Thursday, May 9, 2024

NÓI VỀ TÍNH CÁCH ĐẠO ĐỨC TRONG XÃ HỘI CON NGƯỜI

 

NÓI VỀ TÍNH CÁCH ĐẠO ĐỨC TRONG XÃ HỘI CON NGƯỜI

 

Trước khi nói về tính cách đạo đức bó buộc cần phải nói qua cái đẹp. Bởi chính cái đẹp và cái đạo đức có liên quan thiết yếu với nhau. Tính đạo đức là cái đẹp trong tâm hồn và cái đẹp là sự cảm nhận hay cái nhìn mỹ thuật bên ngoài. Cái bên ngoài thường là cái tai nghe mắt thấy hay cảm nhận bằng giác quan nói chung đó đều là hiện tượng vật lý khách quan mà ý thức hay tâm hồn con người tiếp nhận. Nhìn một đồ vật đẹp, một cảnh tượng đẹp, nghe một bản nhạc hay, cảm thấy bề mặt một vật thể nào đó thích thú, dễ chịu, đó đều là những cái đẹp ngoại diện, mang tính vật lý mà tâm hồn hay ý thức con người nắm bắt được.

 

Cũng tương tự vậy, đạo đức chính là cái đẹp về tâm hồn, nó hoàn toàn trừu tượng, một sự cảm thức khách quan tự nhiên nhưng không thể do đạc được bằng các đặc điểm hay tính cách vật lý như cái đẹp ngoại diện như từ đầu đã nói. Hay đạo đức cũng là cái đẹp, nhưng cái đẹp trừu tượng thuộc tâm hồn, không phải cái đẹp ngoại diện đầy tính chất cụ thể nơi mọi sự vật thực tế ý thức con người có thể tiếp nhận được. Tuy vậy nói chung lại mọi cái đẹp luôn luôn bắt buộc có sự cân đối, hài hòa, hữu lý, trật tự nào đó mà tâm hồn có thể chấp nhận được. Mọi cái bừa bộn, lộn xộn, vô trật tự, phi mỹ thuật đều không thể gọi là đẹp được. Đạo đức cũng vậy, cái đẹp đây là sự hài hòa, hữu ích trong đời sống, đáp ứng tính tốt đẹp về nhận thức, cũng chính là điều mà không ai chối cãi được.

 

Đạo đức là cái đẹp nơi tâm hồn, tức tâm hồn khách thể nơi biểu hiện và tâm hồn chủ thể nơi tiếp nhận. Người có đạo đức trước hết phải là người có tâm hồn đẹp, và người cảm nhận được tính đạo đức của người khác cũng phải trên cơ sở như thế. Đây chính là sự đồng điệu trước hết phải có như điều kiện hay ý nghĩa trước tiên và căn bản nhất.  Người có đạo đức thì thường tìm tới những người có đạo đức như một sự mong muốn hòa hợp hoặc hoàn toàn ngược lại cũng như thế. Tính hòa điệu không những là sự thỏa mãn tâm hồn mà còn là sự hữu ích, ích lợi chung cho cả cá nhân và xã hội. Cái đẹp đạo đức trước hết do tâm hồn mang lại, nhưng nguồn gốc sâu xa của nó chính là từ văn hóa giáo dục, từ truyền thống văn minh nhân loại mà con người từ ngàn xưa đã vốn có.

 

Loài vật không có tính đạo đức bởi vì chúng chỉ sống theo trạng thái hay xu hướng tự nhiên khách quan hoang dã. Chúng là chuỗi thức ăn lẫn nhau một cách tự động khi có yêu cầu đòi hỏi và sự thuận tiện mà không cần suy nghĩ gì khác. Trong khi đó các giống vật đã được thuần hóa từ lâu đời như gia súc, phần lớn chúng cũng được hòa điệu và có tình cảm gần gũi với con người, nhưng đó chỉ là thói quen cần thiết hay đẹp đẽ nào đó mà không thể mang ý nghĩa đạo đức đúng nghĩa như giữa con người lẫn nhau cũng như với xã hội con người theo kiểu khách quan, bao quát. Nên đạo đức chính là ý nghĩa tinh thần, mà thực thể này thì loài vật hoàn toàn không có. Bởi tính nhân văn, nhân bản là tính của con người, do bản thân con người và sự đào tạo giáo dục qua bề dày của lịch sử truyền thống là điều mà bản thân loài vật không thể nào đạt đến.

 

Nên đạo đức nói chung không những là cái đẹp, cái hòa điệu trong tâm hồn, mà còn là yêu cầu an toàn cho cả bản thân cũng như cộng đồng xã hội. Sống trong tình huống hay hoàn cảnh xã hội phi đạo đức cá nhân con người luôn cảm thấy bất an và xã hội nói chung cũng đều chông chênh như vậy. Có nghĩa đạo đức luôn luôn là giá trị thiết yếu của nhu cầu đời sống, là cái đẹp của cảm thức cá nhân lẫn cái đẹp hài hòa cho nhu cầu an toàn của xã hội. Cá nhân an toàn thì xã hội cũng an toàn hay ngược lại. Căn cơ hay ý nghĩa tự thân của yêu cầu đạo đức cá nhân cũng như xã hội vẫn là như thế. Con người chỉ cảm thấy an toàn khi sự tiếp xúc với đồng loại mình được hoàn toàn tin cậy, và sự an toàn này được bảo đảm cũng như được nâng lên thành sự hòa điệu chung, đó chính là giá trị và ý nghĩa đạo đức căn cơ nhất mà con người có được hay luôn luôn nhắm đến.

 

Vậy đạo đức là gì nếu không phải trước tiên là sự hiểu biết và tấm lòng thành thật. Sự hiểu biết là nấc thang giúp cho đạo đức được lên cao hay xuống thấp đều tùy theo mức độ hay bản thân của chính sự hiểu biết đó. Người có học nhiều dĩ nhiên ý nghĩa đạo đức cũng sáng tỏ hơn so với người ít học, nhưng điều này cũng không hoàn toàn chắc chắn lắm vì còn tùy vào cơ địa hay bản chất khuynh hướng bẩm sinh mà người đó vốn có. Nên kết quả cuối cùng của đạo đức là sự kết hợp của hai mặt, xu hướng bản thân và trình độ hiểu biết. Do vậy đạo đức không phải chỉ là sự thụ động học theo người khác mà là sự chủ động nắm vững được các nguyên lý để nhằm cư xử, hành vi theo tính tự giác và linh hoạt của mình. Càng sàng lọc và thấm đượm được những nguyên lý đạo đức căn cơ hay tinh vi nhất, đó mới chính là ý nghĩa, giá trị hay kết quả đạo đức mà một người có thể có được hay đạt tới được.

 

Thành đạo đức luôn luôn có ba phương diện mà một người có thể biểu hiện ra được. Đó là sự nhận thức sâu sắc và đầy đủ, đó là lời nói được công nhiên phát biểu ra, và cuối cùng là hành vi thực hiện nơi bản thân mình cũng như có liên quan đến người khác nói chung. Nếu sự nhận thức không đầy đủ, hành vi đạo đức cũng không trọn vẹn hay có khi chỉ là sự ngụy tạo hay giả dối. Nếu lời nói phát ra chỉ là quanh quẹo, không xác đáng, không trung thực, đạo đức đó có khi chỉ là sự giả dối, sự lường gạt. Cuối cùng hành vi đạo đức phải là hành vi mang lại kết quả thiết thực, cụ thể, không phải chỉ mang đến phản tác dụng, phi kết quả, tức kiểu chỉ man trá hay phỉnh gạt suông. Nên đạo đức chỉ có ở những tâm hồn chân chính và thành thật. Bất kỳ có sự giả dối nào, đó đều không phải đạo đức mà thực chất chỉ là đạo đức giả, một thứ hoàn toàn nhân danh hoặc giả hiệu. Đạo đức giả thì cũng bằng phi đạo đức hay phản đạo đức.

 

Nói khác đi, đạo đức thật sự luôn luôn phải theo đúng những nguyên lý khách quan bó buộc, không phải kiểu tự biên tự diễn có thể chỉ chủ quan hay dối gạt. Như không làm thiệt hại cho người khác là đạo đức, không dối gạt người khác là đạo đức, không làm gì phi phẩm hạnh tốt đẹp của bản thân mình là đạo đức, không làm gì đi ngược lại các giá trị và mục tiêu tốt đẹp của xã hội là đạo đức, tức đạo đức luôn phải đi đôi với cái đẹp, cái tốt, không thể nào theo chiều ngược lại. Vả đạo đức không những phải đi đôi với cái đẹp, cái tốt, mà còn đi đôi với cả sự hữu ích. Bất kỳ cái gì chỉ vô ích hay đi ngược lại tính ích lợi, thực chất vẫn đều không phải là đạo đức đúng nghĩa. Nên mọi sự phá hoại, sự tiêu cực, sự thụ động tai hại nào đó đối với bản thân, đối với người khác cũng như với toàn xã hội cũng đều không phải đạo đức. Cách đây đã nhiều ngàn năm, người xưa từng đưa ra một tiêu chuẩn hay nguyên lý đạo đức rất chân xác, đó là câu nói “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân”, tức bất kỳ điều gì mình không muốn người khác làm cho mình cũng không thể tùy tiện làm cho người khác.

 

Cho nên không ai bị mất của, bị lừa dối, bị sát hại, bị ức chế, bị nô lệ, thì mọi sự trộm đạo, ăn cướp, ăn trộm, gian dâm, lừa gạt, dối trá, sát nhân, bạo lực nói chung đều phi đạo đức hay phản đạo đức. Trong các điều này đạo đức cũng thường đi theo với pháp luật là như thế. Có điều đạo đức và pháp luật thường là hai phạm trù thực chất khác nhau. Đạo đức hướng về lương tri lương năng bên trong nội tâm, còn pháp luật thường khi chỉ là ý chí tập thể kiểu bề ngoài. Nên pháp luật đôi khi có thể sai vì ý chí chủ quan nhất thời nào đó, còn đạo đức vẫn luôn luôn đúng, chỉ trừ mức độ chính xác của nó như thế nào đó mà thôi. Nên luân lý đạo đức có thể thay đổi theo hoàn cảnh, ý nghĩa xã hội, nhưng đạo đức như nguyên lý, nguyên tắc thì ở xã hội nào cũng có dù tiềm ẩn hay công khai khác nhau. Ví dụ đấu tranh giữa cá nhân con người là điều luôn luôn có, nên tính đúng sai, hướng thượng hay hướng hạ, cao quý hay xoàng xỉnh là điều cần nên quan tâm tới. Trong khi đó đấu tranh giai cấp là điều chưa chắc đúng bởi vì nó còn nhiều điều mơ hồ và chưa có cơ sở thực tế khách quan nào cả.

 

Thế cho nên dùng đấu tranh giai cấp để gây hận thù giữa con người trong xã hội đó thực chất là phi đạo đức dầu có nhân danh bất cứ điều gì hay như thế nào mặc kệ. Nên bất kỳ cái nào không có cơ sở xã hội khoa học khách quan mà chỉ cảm tính, ý chí hay thị hiếu chủ quan, chưa chắc đã mang ý nghĩa, giá trị, hay mục đích đạo đức mà hoàn toàn có thể ngược lại. Thành ra đạo đức luôn luôn là ý nghĩa lương hảo nơi cá nhân con người cũng như xã hội loài người. Mọi ý thức quanh co giả dối, không trung thực, không lành mạnh, không lương hảo đều đễ dàng xa rời đạo đức, phi đạo đức, ngược lại đạo đức nếu con người không có đủ năng lực hay trình độ nhận thức để phán xét. Nên nói chung đạo đức luôn phải đi theo với lương tri, lương năng mà không thể mù quáng. Đạo đức là ý nghĩa chiều sâu của tâm thức lương hảo lẫn cả sự thể hiện, biểu hiện tốt đẹp ra nơi bình diện xã hội. Tính chất lý thuyết và tính chất thực hạnh của đạo đức mật thiết liên quan và cùng thể hiện ra trong cả hai chiều hướng đó. Nền tảng của đạo đức là trình độ và ý nghĩa nhận thức về đạo đức cũng như mọi giá trị cùng mục đích khách quan của nó.

 

Trong thời xa xưa, đạo đức chỉ thường đi liền với cảm thức luân lý, là giá trị truyền thống từ ngàn đời truyền lại. Mọi sự đúng sai hay dở ở đây đều đặt trên tiêu chí cảm tính cá nhân cũng như xã hội. Mọi cái gì đã được chắt lọc qua không gian và thời gian là đều tốt cho cá nhân và xã hội thì đều quan niệm đã trở nên tiêu chí đạo đức và không cần bàn cãi nữa. Bởi vậy đạo đức cũng trở thành cơ sở của pháp luật. Nhưng trong thời hiện đại, cả khoa học và chính trị đều trở nên thiết yếu, nên đạo đức cũng không thể xa lạ, tách rời mà còn gắn bó, gần gũi với cả hai điều này nữa. Nhưng trong khi khoa học bó buộc luôn phải là sự nghiên cứu khách quan vô tư chuẩn xác để tìm ra các nguyên lý, quy luật hướng dẫn tri thức đúng đắn và thực hành, ứng dụng hiệu quả trong thực tế, chính trị vẫn có thể nghiêng về ý chí chủ quan, nghiêng về lợi ích nhất thời của yêu cầu lợi ích thiển cận nào đó như điều thông thường vẫn đều hay thấy. Điều này chỉ làm cho chính trị dễ thành thiển cận, trong khi chính trị đúng đắn và hiệu quả nhất phải là chính trị khoa học, tức được thực hiện trong ý nghĩa và mục tiêu theo kiểu khoa học.

 

Thành nên đúng ra đáng lẽ chính trị phải luôn đi sát theo khoa học và đạo đức như là yêu cầu khách quan bó buộc cao nhất, nhưng trong thực tế nó thưởng hoàn toàn ngược lại. Chỉ bởi vì chính trị thường hay gắn với những tham vọng cá nhân cùng với những quyền lợi riêng biệt. Trong số các quyền lợi này cả quyền lợi tinh thần cùng vật chất đều luôn chủ yếu. Quyền lợi tinh thần như tham vọng công danh sự nghiệp, khuynh hướng quyền hành bản thân, quyền lợi vật chất như lợi lộc riêng tư, luôn luôn là những điều không thể tránh. Kiểu chính trị ý thức hệ như quyền lợi giai cấp hay cả mục đích hoang tưởng, hư tưởng đắm đuối, mơ mộng hoặc chỉ thuần túy nhân danh vẫn là điều trong thực tế thường thấy hoặc cũng rất dễ thấy. Đó là thực chất của mọi loại chính trị độc tài toàn trị, nó chỉ che đậy những quan điểm cá nhân duy ý chí hay diễn tuồng riêng biệt mà không phải đều đích thực đạo đức hay khoa học khách quan thật sự.

 

Trong khi đó chỉ có nền chính trị tự do dân chủ đích thực mới là nền chính trị đúng đắn vì khách quan thật sự. Bởi vì tự nó không đi ngược lại bất kỳ nguyên lý có giá trị tiên quyết, thiết yếu và khách quan nào, mà ngược lại luôn luôn phù hợp cùng thích ứng với chúng. Như nguyên lý bình đẳng giữa người và người, nguyên lý phát triển tự do không bị kìm chế ràng buộc, nguyên lý công bằng xã hội một cách tự nhiên, khách quan và thiết thực, nguyên lý bảo đảm tính khoa học kỹ thuật cách hiệu quả trong nhận thức và thực hành, nguyên lý nhân văn tôn trọng mọi giá trị tốt đẹp và mục đích chính đáng của con người, tôn trọng con người vì con người và vì ích lợi chung của toàn xã hội mà không nhân danh sai trái hay vì bất cứ những mục tiêu che đậy riêng tư nào khác. Ngược lại mọi ý nghĩa ý thức hệ này đều chỉ là tiền chế, chủ quan, cứng nhắc hay hạn hẹp. Nó chỉ có thể giả tạo, o ép, đóng khung xã hội một cách giả tạo, giả dối, kìm hãm, mà thực chất không giúp ích gì cho xã hội cũng như lịch sử nâng cao và phát triển.

 

Bởi vậy nghiên cứu mọi ý nghĩa, giá trị, và các nguyên lý khoa học khách quan, để càng ngày càng phát triển và đào sâu; nghiên cứu các giá trị đạo đức cá nhân và xã hội để càng ngày càng tăng tiến và mở rộng; đó là nghĩa vụ của tất cả mọi công dân thiện chí, sáng suốt và tài năng, trong bất kỳ phạm vi nào của xã hội, đều là điều luôn luôn cần thiết và hữu ích. Chính nền tảng tự do dân chủ trong xã hội mới bỏ đảm phù trợ cho kết quả đó mà không thể nào khác. Nâng cao dân trí, thúc đẩy mọi sự hiểu biết chính đáng trong xã hội đó mới là ý nghĩa và mục đích tốt đẹp của chính trị mà không phải ngược lại. Chính trong điều kiện tự do dân chủ của xã hội và sự hiểu biết rộng rãi của dân chúng mà vẫn tạo được nền chính trị hiệu quả và ổn định đó mới là tài năng của người lãnh đạo mà không phải ngược lại. Tức dùng sự độc tài toàn trị chặt chẽ để hãnh diện về sự ổn định nào đó đều là sự giả dối, kiểu vụng múa chê đất lệch, thực chất chỉ đều phản chính trị, phản đạo đức, phản nhân văn đúng nghĩa.

 

Chính vì thế đạo đức cá nhân và đạo đức xã hội luôn luôn thiết yếu và quan trọng đối với xã hội. Đạo đức cá nhân là phẩm hạnh tự có của cá nhân. Đạo đức xã hội là phẩm hạnh của người đó hướng về xã hội. Mục tiêu cuối cùng vẫn phải có nguồn gốc từ cá nhân và đã trở thành giá trị phổ biến chung cho toàn cộng đồng hay xã hội. Đó nói chung là bản chất thật, giá trị thật, nhưng không phải thuần túy chỉ là sự phô trương hình thức hay giả dối. Đặc biệt nó phải thật sự có ở những người đứng đầu xã hội hay cầm quyền chính ở một đất nước. Có vậy sự lựa chọn chung mới là đích thực và hiệu lực mà không phải kiểu áp đặt, giả tạo và bó buộc. Bầu cử tự do dân chủ thực sự trong một đất nước để lựa chọn ra những người cầm quyền đích thực và thực chất, đó mới là nền chính trị chân chính, do dân và vì dân, còn nếu không cũng chỉ là sự ngụy trị gian dối, giả dối, và cũng chẳng mang ý nghĩa hoặc giá trị gì chính đáng hay tốt đẹp cả.

 

NON NGÀN

(09/5/2024)

   

**

No comments:

Post a Comment