NÓI
VỀ CÁC NGUYÊN LÝ KHÁCH QUAN, TỰ NHIÊN,
VÀ
TẤT YẾU, TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI
Đối với mọi cá
nhân con người và xã hội loài người sự hiểu biết vẫn luôn là điều thiết yếu vì
quan trọng nhất. Đây là yếu tố giúp con người vượt lên kiểu nhiên giới loài vật.
Con người và con vật đều có mọi yếu tố tâm sinh lý giống nhau, nhưng con vật
không theo kịp hay thua xa đối với con người về nhiều mặt nhận thức. Nhận thức
nơi loài vật chỉ là nhận thức trên cơ sở kinh nghiệm sống tự nhiên hoang dã, nhận
thức nơi con người là sự tiến hóa, phát triển qua lịch sử bản thân cũng như xã
hội. Cả hai phương diện này tương tác qua lại lẫn nhau càng làm tăng thêm và
phong phú thêm qua thời gian lẫn không gian mọi sự hiểu biết của con người.
Sự nhận thức nơi
con người bởi vậy là một hệ thống kiến thức nói chung kết hợp từ quá khứ đến hiện
tại và phân chia ra từng ngõ ngách do học tập, kinh nghiệm và năng lực mỗi bản
thân có được. Tri thức là kinh nghiệm thủ đắc qua lịch sử bản thân của từng người.
Nhưng nguồn gốc của nó nói chung đến từ xã hội do nhiều cá nhân đã đóng góp
vào, do trí thông minh từng cá nhân tiếp nhận và phát triển do trí thông minh lẫn
năng lực bản thân nhờ điều kiện của riêng mình, và khả dĩ nó cũng đóng góp lại
cho xã hội nói chung về nhiều mặt khác nhau.
Nhưng tri thức hay
kiến thức thực chất là những đơn vị nhận thức vô hạn. Nó có thể luôn đổi thay
và tiến hóa cùng phát triển qua dòng lịch sử. Không có đơn vị kiến thức nào
hoàn toàn chết, nhưng nó luôn được bổ sung bằng những cái mới hơn, sâu xa hơn,
hiệu quả hơn vì giá trị hơn. Nhưng mọi sự hiểu biết rời rạc tuy quý giá là thế,
chúng do kinh nghiệm nhận thức bản thân riêng cùng kết quả của trang bị qua học
tập, giáo dục, sách vở, đào tạo nói chung mang lại, nhưng chúng vẫn chỉ là những
xâu chuỗi kết hợp nhau nhất định. Cái quan trọng hơn cả chính là bên dưới mọi
kiến thức đó là gì mới là điều chính yếu nhất. Biết là nhằm đáp ứng sự hiệu quả
cho hành vi, nhưng hành động không phải toàn đều tự phát mà nó luôn phải theo
những nguyên tắc, nguyên lý căn bản nào đó nhất định thì mới không sai trái và
dẫn đến các kết quả hiệu năng cùng tốt đẹp nhất.
Đó ý nghĩa của
nguyên tắc hay nguyên lý trong cuộc đời là vậy. Chính các nguyên lý bao quát
chi phối những nguyên tắc nhỏ hơn trong cuộc sống qua kinh nghiệm và hành vi mà
mỗi người buộc phải tuân thủ. Có các nguyên lý về tự nhiên, xã hội, cùng bản
thân từng cá nhân nói chung. Cá nhân luôn sống trong xã hội nên luôn bị những
nguyên lý của bản thân cũng như của xã hội chi phối. Như nguyên lý tình cảm cao
hay thấp, nguyên lý cảm xúc thăng hoa hay tầm thường, nguyên lý pháp luật bó buộc,
nguyên lý xã hội trong tương tác, nguyên lý giá trị khách quan trong hành vi và
nhận thức, đó luôn luôn là những ràng buộc thiết yếu mà mỗi cá nhân cũng như
toàn thể xã hội đều cần hoài phải có. Nguyên lý nói chung là những sự bó buộc
trừu tượng mà mọi nhận thức, tri thức cụ thể đều không thể đi ra ngoài nó nhưng
lại liên kết tạo ra bản thân chính nó.
Nói cho cùng
nguyên lý đều là những quy luật khoa học, đạo lý, xã hội nào đó mà con người
không thể nào vượt ra được. Vượt ra đó cũng là vượt ra khỏi các yêu cầu bó buộc
của bản thân, của xã hội con người nói chung, của quy luật tự nhiên khách quan
luôn luôn có mặt và buộc phải tuân thủ. Như các nguyên lý tâm sinh lý, nguyên
lý quan hệ xã hội, nguyên lý đạo lý, đều là những nguyên lý chung nhất, bao
quát nhất, mà từng cá nhân cũng như xã hội phải luôn bị khống chế, không thể được
tùy tiện hay bất chấp. Như vậy nguyên lý là những quy luật khách quan ràng buộc
do kinh nghiệm sống tìm ra về mặt tâm lý, tình cảm xã hội, do khoa học khám phá
ra về mặt khách quan tự nhiên, chúng luôn luôn có mặt, vô hình, nhưng chi phối
tất cả mọi nhận thức và hành vi khác nhau mà con người phải luôn tiếp cận hay động
chạm đến.
Các nguyên lý là tất
yếu bởi vì không ai tự đặt nó ra cả, chúng hoàn toàn khách quan, tự nhiên, bó
buộc, cả có thể nói chúng luôn luôn lồng vào nhau, liên kết hay ràng buộc nhau
theo cách nào đó. Ví dụ nguyên lý toán học là nguyên lý bao trùm nhất trong
toàn thế giới hiện hữu, sau là nguyên lý vật lý, nguyên lý hóa học, nguyên lý sinh
học, nguyên lý xã hội, nguyên lý đạo đức, nguyên lý lịch sử, đều luôn là những
nguyên lý nền tảng và cơ bản nhất mà xã hội loài người không thể bất chấp,
không thể vượt ra khỏi đó, bởi đó cũng là yếu tố sinh tồn, phát triển cùng hướng
đích trong những phạm vi, địa hạt hay những bình diện nhất định. Con người sống
phải bằng nhận thức đúng mới là điều tốt đẹp, phải sống trong những nguyên lý nền
tảng mà không thể thoát ly ra khỏi chúng được, nên nguyên lý nhân văn văn và
nguyên lý tồn tại khách quan trong vũ trụ tự nhiên vẫn mãi mãi và luôn luôn là
hai cặp nguyên lý lớn nhất.
Nhận thức nguyên
lý có phần nào do kinh nghiệm sống cá nhân hay xã hội mang lại, nhưng đó chỉ mới
là nhận thức mơ hồ bằng cảm quan trực tiếp, chưa hoàn toàn sâu xa, chắc chắn, hệ
thống hay ổn định, nhưng chính mọi tìm tòi khám phá khoa học chính quy mới tìm
ra được những nguyên lý, nguyên tắc sâu xa, ràng buộc, chi phối bao quát nhất
mà loài người đều cần phải biết. Chẳng hạn nguyên lý vật lý về trọng lực trọng
trường của Newton, nguyên lý tiến hóa của Darwin, nguyên lý liên kết hóa học
trong thế giới vật chất, nguyên lý nhận thức và tư duy trong đầu óc con người,
nguyên lý tự do dân chủ trong xã hội, nguyên lý cung cầu trong hoạt động kinh tế
học đều là những nguyên lý cơ bản nhất không bất kỳ ai có thể vượt qua hay hành
vi trái đi được. Mọi nguyên lý đó đều có thể chứng minh cụ thể, chẳng có gì mơ
hồ, võ đoán hay ức đoán nào cả.
Bởi khoa học phải
luôn là sự nghiên cứu nghiêm túc, có phương pháp, hệ thống và đào sâu, nghiêm
túc, đầy đủ thật sự. Khoa học không được phép dừng lại trên cảm tính hay thị hiếu
nào đó chỉ là nông cạn hay thiên lệch, chủ quan nào đó. Mục đích là tìm ra những
nguyên lý sâu sa nhất chi phối chung các sự vật, và phương pháp của khoa học đều
cần phải chứng minh bằng các dữ liệu chắc chắn nhất, hay chính xác nhất. Tính
chuẩn mực luôn luôn là đặc điểm của khoa học, vượt ra ngoài mọi cảm tính chủ
quan, các định kiến hay thị hiếu riêng tư nào đó, trong lãnh vực khoa học tự
nhiên, khoa học cơ bản, hay khoa học nhân văn và xã hội cũng vậy. Tìm ra nguyên
lý tức tìm ra quy luật hay nguyên tắc cốt lõi nhất chi phối trong lòng sự vật,
để mọi nhận thức rời rạc đều được kết tập, xâu chuỗi nhau một cách thống nhất,
bó buộc, chắc chắn, bao quát và đầy đủ nhất.
Vậy nhưng khi Các
Mác dùng lý thuyết biện chứng duy tâm của Hegel để làm xương sống cốt lõi cho học
thuyết biện chứng duy vật của mình, thì điều đó trở thành hời hợt, ức đoán,
nông cạn, và trái trớt trong lý thuyết của ông ta. Khác gì lấy nguyên lý của nước
thay vào các nguyên lý của lửa hay ngược lại, bởi hai thực thể đối lập không thể
có cùng nguyên lý giống nhau. Từ đó Mác triển khai ra thành nguyên lý duy vật
biện chứng rồi duy vật lịch sử là hoàn toàn khiên cưỡng, giả tạo, chẳng có nội
dung thực chất nào cả mà chỉ đều kiểu ức đoán, áp đặt, nói bướng. Vậy mà vẫn được
đưa vào chương trinh giáo dục nơi bậc đại học, bắt ép sinh viên chấp nhận không
cần phê phán, không cho phản biện, đây thật là việc làm sai trái đã do một số
người phản giáo dục thực hiện cả gần non thế kỷ cho đến nay vẫn còn duy trì tồn
tại.
Trong khi đó
nguyên lý đều là các quy luật khách quan, chặt chẽ, có khi bất biến do sự vật tự
có, do con người tìm ra, khám phá ra mà không phải bất kỳ ai có thể tự mình có
thể đặt ra cả. Như các nguyên lý trong toán học, trong lô-gích, trong các ngành
khoa học tự nhiên hay xã hội. Bởi nguyên lý luôn có các nền tảng khách quan, những
cơ sở khách quan, những nguồn gốc khách quan, lẫn mang đến những kết quả tất yếu
nào đó mà không thể nào biến đổi hay nói khác đi được. Do vậy không ai có thể
đoán mò ra nguyên lý hay thêu đệt ra nguyên lý khiến nó hoàn toàn giả tạo mà phải
tuân thủ hay đầu sâu, phát triển thêm nhận thức thêm về các nguyên lý đã
có.
Cũng vậy con người
không thể tự rèn luyện để mọc cánh bay được mà phải tìm ra cách tạo tác những
công cụ hiệu lực để có thể bay lên khí quyển hay bầu trời nhưng nhất thiết cũng
phải tuân thủ các nguyên lý khách quan có trước. Một xã hội cũng thế, nếu nó
trái với các nguyên lý nền tảng bắt buộc phải có, thì đó cũng chỉ là kiểu tưởng
tượng suông mà không khi nào thực hiện hay đạt tới được. Nên chỉ cần xét về mặt
khoa học khách quan, về cơ sở nền tảng thực tế, người ta có thể phân biệt thế
nào là một xã hội hiện thực khách quan và thế nào là kiểu xã hội viễn mơ, hư vô
hoặc hoang tưởng. Nhưng cũng chính ở đây mà đã nói về một khía cảnh nền tảng của
nguyên lý nhận thức. Những người có năng lực nhận thức kém không thể nào bao
quát hay bao trùm được những người có năng lực nhận thức cao hơn, nên người trí
thức chân chính thường khó bị lung lạc hay phỉnh dụ, lôi kéo hơn những người
bình dân là vậy.
Những sự sai lầm cốt
lõi mà học thuyết Mác tự nhận coi như nguyên lý nhưng lại hoàn toàn giả tạo của
mình như sau :
1/ Nguyên lý tuyệt
đối duy vật : Thật ra điều này mới chỉ là sự võ đoán, chưa phải hoàn toàn đầy đủ
hay trọn vẹn nào cả. Chỉ lấy một khía cạnh của tồn tại rồi khái quát hóa ra
nhưng chưa có chứng minh nào bao quát thật sự khoa học. Coi vật chất là tuyệt đối
càng đi ngược lại mọi mục tiêu định hướng mà Mác dự phóng hay hoài bão. Đó là sự
nghịch lý to lớn đầu tiên biến học thuyết Mác trở thành loại thuyết hư vô chủ
nghĩa bởi không nhìn nhận bất kỳ bất cứ giá trị nào cao hơn vật chất hay nằm
ngoài vật chất nói chung.
2/ Học thuyết đấu
tranh giai cấp : Đây cũng điều hoàn toàn phi lý và cưỡng ép, bởi giai cấp chỉ
là ý niệm trừu tượng, kiểu phạm trù phân loại, tự nó không có tính cách chủ thể
tính riêng biệt như cá nhân con người cụ thể, nên điều này chỉ mang tính mê
tín, hoang tưởng, áp đặt hay thậm chí mê muội, huyền hoặc. Thuyết đấu tranh
giai cấp là cốt lõi của học thuyết Mác, nên nếu nó hoang tưởng học thuyết Mác
cũng trở thành vô căn cứ, bởi những cái trừu tượng đấu tranh nhau đều toàn vô
nghĩa.
3/ Giai cấp tiên
phong hay đội ngũ tiền phong của giai cấp lãnh đạo xã hội thực chất chỉ là điều
vô nghĩa, một sự hư huyễn, mê hoặc, vì mọi cá nhân đều bình đẳng và có sơ sở bản
năng nơi bản thân mình, cần yếu tố năng lực và phẩm hạnh cao quý để lãnh đạo xã
hội, không phải chỉ là một ý tưởng mê tín hay cuồng tín nào đó thay thế vào mà
được. Mác dùng giai cấp đấu tranh để làm nền tảng cho tiên liệu này, dùng xã hội
không tưởng để làm mục tiêu cho sự kiện này, dùng biện chứng hư ảo để làm cơ sở
cho điều này, khiến đây chỉ là sự áp đặt mơ hồ và không có ý nghĩa thực chất
hay thực tế nào cả.
4/ Quan điểm kinh
tế tập thể kiểu người Nga áp đặt cho toàn xã hội chỉ là sự ảo tưởng sai thực tế
và phi thực chất. Nó không cứ đến những tâm lý, kỹ thuật thực tiển hiệu quả của
xã hội như thị trường, tiền tệ, sự phân công tự nhiên, khách quan của xã hội,
nguyên lý cơ động và luật pháp thiết thực của xã hội mà Mác đã bỏ qua tất cả.
Tính cách phản thực tế, phi thực tế xã hội là điều học thuyết Mác buông lõng và
người Nga từng mê tín áp dụng.
5/ Khái niệm bóc lột
trong học thuyết Mác thực chất chỉ là khái niệm huyền hoặc, mơ hồ nhưng lại gây
ấn tượng cho rất nhiều người vì ý tưởng xã hội thiên lệch, hoang đường hay tiên
kiến của họ. Ở đây không có lằn mức, tiêu chuẩn nào thật sự chính xác để phân định,
không nhìn chung tổng quan yêu cầu gộp và kết quả gộp của toàn xã hội, không
nghĩ tới yếu tố thị trường và pháp luật mà chỉ biết thị hiếu và cảm hứng. Đây
cái nhìn không phải kinh tế học thật sự mà chỉ cái nhìn bị giai cấp hóa kiểu hạn
hẹp và nông cạn.
6/ Từ khái niệm
nguyên lý bóc lột, Mác đi đến chống phá quyền tư hữu theo cơ sở khách quan tự
nhiên nằm thay vào đó ý niệm vô sản hoàn toàn giả tạo, khiên cưỡng, để nhằm thiết
lập xã hội phi giai cấp thực tế chỉ hoang tưởng không bao giờ có được. Bởi
nguyên lý đẳng cấp là nguyên lý tiềm ẩn luôn có trong sự vật, nếu điều này
không triệt tiêu được thì giai cấp khách quan thực tế cũng không bao giờ xóa bỏ
được, chỉ có thể làm cho nó hợp lý, hòa hợp và cùng nhau phát triển hiệu quả,
lành mạnh, tốt đẹp vậy thôi.
7/ Xã hội cuối
cùng không còn nhà nước, không còn pháp luật để nhằm giải phóng tuyệt đối cá
nhân con người, giai cấp cũng như xã hội là sự điên loạn tột cùng của học thuyết
Mác. Nó không những hoang tưởng mà hoàn toàn mê sảng, chống lại những nguyên lý
thực tế làm nền tảng cho cá nhân cũng như xã hội thuộc mọi loại khác nhau. Bởi
vậy thuyết Mác rõ ràng cũng thuộc loại thuyết vô chính phủ một cách hoang đường
hay phản xã hội nhất.
8/ Xã hội làm theo
năng lực hưởng theo nhu cầu kiểu xã hội cộng sản lý tưởng mà quan quan niệm thật
sự chỉ hoàn toàn không tưởng vì nó tuyệt đối không thiết thực đối với bất kỳ cơ
sở hay cơ chế kinh tế nào. Do nhu cầu con người thì vô hạn, bản năng ích kỷ
luôn luôn có, tài nguyên mọi loại đều có hạn, đây là quan điểm nghịch lý nhất
không bao giờ có được và thực chất nó chỉ làm bang hoại cùng phá tán xã hội.
9/ Học thuyết Mác
gây căm thù giai cấp, gây căm thù xã hội là điều tối kỵ trong xã hội loài người.
Bởi mọi sự căm thù đều tự nuôi dưỡng nó và hoàn toàn không có đường ra, nó chỉ
làm con người hạ thấp và hạ cấp, đây là điều phi lý nhất trong học thuyết Mác. Rèn
luyện, phát huy, củng cố căm thù chính là điều tệ hại và phản động, nó có thể bẻ
gãy và tiêu diệt xã hội bất kỳ lúc nào nếu có những phương tiện khác hỗ trợ.
10/ Trong xã hội
mà mọi ý nghĩa và giá trị chỉ còn là vật chất, vậy thì ý nghĩa và giá trị của
cá nhân cũng như xã hội sẽ còn lại được gì nếu không phải là con số không to tướng.
Con người bị hạ cấp xuống chỉ còn hàng sinh vật, hàng vật chất, hàng đồ vật bởi
mọi ý nghĩa hay giá trị nội tại đều hoàn toàn không có, chỉ có sự khoa trương bề
ngoài giả tạo, nó trở thành phản văn hóa, phản nhân văn, phản xã hội mọi loại,
chỉ làm thụt lùi xã hội và kéo lùi lịch sử cách ngang trái, tệ hại mà chính bản
thân khách quan của học thuyết Mác đã phạm phải.
11/ Cuối cùng
nguyên lý chuyên chính vô sản cũng là điều phi lý nhất trong học thuyết của
Mác. Chính nguyên lý giả tạo này cũng triệt tiêu hết mọi điều mà có thể một số
người vốn đánh giá về các điều gì đó tốt đẹp nhất trong học thuyết Mác. Nhưng
vô sản đâu phải thành phần toàn chọn lọc, ưu tú, hay tinh hoa nhất trong xã hội
loài người. Độc tài bất cứ trường hợp nào cũng dễ tăm tối, đi ngược lại nguyên
lý công bằng và nhân văn. Ở đây lại còn độc tài, chuyên chính vô sản nữa, quả
thật Mác chỉ người cố chấp, nông nổi, và kiểu toàn dị đoan, mê tín, vì không có
bất kỳ cơ sở khách quan, khoa học nào trong đó cả.
Vậy nên, chỉ khi
nào đi theo những nguyên lý đúng mới đều hoàn toàn đúng, cũng như là điều hoàn
toàn bó buộc để mang lại các kết quả tối ưu cho cá nhân con người lẫn cả xã hội.
Ví dụ nguyên lý về tình thương yêu, về sự thật và khách quan chân lý, về nguyên
lý của sự đích thực và sự chắc chắn, về nguyên lý đúng của mặt nhận thức và
hành động, về nguyên lý bất di dịch của tính phổ quát, cùng sự phân nhánh và hệ
thống của các nguyên lý, nói thì vô cùng tận, nhưng nó vẫn luôn thống nhất.
Trong khi đó mọi nguyên lý sai đều phản hiệu quả, sai kết quả. Thật ra đó không
hể là những nguyên lý đích thực mà thật ra chỉ là sự làm giả để nhằm dụ hoặc.
Học thuyết Mác thực
chất đã rơi vào nhiều trường hợp như thế, thật ra đó không phải chân lý mà chỉ
là sự giả chân lý, không phải là nguyên lý đích thật mà chỉ là giả nguyên lý
theo cách giả tạo để mọi người tin tưởng vào đó cách sai trái. Nguyên lý bạo lực,
cưỡng chế, nguyên lý độc quyền, nguyên lý xóa bỏ tự do dân chủ trong xã hội con
người, nguyên lý tạo dựng giả niềm tin, thực chất đó chỉ là những sự giả nguyên
lý, phi nguyên lý, vì thật ra chân lý xã hội loài người chỉ có một, chân lý vũ
trụ khách quan chỉ có một, và mọi nguyên lý đúng đắn khách quan trong đời sống cá
nhân và xã hội cũng chỉ đều và phải đều phụ thuộc vào đó.
THƯỢNG NGÀN
(30/4/2024)
**