật chất hay sinh học, ai cũng như ai, mọi sinh vật đều tương đối giống nhau như thế cả, nhưng sự khác nhau là ở nhận thức, ở ý thức, ở hoạt động óc não mà mới phân biệt được người này và người khác, không phải ai cũng giống ai là hoàn toàn như thế. Con người có hiểu biết học thức, con người có lương hảo đạo đức, con người có ý chí thăng tiến hay hướng thượng, con người có trí thông minh và sáng suốt, nói chung con người hay dở hoặc tốt xấu, đều thuộc về năng lực hay cả tiềm lực của người đó, đây là ý nghĩa nhân bản của con người và xã hội mà không ai có thể vượt qua hay xem thường được.

 

Nên sự đào tạo hay giáo dục mỗi cá nhân ngay từ đầu là một việc làm luôn luôn cần thiết. Mỗi cá nhân đều phụ thuộc vào nền giáo dục hay kết quả giáo dục mà nó được hưởng. Sự tương tác giữa hai bên hay hai phía ở đây luôn luôn là điều khách quan tự nhiên không thể tránh được. Không bao giờ là sự kết quả xa cạ mà luôn có sự phân biệt tùy theo ý nghĩa cá thể mỗi người. Chính tài năng riêng của mỗi cá nhân sẽ góp phần vào kết quả chung của toàn xã hội mà không gì khác. Ở đây cũng nói lên ý nghĩa về thành phần tinh hoa của xã hội, như là kết quả cuối cùng chọn lọc, tinh luyện nhất mà số cá nhân nào đó có thể mang lại cho xã hội vào những thời điểm, những giai đoạn nào đó mà không phải tất cả mọi cá nhân khác đều có thể làm được. Tính số lượng hay chất lượng của đám đông chính là sự dị biệt ở đây mà không phải số lượng tạo nên chất lượng mà có thể có một số người mù quáng nhầm lẫn. Lượng biến ra chất chỉ là cách nói, cách nhận thức mơ hồ mà trước đây có một số người thiển cận vẫn nhận thức một cách càn dở.

 

Thế cho nên nơi con người chính ý thức, nhận thức, hay nói chung hoạt động tinh thần là điều quan trọng nhất. Cây cỏ không biết nhận thức hay chỉ nhận thức mơ hồ, loài vật có nhận thức nhưng chỉ thấp kém không vượt lên được bản năng, nên chỉ có nơi con người, sự nhận thức, ý thức mang tầm cao hơn, khả năng chọn lọc mang ý nghĩa, giá trị và nội dung tinh thần cao hơn, đó mới chính là điều đáng nói nhất. Con người có văn hóa, có văn minh, có nhân cách, nhân phẩm, có tôn giáo, triết học, nghệ thuật và khoa học, đó chính là đặc trưng nổi bật nhất của nhân loại, đó chính là điều phải cần luôn xem xét và không khi nào coi thường hay chối bỏ phủ nhận được. Tính cách duy tâm hay duy vật về con người và xã hội chính là điều thực tế và thiết thực nhất cần nêu ra ở đây mà không thể chỉ mông lung, nông cạn hoặc hời hợt. Đây cũng chính là cách phân biệt về hiện tượng và nội dung mà thế giới loài người bắt buộc phải có và cần có trong đời sống thực tế cũng như lịch sử xã hội.

 

Thân xác hay vật chất không thể có chiều sâu, nhưng tinh thần con người có chiều sâu vô hạn, đó là điều nhất thiết cần phải phân biệt. Thân xác nói cho cùng chỉ đi đến các tế bào, vật chất nói cho cùng chỉ đi đến các phương diện lượng tử, nhưng tinh thần con người thì đi đến mọi phạm vi lý trí, trí tuệ, và vô vàn khả năng hay năng lực nhận thức khác nhau, đó mới chính là điều đặc biệt đáng nói đến nhất. Chính ở đây mà tinh thần hoàn toàn khác vật chất. Vật chất luôn luôn chỉ là thứ chất liệu khách quan nào đó, trong dạng thể nào đó, không bao giờ có tính ý thức, không tự nhận thức về nó cũng như không thể nhận thức được về mọi cái khác với nó, nhưng tinh thần con người thì hoàn toàn ngược lại, nó luôn luôn có nhận thức tính, có chủ thể tính, có ý thức tính, có ý hướng tính, hoàn toàn trừu tượng không thể nhìn thấy ra được, còn vật chất luôn hoàn toàn cụ thể, dầu dưới dạng nào cũng bắt buộc có thể được nhận biết hoặc tực tiếp hay gián tiếp. Vật chất không bao giờ có chủ thể tính, đó là điều khác biệt lớn nhất so với tinh thần, cho dầu đôi khi tính chất của vật chất cũng có thể là trừu tượng.

 

Nên mọi cá nhân luôn luôn tự nhận biết, nhận thức về mình, về người khác, cũng như về xã hội. Đây là tính nhân văn trong cuộc đời hoàn toàn không thể thiếu vắng. Khơi dậy, mở rộng vô hạn về khả năng này đó là ý nghĩa, vai trò, mục đích và giá trị thiết yếu của tự do dân chủ hay nhân bản căn cơ nhất, còn ngược lại chế độ độc tài mọi loại thực chất chỉ tầm thường, hạ giá, thấp kém, và mang đầy tính chất tiêu cực nhất. Nên con người trân quý con người là trân quý sự tự do bình đẳng và tình thương yêu thông cảm lẫn nhau, còn ngược lại mọi sự độc tài đều bất công, trịch thượng, phi lý, tiêu cực, đầy tính chủ quan cũng như dốt nát. Nhiều người thấp kém tưởng độc tài làm nên sức mạnh, thật ra đó chỉ là sức mạnh kiểu mù quáng, kiểu bản năng mà không bao giờ kiểu tinh thần tự chủ, sáng suốt và đầy tính nhân văn, văn hóa. Sức mạnh của vật chất, của đàn bầy chỉ là sức mạnh của điều vô ý thức, máy móc, không phải sức mạnh của sự tự chủ, của ý thức tự do và độc lập. Vật chất chỉ là hạ thấp và phi nhân hóa con người cho dầu vật chất là điều kiện sống còn để làm cá nhân con người và xã hội con người tồn tại. Sự phân biệt điều gì cần và đủ hay cần nhưng chưa đủ chính là ở đây.

 

Thành ra tinh thần con người là một thể thống nhất từ đầu đến cuối. Nó được đặt nền trên vật chất nhưng bản thân nó không phải thuần túy là vật chất. Bởi bản thân của tinh thần ngoài chủ thể tính còn là tình cảm, cảm xúc, ý chí, nhận thức và hiểu biết, là những điều mà vật chất luôn luôn hay không bao giờ có thể có được hay đạt tới được. Trình độ nhận thức hay hiểu biết chính là ý nghĩa hay giá trị sâu xa nhất của tinh thần nơi mỗi cá nhân. Nó tạo thành ý nghĩa hay giá trị bao quát nhất của toàn xã hội hay khu vực xã hội, như dân tộc hay đất nước chẳng hạn, nhưng đây không phải chỉ bài toán cộng, mà còn là bài toán nhân, hay sự tích hợp của mọi nguồn tinh hoa tiêu biểu. Xã hội cũng như một cái cây, chỉ từ một hạt giống duy nhất ban đầu tạo nên, nhưng về sau cành lá càng rườm ra nhưng cùng gắn kết với nhau, nhưng qua từng thế hệ, các nhánh nhóc cành lá có thể thay đổi khác nhau, nhưng ra hoa kết trái đều chỉ mang một ý nghĩa, một giá trị, hay lẫn cả một mục đích chung thế thôi. Ở đây chính bản chất của sự sống là thế cũng như tinh hoa của mọi bộ phận kết lại cũng đều như thế.

 

Nên giáo dục và văn hóa luôn chính là hai yêu cầu hay hai kết quả chính yếu nhất cho toàn xã hội, Nó tạo nên ý nghĩa, giá trị riêng cho mỗi cá nhân, cũng như cho tính cách hay bản thân xã hội nói chung. Văn hóa là ý nghĩa nhận thức tinh hoa nhất, đều do giáo dục mang lại, văn hóa và giáo dục tương tác nhau, hỗ trợ cho nhau, mục đích cho nhau cũng như là yêu cầu cần thiết lẫn thiết yếu cho nhau. Một nền giáo dục tốt luôn mang lại một nền văn hóa tốt cũng như ngược lại. Mục đích cuối cùng của cá nhân và xã hội đều luôn như thế. Sống không phải chỉ để xây dựng một cái gì giả tạo hay hoang tưởng ngoài mình, mà sống là để nhằm phát huy nội lực đã sẳn có nơi chính mình, do đích thân nội lực mình triển khai ra và nhờ sự giáo dục bên ngoài mang lại, tính khai phóng, tính nhân văn, tính hiệu quả thiết thực của mọi nền giáo dục chân chính cũng như khách quan tự nhiên luôn luôn phải đều như vậy.

 

Giáo dục nhằm luôn tạo lập và xây dựng giá trị thiết yếu của mỗi cá nhân con người, của số đông, và của toàn xã hội chính là như thế. Xây dựng nhận thức, ý thức, giá trị, và nhân phẩm, nhân cách cá nhân đều là như thế, bởi từng đơn vị mới tạo nên cái tổng hợp chung là điều hoàn toàn khách quan, tự nhiên, thiết yếu và chính đáng. Mọi cái khác như là giai tầng, giai cấp xã hội chỉ là cái bì phu, cái ngoại diện mà không bao giờ là cái bản chất sâu xa hay quyết định nào cả. Các Mác có sự nhầm lẫn giữa cái thiết yếu và cái không thiết yếu, giữa cái bản chất và cái hiện tượng của xã hội, và lấy cái hiện tượng làm cái thiết yếu, đó là điều gây nên sự tai hại và nguy hiểm sâu xa của xã hội. Như giai cấp hay giai tầng xã hội chỉ như một cấu trúc tổ chức qua hình thức hiện tượng biểu thị bề ngoài là điều luôn có, bắt buộc phải có, không bao giờ có thể làm mất đi hay xóa bỏ nhất thiết tuyệt đối được. Nên dấu tranh khách quan tự nhiên giữa bản thân con người là điều vẫn có tự nhiên không thể tránh được, nhưng đấu tranh giai cấp chỉ là sự dựng chuyện tưởng tượng mơ hồ của Mác là điều đã được nhiều lần phân tích qua nhiều bài viết mà tôi đã thực hiện. Lấy cái không làm cái có một cách giả tạo, gây bao phiền phức, tai hại cho xã hội là điều chính Mác đã mắc phải.

 

Mọi sự thực hành hay thực hiện tốt đẹp nhất cho xã hội đều không ngoài thông qua chính giải pháp kỹ thuật, không phải chỉ nơi con người có mà cả nơi loài vật cũng có. Loài vật như hải ly, chúng biết đắp đập tạo hang đầy kỹ thuật, các loại chim biết dệt tổ hết sức tinh vi khôn khéo cũng dạng như vậy. Thật ra chúng chỉ do bản năng sẳn có, tuy hết sức thông minh nhưng không hề học tập từ đầu. Con người ngược lại đều do lý trí, trí tuệ, qua đào tạo, giáo dục, cả đúc kết kinh nghiệm quá khứ mà làm nên. Kiểu như phát triển sản trong kinh tế tư bản chủ nghĩa, đó là sự diễn tiến lịch sử tự nhiên, khách quan, do hình thành bằng quá trình lịch sử mang lại, không cần cá nhân nào tạo ra cả. Mọi lý thuyết chỉ được bổ sung, củng cố thêm sau. Nên tiền tệ và thị trường chính là công cụ hiệu quả, thiết yếu, khách quan và tự nhiên đã được lần lượt phát minh ra như thế. Đó đều là những kỹ thuật xã hội vô cùng hiệu quả do yêu cầu lịch sử khách quan mang lại. Đó là con đường đi hoàn toàn chính đáng, bó buộc, đơn giản mà không thể nào khác. Chỉ có thể cải thiện, hoàn chỉnh thêm mà không cần làm khác đi, lý trí mọi cá nhân đều thật sự đã có góp phần vào trong đó, cho nhu cầu chung nhất và hoàn toàn tự nhiên của xã hội.

 

 Trong khi đó Mác chỉ do nhận xét và quan điểm riêng cá nhân mình, tạo thành ý thức hệ cộng sản thật sự chỉ giả tạo, khiên cưỡng, áp đặt, chủ quan, và dùng bạo lực bó buộc chi phối. Mác chỉ nhìn phiến diện, đặc thù về tính bóc lột, để kết án định chế tư hữu là tính chất hoàn toàn khách quan của muôn loài như điều kiện sống tự nhiên, giản tiện nhất của mình, rồi lên án, bài xích quá khích về giai cấp, nhằm đi đến một xã hội tuyệt đối vô sản, chỉ làm ăn theo kiểu tập thể, bất chấp mọi kỹ thuật thiết yếu hiệu quả của xã hội, cốt xây dựng một xã hội không tưởng tự nhận là khoa học trong thực chất giả tạo và trong tâm thức hoàn toàn tưởng tượng, bịa đặt. Chính kỹ thuật tuyên truyền bằng ngôn ngữ giả tạo ở đây là chủ yếu. Nếu các lý luận của Mác phần lớn chứa đầy tính ngụy biện, thì nguyên lý chuyên chính vô sản đã tạo nên cuộc cách mạng bôn sê vít ở Nga dễ tập trung nhiều thành phần thời cơ, cơ hội, tạo nên cả một hệ thống ý thức hệ về sau nhiều phần giả tạo mà không ai dám nói hay đi ngược lại được. Con đường đầy tính giả tạo và đầy bạo lực giả dối cho nhân loại ở nhiều nơi về sau thực chất đã bắt đầu và hình thành từ Nga chính vì như thế.

 

Học thuyết Mác là học thuyết duy vật tuyệt đối, nhưng ý niệm này thực chất chỉ mới mang tính ức đoán một chiều mà chẳng có gì là tính lô-gích hoàn toàn tự thân và đẩy đủ cả. Thêm vật chất được cho là tự biện chứng để làm nền cho xã hội đấu tranh giai cấp lẫn làm nền cho xã hội cộng sản hoang tưởng trong tương lai đều là những mảng tối huyền hoặc và mê tín trong hệ thống tư duy của Mác. Thành nói chung học thuyết Mác thực chất chỉ là học thuyết kiểu hư vô chủ nghĩa vì đồng hóa tất cả vào vật chất như một thực tại duy nhất, kiểu đầy chất niềm tinh tư biện, lẫn cả học thuyết kiểu vô chính phủ một cách quá khích, bởi chủ trương loại bỏ pháp luật, loại bỏ nhà nước trong cơ chế xã hội con người tương lai chỉ còn đầy tính chất trừu tượng và hoàn toàn không thực tế. Đây là hai tính chất hay đặc điểm hoàn toàn tiêu cực mà bất kỳ ai không nghiên cứu và hiểu biết quan điểm học thuyết Mác thật sự nghiêm túc và thật sự sâu xa đều hoàn toàn không thể thấy. Toàn thể mọi ý nghĩa cùng giá trị của xã hội trong suốt lịch sử nhân loại hay từng dân tộc, đất nước đều bị thay thế duy nhất bằng chính các lãnh tụ cộng sản như biểu trưng tối cao vậy thôi.

 

Đó cũng là tính chất mà học thuyết Mác hoàn toàn phủ nhận vai trò và ý nghĩa của cá nhân con người trong mọi yếu tố tiên quyết nhất để nhằm làm phát triển lịch sử xã hội. Khi Mác quy tất cả vào bản thân vật chất thì đồng thời vô hình chung Mác cũng phủ nhận mọi ý nghĩa và giá trị tinh thần như trên đã nói. Mác chỉ còn thừa nhận duy yếu tố giai cấp như là đặc điểm từ đầu đến cuối của toàn xã hội. Đây là tính phi lý, tính nghịch lý, tính mù mờ nhất trong toàn bộ nhận thức và tư tưởng của Mác. Đây cũng là yếu tố phản khoa học khách quan sâu xa nhất mà Mác biểu hiện. Mác như vậy cũng không còn nhìn nhận yếu tố tinh thần nhân văn hay nói cụ thể là yếu tố lý trí và trí tuệ của loài người. Bời khi tất cả chỉ thuần là bản thân vật chất thì tất cả mọi điều trên cũng hoàn toàn bị triệt tiêu và tự tiêu hủy. Quan điểm chính trị xã hội của Mác chỉ còn là quan điểm đàn bầy kiểu mê tín, cuồng tín một cách tối tăm mà không là gì khác. Bởi vậy trong mọi xã hội cộng sản nền giáo dục trở nên hoàn toàn bế tắt và tiêu cực, chỉ còn kiểu áp đặt, nhồi nhét hoang tưởng, đặc biệt hoang tưởng vào lãnh tụ, mà không còn cho phép bất kỳ kiểu lý trí tự chủ, lẫn cả ý thức tự do dân chủ một chút nào cả. Chỉ còn là một xã hội bị nô lệ mọi mặt thay thế vào cho một xã hội tự do nhân bản khách quan. Mọi cá nhân con người đều bị vong thân, xã hội con người bị vong thân, vì chỉ còn là một thứ mô hình vật chất ở trong tất cả mọi loại dạng, chỉ có thế thôi, mà ngoài ra không còn điều gì khác nữa.

 

THƯỢNG NGÀN

(07/5/2024)

         

 **

 

Sunday, May 5, 2024

NÓI VỀ CHỨC PHẬN CỦA NHỮNG NGƯỜI LÃNH ĐẠO ĐẤT NƯỚC

 

NÓI VỀ CHỨC PHẬN CỦA NHỮNG

NGƯỜI LÃNH ĐẠO ĐẤT NƯỚC

 

Loài người trên mặt đất này đều chia ra thành những quốc gia và những vùng lãnh thổ, đó là sự thực khách quan ngàn đời đã để lại và không thể nào chối bỏ được. Mặc dầu mọi hình thức phân chia đó luôn luôn biến đổi, không bao giờ bất định, nhưng những yêu cầu căn cơ vẫn buộc phải giữ gìn, bảo vệ để nhằm tồn tại và phát triển, đó chính là chức phận của những người cầm đầu, lãnh đạo hoặc đương quyền nơi những quốc gia, lãnh thổ, nhà nước đó. Điều này có nghĩa luôn luôn phải có một trật tự pháp luật nào bắt buộc phải có trong xã hội, không thể có kiểu xã hội vô chính phủ, nhưng tính cách của pháp luật đó tốt hay xấu, tích cực hay tiêu cực, phù hợp sự phát triển xã hội hay không lại là điều khác.

 

Trong thời xã hội nguyên thủy, hoàn cảnh sống còn thô sơ, số lượng cá thể còn ít, xã hội loài người còn ăn lông ở lổ vào giai đoạn hái lượm, đây cũng gọi là giai đoạn cộng sản nguyên thủy đầu tiên, đều vẫn phải có những quy tắc nội bộ tối thiểu nào đó bắt buộc của nó. Nhưng khi số lượng con người trong xã hội tăng lên, mở rộng ra, mọi điều kiện sinh hoạt dần dần phải khác đi, bắt đầu xuất hiện quyền tư hữu như một sự thuận lợi cần thiết khách quan phải có, từ đây xã hội cũng đổi khác, tiến lên thành tổ chức bộ lạc, với những nguyên tắc đời sống  có tổ chức sơ khởi lần lần ló dạng. Những vị tù trưởng đầu tiên xuất hiện, đó phải là những người có sức mạnh thể lực, trí tuệ cùng nhiều phẩm hạnh thiết yếu khác. Họ chinh phục, thống nhất được bộ lạc, và trở thành yếu tố lãnh đạo, người cầm đầu của toàn bộ lạc nhằm bảo đảm sự tồn vong cùng những điều tốt đẹp cho bộ lạc.

 

Các thời đại phong kiến, quân chủ trong xã hội loài người lần lượt xuất hiện trong lịch sử đã qua cũng không ra ngoài các nguyên tắc tự nhiên bất di bất dịch đó. Luật pháp chẳng qua là yêu cầu đáp ứng cho sự tồn tại có trật tự của xã hội qua những giai đoạn lịch sử nhất định nào đó, không bao giờ có luật pháp vĩnh cửu cũng như không bao giờ có xã hội không luật pháp. Luật pháp phát triển theo thời gian, như cái khung sườn càng ngày phải càng nở nang thêm để thích nghi, phù hợp với mọi yêu cầu đời sống xã hội cứ mãi đi lên và càng phong phú. Điều kiện kinh tế phát triển, điều kiện văn hóa phát triển, luật pháp cũng phải phát triển theo mà không thể ngược lại. Nhưng thời xã hội còn lạc hậu, sức mạnh luật pháp phần lớn hay chính yếu là sức mạnh bạo lực mà không gì khác. Những cá nhân có điều kiện và tham vọng bản thân hay cộng đồng cao có thể lập ra các vương quốc, các đế chế, các đế quốc hùng mạnh trong lịch sử mà mọi người đều đã biết.

 

Nhưng các sức mạnh đó là gì nếu không phải do sức mạnh quyền lực tạo thành. Quyền lực là sự ràng buộc trong tổ chức mà khó có ai đi ngược lại. Từ những tập hợp người nhỏ nhất đến các tập hợp người lớn nhất đều không ra ngoài chính các nguyên lý đó. Quyền lực có thể do sự đồng thuận hay do sự áp đặt bó buộc con người không phản kháng được nên đành phải cần tuân thủ. Bởi đương nhiên mọi con người cá nhân đều yếu ớt, sức đề kháng và sức liên kết không cao, nên bất kỳ những tập đoàn nào đó nếu có sự tổ chức vững mạnh và ý chí khuynh loát đều có thể đè bẹp họ được. Xã hội đám đông thực chất đều luôn như một cục bột mà bất kỳ pháp luật nào dù chân chính hay không đều có thể uốn nắn, đóng khung, và ngự trị đều được. Nhưng chính ở đây mà bản chất xã hội tự do dân chủ và bản chất xã hội độc đoán độc tài toàn trị được biểu thị ra hoàn toàn khác là như thế.

 

Những cá thể con người cần phải theo nhu cầu đời sống riêng tư của mình là điều hoàn toàn chính đáng và cần thiết. Quyền sống là quyền của mọi người, nhưng ý nghĩa sống đó ra sao, có hạnh phúc và tự do hay chỉ nô lệ và bó buộc, đó lại tùy hoàn cảnh pháp luật xã hội bên ngoài bản thân họ điều tiết và chi phối. Sức mạnh cá nhân khó đi ngược lại sức mạnh tập thể lớn hơn, đó trở thành nguyên lý thực tế, nhưng sức mạnh tập thể đó bản chất như thế nào mới là điều đáng nói nhất. Đứng trước một đám bạo lực hay một xã hội bạo lực mọi cá nhân đều phải luôn thúc thủ hay buộc phải tuân thủ, đó đều là một sự thực khách quan, hay sức mạnh nhỏ hơn phải chịu ức chế trước sức mạnh lớn hơn, điều này cũng giống như một quy luật vật lý trong xã hội mà ai cũng biết.              

 

Nên mọi sức mạnh cơ bắp hay vật chất, cũng như mọi sức mạnh pháp luật nào đó, tự nó không ý nghĩa hoặc giá trị tự thân, nếu nó không phù hợp với ý thức nhân văn, sự công chính, cũng như với quyền dân chủ, tự do khách quan của mọi con người chính đáng trong xã hội. Bởi sức mạnh không chính đáng là sức mạnh bị lạm dụng, pháp luật không chính đáng là pháp luật bị lạm dụng, nó không còn mang bộ mặt văn hóa, nhân văn thiết yếu mà mọi con người lành mạnh cũng như xã hội lành mạnh đều luôn đòi hỏi. Chính nghĩa hay không chính nghĩa, công tâm công lý có hay không của xã hội con người đều nằm ở đây, một ý nghĩa và nguyên lý hoàn toàn đơn giản mà không bất kỳ ai có lý trí hay có lòng lương hảo có thể suy nghĩ ngược lại được.

 

Bản thân mỗi cá nhân con người và xã hội luôn luôn phát triển tùy theo những điều kiện và hoàn cảnh nhất định, đó là nguyên lý tự nhiên khách quan không do ai tạo ra mà người ta chỉ có thể làm cản ngại hay hạn chế nó thôi. Pháp luật tốt là pháp luật có thể giúp đỡ, hỗ trợ cho sự phát triển cá nhân và xã hội nhưng không phải tạo ra được điều đó, còn không thì hoàn toàn ngược lại. Một sự tin tưởng cá nhân nào đó, tập thể nào đó, luật pháp nào đó có thể tạo ra sự phát triển cá nhân hay xã hội nào đó thật ra đều chỉ là sự tăm tối, mù quáng, lệch lạc và thậm chí hoàn toàn ngu xuẩn. Chỉ phát triển cá nhân hỗ tương lẫn nhau, hỗ tương chung cho xã hội và ngược lại, đó chính là nguyên lý về bản thân, bản chất mà không thể lẫn lộn với bất kỳ mọi cái ngoại vi nào khác.

 

Thật ra mọi sự phát triển của cá nhân và xã hội chủ yếu là sự phát triển của ý thức và của trí tuệ mà không gì khác. Thân xác chỉ là vật chất sinh học, nó luôn luôn đã được định khung sẳn. Nhưng chỉ có ý thức là hướng thượng hay hướng hạ tùy theo điều kiện và bản chất của trí tuệ phát huy mang lại. Bởi vậy mọi sự học tập và giáo dục nhân văn luôn hoàn toàn cần thiết để làm trí tuệ con người mở mang tạo thành cả xã hội phát triển hiệu quả và lành mạnh. Bất kỳ đường lối giáo dục nào sai đều hoàn toàn phản con người và phản xã hội cho dù nó nhân danh bất cứ điều gì. Khách quan chân lý là sự hiểu đúng sự thật vốn có. Mọi sự hiểu biết lệch lạc về mọi điều khách quan tự thân của nó đều là những sự hiểu biết xuyên tạc, không đúng sự thật, thực chất đều phản cá nhân và phản xã hội tức thực chất chỉ đều vô giá trị hay phản giá trị. Ý nghĩa của chân lý là ý nghĩa của sự thật mà không gì khác, giá trị khách quan của mọi hành động nơi bản thân cá nhân và xã hội con người cũng phải dựa trên các tiêu chuẩn chân lý là điều hiển nhiên và hoàn toàn rõ ràng như vậy.

 

Chính nhờ ý thức hướng thượng, nhờ lý trí làm chuẩn mực, loài người đã đi đến khám phá khoa học mọi lại trong đó có cà triết học lẫn kỹ thuật, đó là điều làm cho xã hội loài người phát triển đi lên qua từng giai đoạn đó chính là ý nghĩa thiết yếu nhất mà không phải do bất kỳ những nguyên lý mơ hồ, thêu dệt hay tưởng tượng ra nào cả. Chỉ có lý trí khoa học khách quan soi sáng, tạo ra mọi nguồn kỹ thuật hiệu lực trong lịch sử, điều đó dẫn dắt nhân loại đi lên từng bước và tiến tới vô hạn, đó là điều chắc chắn nhất, mà không phải sự đấu tranh giai cấp nào huyền hoặc mơ hồ hay ý thức hệ nào đặt trên nền tảng loại biện chứng nào đó mông lung, trừu tượng và kể cả hão huyền nào đó hết. Mọi cái gì không cụ thể, thiếu cơ sở khoa học chắc chắn và khách quan, nhưng toàn tin nhảm vào đó thực chất đều mê muội, u mê, phản lý trí và đều bị toàn mê hoặc.

 

 Vậy thì người lãnh đạo một đất nước phải cần người sáng suốt, không thể kém năng lực suy xét hay mù quáng. Đó cũng phải là người liêm chính, ngay thẳng. Bởi không liêm chính thì như chuột sa vào hũ gạo, còn không ngay thẳng thì sẽ kéo bè kéo cánh người không ngay thẳng tụ hội lại cùng với mình. Lẽ thường không một cá nhân nào lãnh đạo được đất nước, cầm đầu được xã hội nếu không có một đội ngũ cận thần cùng điệu cùng cánh với mình, nên thầy sao thì trò vậy, hoặc thành một đội ngũ, lực lượng tốt canh tân, phát triển đất nước hay chỉ là đội ngũ xấu làm tệ hại, phá tán đất nước mọi mặt. Vậy thì bất kỳ ai cũng vậy, trước tiên đều cần mặt tài năng và đạo đức, đây là yếu tố tích cực nhất mà một con người phải có, nếu không đạt được điều đó thì chỉ là trạng thái tiêu cực. Đặt biệt đối với người cầm quyền lãnh đạo đất nước đây lại là tiêu chuẩn hàng đầu không khi nào khác được.

 

Thế nhưng nhu cầu xã hội và đất nước luôn luôn thay đổi biến chuyển, không bao giờ trì trệ hay bất biến mà luôn cần linh hoạt, thích ứng đi lên với từng hoàn cảnh. Bởi vậy cần người có hiểu biết, lanh lợi, thông minh và sắc sảo, tức tự minh luôn có những sáng kiến, những kế hoạch, những mục đích mới hiệu quả và tốt đẹp để nhằm phát triển, thăng tiến lợi ích chung trong phát triển xã hội. Sự học vấn cao luôn luôn là điều cần thiết, bởi học vấn cao là nền tảng nhằm phát huy trí tuệ cùng năng lực hiểu biết mà người đó vốn có. Chính sự thông minh, khả năng hiệu quả hay lỗi lạc chủ động giải quyết mọi vấn đề đưa đến trong thực tế đều nằm ở đây. Vấn đề đưa đến có thể từ báo chí, dư luận xã hội, từ tình huống thực tế, từ đội ngũ nhân sự mà người cầm đầu đất nước luôn luôn phải có. Hành động và ngôn ngữ ở đây của họ cũng chẳng phải nhất thiết luôn đi đôi với nhau. Sự thống nhất hay nhất quán luôn là yếu tố cần thiết, đó là đức tính, yêu cầu trung trung thực, lương hảo, còn nếu không chỉ còn tuyên truyền mị dân và lừa dối bề ngoài.

 

Thế nên ba đức tính hay yêu cầu hàng đầu của mọi người lãnh đạo phải là sự trung thực ngay thẳng, khả năng hiểu biết cao, tự mình thể hiện tài năng riêng mà không phụ thuộc người khác hay phụ thuộc vào cái gì đó có ngoài mình. Người lãnh đạo đất nước mà chỉ phụ thuộc người khác dầu trong nước hay bên ngoài đều chỉ là hư vị hay con rối, con cờ. Bởi vậy lãnh đạo đất nước mà phải phụ thuộc vào thế lực hay lực lượng nào đó, vào giáo điều, lý thuyết nào đó, đó thực chất không phải lãnh đạo đất nước mà chỉ dụng cụ sai khiến để đưa đất nước vào những tình huống phiêu lưu hay bế tắt. Cuối cùng, mục đích của người cầm quyền hay cầm đầu đất nước thực chất là gì còn là điều quan trọng đáng nói nhất. Bởi vì hoặc đó có thể là người vì nước vì dân, vì công ích thật sự, hay chỉ là người núp bóng hoàn cảnh, đóng kịch, cốt chỉ nhằm tham vọng mục đích bản thân cá nhân riêng mình. Tính hai mặt của chính trị luôn là đây, người dân khó biết được cho tới khi kết cuộc cuối cùng khi mọi điều đều đã ngã ngũ, đã ra ngoài thảy tầm hào quang giả tạo mà chính người đó đã gây được trong lúc tại nhiệm.

 

Thành nên chức phận của những người lãnh đạo đất nước, xã hội thường là rất trọng đại hay tuyệt đối quan trọng. Mọi sự thành đạt hay thất bại của cả một dân tộc, quốc gia nào nhất định trong những giai đoạn nào đó đều nói lên tất cả điều này. Đây cũng là điều phân biệt sự lãnh đạo cầm quyền chân chính hay chỉ là sự tiếm quyền, đoạt quyền. Ngày xưa trong thời đại phong kiến quân chủ, người đoạt quyền chỉ là người có sức mạnh quân sự hơn những đối thủ khác. Nên kết quả họ có thể là bạo chúa hay các minh quân đều tùy vào mục tiêu cùng phẩm hạnh tự có của họ. Dân hay xã hội thật ra chỉ là môi trường, là sân khấu thụ động cho những người tranh quyền đoạt vị luôn luôn hành xử trên đó. Hạnh phúc toàn dân chỉ tùy thuộc vào định mệnh, sự may mắn mà mình không tự quyết định được, chỉ may nhờ rủi chịu đều phần lớn như thế. Tuy vậy những người chiến thắng được mọi đối thủ khác cũng có khi họ có chính nghĩa hay không. Có chính nghĩa khi họ nhờ vào lòng dân, không chính nghĩa khi họ chỉ họ chỉ dựa vào các mưu mô quỷ quyệt hay sức mạnh bạo lực thuần túy. Trường hợp Lưu Bang bên Tàu ngày xưa dựng nên triều đại Hán với nhiều kết quả nhân bản hoàn toàn khác với Lưu Bị thời Ngô Ngụy Thục, thực chất chỉ là kẻ mị dân và cuối cùng cũng chẳng đi đến kết quả nào lớn lao cho đất nước Tàu ngoài sự phân tranh tam quốc.

 

Nhưng thời đại ngày nay mọi sự đã hoàn toàn đổi khác. Xã hội đã phát triển, tiến bộ nhiều mặt, do đó nhu cầu thông tin khách quan là điều đáng nói nhất. Bởi mỗi cá nhân đều là đơn vị cấu thành hay cột trụ nhất cho toàn xã hội. Mà cá nhân do sự nhận thức sai biệt, do tài năng sai biệt, do đức hạnh và ý chí sai biệt, sự đa thành phần và số đông nào đó mới luôn quyết định sự phát triển cho cho toàn xã hội. Bởi vậy nền tảng tự do dân chủ trở thành quy luật, nguyên lý cần thiết tạo nên mọi sự phát triển, tiến hóa chung cho toàn xã hội. Chính dân trí nhìn chung và sự lành mạnh trong toàn xã hội quyết định cho bản thân xã hội đó. Xã hội tiến lên mọi mặt, ngưng trệ hay tụt hậu chính là nhờ vào sự vận động của bản chất này. Vậy nhưng trong xã hội đều luôn có những mảng tối, đó là mảng bản năng riêng tư và ích kỷ, nó luôn luôn làm phát sinh mọi chế độ độc tài nếu có thể khi điều kiện và hoàn cảnh cho phép. Và khi đã xây dựng được cơ chế độc tài rồi, nó làm triệt tiêu đi mọi sự tự do dân chủ, chỉ trở thành một quán tính độc đoán duy nhất, có khi kéo dài bất tận nếu không tự nó tan rã hoặc bị một sức mạnh nào đó lớn hơn làm cho sụp đổ. Chỉ điều đó mới đưa đến kết quả bầu cử dân chủ tự do người dân lựa chọn người lãnh đạo, cầm quyền được.

 

Cũng kiểu như cây bon sai khi đã trồng vào chậu, nó vĩnh viễn khác hơn cây tồn tại ngoài mặt đất, bởi vì bầu rễ của nó chỉ được quy định như vậy trừ khi chậu bị đập bể và người ta mang nó trả về trạng thái khách quan như cũ. Chính sự khác nhau giữa thực tế tự do dân chủ và thực tế độc tài mọi loại là như thế. Đây là sự khác nhau về bản chất thật, không do tính chất ngôn ngữ giả dối trá hình, ngụy tạo do đám dân gian, đám quần chúng ngu xuẩn nào đó xuyên tạc, ngụy biện, hay tà ý uốn nắn làm cho khác đi được. Bởi ý thức và nhận thức con người luôn luôn đi đôi với nhau cũng như ngược lại. Chỉ ý thức tốt mới thường mong muốn hướng đến nhận thức tốt, và cả hai thành phù trợ lẫn nhau. Trong khi đó ý thức xấu, tà vạy, luôn luôn có khuynh hướng liên kết với nhận thức xấu, lệch lạc, hạn chế, xuyên tạc, như là bạn đồng minh thiết yếu của nó, nên chỉ dẫn đến sự mị dân, gian dối và tất nhiên làm phương hại đến mọi lợi ích chung của toàn xã hội. Mọi chính nghĩa luôn đi đôi với đạo đức mà không thể nào khác, mọi ý tưởng cứu cánh biện minh cho phương tiện đều chỉ là giả dối, ngụy biện, sai trái và không khi nào đích thực.

 

Bởi dân chủ và tự do giúp liên kết mọi tinh hoa vốn có trong toàn xã hội, vì không có vật cản, rào cản tiêu cực nào đó giữa các yếu tố, thành tố này với nhau. Chúng dễ dàng hòa hợp, bổ sung và tạo sức mạnh hữu ích chung cho nhau. Trong khi đó mọi chế độ độc tài đều tạo thành vật cản, rào cản mọi loại, vô hiệu hóa, tiêu diệt tất cả mọi loại tinh hoa xã hội khác nhau, đó chẳng khác gì chống lại mọi cá nhân con người, chống lại toàn xã hội, chống lại sự phát triển lịch sử nói chung một cách tệ hại toàn diện nhất. Bởi nó trái lại với nguyên tắc bình đẳng xã hội khách quan, trái với tính khiêm tốn, công bằng của một con người lương thiện khách quan. Vì độc tài chỉ có thể do bản năng lòng tham, do sự mù quáng tin tưởng vào một điều giả tạo nào đó, do sự lợi dụng tình thế sai trái nào đó, nên mới đi ngược lại mọi quyền tự do khách quan, tâm thức lương hảo chính đáng chung của toàn xã hội, chỉ còn nghĩ đến riêng mình, tự thổi phồng sai trái quyền hạn cùng sự nhận thức lạm dụng nào đó của mình. Không có bất kỳ giá trị hay ý nghĩa nào biện minh một người trội vượt hay hơn hẳn mọi người, đó đều là sự hoang tưởng, sự gian xảo, hay sự lừa bịp có chủ ý rõ rệt.

 

Thường mọi chế độ độc tài sai trái, nhất là loại chế độ độc tài toàn trị đều mang tính chất cùng bản thân kiểu như vậy. Nó thường thần thánh thứ lãnh tụ riêng của nó để nhằm câu view, để nhằm áp đảo và khuynh loát quần chúng loại kém hiểu biết, mù quáng hoặc cuồng tín nào đó theo cách thức như thế. Bởi trong chính trị luôn có đám quần thần vụ lợi bất chấp mọi điều, đó chính là tác nhân tai hại luôn luôn có trong mọi tình huống, giai đoạn xã hội, đó là dạng tiêu cực tạo nên bởi bản năng ích kỷ, thấp kém, xấu xa mà trong lòng mọi xã hội đều luôn luôn có. Nên bất kỳ người lãnh đạo đất nước nào lương hảo cũng cần đều phải thấy ra điều đó để thắng lướt nó, điều chỉnh nó còn nếu không chỉ là toa rập theo, lợi dụng nó để vun quén, củng cố cùng đưa cao quyền lực thống trị độc tài độc đoán hoàn toàn sai trái của bản thân mình. Chính nguyên lý tự do dân chủ của xã hội lành mạnh là yếu tố trung hòa, vô hiệu hóa được điều tai hại này, còn nguyên lý độc tài độc đoán vô nguyên tắc của mọi chế độ độc tài sai trái thường làm củng cố, tăng cường, mở rộng tính chất sai trái này ra toàn xã hội cũng như ra toàn những giai đoạn lịch sử nhất định nào đó.

 

Từ các nền tảng, ý nghĩa, và những nguyên lý khách quan như trên, cho thấy quan điểm độc tài vô sản là tính cách vô lối và tồi tệ nhất của học thuyết Các Mác. Đây là điều có thật từ đầu và nó là cái yếu chất, là bản thân mục tiêu không thể thiếu khiến Mác từng đề xuất. Bởi Mác tin tưởng mù quáng vào bản chất đấu tranh giai cấp, mà nguồn gốc chính ở đây là sự mê tín vào cái được gọi là quy luật biện chứng đầy tính tư biện của Hegel mà Mác đã lạm dụng. Đem một nguyên lý mơ hồ không có cơ sở thực tế khoa học cụ thể xác thực để diễn đạt ra nguyên lý giả tạo đấu tranh giai cấp nhằm đi đến một xã hội hoàn toàn hoang tưởng, không tưởng mà Mác nhằm áp đặt, chụp phủ tưởng tượng, chủ quan, lệch lạc lên xã hội tương lai của nhân loại, của thế giới loài người, gây bao hệ lụy mọi nơi suốt thời gian dài cả gần thế kỷ, thành đó trở thành tội lỗi lẫn cả đều tội ác của chính bản thân huyền hoặc vu vơ của chính Các Mác cũng như phần lớn tính chất ngụy biện, mị dân do học thuyết ông ta đưa ra.

 

Thực chất học thuyết Mác cuối cùng trở thành học thuyết kiểu hư vô chủ nghĩa vì quy tất cả đều tuyệt đối là vật chất thành tinh thần không còn ý nghĩa nào tích cực hoặc nghiêm chỉnh hay tích cực cả. Nó lại còn thực chất là học thuyết kiểu vô chính phủ vì chỉ lấy giai cấp và con người giai cấp làm nòng cốt. Đấu tranh giai cấp là cái tưởng tượng, kiểu phạm trù hóa điều gì không có thật, trong khi chỉ có đấu tranh cụ thể giữa cá nhân con người theo mọi cách giữa cái đúng cái sai, cái tốt cái xấu do lý trí lương hảo nhận thức, chỉ đạo. Đây là sự đấu tranh giữa điều thực tế đúng sai, hay dở mà xã hội luôn luôn phải có và vẫn có. Bởi giai cấp chỉ là sự phân loại hóa trừu tượng, nó không bao giờ là thực thể cố định mà chỉ là những khái niệm được loại hình hóa, bản thân nó không có thật mà chỉ những cá thể nằm trong đó mới là có thật. Đấu tranh luôn luôn là đấu tranh giữa cái gì cụ thể, không thể có đấu tranh giữa cái phân loại hay phạm trù trừu tượng, đó hoàn toàn là sự mê tín, hoang tưởng và sự mù mờ của Mác.

 

Đấu tranh giữa hai thực thế không có thật bằng cách khái quát hóa các thực thể có thật là những cá nhân con người trong những trường hợp cụ thể nào đó, chỉ là điều hoàn toàn tưởng tượng không cụ thể và khách quan của Mác. Từ tiền đề hoang tưởng đi đến kết luận hoang tưởng là điều tất yếu mà chính bản thân Mác phạm phải. Mác cho xã hội cộng sản là xã hội không còn giai cấp, làm theo năng suất hưởng theo nhu cầu như là điều hấp dẫn của những kẻ hoang tưởng mà thực chất không bao giờ có trong thực tế cả. Vì nhu cầu cá nhân là vô hạn, tài nguyên đầu vào mọi mặt đều luôn hữu hạn, bản năng ích kỷ cá nhân đều khách quan luôn luôn có, vậy làm sao tạo nên bài toán lý thuyết có thể giải quyết được. Trong khi đó Mác nhằm áp dụng biện pháp đấu tranh giai cấp một cách khốc liệt, thực chất chỉ đi từ hư tưởng này đến hư tưởng khác, và cuối cùng các kết quả cũng chỉ đều hư tưởng. Đây tính cách thả mồi bắt bóng chỉ thực chất nó là như vậy. Xã hội Liên Xô đầy tính khốc liệt rồi cuối cùng phải bị sụp đổ và tan rã chính là như vậy. Nó hoàn toàn trái khách quan kiểu như nhét trái bầu vào miệng chai chính là như thế.

 

Đất nước ta sau thời kỳ đô hộ của thực dân Pháp suốt gần trăm năm, thay vì nâng cao dân trí, ấp dụng chế độ dân chủ tự do, nâng cao trí tuệ toàn dân, những người cộng sản lớp đầu tiên chỉ có niềm tin mãnh liệt cuồng tín vào duy đất nước Nga sô viết, lý do duy nhất là họ được đào tạo từ trường chính trị Phương Đông của Mạc Tư Khoa, là trường đào tạo ý thức hệ chỉ biết một chiều mà không hề có chiều lẫn có quyền phản biện. Chính quan điểm độc tài vô sản của lý thuyết Mác đã dẫn đến điều đó. Trong khi giới vô sản hay giai cấp vô sản theo Mác quan niệm thực chất không phải giới thuần túy tinh hoa mà còn biết bao thành phần thời cơ, cơ hội dễ dàng trà trộn vào đó. Chính mọi thành phần này chỉ hiểu được thuyết Mác theo kiểu giáo điều nông cạn còn không biết chiều sâu thực chất của học thuyết Mác là gì. Thành biết bao nhiêu thêu dệt, cả tin, lạm dụng và lợi dụng cho các quan điểm, tính toán bản thân được truyền bá ra khắp thế giới nhiều nơi sau này quả là như thế. Tập thể đảng thật ra chỉ là công cụ của những người điều khiển nó mà không gì khác. Bởi nguyên tác độc tài không cho phép bất cứ ai ra ngoài được thực thể đó và chỉ biết sắp hàng một đi lên có thế thôi.

 

Đáng lẽ ra khi về nước, ông Hồ Chí Minh nếu là người yêu nước thực tế và chí tình, ông phải trước hết góp phần nâng cao dân trí như kiểu Tây Hồ Phan Chu Trinh đề xuất, nhưng ông chỉ theo khuynh hướng chủ nghĩa cộng sản Mác Lêninít mà mình có sẳn, hoặc phải phụ thuộc vào nơi đào tạo là nước Nga sô viết từ nguồn gốc, nên mọi việc làm hay thực thi của ông đều không đi ra ngoài được quỹ đạo đó. Cả chủ nghĩa dân tộc yêu nước của ông, bản chất cũng chỉ là dung mạo bề ngoài, mà thực chất của nó đều không khác chỉ gì là chủ nghĩa Mác Lê thuần túy bề trong mà ai cũng thấy. Chính bài thơ đề nơi Đền Kiếp Bạc lẫn cả Di chúc của ông khi chết đều không ra ngoài tất cả điều đó. Quan trọng nhất là hai cuộc chiến tranh liên tiếp xảy ra suốt 30 năm từ 1945 sau khi lật đổ chính phủ Trần Trọng Kim mãi tới khi kết thúc 1975 cũng nói lên mục đích và mọi điều nhất quán trong đó không gì khác hơn là thực hiện chủ thuyết Mác xít từ đầu đến cuối. Lý đúng ra ngay từ đầu nếu có tinh thần độc lập tự do tự chủ cho đất nước và dân tộc, ông Hồ cần phải có cuộc trưng cầu dân ý rộng khắp và trung thực nhằm hỏi ý kiến nhân dân, như là người lãnh đạo thật sự, để tôn trọng quyền lực cao nhất là toàn dân. Đằng này ông chỉ theo kiểu cán bộ thực thi dạng quốc tế, nhằm cốt yếu thi hành chủ nghĩa Quốc tế vô sản do nước Nga đã đề xuất. Thành ra mọi hệ lụy trớ trêu xảy ra cho đất nước, dân tộc ta về sau này, đều không ngoài mọi hoàn cảnh thực tế như thế. Vả chăng mọi chính sách giáo dục đào tạo và truyền thông xã hội về sau này, chỉ đều mang tính một chiều, hạ thấp, giới hạn, hay làm nghèo nàn đi dân trí, đều thật là điều quá đáng tiếc.

 

Vả nếu giả dụ học thuyết Mác là hoàn toàn đúng đắn, hiệu quả và chính xác, thì tất cả mọi điều đó cũng không hề gì. Trong khi đó, ngày nay cả Liên xô và khối Đông Âu đã hoàn toàn sụp đổ và tan rã, cả gần 150 nước cộng sản cũ chiếm hơn một nửa dân số toàn cầu, nay chỉ còn lại số nước đếm được trên đầu ngón tay, thì đó là điều trớ trêu và là sự oái oăm của dân tộc và đất nước, qua cả một giai đoạn gần suốt đến trăm năm của lịch sử. Nhưng ngoại trừ ra mọi người đã chết ngoài mặt trận ở cả hai bên Nam Bắc thì không nói, có điều chính sách tuyên truyền chính trị phản khách quan sự thật mới là điều đau xót nhất, bởi nó làm huyễn hoặc và sai lạc mọi nhận thức chân chính của bản thân nhiều người, của toàn dân tộc nói chung, thì chính ở đây mới là điều nghiêm trọng nhất, bởi đây chính là số đông đảo mù quáng nhất và tính cách dân trí nói chung bị kéo xuống chỉ còn là niềm tin huyễn hoặc thuần túy mà không còn kiểu nhận thức, ý thức hoàn toàn độc lập tự do của riêng mỗi người công dân mới chính là điều đau xót và tệ hại nhất, tính cách vong thân của cá nhân và xã hội chính là như vậy. Đây cũng chính là điều mà các thế hệ hôm nay, phần nào cũng đã thoát ly ra khỏi quá khứ, đang đi vào mọi điều kiện và hoàn cảnh mới mẻ trong tầm tay và quyền quyết định riêng của mình, vì mọi thế hệ cũ cùng lớp người cũ nay đã chết đi, nay cần phải nhìn lại toàn diện, và cũng có quyền tự quyết định mọi chiều hướng đi lên của xã hội, dân tộc cùng đất nước, bắt đầu từ thế hệ của ngày nay.

 

THƯỢNG NGÀN

(05/5/2024)

 

**