Friday, July 31, 2015

NHỮNG BÀI PHÓNG BÚT NGẮN, CHỚP NHOÁNG (TẬP II) - (16)


NHNG BÀI PHÓNG BÚT NGN, CHP NHOÁNG (TP II) - (16)

 

**

 

CẦN BÌNH LẠI MỘT BÀI THƠ ĐỂ ĐỜI

CỦA NHÀ THƠ TỐ HỮU

 

Đó là bài thơ “Đời đời nhớ Ông” mà chắc là trong nổi xúc cảm thật hay giả thời trung niên của mình nhà thơ đã “lỡ” làm ra. Chỉ tiếc đã làm ra rồi, đã công bố lên rồi, thì không còn rút lại được nữa. Nó trở thành chứng tích muôn đời, mà chính tác giả khi còn sống có muốn sửa đổi hay đính chính lại, đều không thể được nữa. Thật đáng tiếc lắm thay.

Trước hết, ngay trong đoạn đầu :

 

Bữa trước mẹ cho con xem ảnh

Ông Xít Ta Lin bên cạnh nhi đồng

Mắt Ông hiền hậu, miệng Ông mỉm cười

Trên đồng xanh mênh mông     

   

 Thật sự những câu văn này rất ngô nghê, vụng về, tuy là thơ tự do, nhưng nó giống như các câu văn, có quá ít cảm xúc, thiếu nghệ thuật, lại không vần điệu gì cả.

Đoạn tiếp theo sau :

 

Ông đứng với em nhỏ

Cổ em quàng khăn đỏ

Hướng thẳng về tương lai

Hai Ông cháu cùng nhìn

 

Quả thật, còn ngô nghê không kém đoạn trước là mấy. Điều này, chứng tỏ Tố Hữu mới chỉ có khả năng làm thơ, nhưng không thật sự có chân tài, không phải tầm cỡ của nhà thơ đúng nghĩa, chưa nói là nhà thơ lớn. Nói thẳng ra, nó chỉ giống như một thợ thơ. Đoạn sau đó :

 

Xít Ta Lin! Xít Ta Lin!

Yêu biết mấy nghe con tập nói

Tiếng đầu lòng con gọi Xít Ta Lin

Mồm còn thơm sữa xinh xinh

Như con chim của hòa bình trắng trong

 

Đúng là quái lạ. Nó chỉ giống như cách ghép chữ một cách cẩu thả. Hình tượng diễn đạt hoàn toàn vô lý, tức rõ ràng là không có thật, giả dối, hay giả tạo. Vần điệu quả nhiên là vô cùng ngượng nghịu. Có nghĩa, tác giả đã cố rặn cho ra thơ, một cách khổ nhọc, khó khăn, và miễn cưỡng. Vì nếu có thi hứng thật, có cảm xúc thật, có thi pháp thật, không ai lại quá vụng về, kệch kỡm, phản mỹ cảm, và quá kỳ khôi như thế. Đoạn kế nữa :

 

Hôm qua loa gọi ngoài đồng

Tiếng loa xé ruột, xé lòng biết bao

Làng trên xóm dưới xôn xao

Làm sao Ông đã, làm sao mất rồi

 

Hơi thơ ở đây đúng là thơ lục bát. Nhưng vẫn là thứ lục bát còn nôm na, không thoát, thiếu trau chuốt, nói đúng là còn nặng, trúc trắc, và vụng về. Nhất là ý thơ rõ ràng giả tạo, muốn nói lên cái gì thực sự nó không có, trong lòng mình không có, nên không hề thật sự cảm xúc. Có nghĩa, nó chỉ như khẩu hiệu, hay ngôn ngữ tuyên truyền bề ngoài để cho có, không cho thấy có cái gì là thành khẩn thật với lòng.

Đến đoạn chót :

 

Ông Xít Ta Lin ơi! Ông Xít Ta Lin ơi!

Hỡi ôi Ông mất đất trời có không

Thương cha thương mẹ thương chồng

Thương mình thương một, thương Ông thương mười…”

 

Đến đây, quả thật là hết ý. Đây là đoạn có nghệ thuật trội nhất trong cả bài thơ. Thi tứ trôi chảy, ý thơ lưu loát. Nó giống như dòng chảy vốn bị tắt tị nhiều chỗ, chỉ đến đây mới được xả ra, được tuôn ra thoãi mái. Tuy nhiên, ý tứ lại thật sự quá đáng. Làm gì mà có chuyện trời long, đất lở giống như thế. Tố Hữu tự mình sụp hố, hay giả vờ đóng kịch sụp hố, đọc qua chắc ai cũng có thể thấy. Nhưng hai câu kết mới thật quá sức tưởng tượng. Thương một người nước ngoài, cho dầu tự mình thần thánh hóa, tôn kính hóa bao nhiêu, lại hơn cả cha mẹ, hơn cả bản thân, thì thật là điều khó có trên đời. Cho nên như thế, chỉ quả là giả dối, đóng kịch, giống như một màn kịch thơ, không hơn không kém. Phải chăng tác giả đã tự đóng kịch với mình, hay đóng kịch với mọi người. Có lẽ vế sau mới đúng. Vì đóng kịch trước mọi người để nhằm được chiêm bái, hoan hô, được quan tâm, đánh giá đến. Còn nếu chỉ đóng kịch với chính mình, thì phỏng có cần thiết hay ích lợi gì.

Nói chung lại, văn chương là nghệ thuật. Thi ca là nghệ thuật cấp cao, và trội vượt nhất. Do đó, điều chính yếu là thơ phải có hồn thơ, có bút pháp thơ phong phú, già giặn, đó mới là nhà thơ có thật tài, và còn để lại được gì cho đời. Đằng này, Tố Hữu thật sự chẳng có thực tài, chỉ giống như một người làm thơ ở cái mức loàng xoàng, giống như một người thợ thơ, hay nói đúng hơn, là một người thợ chính trị biết làm thơ, tức là có thể sản xuất ra thơ, theo cái nghĩa là loại văn vần hãy còn nghèo nàn, và ở mức thấp nhất. Đây thật sự là một điều rất đáng tiếc cho Tố Hữu, cũng như thật đáng tiếc cho một giai đoạn văn học của đất nước, nếu quả sau này nó vẫn còn được ghi dấu, và tồn tại, để các thế hệ sau biết đến. 

                                                                                                                               VÕ HƯNG THANH

(15/02/11)

 

**

 

CHÍNH TRỊ NHƯ MỘT KHOA HỌC

VÀ CHÍNH TRỊ NHƯ MỘT PHẠM TRÙ ĐẠO ĐỨC

 

Khoa học là tính khách quan, chính xác, nên thật sự cũng là ý nghĩa thành công hay hiệu quả. Khách quan có nghĩa đúng nguyên tắc và quy luật thực tế. Chính xác có nghĩa là tiết kiệm, không hoang phí. Cả hai họp lại, cũng có nghĩa là tính hiệu lực hay hiệu quả. Đó cũng là ý nghĩa năng suất của chính trị. Phạm trù đạo đức là ý nghĩa chung về mọi điều tốt. Như vậy, ý nghĩa đạo đức là ý nghĩa về phẩm chất và giá trị. Nó mang lại mọi điều tốt cần thiết cho mỗi cá nhân con người và cho toàn xã hội. Có nghĩa phạm trù đạo đức cũng phải bao quát cả ý nghĩa chính trị, tức chính trị tốt thì không thể trái đạo đức, nói khác đi chính trị tốt cũng phải là ý nghĩa đạo đức của mỗi cá nhân và của toàn xã hội.

Nói như vậy, thoạt tiên có vẻ chỉ mang tính cách lý thuyết, hay thậm chí như thể đầy tính chất giáo khoa thư, nhưng thực tế không phải như vậy. Bởi vì đây không phải là những ý tưởng từ sách vở, mà thật sự có có thể là những trải nghiệm, những suy nghĩ, những cảm nhận, những kinh nghiệm thực tế, đồng thời cũng là những kết luận có thể được rút ra từ bản thân của tất cả mọi người. Nói cách khác, chính trị trước hết không gì ngoài là một ý nghĩa xã hội. Chính trị thực chất là sự tương giao hay sự tương quan của mọi người về phương diện quyền lực và trật tự trong xã hội. Tất nhiên chính trị cũng không thể tách rời với phạm trù kinh tế và văn hóa. Cho nên ý nghĩa cao nhất của chính trị chính là mục đích hạnh phúc, kết quả vật chất mang lại, cũng như kết quả văn hóa mang lại cho tất cả mọi người cũng như cho toàn thể cộng đồng hay xã hội.

Trong tính chất khái quát cao như thế, ý nghĩa đầu tiên của chính trị tức là ý nghĩa về quyền lực. Quyền lực đây là quyền lực về tổ chức xã hội, quyền lực hành sử hay làm chủ lấy mình trong cuộc sống, quyền lực này vừa là ý nghĩa của mỗi cá nhân vừa là ý nghĩa của toàn thể cộng đồng hay xã hội, mà đơn vị chung, bao quát đó thường được kể là một dân tộc, một quốc gia hay một đất nước. Do đó khi đất nước bị xâm lăng, tức chủ quyền quốc gia bị mất, bị người ngoài cướp đoạt, có nghĩa quyền chính trị của quốc gia, dân tộc, đất nước, hay quyền chính trị của mọi người dân trong xã hội đó cũng bị mất. Đó là sự lệ thuộc, sự mất chủ quyền hay nô lệ. Và thường thường có những cuộc nổi dậy đấu tranh, những cuộc khởi nghĩa, hay những cuộc cách mạng nổi lên để giành lại độc lập, chủ quyền cho đất nước, đó là ý nghĩa của những cuộc chiến đấu giải phóng, giành độc lập dân tộc, hay kể cả những cuộc chiến tranh nhằm chống lại sự xâm lăng và bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ của đất nước.

Điều này cho thấy ý nghĩa của chính trị là một ý nghĩa rất rộng, nó vừa có tính cách lịch sử, tức tính cách liên quan đến chủ quyền, lãnh thổ quốc gia. Nhưng nó cũng vừa có tính cách kinh tế xã hội, tức liên quan đến quyền làm chủ và sự hạnh phúc, ấm nó của toàn dân, liên quan đến đạo đức và trật tự tốt đẹp của xã hội. Chính vì thế, ở thời xa xưa, trong những xã hội phong kiến, chính trị tốt đẹp là chính trị vương đạo, tức vua là một đấng minh quân, xã hội được thành bình, toàn dân an cư lạc nghiệp. Trái lại, trong những thời kỳ xã hội nhiễu nhương, đó là chính trị bá đạo, quyền lực nằm trong tay bạo chúa, hay bị phân chia cho các thế lực thù địch nhau, xã hội thường xuyên sống trong sự bất ổn và chiến tranh, nhân dân bị khinh bỉ, đói rách, không thể còn an cư lạc nghiệp được, đó cũng là những xã hội tranh bá đồ vương vì các lợi ích và quyền lực của những nhóm cá nhân, như sự tranh giành giữa các lãnh địa phong kiến thời xưa ở phương Tây, thời chiến quốc ở Trung hoa xưa mà ai cũng biết.

Cho nên chính trị vương đạo là chính trị của thời đất nước thịnh trị. Ý nghĩa cuộc khởi nghĩa của hai bà Trưng là ý nghĩa của mục đích chính trị vương đạo, tiếc rằng mục đích đã không đạt được lâu. Nhưng về sau những triều đại lâu dài của Việt Nam như triều Lê, triều Lý, triều Trần chẳng hạn, phần lớn những thời gian trị vì đều có những nền chính trị vương đạo, những chính sách chính trị vương đạo, nghĩa là mang lại mọi ý nghĩa tốt đẹp cho toàn xã hội cũng như cho mỗi người dân. Nhưng đó là nói về lịch sử, nói về những thời đại xa xưa đã có. Còn trong thời hiện đại, ở khắp nơi trên thế giới, nói đến chính trị là nói đến quyền lực quản lý mọi mặt trong toàn thể xã hội. Tất nhiên, lịch sử vẫn luôn có những phần nào đó tái diễn, cho nên đại chiến thế giới lần thứ nhất, rồi đại chiến thế giới lần thứ hai, cũng chẳng khác nào sự tranh giành giữa những thế lực, những quyền lợi chính trị của các quốc gia, ngay cả thời kỳ chiến tranh lạnh tiếp theo chế chiến lần thứ hai cũng vậy, nhưng may thay đã không xảy ra thế chiến lần thứ ba, và tất cả những sự kiện, diễn tiến đó của lịch sử, ngày nay có thể nói hầu như cũng đã qua rồi. Và sau thời kỳ đấu tranh ý thức hệ rùm beng, nay thì thế giới cũng đã đi vào nền kinh tế toàn cầu, các cái được gọi là tranh giành ý thức hệ một thời nay phần lớn cũng đã được dẹp sang một bên, có nghĩa lại đang bước vào một thời kỳ mới của ý nghĩa chính trị trên toàn thế giới.

Nhưng dầu sao chăng nữa, đó cũng là những sự kiện, những hiện tượng chính trị mang tính cách bề ngoài, tức là sự tranh giành ảnh hưởng, tranh giành quyền lợi và lợi ích thuộc các phạm vi khác nhau, toàn cầu hay trong mỗi nước, sự tranh giành lợi ích vật chất như quyền lợi kinh tế, sự tranh giành ý thức như quan điểm chính trị, tất nhiên hay ý nghĩa này tương quan mật thiết với nhau, giữa các nhóm quốc gia, các nhóm phe phái, hay kể cả giữa các nhóm cá nhân trong từng xã hội. Nhưng đó vẫn chỉ là những hiện tượng chính trị, những sự kiện chính trị, những tính cách tự nhiên và khách quan của chính trị, còn ý nghĩa và mục đích chính trị về thực chất như một khoa học và như một phạm trù đạo đức lại là chuyện khác. Có nghĩa nói khía cạnh trước là nói khía cạnh hổn mang, bề ngoài, còn nói khía cạnh sau là nói về lý tưởng, ý nghĩa và giá trị của chính trị về bề trong, tức về thực chất chính trị mà hầu hết mọi con người ngay chính đều mong muốn, đó là chính trị như một khoa học và như một phạm trù đạo đức như trên kia đã nói.

Chính vì hiểu chính trị chỉ như một sự giành giật quyền lợi, quyền lực giữa các cá nhân, các nhóm cá nhân, hay các nhóm xã hội, nên thông thường người ta hay đồng hóa chính trị với sự gian giảo, mưu mẹo, sự đối kháng, tiêu diệt lẫn nhau giống như trên chiến trường, đó là ý nghĩa của quan niệm chính trị theo kiểu hình ảnh của chính trường. Tất nhiên ý nghĩa đó vẫn không ngoài tính cách của chính trị theo kiểu bá đạo mà không phải vương đạo, cho dù tính chất thời sự hay ý nghĩa hiện đại của nó có thể không giống như xưa kia, tức không giống với những thời kỳ xa xưa của lịch sử thế giới. Vậy nên, nói cho cùng, ý nghĩa chính trị như một lý tưởng có bao giờ thực hiện được không, hay nó chỉ luôn là một ảo tưởng, một thực tế phũ phàng, một thực chất hoài nghi của loài người vẫn luôn xảy ra trong từng xã hội. Trước đây trong thời kỳ ý thức hệ, chính trị được phong lên như một mục tiêu thần thánh, tuyệt đối lý tưởng, giải quyết trong một lần cho mọi tồn tại của lịch sử nhằm đi đến một xã hội lý tưởng theo kiểu muôn năm, nhưng rồi khi kịch bản đã hạ màn trên toàn thế giới, người ta mới thấy đó cũng chỉ là giả dối, là ảo tưởng, và rồi mọi sự đời ở đâu cũng lại vào đấy, tuy rằng cuối cùng vẫn có được những bước phát triển và cải thiện hơn.

Vậy chung quy lại, chính trị lý tưởng vẫn không gì hơn phải như một khoa học và như một phạm trù đạo đức. Như một khoa học có nghĩa nó không thể như một thực tế tầm thường, cũng không phải chỉ là những lý thuyết suông, những ảo tưởng xa vời, mà phải là những hiện thực được nghiên cứu có hệ thống chính xác, khách quan, được điều chỉnh và cải thiện trong thực tế xã hội một cách không ngừng nhằm để đi lên tốt đẹp hơn. Như một phạm trù đạo đức có nghĩa nó phải có mục đích chân thực, không lừa gạt, không dối trá, không mánh mung chỉ vì các quyền lợi cá nhân , các quyền lợi phe nhóm riêng của mình, mà đó phải là quyền lợi đích thực của mọi con người, quyền lợi đích thực của mỗi đất nước, quốc gia, hay của toàn xã hội. Muốn được như thế, tất nhiên ý thức con người là điều quan trọng nhất. Ý thức cũng có nghĩa phải đi đôi với sự nhận thức, tức ý thức và sự nhận thức này là ý thức và sự nhận thức của tất cả mọi người mà không chỉ dành cho riêng ai. Đó là ý nghĩa của dân chủ, của tự do, của dân trí, tức ý nghĩa của số đông, của định luật số lớn, của chất lượng chính trị hay chất lượng về mọi mặt của tất cả mọi người, không đặc quyền cho riêng ai, mà cũng không thể loại trừ bất cứ một ai. Có nghĩa quyền dân chủ, tự do, phải luôn đi đôi với quyền bình đẳng cũng như ngược lại. Cả ba quyền này không thể thiếu sót quyền nào, bởi thiếu sót một quyền nào có nghĩa sẽ khập khiễng, sẽ vênh, sẽ triệt phá lẫn nhau, cho nên cả ba thật sự cũng chỉ là một, đó là ý nghĩa của nhân quyền, tức quyền của tất cả mọi người mà không giành riêng cho ai hoặc cũng không loại trừ bất cứ ai.

Có người cho rằng ở những xã hội mà dân trí thấp, tức phần lớn chỉ là nông dân và công nhân, không thể có tự do, dân chủ, nhân quyền theo kiểu chung chung, tức theo kiểu phổ biến, đại trà, phổ quát hay phổ thông, mà nhất thiết phải có những tầng lớp, những nhóm, những đoàn thể nào đó có đủ năng quyền, khả năng, quyền hạn hay quyền lực để thống nhất lãnh đạo toàn xã hội, phải có kỹ cương rắn chắc hay mạnh mẽ, kể cả dùng bạo lực để lèo lái, “lãnh đạo”, điều khiển, cho vào nếp tất cả mọi người thì xã hội mới có thể ổn định và phát triển. Nhưng thật sự nói như thế, thực chất chỉ hoàn toàn sai. Bởi nói như thế thì mình nhân danh cái gì, lấy cơ sở nào để cho rằng mình có quyền đứng trên người khác, đứng trên mọi người. Nhân danh thần quyền ư, giáo quyền ư, ý thức hệ ư, tất cả những điều đó thực chất đều không phải là cơ sở khách quan hay phổ biến. Thế thì nhân danh cái gì ngoài sự độc tài, độc đoán do chính mình tự phong, bắt buộc xã hội hay mọi người khác phải theo, mà thực chất hoàn toàn không có giá trị hay ý nghĩa khách quan, thực tế nào cả. Cho rằng người nông dân, người công nhân ít học, ít hiểu biết ư, nhưng nếu thế họ cần phải có sự giúp đỡ, sự soi sáng ra về các ý nghĩa chính trị của mọi quyền dân chủ và bình đẳng, tại làm sao lại lợi dụng họ, cho rằng họ chưa đạt chuẩn để mình được giành lấy độc quyền. Còn cho chính mình vì họ ư, lấy gì để chứng minh hay đó chỉ là sự ngụy tín, sự lừa dối, sự nhân danh, tất cả những phương thức đó đều là không ổn.

Vả chăng những người nông dân, những người công nhân, người nào lại không có gia đình, không có bà con, không có bạn bè, không có người thân. Làm thế nào cho rằng họ kém hiểu biết và không có người nào giúp đỡ họ. Nên đó thật sự chỉ là những thái độ, những ý thức ngụy biện. Đó cũng là ý nghĩa của sự không tôn trọng người khác, tướt quyền bình đẳng của người khác, tức là phản dân chủ, phản tự do đối với xã hội, và điều này không phải chỉ có ý nghĩa trong chốc lát, trong ngắn hạn, mà còn là ý nghĩa lâu dài, ý nghĩa thường xuyên, nên đó cũng là sự nguy hiểm và là điều đáng nói nói nhất. Còn các giai tầng khác ư, trong đó kể cả các thành phần trí thức, đó là những phạm vi mở rộng ra toàn xã hội về tất cả mọi phương diện, đặc biệt trí thức không hề bao giờ có sự phân biệt về nguồn gốc, bất kỳ ai cũng có thể trở thành trí thức được nếu họ có điều kiện, điều kiện hiểu biết, học tập, được rèn luyện, giáo dục, có cơ hội thăng tiến, kể cả các điều kiện chủ quan là các phẩm hạnh và đức tính cá nhân. Và nếu thế, cái gì quyết định sự khác nhau giữa mọi người, nếu không phải là ý nghĩa nhận thức, giá trị trí thức, hiệu quả khoa học và các phẩm chất của phạm trù đạo đức. Và trong ý hướng đó, phải chăng ý nghĩa dân chủ, tự do của xã hội là tốt nhất, mà không phải chỉ là độc đoán cá nhân hay chỉ riêng của những nhóm người.

Ngày xưa, một cá nhân nào mạnh và có thế lực, khi dẹp yên được bờ cõi, tức thu phục được mọi người bằng vũ lực hay bằng nhân tâm, sẽ dựng nên một triều đại mới và lên làm vua. Sứ mệnh của vua là thay trời trị dân, đó là quan niệm mệnh trời, như một chỗ dựa vào tất yếu, có thể là một niềm tin thật sự hay chỉ là sự bịa đặt, bởi không có gì chứng minh, nhưng người ta vẫn lấy sự an cư lạc nghiệp của dân, sự thái bình trong thiên hạ làm tiêu chuẩn thước đo, coi đó như là sự phù hợp với mệnh trời, cho tới khi nào xã hội rơi vào tay hôn quân, bạo chúa thì một triều đại mới được dựng nên, và cứ tiếp tục như thế. Đó cũng là thực tế chính trị xã hội trong thời phong kiến, một thực tế xây dựng trên các cơ sở, các dữ kiện khách quan, thực tiển của trình độ xã hội về mọi mặt khi đó. Nhưng trong thời hiện đại, thật sự quan niệm đó đã hoàn toàn đổi thay. Ngày nay hoặc con người hay mỗi xã hội người ta có thể nhân danh ý thức hệ hay không nhân danh ý thức hệ. Đã từng có một thời một ý thức hệ tự cho mình là đúng nhất, là đỉnh cao của trí tuệ loài người, là chân lý khách quan của lịch sử, chân lý tuyệt đối đúng và duy nhất đúng, loại bỏ mọi ý thức hệ khác. Nhưng quyền nào và cơ sở khoa học nào để làm như vậy. Bởi vì một là phải chấp nhận bình đẳng giữa mọi ý thức hệ, hai là không thừa nhận ý thức hệ riêng biệt nào cho toàn thể xã hội. Chính vì thế mà ý thức hệ vô lý trước đây trong thực tế đã gây ra quá nhiều hệ lụy hết sức nghiêm trọng trong nhiều xã hội và trên cả toàn thế giới, nên ngày nay cơ bản hầu như nó đã bị loại bỏ.   

 Thế cho nên trở lại chính trị như một khoa học và như một phạm trù đạo đức, chính là một ý hướng nhân văn(1) trong thời hiện đại của chúng ta. Khoa học có nghĩa có sự đóng góp thường xuyên, liên tục của tất cả mọi người, đặc biệt trong đó những nhà nghiên cứu lý thuyết khoa học nhân văn và xã hội, những nhà trí thức chuyên ngành hay những nhà trí thức nói chung, những nhà hoạt động thực tiển về tất cả mọi mặt. Đó là kết tinh của những suy nghĩ, những trải nghiệm, nhưng tư duy khoa học cùng những ý kiến sáng tạo mà tất cả mọi người đều có thể có. Còn phạm trù đạo đức chính là ý nghĩa văn hóa, ý nghĩa nhân văn, lấy điều thiện, điều tốt, hạnh phúc chính đáng của con người làm mục đích, thước đo và làm mọi tiêu chuẩn. Tuy nhiên, đây không phải là điều hoàn toàn lý thuyết, hoặc ý tưởng mơ hồ nào đó, mà trái lại là các hoạt động thực tế trong xã hội, từ hoạt động nhận thức cho đến các hoạt động thực hành hay thực hiện. Khoa học nói chung là sự chính xác, hiệu quả, mang lại các kết quả thật sự thực tiển. Đạo đức có nghĩa đáp ứng được nguyện vọng mọi người, được mọi người hưởng ứng, đồng thuận và chấp nhận. Điều đó cũng có nghĩa nó đem lại các điều tốt về mọi mặt cho mỗi con người và cho toàn xã hội. Tất cả ý nghĩa và mục đích đó không gì hơn chính là phát huy và mở rộng tính nhân văn, phát huy ý thức độc lập, tự chủ, tinh thần dân chủ, tự do của tất cả mọi người và của toàn xã hội. Bởi chỉ có thế xã hội mới đạt đến ý nghĩa bình đẳng, dân chủ, tự do, và mang ý nghĩa nhân quyền thật sự. Có nghĩa mọi người không còn hận thù, không còn đố kỵ, quên đi mọi tệ trạng trong quá khứ để xây dựng hiện tại và hướng tới tương lai.

Chỉ có niềm tin vào ý nghĩa nhân văn, niềm tin vào ý thức và đạo đức lẫn nhau mới có thể thực hiện được điều này. Có nghĩa chính trị không còn rào cản, không còn bất kỳ những mắc mứu hay vướng vấp giả tạo nào mà luôn luôn hoàn toàn là sự trôi chảy tự nhiên phải có. Có nghĩa nền dân chủ thật sự phải là nền dân chủ của toàn xã hội, mà không phải chỉ dành riêng hay bị hạn chế trong một khu vực nào hoặc chỉ một nhóm cá nhân nào. Bởi khi có dân chủ và tự do thật sự, tự nó cũng sẽ hóa giải được mọi yếu tố lợi dụng, lạm dụng dân chủ, tự do không chính đáng, cũng như mọi sự độc đoán, ngăn trở tự do, dân chủ đích thực một cách không chính đáng. Xã hội nhân văn là xã hội luôn luôn phát triển, con người nhân văn là con người luôn luôn phát triển, khi đó mọi ý nghĩa của phổ thông đầu phiếu, của tự do báo chí, của mọi sự tự do chính kiến và tự do tư tưởng, ý thức luôn luôn được phát huy một cách đầy đủ, hiệu quả và thành công nhất. Có nghĩa không phải mọi người đều muốn làm chính trị, đều cần làm chính trị, nhưng mọi người đều có quyền chính trị, không bị bất kỳ ai tướt đoạt quyền này, và họ chỉ cần giao phó một cách tự nguyện, tự do cho một số những nhân sự thật sự tinh hoa, chuyên nghiệp, luôn luôn đổi mới, luôn luôn xuất hiện mới nào đó của toàn xã hội đứng ra tổ chức, điều hành chung một cách có kết quả các quyền lực chính trị của mọi người, thì họ cũng đã thấy hữu lý và an lòng rồi. Đó chính là ý nghĩa của chính trị như là một khoa học và một phạm trù đạo đức chung cho toàn xã hội, như ngay từ đầu trên kia đã nói.

 

VÕ HƯNG THANH      

(14/02/2011) 

 

**

 

NGƯỜI TA RÚT RA ĐƯỢC ĐIỀU GÌ TỪ VIỆC

TỔNG THỐNG AI CẬP TỪ CHỨC

 

Vào ngày hôm qua cả thế giới đều nhẹ nhỏm khi vào giờ chót tin tổng thống Ai Cập Mubarat từ chức đã được loan đi. Nhẹ nhõm vì vụ biểu tình đòi tổng thống từ chức của nhân dân thủ đô Cairo diễn ra đã hơn hai tuần, đã có thiệt hại, đổ máu, sắp hứa hẹn đổ máu nặng nề nhiều hơn nữa nếu tổng thống không từ chức. Ông Mubarat đã cầm quyền trên 30 năm, đang có dư luận cáo giác bản thân và phe cánh trong đảng cầm quyền của ông tham nhũng, đó là lý do chính yếu xảy ra cuộc biểu tình mạnh mẽ, cương quyết và kéo dài của dân chúng ở thủ đô đòi vị tổng thống đương nhiệm đó phải ra đi, bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân và đất nước.

Tất nhiên nhân dân tại thủ đô Cairo chưa phải là nhân dân trong cả nước Ai Cập, nhưng họ lại tiêu biểu cho sức mạnh của ý chí, tiếng nói, nguyện vọng, chính nghĩa của toàn thể người dân Ai Cập mà cả thế giới đã nhìn vào đó. Điều này thể hiện qua các phát biểu của nhiều nguyên thủ quốc gia lớn trên thế giới có ý muốn đề nghị ông Mubarat nên từ chức, kể cả ý kiến của tổng thư ký Liên hiệp quốc cũng vậy. Tính chất đó không thể nói rằng các nguyên thủ này có dụng ý, muốn can thiệp vào nội bộ của nước khác, hay có những mưu đồ chính trị nào không lành mạnh muốn lợi dụng, khuynh đảo hay áp đặt vào cho nước Ai Cập. Trong khi đó, hành động của ông Mubarat và nhóm của ông ta lại hoàn toàn khác. Họ tìm đủ mọi cách để hoản binh, xoa dịu lòng căm phẩn của dân chúng, nhưng tổng thống thì tuyên bố không từ chức, và vào đỉnh điểm mới tuyên bố sẽ chuyển giao quyền lực trong vòng trật tự và sự ổn định.

Khi cuộc biểu tình của người dân đã đến cao trào, mới lòi ra chuyện người con trai của ông Mubarat rút ra khỏi vai trò một thành viên lãnh đạo trong đảng của ông ta. Đây quả là kịch bản cha truyền con nối trong quyền lợi và sự độc tôn cầm quyền đã sắp hạ màn. Điều đó cũng nói lên ý nghĩa của bản thân ông Mubarat, của gia đình ông, của phe nhóm ông, của đảng cầm quyền của ông trong mắt nhìn của toàn thể nhân dân như thế nào rồi. Chuyện một cá nhân con người lãnh đạo một đất nước suốt cả thời gian dài 30 năm, thật sự không hề mang một ý nghĩa dân chủ, tự do nào cả. Bởi vì nếu anh thật sự có tài, có ý thức, ý chí và nguyện vọng cống hiến cho xã hội và đất nước, có vô số việc cho anh làm, không nhất thiết anh phải cầm quyền, phải “lãnh đạo” thiên hạ, phải làm chính trị, nếu đó thật sự không phải chỉ là tham vọng và quyền lợi cá nhân riêng của anh ta.

Dự luận đồn rằng tài sản riêng hiện nay của ông Mubarat có đến 60 tỷ mỹ kim. Điều đó hư thật thế nào, chắc sau khi ông hết nắm quyền, những người có trách nhiệm điều hành đất nước sau thời kỳ của ông nhất thiết buộc phải làm rõ. Nhưng có điều không nhiều thì ít, các quyền lợi riêng thủ đắc được hoặc bằng cách này hay cách khác, dưới hình thức này hay hình thức khác, che đậy trực tiếp hay gián tiếp bằng cách này hay cách khác, tất yếu chắc chắn cũng phải có, bởi vì ông vẫn chỉ là một con người bình thường, nào phải thần thánh hay kể cả một vị tu sĩ hoàn toàn đúng nghĩa gì đâu. Cho nên quyền vẫn đi đôi với lợi, mà có lợi tất phải có tham, đó là sự tham quyền cố vị của rất nhiều người từ xưa đến nay trên khắp thế giới, ở mọi thời đại, mọi hoàn cảnh, mọi đất nước, mà khắp bàng dân thiên hạ không ai không biết, chỉ có điều có công khai nói ra được thật sự minh bạch hay không mà thôi.

Chính bởi thế, chỉ có nguyên lý tự do, dân chủ là nguyên lý thiết yếu cũng như căn cơ nhất bảo đảm cho mọi sự đúng đắn và trong lành của xã hội. Nó như một cái rào cản tự nhiên để khó có thể có nhiều người xâm phạm được. Bởi nó cũng là tính pháp chế khách quan của xã hội. Bởi nếu ai cũng dựa lưng vào nhau để làm điều xấu, mọi điều xấu trong xã hội không thể tránh khỏi. Ngược lại, ai cũng phải dựa lưng vào nhau để làm điều tốt, hoặc ít nhất ai cũng phải dè chừng, dòm chừng nhau để không làm điều bậy, thì điều bậy mới được giảm đi, điều tốt mới được phát huy lên, đó chính là ý nghĩa cốt lõi và cần thiết muôn đời của tính tự do và dân chủ của xã hội. Điều này cũng nói lên rằng giá trị của tự do, dân chủ phải luôn luôn thực chất, bởi nếu đó chỉ là sự nhân danh, hay sự lợi dụng tự do dân chủ theo cách không đúng nghĩa khách quan, thì nó cũng phản tác dụng, phản ý nghĩa, hay hoàn toàn không giá trị. Nhưng cái gì làm cho tự do, dân chủ không bị nhân danh, không phải chỉ là những danh từ bề ngoài giả dối, cái gì làm cho tự do, dân chủ không bị lợi dụng một cách sai trái, đó chính là bản thân khách quan của các giá trị đích thực, của các nguyên tắc bảo đảm tự nhiên về tự do, dân chủ.

Nhưng thế nào là những nguyên tắc bảo đảm tự nhiên đó ? Đó chính là nguyên tắc về ý thức và nguyên tắc về pháp chế. Nguyên tắc về ý thức là nguyên tắc thật sự tôn trọng người khác, tôn trọng xã hội mà bắt buộc mọi người cần phải có. Bởi đã có nguyên tắc về ý thức này rồi, nhất thiết cũng không thể có sự lạm quyền hay sự lợi dụng. Lạm quyền có nghĩa tự đặt quyền lợi riêng của mình lên trên quyền lợi chính đáng của người khác hay quyền lợi của xã hội, của mọi người. Lạm quyền cũng có nghĩa là sự hợm mình, nghĩ rằng mình tài giỏi hơn người khác, mình phải “lãnh đạo” người khác, phải ban ân huệ cho người khác, không có mình thì thế giới nhất định phải tan rã. Còn lợi dụng tự do, dân chủ có nghĩa mình tự xem thường mình, tự hạ giá mình, lợi dụng, lường gạt ý thức lành mạnh của người khác, dung chiêu bài tự do, dân chủ giả hiệu để tranh đấu, để thu lợi riêng về cho bản thân chính mình. Thực chất đây cũng chỉ là loại khuynh hướng thứ nhất, nhưng nó hạ đẳng và tầm thường hơn, và kết quả thủ lợi riêng cũng như mọi hệ lụy liên quan của nó là hoàn toàn như nhau.

Thế nhưng cả hai ý hướng phản tự do, dân chủ đích thực như trên vẫn luôn luôn xuất hiện trong xã hội. Chẳng hạn tính chủ quan, kênh kiệu, hợm mình luôn luôn đưa đến các hệ lụy của sự độc tài độc đoán, sự chuyên quyền, đưa đến thực tại nhóm trị, thậm chí trong lịch sử thế giới, đã từng có những người cầm quyền suốt đời, đến nổi sau khi chết còn viết cả “di chúc”, đó là bệnh thần thánh hóa lãnh tụ một cách tầm thường và vô lý mà thế giới trong thời cận đại ở nhiều nơi không phải không có. Ngược lại ý hướng lợi dụng tự do, dân chủ là ý hướng vô chính phủ, đục nước béo cò, thừa nước đục thả câu, chỉ vì tham lợi riêng mà sẳn sang lũng đoạn xã hội, đó cũng là điều không thể chấp nhận được, đó chính là ý hướng của những con người vô tổ chức, vô kỹ luật, vô pháp lý. Chỉ có điều lạ, ý hướng thứ nhất lại thường dựa vào ý hướng thứ hai để tồn tại, tức nhân danh sự ổn định, sự phát triển, nhân danh trật tự xã hội và hạnh phúc của nhân dân để tự mình thao túng, mà trường hợp điển hình mới nhất mọi người vừa thấy, đó chính là những tuyên bố của ông Mubarat trước khi chịu đầu hàng và từ chức.

Ông Mubarat đã từng nhân danh quyền lợi đất nước, nhân danh sự ổn định của xã hội, nhân danh việc bảo vệ trật tự cần thiết để thẳng thừng không chịu từ chức, cuối cùng, khi buộc phải nhượng bộ, ông yêu cầu người dân phải chờ đến tháng 9 để ông mới chịu chuyển giao quyền hành. Nhưng phong trào tự do, dân chủ bột phát của nhân dân đã cương quyết hơn ông, nên họ đã thắng, và cuối cùng ông vẫn phải buộc từ chức. Thật thì khi từ chức ông Mubarat không mất gì cả, bởi vì mọi cái ông đã có hết trước rồi, hiện tại ông chỉ mất quyền hành, nhưng đổi lại thì người dân có thể có cơ hội đi lên lại một xã hội tự do, dân chủ, có nghĩa một xã hội hoàn toàn trong sáng, tự nhiên và lành mạnh. Có mợ chợ cũng đông, không có mợ chợ cũng đông, đó là câu ca dao tục ngữ dân gian của VN, nhưng thật sự nó lại là nền móng của ý thức tự do dân chủ mà rất nhiều người không để ý tới. Có nhiều người vẫn nghĩ rằng ý niệm tự do, dân chủ là ý niệm của phương Tây, họ quên rằng đó là chân lý và nguyện vọng tự nhiên của cả nhân loại mà không phân biệt quốc gia, dân tộc, hay phương trời nào.

Thế nên, như đã nói, ý nghĩa của tự do, dân chủ thực chất không phải chỉ ở nền tảng của ý thức, mà còn ở nền tảng của pháp lý. Bởi ý thức tuy là điều tiên quyết, những thực chất vẫn hãy còn mông lung, trừu tượng. Chính pháp luật hay pháp chế, là các công cụ cụ thể, khách quan, chắc chắn nhất để làm nền, làm sườn, làm công cụ thực thi, bảo đảm và bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của công dân cũng như của toàn xã hội. Pháp chế đó là sự phân quyền thực tế trong xã hội, có nghĩa tam quyền phân lập phải thật sự có ý nghĩa, có giá trị, có thực chất, và được đưa vào cách ổn định, chắc chắn trong Hiến pháp một nước, mà không phải chỉ là việc nói đùa để chơi. Bởi nguyên tắc tam quyền phân lập (lập pháp, hành pháp, tư pháp) tuy có vẻ vô cùng đơn giản, nhưng thật ra lại vô cùng nền tảng. Nó cũng đơn giản và nền tảng giống như trọng lực trên trái đất. Bởi nếu không có thứ luật tự nhiên này, tất cả mọi người đều cũng không thể nào đi, đứng, hoạt động hoàn toàn tự nhiên và cần thiết được về mọi mặt trên mặt đất. Đó là chưa nói đến quyền thứ tư là quyền truyền thông và báo chí cũng không kém phần hệ trọng.

Do đó, tất cả mọi khuynh hướng muốn thống nhất tam quyền (hay tứ quyền) phân lập vào một quyền duy nhất, thực chất là hoàn toàn lạm dụng và phi lý. Đó là ý hướng hợm hĩnh, tự thần thánh hóa mình, tự đặt mình lên trên thiên hạ, như trên kia đã nói. Bởi hình ảnh ba cây chụm lại đây không phải là hòn núi cao, mà chỉ là bó củi khô, mà mọi người đều có thể hình dung ra được. Ba cây chụm lại, có nghĩa là ba cây hoàn toàn độc lập, tự do, mà chính bản chất ca dao đã nhận định. Lý do vì ý thức mỗi cá nhân thực chất hoàn toàn riêng biệt, độc lập, nó cũng giống như mỗi thân thể hoàn toàn là đơn vị độc lập, tự do từ bẩm sinh ra của tất cả mọi người. Nếu có những hài nhi sinh ra mà dính liền nhau ở những bộ phận nào đó, quả thật đó chỉ là những quái thai, cần phải giải phẫu để trở lại những đơn vị con người hoàn toàn độc lập, tự do với nhau, mà không thể nào khác. Bởi người ta có thể nhân danh tôn giáo, nhân danh ý thức hệ nào đó, nhân danh các ảo tưởng nào đó, để tưởng tượng những điều phi lý nào đó trở thành những điều hữu lý, nhưng thực chất nó vẫn hoàn toàn phi lý. Bởi tôn giáo chỉ có thể có ở niềm tin mà không phải là thực tế ở đời. Ngay từ cuối thời Trung cổ, người phương Tây đã tìm cách tách thần quyền, giáo quyền ra khỏi thế quyền. Bởi thế quyền không gì khác hơn, cơ bản hơn là quyền tự do, dân chủ, là quyền độc lập ý thức và đời sống riêng của tất cả mọi người. Đó cũng là ý nghĩa và cơ chế tự nhiên của tam quyền phân lập mà từ cuối thế kỷ 18 những nhà tư tưởng chính trị xã hội lớn của nhân loại đã hình thành và đề xuất.

Thế cho nên những khái niệm như lãnh đạo toàn diện, kiểu ba trong một, kiểu đồng hóa các phạm trù làm chủ, lãnh đạo và quản lý xã hội giống như nhau, thực chất là những ý hướng phản tự nhiên, giả tạo, có nhiều nguy cơ đối với toàn xã hội về nhiều mặt, như trên kia đã nói rõ. Đó cũng là lý do mà ngày xưa trong thời cổ, người ta đã chủ trương pháp trị mà không phải là nhân trị. Pháp trị ở đây không phải dùng hình pháp để trị, mà dùng ý nghĩa, quy tắc pháp luật khách quan để quản lý xã hội. Nhân trị ở đây không phải là dùng nhân đạo để quản lý xã hội, mà chính là dùng sự phiến diện, sự chủ quan, sự hạn hẹp của cá nhân con người để khống chế toàn bộ xã hội. Điều này có nghĩa pháp trị trong trong xã hội hiện đại chính là các pháp chế về tự do, dân chủ, về nhân quyền, về tam quyền phân lập một cách khách quan, tự nhiên, hiệu quả, mà không phải chỉ là những ngôn từ bề ngoài, không có thực chất, hoặc thực tình chỉ là giả dối. Bởi quyền chính trị không phải là đặc quyền của bất kỳ cá nhân nào, nhóm người nào, giai cấp nào, mà là quyền chung và tự nhiên của tất cả mọi người, của toàn xã hội, và thậm chí của toàn nhân loại nói chung(1). Nên sự ổn định phải là sự ổn định khách quan, không thể chỉ là sự ổn định giả tạo. Sự ổn định phải giống như một chiếc máy chạy tốt, có năng suất, có hiệu quả, không phải một cổ máy bệt rệt, kém năng suất, kém hiệu quả, phải chèn thêm vào các mảnh chêm, các phụ kiện ngoại lai để giúp cho chạy được một cách bất đắc dĩ, giả tạo và cho là sự cần thiết của nhu cầu ổn định.

Điều này vừa qua chính ông Mubarat đã chứng tỏ rõ ràng hơn hết qua những lời tuyên bố giả dối hay giả tạo của mình. Đó chỉ là những lời phát biểu chửa cháy tạm thời, nhưng giả dụ khi đạt được yêu cầu, cũng chưa biết sự quay quắt của ông ta sẽ diễn biến ra sao. Nên may mà cuối cùng ông ta cũng đã phải từ chức. Có nghĩa văn hóa từ chức là văn hóa mới xuất hiện lần đầu tiên sau suốt 30 năm cầm quyền của ông ta trên suốt đất nước Ai Cập. Đây cũng là thứ văn hóa tỏ ra rất hiếm và hầu như không có ở một số quốc gia từ xưa nay trên thế giới, nhất là vào thời kỳ cận đại và hiện đại. Tại sao, tại vì vua không có ý muốn tự thoái vị, vua thoái vị thì mất ngôi, mất hết đặc quyền làm vua, cả triều đình và dòng tộc cúng liên lụy vì mất hết chỗ dựa của mình. Còn ở những nước độc tài hay toàn trị, thì thực chất cũng chỉ là vua, nhưng được hiểu hay được gọi dưới những từ ngữ hiện đại và mỹ miều hơn, thế thôi. Cho nên, ý nghĩa của dân chủ, tự do, nhân quyền trở thành như nguyên lý của đời sống nhân loại, mà không phải chỉ những danh từ bề ngoài, hay hình thức suông. Lý do, vì tục ngữ VN có nói lưỡi không xương nhiều đường lắt léo. Điều này quả thật đúng, vì phần nhiều người ta chỉ thấy âm thanh tiếng nói, thấy cái môi máy động, thấy cái miệng ăn, mà không bao giờ nhìn thấy cái lưỡi hoạt động ra sao trong khi người khác nói bao giờ.

Bởi vậy, khi ông Mubarat không còn cách nói nào khác được thì ông ta mới chịu lật đến lá bài cuối cùng là văn hóa từ chức để chuồn đi cho lẹ. Đời người bao nhiêu năm mà 30 năm cầm quyền trong thời hiện đại thật hoàn toàn phi lý. Bởi vậy trong các nền dân chủ văn minh người ta đã đặt ra chế độ nhiệm kỳ là điều hoàn toàn hữu lý, cần thiết và đúng đắn. Bởi nếu không thế, thì tổng thống cũng chẳng khác gì ông vua, có thể làm vua suốt đời và cha truyền con nối như kiểu Kim Nhật Thành của bắc Triều Tiên, nay cũng đã sắp là đời thứ ba rồi. Vậy nên văn hóa tam quyền phân lập về thực chất, văn hóa về dân chủ tự do đích thực, văn hóa về bầu cử tự do bằng phổ thông đầu đầu phiếu toàn dân mà không phải chỉ do một nhóm người chủ chốt đưa lên các nguyên thủ quốc gia, cũng là thứ văn hóa hiện đại nhất về chính trị xã hội mà ngày nay khắp nơi trên thế giới đều cần có. Dĩ nhiên, khi ông Mubarat từ chức, quyền hành ngay lập tức ông phải chuyển về cho quân đội, vì quân đội lâu nay vẫn là lực lượng đứng đàn sau và có thể đã hậu thuẫn cho ông. Thế nhưng thực chất, quân đội dầu sao vẫn là một lực lượng võ biền, như là một thứ thiên lôi quan trọng và cần thiết của các quốc gia, nên quân đội không thể nắm quyền lâu dài, vì quân đội nắm quyền lâu dài sẽ trở thành thứ quân phiệt mà nhiều người đã biết. Cho nên, người đứng đầu quân đội Ai Cập là bộ trưởng quốc phòng hiện nay đã tuyên bố Hội đồng quân sự hiện hữu sẽ tìm cách chuyển giao quyền hành cho một chính phủ dân sự được nhân dân bầu cử nên một cách hoàn toàn dân chủ, tự do, thật sự là một nguyên tắc tự nhiên và cũng là điều rất đáng mừng.

Bởi vậy, ở bất cứ quốc gia nào, quân đội và cảnh sát vẫn luôn luôn là con dao hai lưỡi. Là yêu cầu cần thiết chung của đất nước, xã hội, nhưng không khéo vẫn có thể bị lợi dụng riêng. Quân đội là lực lượng bảo vệ chủ quyền quốc gia, còn cảnh sát là lực lượng bảo vệ trật tự, an toàn xã hội. Đó là sự phân công không thể thiếu của xã hội, và cả hai cũng không thể thay thế được cho nhau. Thế thì, sự phân công giữa quân đội, cảnh sát và lãnh đạo chính trị, mặt khác cũng còn là sự phân công hữu lý. Đây cũng là một thứ tam quyền phân lập như trên kia đã nói. Quân đội chính là công cụ cần thiết của quốc gia, là thiên lôi của toàn dân tộc, mà không hậu thuẫn riêng cho thế lực chính trị nào. Bởi bất kỳ người nào, lực lượng nào cũng có thể nhân danh, lợi dụng quốc gia, dân tộc, còn bản thân đích thực của quốc gia, dân tộc thì không thể nhân danh hay lợi dụng ai cả. Cảnh sát cũng phải là công cụ hữu ích của chung toàn xã hội, mà không phải chỉ cho riêng lực lượng chính trị nào. Cuối cùng, lực lượng chính trị cũng phải là lực lượng có ý thức và tư duy khoa học, có nhận thức và chính kiến độc lập của những con người, có nguyện vọng và mục đích phục vụ lợi ích của toàn dân, của đất nước, mà không phải chỉ của riêng phe nhóm hay chính kiến riêng biệt nào, đó cũng chính là ý nghĩa thực chất của khái niệm tự do, dân chủ, hay nhân quyền, tức là của hạnh phúc toàn dân như trên kia đã nói.

                                                                                              

VÕ HƯNG THANH

(13/02/2011)      

 

**

 

CÂU CHUYỆN ĐỜI THƯỜNG


Có câu chuyện đời thường hôm nay hết sức thú vị mà ai lên mạng đều đọc được, đó là câu chuyện nghi can thiếu tướng La Hiền Triết của Đài Loan làm gián điệp cho Trung Quốc. Sự việc này do chính báo chí Đài Loan đã chính thức loan tin. Viên thiếu tướng này đã mắc bẫy khi một điệp viên đại lục đã dùng tình lẫn tiền chiêu dụ. Đó là một phụ nữ độ tuổi 30, “cao ráo, xinh đẹp và sang trọng”. Miếng mồi thơm tho này đã khiến cho viên thiếu tướng 51 tuổi thu thập và cung cấp thông tin mật, để đổi lại số tiền đưa vào túi mình là 1 triệu Đô la. Điều đáng nói là khi bị bắt, người này đang đứng đầu bộ phận thông tin liên lạc của Cơ quan phòng thủ Đài Loan.

Thật ra, chuyện gián điệp và trúng kế gián điệp vẫn xưa như trái đất. Từ cổ chí kim, từ đông sáng tây, sự việc này không ở đâu không có, nhất là trong thời hiện đại, nó càng lạ lùng, hấp dẫn hơn, không trừ ở bất kỳ nơi đâu khi có hai bên nào đó đối đầu quân sự lẫn nhau. Nên ý nghĩa của nó chỉ luôn là ý nghĩa đời thường, con người được vận dụng như là phương tiện để đạt được mục đích nào đó của người khác, cũng bởi là do những chỗ yếu của con người. Phần lớn những người thường tình ai chẳng thấy tiền mà không ham, thấy sắc mà không muốn, thấy lợi mà lại từ chối, nói chung lại thông thường là sự thụ hưởng vật chất, và cao hơn là tính cách của công trạng hay danh vọng khi tự mình ủy thác hết niềm tin đó cho bên nào có mục đích và lợi ích sử dụng mình.

Tính chất ở đây trước hết là tính chất mềm yếu của con người, nhưng đôi khi ý nghĩa của gián điệp không phải chỉ như thế, mà còn lồng vào đó cả quyết tâm vì lý tưởng, tình cảm cao quý, hay mục đích cao cả nào đó mà chính bản thân người đó cảm thấy. Đây cũng chính là ý nghĩa thứ hai của con người, và ý nghĩa này quả thật chỉ con người mới có. Điều này chắc chắn không phải là trường hợp của viên thiếu tướng Đài Loan, bởi vì ông ta rơi vào bẫy dục tình, nhất là còn nhận cả triệu đô la khi làm thân phản bội lại chính nhiệm vụ, cấp bậc, cũng như ý nghĩa chức trách của mình. Có nghĩa vụ gián điệp này chỉ là một vụ đời thường, một ý nghĩa tầm thường, một tính cách tầm thường của con người, mà không mang tính chất chính trị hay ý thức, tinh thần nào cao quý hết.

Bởi thực chất, mọi cá nhân con người khi còn trẻ, tức lúc đang làm việc và chưa về hưu, đều hoạt động hay được vận dụng trong một guồng máy nào đó, guồng máy tổ chức và vận hành đó có thể là guồng máy công cộng hay tổ chức tư nhân, và ý nghĩa gián điệp đôi khi ngoài tính cách quân sự, chính trị, nó có thể còn bao nhiều hình thức khác nhẹ nhàng hơn, ít nguy hiểm hoặc gai góc hơn như trong kinh tế hay kỹ thuật chế tạo các máy móc hoặc các bí quyết nào đó nói chung. Cho nên, tính chất của con người làm gián điệp quả là một tính chất lạ lùng, mà không phải ai ai cũng làm được, cũng muốn làm hay cũng thích hợp. Bởi ý nghĩa của gián điệp luôn luôn là sự ăn cắp và sự phản bội. Ăn cắp có nghĩa là lén lút, che đậy, gian dối, và phản bội có nghĩa là làm điều gì đó khiến người khác không ngờ, phản lại sự ủy nhiệm, phản lại lòng tin, phản lại nhiệm vụ và phản lại mọi kỹ luật cần thiết nói chung.

Như thế, con người gián điệp đúng ra là con người tốt hay con người xấu. Nếu gián điệp vì mục đích mà chính người đó nhận là cao quý, cần thiết, thì nó mang tính chất xấu đối với một bên, còn mang tính cách tốt đối với bên kia. Nhưng nếu gián điệp chỉ vì mắc bẫy bởi lợi ích riêng tư, giống trường hợp của La Hiền Triết ở đây, thì quả thật rất tầm thường và rất đáng trách. Cho nên, nếu gián điệp mang ý nghĩa phải phục vụ cho một mục đích, một lý tưởng nào đó, có thể lúc này điều đó lúc này đúng mà lúc khác lại sai, như nhiều tính chất đặc thù trong thời thế chiến thứ hai hoặc trong thời kỳ chiến tranh lạnh, đó là do yếu tố bị tuyên truyền về mặt ý thức, hay sự nhận thức nhiều lúc có phần chủ quan. Dù sao nó vẫn có chỗ được tán dương, bỏ qua hay thông cảm được. Còn nếu gián điệp chỉ thuần túy vụ lợi bản thân riêng thì quả thật tầm thường, thấp kém, nguy hiểm, cũng như nhất thiết hạ đẳng và tệ hại.

Con người nói cho cùng phải cần sự nhận thức về mặt đạo đức và về mặt phán đoán sai đúng. Mặt đạo đức là mặt tốt xấu đối với bản thân mình và đối với tất cả mọi người. Mặt phán đoán sai đúng là mặt nhận thức về xã hội, về sự cần thiết hay không mà mọi người có thể thừa nhận. Nói khác đi, gián điệp có thể vì lý tưởng hay không vì lý tưởng, vì tình cảm cao quý hay không vì tình cảm cao quý. Dầu sao cái có vẫn còn hơn cái không, nhất là cái có đó là hoàn toàn cần thiết và đúng đắn. Nhưng ai có thể bảo đảm rằng mọi ý nghĩa nhận thức của mình là luôn luôn đúng và mình không phải chỉ là con cờ của người khác. Đó chính là ý nghĩa của thân phận con người trong đời sống xã hội. Và trên tính cách ấy, có khi ý nghĩa của gián điệp không hề là sự tự chủ mà chỉ là sự đưa đẩy, bó buộc, hay là sự sụp bẫy.

   

VÕ HƯNG.THANH

(11/02/2011)
        

 

**

 

THẾ NÀO LÀ NHỮNG CHÍNH PHỦ THÔNG MINH

 

Chính phủ là khuôn mặt hay bề mặt của một nhà nước. Nhà nước là cái bản thân cụ thể về mặt thiết chế của một xã hội, một dân tộc, một đất nước, qua những thời kỳ nào đó. Đây chính là những khung sườn mà không một cá thể thành viên nào vượt được ra ngoài nó. Bởi vì nó chính là chính quyền, là thực thể quản lý duy nhất, cũng có nghĩa là bản thân của luật pháp mà mọi cá nhân liên quan đều phải sống trong đó. Thế nên, ý nghĩa các chính phủ thông minh cũng là ý nghĩa hết sức cần thiết, quan trọng, thực tế, chỉ tiếc rằng thông thường rất ít khi người ta để ý đến. Điều đó có nghĩa phần lớn các chính phủ thường chỉ hoạt động như một bộ máy tổng quát, vô hình, xa lạ như thế nào đó đối với người dân. Ý nghĩa của người dân là làm việc, đóng thuế, chịu mọi sự quản lý, khống chế của nó, và nó giống như trái núi, còn người dân giống như con chuột, cứ chui vào chui ra ở dưới chân trái núi đó thôi.

Nhưng thực chất, chính phủ và chính quyền là gì nếu không phải đó cũng chỉ là tổ hợp của những cá nhân con người. Có nghĩa chất lượng của chính phủ hay chính quyền cũng chỉ là chất lượng của mọi cá nhân hợp thành nó mà không là gì khác. Nói cụ thể hơn, Chính phủ là cấp đại diện hay quản lý cao nhất, còn chính quyền là toàn thể bộ máy hành chánh hoạt động bao quát nhất, được kết cấu qua nhiều tầng nấc, mà ở đây là cấp chính phủ, cấp trung gian ở giữa, và cấp địa phương. Tất nhiên chính quyền là hệ thống tổ chức theo chiều dọc, mà thường khi cả chiều ngang, như các đơn vị quản lý hành chánh theo từng khu vực, theo từng đơn vị được phân chia nhỏ dần, mà cuối cùng là các làng xã. Điều này thì ai cũng biết, bởi vì tất cả mọi người đều phải đụng đến nó, bất cứ trong lãnh vực hay phương diện nào, điều đó càng cho thấy ý nghĩa của chính quyền và người dân quan trọng ra sao trong đời sống hàng ngày mà không bất kỳ ai tránh khỏi.

Tức có nghĩa đời sống luôn luôn có hai loại người, những người làm dân và những người làm quan. Những người làm dân là những người không có quyền lực, không ở trong bộ máy hành chánh, quyền hành, cho dù ở cấp nào. Những người “làm quan” là những người ngược lại. Họ vừa có lương ăn, tức được dân nuôi, lại vừa có quyền quản lý, điều hành  mọi việc mà người dân phải tuân chịu, ít ra cũng trong những thời điểm cụ thể hay nhất định nào đó. Và tuy dầu người xưa có nói câu quan nhất thời, dân vạn đợi, nhưng đôi khi chính cái nhất thời cũng là cái mang ý nghĩa quan trọng hay quyết định nhất. Ý nghĩa đó là ý nghĩa tại sao có những người suốt đời chỉ làm dân, còn có những người khác hẩu như suốt đời chỉ làm quan, trừ một số khác còn lại, có khi là dơi, có khi là chuột, đó lại là một chuyện khác. Người suốt đời làm quan có khi đã được tập ấm ngay khi còn nhỏ, có khi nhờ quen biết, họ hàng, giây mơ rễ má, có khi một người làm quan cả họ được nhờ, có khi nhờ cốt lõi của giai cấp, có khi nhờ may mắn trong cuộc đời, nhờ hoàn cảnh và điều kiện lịch sử, có khi nhờ tài năng được hiểu theo nhiều nghĩa, hay chỉ đơn giản là nhờ thuộc loại con ông cháu cha, sẽ được làm quan suốt đời, lãnh lương suốt đời, cả việc được làm tư vấn khi về hưu, có nghĩa được mọi người dân và xã hội lo ăn cho suốt đời.

Đó là nói về mặt quan thuần túy. Còn nói về mặt dân cũng có những nét tương đồng không kém. Bởi vì bất kỳ người ‘làm quan’ nào thực sự cũng có nửa kia là người làm dân trong đó. Cho nên ông quan ngoài lương hướng, bổng lộc chính thức, thì ông dân kia có khi còn được nhận các khoản hối lộ, biếu xén nào đó mà thường khi rất tinh vi, khó kiểm soát, thông qua quyền lực của ông quan, để giúp ông dân kia một khi hết làm quan vẫn bảo đảm được cuộc đời giàu sang no đủ mọi mặt, an toàn, thuận lợi mọi mặt về sau này. Đó là những ông quan biết lo xa, cho dầu cấp nào cũng vậy, như là một thứ tâm lý chung khách quan, phổ biến, thông thường, mà rất ít người nào cưỡng lại được. Tức thực chất là những lợi điểm vô hình chung về nhiều mặt khác nhau, nó như các hệ lụy tất yếu về mặt các lợi điểm thế lực, quyền hành, rất ít ai không lợi dụng. Đặc biệt lợi dụng để cho vợ con, người thân thuộc làm ăn về các mặt kinh tế trong xã hội một cách công khai, chính đáng, nhưng vô cùng hiệu quả, nếu mặt ảnh hưởng càng cao, càng rộng, và đó là điều mà xã hội hầu luôn luôn có. Ngày nay ở nhiều nơi trên thế giới, người ta còn biết đến nạn rửa tiền, tức cái hợp pháp và cái phi pháp hầu như trí trá với nhau, cái phi pháp mượn hình thức của cái hợp pháp, thật là không thể nào kiểm tra hoặc lường hết được chính nơi mọi khía cạnh phức tạp của đời sống thực tế trong xã hội cụ thể.

Nói điều này để thấy rằng mọi điều gì trong đời đều có ý nghĩa, vị trí, hay chỗ đứng riêng của nó. Tức mọi lý thuyết, cho dầu lý thuyết về phương diện hay lãnh vực nào, cũng đều có những khía cạnh ngây thơ, thiếu sót, xa rời thực tế của nó. Tức là mọi lý thuyết thì không thể không có, nhưng nếu chỉ lý thuyết suông, trừu tượng, có khi chỉ có ích về một khía cạnh nhỏ nào đó, còn thực tế nhiều khi trở thành bất cập, ngây thơ, hoặc phi thực tế. Tất nhiên dùng khái niệm “quan” thì không chính xác lắm. Bởi vì qua mỗi thời đại, tính chất của ngôn ngữ cũng thay đổi khác nhau, thời phong kiến thì chính thức gọi là quan, còn thời đại xã hội dân chủ thì được gọi là công nhân viên chức, công chức nhà nước, cán bộ nhà nước, hay bằng các danh từ mỹ miều hơn như công bộc của dân, người đầy tớ của dân, tùy theo từng hoàn cảnh, từng nơi ở mỗi nước trên thế giới. Tất nhiên, ra làm “quan”, không phải mọi người đều ham thích điều đó, bởi có thể có một số ít người muốn phục vụ các mục tiêu xã hội nào đó, còn nói chung chỉ là con đường kiếm sống, một thứ nghề nghiệp kiếm cơm thuận lợi. Thế thì cái cốt lõi chung qui lại là gì, nếu không phải cần phân ra trong các hành vi, việc làm cái gì là chính đáng hay không chính đáng, cái gì là thông thường hay đặc biệt, cái gì là bình thường hay ngoại lệ, cái gì là chấp nhận được hay không chấp nhận được, cái gì cho phép hay không cho phép, cái gì nên có hay không nên có, cái gì là hợp luật và không hợp luật, cái gì là đạo đức và phi đạo đức, cái gì là hợp pháp và bất hợp pháp, cái gì là hợp lý và bất hợp lý, cái gì là chính đáng và không chính đáng, cái gì là cao cả hay bần tiện v.v… và v.v…

Tất cả những điều trên đều không qua ý thức cư xử hay thái độ hành sử riêng của mỗi con người. Có nghĩa những con người có tư cách đạo đức hay không có tư cách đạo đức, có phẩm hạnh hay không có phẩm hạnh, có lương tâm ý thức hay không có lương tâm ý thức, có giáo dục hay không có giáo dục, có tư chất cao quý tự nhiên hay không có tư chất cao quý tự nhiên, có tinh thần xã hội hay không có tinh thần xã hội, có tố chất nhân văn hay thiếu tố chất nhân văn, có nghĩa ở trong hai tuyến hoàn toàn đối lập, hoặc nằm giữa theo kiểu không chủ động, tùy thời cơ, hoặc rơi hẳn vào tuyến này hay tuyến kia tùy theo bản chất tự nhiên, ý chí, hay kể cả hoàn cảnh, điều kiện khách quan cho phép hoặc không cho phép tùy theo từng trường hợp. Có những điều người ta có thể dự đoán được từ đầu, có những điều không ai có thể biết trước hay ngờ hết trước được, nhưng có những trường hợp mang tính tất yếu, luôn luôn chắc mẩm như đinh đóng cột, dầu có bỏ vào cối quết cũng không thể nào sai chạy được. Mọi ý nghĩa ấy nói lên cái gì, đó chính là tính chất thế nào là những chính phủ thông minh mà ta đang bàn đến. Tất nhiên, thông minh đây là thông minh theo nghĩa tích cực, nghĩa công ích, tức nghĩa hiệu quả, khoa học chung, nghĩa tối ưu chung, mà không phải nghĩa tiêu cực, nghĩa quyền lợi riêng tư, nghĩa vơ vét hiệu quả của những người làm quan, nói chung lại, là nghĩa mà mọi người cần đến, toàn xã hội cần đến, không phải chỉ nhằm phục vụ quyền lợi, lợi thế, tính ưu đãi riêng cho các thành phần nào, nhóm cá nhân, giai tầng hay giai cấp xã hội nào.

Ý nghĩa những điều trên của xã hội thật chẳng khác gì ý nghĩa những người cùng đắp chung một cái mền. Người nào được nằm ở giữa thì luôn luôn sướng, vì cơ bản thường an toàn. Nhưng những người nào nằm ở rìa, cứ bên này kéo qua thì bên kia phải hụt, người được no đủ mút mùa, con người khác phải cam phận nghèo đói, khó khăn, với muôn vàn bất công xã hội. Ở đây không nói về khái niệm giai cấp theo kiểu trừu tượng, siêu hình, máy móc như Mác đã từng nói. Ở đây chỉ nói những thành phần cụ thể, những nhóm xã hội thực tế nhất định, mà bất kỳ thời đại nào, xã hội nào trong thực tiển vẫn luôn có. Vì theo nguyên lý cấu trúc của mọi nền kinh tế, sự phân lập các nhóm nghề nghiệp, các tập hợp của phân công lao động xã hội khác nhau, nếu không có những phương thức kết hợp đồng bộ, hòa điệu, phù hợp tự nhiên nào đó, các quan hệ xã hội sẽ trở nên tắt tị, nghịch lý, mâu thuẫn lẫn nhau, đưa đến những thiệt thòi của các cá nhân này, từng lớp này, cũng là những lợi ích, đặc quyền đặc lợi, sự phủ phê cho những nhóm cá nhân hay những thành phần, tập hợp xã hội khác. Đó là lý do tại sao nền kinh tế thị trường cơ bản là cần thiết, khách quan và tốt, nhưng nó phải đi kèm với các điều kiện cạnh tranh lành mạnh, cạnh tranh có tính hoàn hảo và lý tưởng, mới có thể phát huy đầy đủ mọi hiệu quả cần thiết. Trái lại, nếu đó là những xã hội có những yếu tố chưa ổn hay không lành mạnh, có những tắt tị trong cạnh tranh tự do, có các rào cản của những thế lực, có các quan điểm chính sách còn nhập nhờ, thiếu khách quan, còn lồng vào đó các ý thức hệ nghịch lý, mâu thuẫn nhau, còn tồn tại ở đó các quyền lực, ý chí, ảnh hưởng cá nhân, còn biểu hiện tính cách thụ động, e ngại, sợ sệt của người dân nói riêng và xã hội nói chung, tức còn những hiện tượng phản tự do và phi dân chủ ở nhiều mặt nào đó v.v… và v.v… cón nghĩa nền kinh tế thị trường đó tất nhiên vẫn còn nhiều lợn cợn, tốc độ phát triển và mọi an sinh, an toàn xã hội của nó hẳn nhiên phải chịu nhiều hạn chế. Có nghĩa một xã hội còn nạn tham nhũng thì quả nghịch lý, mâu thuẫn với một nền kinh tế thị trường mang tính lý tưởng. Cả hai chỉ có thể loại bỏ lẫn nhau, còn nếu tồn tại song hành cùng nhau, quả là tình trạng xã hội nửa nạc nữa mỡ, tuy có phát triển nhưng không phải thập phần hoàn chỉnh và hiệu quả.

Thế thì nguyên tắc tối ưu của mọi hoạt động, vận hành xã hội, của mọi sự kiện toàn nhà nước, cho dầu bất cứ ở đâu và thời đại nào, đó là phải cần có những chính phủ thông minh như chúng ta đang bàn đến. Chính phủ thông minh có nghĩa là những thành phần những con người họp thành bộ máy chính phủ đó cũng phải thông minh như là một điều tất yếu. Điều này thật sự hiển nhiên. Chất lượng một bộ máy là phụ thuộc vào từng đinh ốc, từng bản thân mọi thành phần cấu tạo ra nó. Đây không phải một suy luận thuần túy lý thuyết hay trừu tượng, mà chỉ là điều hoàn toàn thực tế. Ý nghĩa này trên kia chúng ta đã thấy rồi, tính cách hiệu quả của một chính phủ không phải chỉ là sự cấu tạo và vận hành một cách khoa học của nó, mà là ý nghĩa và chất lượng nhân văn của nó, tức những con người trong sạch, có ý thức, có mục đích phục vụ lành mạnh, hiệu lực, tốt đẹp cho xã hội, cũng tạo nên một nền công quyền, một chính quyền, hay nói chung một chính phủ tốt, một chính phủ đạo đức, thông minh, hiệu quả, nếu không thì hoàn toàn ngược lại. Điều này dĩ nhiên không phải nói theo kiểu hoàn toàn lý tưởng, bởi đây không phải là sự lãng mạn tếu, tính cách lý thuyết suông, mà ở đây là theo nguyên lý thống kê và xác xuất, tức theo nguyên lý của số lớn. Tức nếu số lượng và chất lượng thông minh của một chính phủ càng cao, chính phủ đó đi gần đến phạm vi chính phủ thông minh. Một chính phủ thông minh như vậy chỉ có thể có khi nó tập hợp, huy động được chất xám, tinh hoa, nhiệt huyết, tài năng của mọi tầng lớp nhân dân, xã hội vào trong bộ máy điều khiển của mình. Điều này cơ bản đòi hỏi một nền tảng xã hội tự do, dân chủ đích thực hay thực sự. Bởi chỉ có nguyên tắc tự do, dân chủ đúng nghĩa khách quan mới giả tỏa được mọi tắt tị, mọi bế điểm, mọi trì trệ trong lòng xã hội, mới khai thông được hết mọi kênh tài nguyên xã hội một cách hiệu lực và tối ưu nhất. Một chính phủ thông minh phải là thông minh từ nguồn gốc, từ phương thức quản lý, vận hành, và kể cả về các mục tiêu, chủ đích của nó.

Tính cách ấy là những đòi hỏi hoàn toàn thực chất. Không phải chỉ tự mệnh danh mình là chính phủ do dân, vì dân, của dân là đủ, cho dù ở bất kỳ quốc gia, thời đại hay xã hội nào cũng vậy. Ngày xưa thời phong kiến, toàn dân chỉ còn biết trông cậy vào một vị vua anh minh, nhưng nếu gặp bạo chúa hay hôn quân trong thời đại của mình thì cũng đành chịu. Nếu đó là một minh quân, sự xây dựng một guồng máy quan lại có phần nào lý tưởng, hiệu quả, lành mạnh cũng là điều tự nhiên. Nếu đó là quỉ vương, thì đưa thần dân vào chốn ma quỉ, dân cũng phải chịu đựng cho tới khi một triều đại mới khởi nghiệp lên với một đấng quân vương đúng nghĩa xuất hiện. Nhưng rồi tình trạng cha truyền con nối ngôi vua lại cứ xảy ra, bởi hoàn cảnh xã hội phong kiến không thể còn cách nào khác hơn như vậy. Nó giống như xã hội loài rắn, có thể thay đổi màu sắc theo từng khoang, thời buổi nào gặp vua hiền tôi giỏi thì dân được nhờ, nếu không vẫn cứ lại con vua lại được làm vua, con sãi ở chùa thì quét lá đa. Nhưng ngày nay thời buổi dân chủ, tự do như là nguyên lý phổ biến của toàn xã hội loài người, các yêu cầu như trên cần phải hoàn toàn khác hẳn. Kiểu có những ông Tổng thống hay ông Chủ tịch nhà nước tại vị suốt đời, thời kỳ trước đây và cả hiện nay ở một số nơi cũng không phải hoàn toàn hiếm có. Ngay như vụ Tổng thống Ai cập Mubarak hiện nay, người ta đồn ông ta có tài sản riêng trong tay hàng 60 tỷ Mỹ kim, điều đó không biết chính xác ra sao, nhưng thời gian tại chức của ông ta quả thật đã quá dài, nên nhân dân cả nước biểu tính yêu cầu thay đổi là hoàn toàn có lý. Đó chẳng qua cũng chỉ là một trường hợp điển hình ngày nay đã lộ diện, còn thực tế bao nhiều trường hợp quái đản khác ở khắp mọi nơi, hoặc người dân không thấy hay có thấy thì trước mắt cũng tạm thời đành chịu thua.

Thế thì ý nghĩa của một Chính phủ thông minh thật sự không khó, vấn đề là mỗi Chính phủ như thế có muốn mình được trở thành Chính phủ thông minh hay không lại là một chuyện khác. Ngày nay thời đại điện toán, quản lý một xã hội, một nhà nước hoàn toàn bằng công nghệ điện toán, quả thật vô cùng hiệu quả, tiết kiệm, tiện lợi, và cũng chẳng mấy khó khăn gì. Thế nhưng, máy vẫn là máy còn người vẫn là người. Máy là do người điều khiển nhưng không bao giờ ngược lại. Cho nên người đứng đầu chính phủ là ông Thủ tướng, còn người đứng đầu nhà nước là ông Tổng thống hay ông Chủ tịch nước, quả là hai nhân sự cốt lõi để điều hành chung cả bộ máy chính phủ, bộ máy nhà nước, toàn bộ chính quyền, hay toàn bộ xã hội theo nguyên tắc, như trên kia chúng ta đã nói. Đó là ý nghĩa của đầu óc thông minh theo nhiều nghĩa. Còn nguồn gốc của các đầu óc thông minh này xuất phát từ xã hội theo các cách thức như thế nào, theo các nguyên lý và thực tế như thế nào lại là chuyện khác. Bởi vậy, nguyên lý và thực tế là hai vấn đề vô cùng quan trọng mà thật sự rất ít người để ý. Bởi cái quyết định mọi ý nghĩa thực tế ra sao chính là vấn đề nguyên tắc, mà không chỉ là bản thân của hiện thực thực tế(1). Giống như người ném một viên sỏi vào mục tiêu, có thể trúng hay không, bởi thực tế đó chỉ là cách ném ngẫu hứng, tự do, không theo một nguyên tắc chính xác, có cơ sở khoa học hợp lý nào. Nhưng cách cấu tạo cái máy bắn đá đơn giản ở thời cổ là hoàn toàn khác, còn ngày nay việc phóng vệ tinh vào vũ trụ là điều mà không còn ai có thể chối cãi. Đấy nguyên lý khoa học quyết định thực tế là thế, mà không thể bao giờ ngược lại.

Cho nên nguyên lý dân chủ, tự do của xã hội chính là nền tảng khoa học mà loài người đã khám phá ra qua suốt cả lịch sử quá khứ của mình, không thể nào phủ nhận được. Từ nguyên lý đó cũng phải dẫn đến nguyên lý bầu cử, ứng cử tự do, và nguyên lý phổ thông đầu phiếu để chọn các thành phần đứng đầu chính phủ thông minh, nhà nước thông minh, tất nhiên cũng chính là yêu cầu cần thiết, chính đáng nhất. Người đứng đầu thông minh, thậm chí là thông minh nhất, theo quy tắc kim tự tháp, vì vốn được chọn ra từ tinh hoa của toàn xã hội, mặc dầu không phải tất thảy mọi người đều muốn ra làm việc nước cả. Nhưng ít ra, cũng từ đó mà khả năng thiết kế được một chính phủ thông minh, cùng hình thành nên một guồng máy quản lý thông minh cho toàn xã hội, quả thật chỉ còn là một bước rất tự nhiên, và thậm chí rất dễ dàng. Nói đến đây, có thể tất cả mọi điều hàm chứa đều đã được giải mã. Chính phủ thông minh là Chính phủ có nguồn gốc thông minh, có bản chất thông minh, có các giải pháp thông minh nhằm giải quyết mọi vấn đề xã hội một cách thông minh, tức là tất cả mọi chất lượng và hiệu quả mọi công việc đều đi theo cùng với chính ý nghĩa thông minh của các Chính phủ thông minh, đó là điều chẳng có gì lạ. Đó cũng chính là ý kiến mà tác giả của bài viết này tự nhiên muốn ngẫu hứng đưa ra hôm nay, để tất cả mọi người có thể cùng nhận xét hay cùng nhau thảo luận.

                             

VÕ HƯNG THANH                                                                                                        (10/02/2011)

 

**        

 

NÓI THÊM VỀ Ý NGHĨA KINH TẾ, VĂN HÓA, XÃ HỘI VÀ

ĐỜI SỐNG CỦA QUAN ĐIỂM CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN KHOA HỌC

 

Quan điểm nhân văn là quan điểm xem con người vừa là nền tảng, vừa là mục đích. Quan điểm nhân văn vượt lên trên cả quan điểm nhân bản (humanism), bởi quan điểm nhân bản chỉ mới lấy con người làm nền, mà chưa nhấn mạnh ý nghĩa con người vươn lên chỗ quan điểm văn hóa (culturalism), vươn lên chỗ quan điểm văn minh (civilizationism). Nói khác đi, quan điểm chủ nghĩa nhân văn cũng chỉ là quan điểm của chủ nghĩa nhân bản, cũng chỉ cùng một nội dung, cơ sở và ý hướng, nhưng chắc ai cũng thấy ý nghĩa nhân văn là chi tiết, cụ thể, phong phú và bao quát hơn. Có nghĩa nội hàm của ý nghĩa nhân văn cũng chỉ là nội hàm và ngoại hàm của ý nghĩa nhân bản, nhưng phạm vi hay ngoại diên của khái niệm nhân văn thì bao quát, sâu sắc, cụ thể, mà cũng phong phú hơn nhiều.

Bởi vì tại sao ? Vì văn minh (civilisation), hay văn hóa (culture) cũng chỉ có nghĩa là sự phát huy, sự thăng tiến đi lên, sự phát triển và tiến hóa về mặt tinh thần, ý thức, năng lực của chính bản thân con người (human). Và con người đây, chính là con người cá thể, con người như là thành viên của mỗi gia đình, con người như là yếu tố của cộng đồng, cuối cùng con người như là thành phần của toàn thể nhân loại nói chung. Đó chính là nguyên lý khách quan, tự nhiên đầu tiên mà mọi người chắc chắn không ai không thừa nhận hay không biết đến. Con người cá thể luôn luôn được sinh ra từ sự phối giống nam nữ, từ chế định của hôn nhân trong xã hội, đó vừa là kết quả của quy luật hay nguyên lý tự nhiên, cũng vừa là kết quả yêu cầu đòi hỏi của quy tắc văn minh mà không một dân tộc hay quốc gia nào lại không tôn trọng.

Trời đất sinh có giống phái, đó là một ý nghĩa huyền bí. Đó là một sự phân công tiên quyết của tự nhiên. Không bất kỳ ai có thể tưởng tượng vượt ra khỏi được điều này. Không bất kỳ ai có thể tưởng tượng thế gian này chỉ còn lại duy một tính phái. Ngược lại, ai cũng nhận thấy đây là một sự phân công hết sức khoa học, tức hoàn toàn hữu lý, cần thiết, hiệu quả, tiết kiệm, tự nhiên, khách quan, chính xác, đồng thời cũng hàm chứa cả một yếu tố văn hóa, văn minh tự nhiên nào đó. Có nghĩa nam nữ là hai thành phần, hai yếu tố bổ sung, đòi hỏi, phù trợ cho nhau về rất nhiều mặt. Đó cũng có thể nói giống như hai mặt của một đồng xu, một đồng xu không thể chỉ lăn bằng một mặt, nền văn minh nhân loại không thể có, không thể tồn tại hay phát triển, nếu không có đủ cả hai mặt của chính đồng xu. Đó cũng là ý nghĩa của sự bình đẳng giới, và đó cũng là ý nghĩa của sự cần thiết giới, tức sự cần thiết của sự phân công không phải chỉ trong tự nhiên mà còn cả trong xã hội.

Mọi sự phân công trong gia đình, mọi sự phân công trong xã hội, quả thật hoàn toàn tất yếu. Tất nhiên đối với lao động phổ thông, có thể ai cũng như nhau. Nhưng sinh sản và nuôi con lớn khôn, đó vẫn luôn là chức năng đặc thù của chính người nữ mà người nam không bao giờ có thể tự mình giành phần được. Cũng vậy, các lao động nặng hay hiểm nguy trong cuộc đời, kể cả đôi khi các lao động cao về trí tuệ, dù người phái nữ có muốn mấy, chắc chắn thông thường cũng đành nhường bước cho phái nam. Có nghĩa sự phân công trong tự nhiên hay trong xã hội đều vẫn luôn là những nhiệm vụ, những chức năng tự nhiên, không thể phân bì, không thể mặc cảm hay không thể tị hiềm lẫn nhau, bởi chủ yếu nó không thể thay thế cho nhau, cũng như giá trị, ý nghĩa, và mục đích chính của nó, không phải nhằm phục vụ hoặc đặc quyền, đặc lợi riêng cho phái tính nào, mà là phục vụ đối tượng chung của mọi con người, là yêu cầu, mục đích và cứu cánh chung cho lợi ích của toàn tự nhiên và xã hội.

Nói như vậy cũng để thấy rằng nền văn minh, văn hóa của con người không thể tách biệt khỏi thiên nhiên, nhưng chỉ có thể vượt lên trên thiên nhiên. Quan niệm con người có thể xa lánh, phản bội, hay quay lưng ngược lại tự nhiên, thật sự chỉ làm phương hại con người, làm thiệt hại nền văn minh nhân loại, như mọi người đều có thể nhận thấy. Đó chính là ý nghĩa của những quy luật khách quan về môi trường, về sự tàn phá thiên nhiên mà trong thời đại ngày nay cả thế giới loài người đều đã cùng ý thức. Thế nhưng, nếu con người chỉ để mình chìm ngập trong thiên nhiên, lấy bản năng làm mục đích, lấy sự cạnh tranh hoang dã làm phương tiện, lấy đấu tranh giai cấp coi như ý nghĩa cuộc đời, lấy hận thù và chiến tranh làm sở thích, lấy vật chất thuần túy làm mục tiêu, đó cũng là trạng thái nhân loại tự buông mình, con người để mình tự sa ngã vào tự nhiên, tự tìm về con đường của nhiên giới, tức là tự xa rời với văn minh, văn hóa, tự đánh mất tính nhân văn, tinh thần, ý thức, trí tuệ, để trở lại với trạng thái thiên nhiên hoang dã, trở lại với bản năng thú tính nguyên thủy, cho dầu có được ngụy trang, đươc che đậy trong những cái vỏ bề ngoài giả tạo hay gian dối nào đó.

Vậy nên ý nghĩa kinh tế là ý nghĩa sống còn của con người vẫn phải đi cùng với ý nghĩa của văn minh, văn hóa mà không thể nào khác. Kinh tế chẳng qua chính là năng lực khai thác thiên nhiên của con người để tồn tại. Con người cơ bản là thành phần của thiên nhiên. Thành phần của thiên nhiên thì phải sống dựa vào thiên nhiên, phải khai thác mọi nguồn lực của tự nhiên để tồn tại, phát triển, nhằm vượt lên thiên nhiên, đó là ý nghĩa kinh tế muôn đời của loài người, nhưng lại rất ít người quan tâm hay để ý tới. Con người tạo ra mọi sản phẩm tiêu dùng, mọi thứ hàng hóa trong cuộc sống hàng ngày, đó chẳng qua là sự sáng tạo từ tự nhiên, sự làm ra vật phẩm từ khai thác, tổng hợp, hay kết hợp các yếu tố có sẳn khác nhau trong tự nhiên. Lao động tạo tác cũng chính là lao động sáng tạo nơi con người. Nền công nghệ hay khoa học kỹ thuật thật ra cũng chỉ là những cánh tay nối dài các cánh tay tự nhiên của con người, các năng lực máy móc bổ sung và phát huy hơn các khả năng trí tuệ tự nhiên, vốn có của con người. Đặc trưng chủ yếu của con người là lao động trí tuệ luôn luôn sẳn sàng thay thế cho lao động thuần túy chân tay, đó là điều không khi nào loài vật có thể có được, đó cũng chính là điều lịch sử con người tách rời ra khỏi lịch sử loài vật, vượt xa lên lịch sử loài vật, để trở thành ý nghĩa của nhân văn, của văn minh, văn hóa, của ý thức và tinh thần, và lộ trình tách rời cũng như đi lên này tất nhiên là hoàn toàn vĩnh viễn.

Thế thì ý nghĩa kinh tế trước hết chính là nguồn sống của cá nhân. Nguồn sống của cá nhân đó có khi cũng là nguồn sống của cả gia đình, đồng thời cũng chính là những yếu tố nguồn sống mang tính nguyên tử hay lượng tử của toàn xã hội. Chính vì vậy mọi sự lơ là, dung dưỡng, sự quay lưng lại với tình trạng nghèo đói của con người trong xã hội là phi nhân bản, vô nhân đạo. Bởi khi một cá nhân kiệt quệ hay không tìm ra được yếu tố tài nguyên nhằm sinh tồn, nhân cách của họ có thể bị triệt tiêu, xúc phạm. Tư hữu bất cứ phương diện nào đều là cái thiết yếu mang tính khách quan, cần thiết tự nhiên của mỗi cá thể, con người, kể cả mỗi loài sinh vật. Ý nghĩa của tư hữu luôn luôn chỉ là tính tiện ích, tính công cụ thiết yếu, nhằm phục vụ hay đáp ứng cho các nhu cầu cần thiết của đời sống mà không là gì khác. Đây có thể nói không phải chỉ là quy luật xã hội, mà còn là quy luật sinh học hay quy luật thực tại nói chung. Có nghĩa mọi ý đồ phủ nhận quyền tư hữu, dù là quyền tư hữu cá thể hay tập thể nói chung, cũng đều là việc phi tự nhiên, phản quy luật, chỉ mang tính nông nổi, càn gở, thiếu thực tế, không khách quan và phi khoa học. Bởi vì các điều đó đều đi ngược lại các tính cách tâm lý tự nhiên của con người, làm triệt tiêu nguồn kích thích trong lao động và sáng tạo, làm nghèo kiệt cá nhân và xã hội. Quan điểm chủ trương vô sản dù bất kỳ trong khía cạnh hay phương diện nào đó đều thật sự điên rồ, vô trách nhiệm và vô ích thức đối với chính con người. Điều này thật sự phản lại ý nghĩa nhân văn mà không phải nâng cao ý nghĩa hay mục đích nhân văn như vẫn nhầm lẫn. Tướt đoạt tài sản cũng như tướt đoạt nguồn sống, tướt đoạt cả sinh mệnh con người. Con người mất nguồn sống trở thành con người vong thân, đánh mất bản thân mình, trở thành nô lệ về mọi mặt cho người khác. Nói cách khác, tài sản hay quyền sở hữu cũng chính là yếu tố hay bản thân sự tự do nơi con người. Con người vô sản thực chất cũng là con người đánh mất tự do, không còn tự do.

Chỉ có những tu sĩ mới không cần vật chất, tài sản riêng tư. Bởi vì họ đã được người khác nuôi ăn, cung ứng, họ cũng không có mọi mục đích trần tục bình thường ở đời. Nhưng đối với người thường, điều đó hoàn toàn phi lý, ngược ngạo, mang tính cách điên rồ hay dã dối. Ngay như một nhà nghệ sĩ, nếu không sử dụng công cụ riêng của mình trong những trường hợp nào đó, cũng có nghĩa là sự ngăn trở hay sự bế tắc trong biểu diễn và sáng tạo. Ngay từ thời nguyên thủy, dụng cụ cá nhân là công cụ lao động sản xuất hay phục vụ đời sống hoàn toàn cần thiết cho tất cả mọi người. Khi nền văn minh nhân loại tiến lên, ý nghĩa và mục đích của công cụ lao động luôn luôn không thay đổi. Chỉ có thay đổi trong cách tổ chức sản xuất hay trong cơ cấu tức cấu trúc của qui trình lao động. Đó bởi vì hàm lượng của trí năng và của kỹ thuật đã xâm chiếm hay đã được đưa vào cho các tính cách của lao động khá nhiều. Lao động đơn giản đã nhường chỗ cho lao động phức tạp, lao động đơn lẽ nhường chỗ cho lao động dây chuyền hay có tổ chức, lao động cơ bắp nhường chỗ lao lao động sử dụng máy móc, lao động thao tác nhường chỗ cho lao động trí tuệ, lao động chế biến, phối kết nhường chỗ cho lao sáng tạo, lao động kém năng suất nhường chỗ cho lao động năng suất cao v.v… và v.v… Tức là không những có sự phân công tự nhiên trong lao động mà còn có cả sự phân công trong tổ chức và sử dụng lao động. Phân công lao động không còn chỉ là phân công vi mô trong các công đoạn của một dây chuyền công việc, hay trong xưởng thợ, mà trở thành sự tổ chức, sự phân công trong toàn xã hội. Đó là sự phân công vĩ mô, phân công toàn diện, mà không còn chỉ là sự phân công theo kiểu lượng tử hay vi mô trong các thời kỳ lịch sử xã hội đơn giản.

Tức xã hội càng phát triển đi lên, sự phân công lao động thực chất đã trở thành sự phân công chuyên môn, phân công nghề nghiệp. Có nghĩa là sự phân công cấu trúc xã hội mà không còn chỉ như sự phân công còn dừng lại ở chính bản thân của lao động. Ý nghĩa của giai cấp như vậy cũng không còn ý nghĩa của điều kiện sống hay chất lượng của đời sông nữa, mà thực sự đã trở nên ý nghĩa của phân công nghề nghiệp. Lao động thực chất đã chia ra thành những mảng lớn, những khu vực lớn, hay những lãnh vực hoặc phạm vi lớn. Tất nhiên nội dung từng yếu tố đó lại tự phân chia ra nhỏ hơn tùy theo các yếu tố phân công và tổ chức chi tiết riêng, và điều này đúng cho tất cả mọi trường hợp. Bởi vậy, ý nghĩa của lao động cũng giống như những bộ phận, những thành phần cấu trúc của một thân thể. Mọi hoạt động đều liên quan, thống nhất nhau, không thể có bộ phận nào hoàn toàn đơn độc hay biệt lập được cả. Có nghĩa xã hội được chia thành từng khối, từng ngành, từng kênh, từng tuyến hoàn toàn nhịp nhàng, phối hợp và liên thông nhau, không phải chỉ trong những phạm vi nhỏ, địa phương, vùng, miền, khu vực, mà ăn lan ra khắp quốc gia, kể cả mọi nơi trên toàn thế giới. Bởi vậy ý niệm lao động theo kiểu “tập thể”, theo kiểu “cộng đồng”, tức theo kiểu “cộng sản chủ nghĩa”, kiểu cùng hè nhau phối hợp trong cùng hoạt động rập ràng theo cách thao tác chung, quả thật đã hoàn toàn lỗi thời, cổ lổ sỉ, phản khoa học và phản tiến hóa. Điều này cũng chẳng khác cách thổi sáo trong đội sáo của Sở Trang Vương ngày xưa, có vô số những người chỉ có nhép miệng mà không ai biết phải làm gì. Đấy, nguyên lý của chủ nghĩa “tập thể” là như thế đó. Đó chẳng qua là khuynh hướng sính “tổ chức” theo cách bề ngoài, thiếu chính đầu óc khách quan, cụ thể, thực tiển, khoa học mà thực chất xã hội cần phải có và luôn luôn đòi hỏi.

Vậy mà ý nghĩa của xã hội bao giờ cũng phải mang tính kỹ thuật, hiệu quả và tiết kiệm. Cả ba ý niệm này luôn đi chung với nhau, có cái này mới có thể có cái kia cũng như ngược lại. Đây là ba yếu tố cần thiết nhất trong mọi hoạt động hay lãnh vực của xã hội con người. Bởi có như thế mới có thể đáp ứng được cho các nhu cầu tối đa của cá nhân và xã hội trong những hoàn cảnh, điều kiện nhất đinh, khách quan, có sẳn. Đó cũng chính là ý nghĩa liệu cơm gắp mắm mà người mình vẫn nói, tức khéo co thì ấm, không thể nào vung tay quá trán, không thể nào hoang tàn phung phí cho dầu dưới bất kỳ các khía cạnh nào. Năng suất và tiết kiệm, đó cũng chính là ý nghĩa hàng đầu trong kinh tế, chính là ý nghĩa hay yêu cầu của nguyên tắc và hiệu quả quản lý. Nói như vậy để thấy rằng kiểu “lao động tập thể”, “sản xuất tập thể” thật sự là ảo tưởng và hoàn toàn phi lý. Bởi guồng máy sản xuất của xã hội về mặt tổng thể, quả thật vô cùng phức tạp mà thật sự cũng vô cùng đơn giản. Vì vấn đề thực tế chỉ là yếu tố đầu vào, yếu tố đầu ra, và hiệu quả tổng quát. Năng suất và kết quả chung của nền kinh tế càng cao khi sự tiết kiệm đầu vào càng cao, sự tiết kiệm đầu ra càng cao, và năng suất chung của toàn nền sản xuất càng cao. Tiết kiệm đây cũng có nghĩa không phung phí hay lãng phí sức lao động, không ngăn trở hay bỏ sót sai trái mọi nhu cầu thụ hưởng chính đáng, cần thiết của con người, cho dầu bất cứ đó là ai, là cá thể nào. Tăng hiệu quả lao động cũng có nghĩa là tận dụng mọi sức lao động, không để phí phạm, lãng phí, đồng thời tăng cường năng lực của kỹ thuật, máy móc. Điều này không phải nghịch lý. Không phải năng lực máy móc cao làm dôi thừa, loại bỏ lao động con người, hay tận dụng lao động của con người để kìm chân phát triển kỹ thuật và máy móc. Nhưng đây là phương thức tính toán tối ưu trong nhiệm vụ của nhà quản lý. Quản lý đây không chỉ quản lý lao động, quản lý sản xuất, quản lý kinh tế, mà đặt biệt và quan trọng nhất chính là quản lý con người, quản lý xã hội.

Đó không phải là quan điểm cơ giới, máy móc, mà là quan điểm nhân văn. Đó không phải quan điểm hi sinh cá nhân con người cụ thể vì ý nghĩa xã hội trừu tượng, mà chính là phục vụ từng con người cụ thể để phục vụ toàn thể cộng đồng có thực và cụ thể. Con người trong chủ nghĩa Mác thực chất chỉ được nhìn trong ý nghĩa trừu tượng, đó là ý nghĩa giai cấp, như là người công nhân, người nông dân, mà không hề bao giờ được nhìn thực chất như con người nhân văn, con người cụ thể. Khái niệm giai cấp chỉ được hiểu như một phạm trù, như một thứ khuôn đúc, như một thứ ranh giới, như một thứ lồng nhốt, con người của giai cấp không thoát ra được khỏi đó, họ trở thành như công cụ, như phương tiện của mục đích đấu tranh nhằm đạt tới những mục tiêu kỳ ảo nào đó của những người tuyên dương, đề cao họ, nhưng không phải nhu cầu thực tế, lợi ích thực sự, hay bản thân chính họ. Bởi vì thực chất, không ai muốn mình là người nông dân hay công nhân suốt đời. Đó chỉ do hoàn cảnh khách quan của bản thân cũng như điều kiện của xã hội định đoạt. Cho nên thực tế, ai cũng muốn hết sức làm việc để tồn tại, đầu tư cho con cái hầu cải thiện hoàn cảnh của chính mình. Đó là lẽ đương nhiên, là mục đích và yêu cầu thăng tiến hoàn toàn cần thiết và chính đáng của tất cả mọi người. Có nghĩa giai cấp, giai tầng xã hội, hay sự phân công lao động hoặc nghề nghiệp trong xã hội trước hết là sự cần thiết đương nhiên, sau nữa chỉ là điều kiện bên ngoài, những hiện tượng tạm thời, nó thay đổi tùy theo sự biến chuyển của lịch sử mỗi cá nhân, của hoàn cảnh thực tế trong xã hội. Giai cấp không mang bất kỳ ý nghĩa thần thánh giả tạo nào trong lịch sử, đó chỉ là sự phịa đặt hay tưởng tưởng huyễn hoặc của chính con người.

Trong nhu cầu khai thác bề mặt đất đai rộng lớn trên địa cầu, đó là nguồn sống thực tế trọng yếu của nhân loại, làm thế nào lại có thể không có những người nông dân, giai cấp hay giai tầng sản xuất nông nghiệp, tức người nông dân. Trong nhu cầu chế biến các tài nguyên trong lòng đất, hay các vật liệu trên mặt đất, làm thế nào không cần thiết tới những người công nhân, tới giai tầng lao động kỹ thuật, lao động công nghiệp, mà họ chính là những người công nhân. Vả chăng, cả giai tầng hay giai cấp nông dân, công nhân nhất định cũng không thể có hay không thể phân biệt được nếu không có những giai tầng lao động sản xuất của các khu vực khác trong xã hội, trong đó kể cả những người làm chuyên môn, những người làm quản lý mọi mặt, những người trí thức, khoa học kỹ thuật, nhưng người làm doanh nhân các loại, trong đó có đầu tư sản xuất và kể cả những người bán buôn, thương mại ? Cho nên ý nghĩa giai cấp nhìn theo kiểu mê tín, cường điệu, là hoàn toàn phản khoa học, giả tạo, viễn vông, không thực chất. Vấn đề chính yếu của xã hội là làm thế nào tạo được điều kiện cần thiết, khách quan, phù hợp cho mọi người đều được thăng tiến theo sở nguyện, cho dầu họ đang thuộc giai cấp nào hay quá khứ đã ở trong hoàn cảnh, điều kiện sống và lao động như thế nào. Sự tổ chức, điều hành, quản lý xã hội là cả một ý nghĩa khoa học, thậm chí ngày nay nó có thể trở thành một công nghệ, có thể vận dụng năng lực trí tuệ của toàn xã hội để giải quyết sao cho thật hữu hiệu, kết quả, không phải chỉ trong quan niệm ý thức hệ huyễn hoặc của một số người nào. Thời hiện đại là thời quản lý của điện toán, đó là một khoa học hay một công nghệ hoàn toàn hiệu lực và khách quan, nó cũng là công cụ góp phần giải phóng đích thực cho xã hội và mọi cá nhân con người, là công cụ phục vụ hiệu quả yêu cầu dân chủ và nguyên lý bình đẳng, tự do của tất cả mọi người. Vậy thì điều khiển công nghệ, kỹ thuật, điều khiển mọi thành quả khoa học ngày nay trở thành quyền hạn, ý nghĩa, và mục đích của chính tinh thần và giá trị nhân văn. Nhân văn điều khiển, quản lý mọi cái gì mang tính cơ chế, máy móc khách quan mà không thể ngược lại. Không ai trong con người có thể làm chủ người khác, làm chủ xã hội, vì đó là điều phản nhân văn, phản tiến hóa. Đó là ý nghĩa nền tảng của giá trị và nhu cầu thiết yếu về tự do, dân chủ trong toàn xã hội. Không bất kỳ một cá nhân nào, một nhóm người nào có thể nhân danh bất cứ điều gì để khống chế hay điều khiển toàn xã hội, đó là điều sai trái và vô nguyên tắc. Nguyên tắc dích thực của tự do dân chủ chỉ có thể là sự ủy nhiệm hay ủy quyền, chỉ có thể là sự bầu cử hay ủy thác tự do, mà không phải lệ thuộc hay khống chế của bất cứ ai.

Trong ý nghĩa cơ bản đó, nguyên lý nền tảng vẫn luôn luôn là kinh tế tự do, tức kinh tế thị trường, có sự điều tiết, quản lý khoa học của nhà nước, trong ý nghĩa tự do dân chủ, pháp điển hóa của toàn xã hội, mà không phải chỉ thuộc những thành phần hay giai cấp nào. Kinh tế thị trường trên nền tảng tri thức khoa học và pháp điển hóa mang tính ổn định của toàn xã hội, đó là nền kinh tế khách quan, hiệu quả, khoa học, tiết kiệm nhất, mà toàn thể loài người đã phát hiện ra trong quá trình tiến hóa của toàn bộ lịch sử, nên không bất kỳ ai có thể phủ nhận hay đi ngược lại được, nếu không phải chỉ là chủ quan, vô lý, giả tạo và ngược ngạo. Tính tiết kiệm, tính hiệu quả, tính năng động, tính kết quả, và tính phát triển không ngừng của ý nghĩa kinh tế thị trường ngày nay ai cũng thấy rõ. Sự hội nhập toàn cầu ngày nay hoàn toàn cho thấy điều đó. Sự hội nhập có nghĩa là kinh tế thị trường đã trở thành thống nhất, đã mở rộng ra trên toàn cầu, đã vượt qua hay vượt lên những ranh giới lẻ loi, để đi vào sự giao lưu và hợp tác quốc tế một cách khách quan, cần thiết trên mọi bình diện, về tất cả mọi mặt mà không là gì khác. Có những người e ngại, phê phán kinh tế hội nhập toàn cầu chỉ có lợi cho các tập đoàn kinh tế hùng mạnh trên thế giới, chỉ tăng thêm lợi điểm cho các nước giàu, nhưng đó là quan điểm của cái nhìn cục bộ, dè dặt, không bao quát và không sòng phẳng. Bởi ý nghĩa của quy luật khách quan chính là quy luật tôn trọng quá khứ kết hợp với nhu cầu phát triển. Không bao giờ có thể xóa bài làm lại tất cả vì bất kỳ mục đích gì. Lịch sử tức cái đã xảy ra dù ý nghĩa hay tính cách của nó thế nào, đều đã trở thành những thực tế khách quan không còn thể nào thay đổi được nữa. Mọi cái mới luôn luôn phát triển trên chính nền tảng của cái đã có, tức là cái đã cũ, đã trở thành tự nhiên và ổn định. Đây là nguyên tắc bất di dịch không những của thực tế tự nhiên mà cả của bản thân lịch sử loài người. Người ta dựng đập, xây nhà, hay xây mọi công trình khác, đều là trên nền tảng kiến tạo của địa mạo hay địa tầng đã có, không thể khác đi. Những nước đã giàu không lẽ gì đi tướt đoạt được của họ. Ý nghĩa lịch sử là phát triển về tương lai, trên chính nền tảng khách quan của hiện tại, không thể nào quay trở về trong quá khứ. Cho dầu đó là bản thân mỗi cá nhân, tính cách mỗi vùng miền, tính cách mỗi quốc gia, hay cả trên toàn thế giới cũng thế.

Do đó mọi sự hợp tác quốc tế, mọi sự hợp tác con người đều là cần thiết. Mỗi cá nhân con người chính là cơ sở hay nền tảng tài nguyên của chính mình, mà đó cũng là tài nguyên cho mọi người khác hay cho toàn thể xã hội. Con người nhân văn như vậy cũng có nghĩa là con người được nhìn vào chiều sâu, nhìn vào tiềm lực của họ, mà không phải chỉ nhìn như một đơn vị sinh học, đơn vị pháp lý, đơn vị xã hội vô hình, kể cả đơn vị giai cấp như có người lầm tưởng. Ý nghĩa nhân văn trái lại chính là quyền làm người, năng lực làm người, và triển vọng phát triển về tương lai của tất cả mọi người, không loại trừ ai, không phân biệt, kỳ thị bất cứ ai. Ý nghĩa của quan điểm nhân văn là hướng về giá trị nội tâm, hướng về ý nghĩa bên trong, không phải nhìn thuần túy bên ngoài một cách nông cạn hoặc hời hợt. Bởi vậy nghĩa vụ giúp đỡ phát triển con người cũng là trách nhiệm và bổn phận của tất cả mọi người. Cơ sở của điều này không phải chỉ là cảm xúc, tình cảm, mà còn là ý thức sáng suốt, tình hữu lý và tính lý trí. Bởi vì cần đặt mình vào vị trí người khác, tức khắc sẽ nhận ra ngay được ý nghĩa này. Nhưng nói như vậy không phải tất cả mọi người ai cũng giống ai. Mỗi người đều gắn liền với phẩm chất, cá tính, trình độ nhận thức, năng lực, ý chí, tài năng, tâm hồn và tình cảm của mình. Mỗi cá thể con người cũng giống như mỗi cá thể trong rừng cây tự nhiên, không ai hoàn toàn giống ai, không phải mọi cây đều cao như nhau, to như nhau, cho hoa trái như nhau, hay có các tính chất đặc trưng như nhau. Đó là ý nghĩa khách quan tự nhiên. Nhưng quan điểm nhân văn không đi ngược tự nhiên, cũng không thụ động chấp nhận tự nhiên. Cái gì cá thể không có nhưng cố gắng chủ quan để làm cho nó có, đó là trái tự nhiên. Cái gì cá thể có nhưng để cho nó bị che mờ đi, cùn nhụt đi, ngăn cản nó, không cho được phát huy lên, đó cũng là vô nhân đạo và phản nhân văn. Giúp đỡ mọi người cùng được phát triển, đó là nghĩa vụ tự nhiên, nhưng không bao giờ nên cường điệu, giả dối hoặc giả tạo. Ý nghĩa nhân văn là ý nghĩa cộng tồn và cùng phát triển của tất cả mọi người. Đó là lợi ích chung của mọi người, cá nhân, cộng đồng, xã hội, cũng như nhân loại. Và ý nghĩa phát triển của con người không phải chỉ là vật chất, kinh tế, thăng tiến xã hội, mà quan trọng nhất chính là tinh thần, ý thức, ý nghĩa và giá trị làm người.

Thật ra, Mác đúng là người có tư tưởng phản kháng xã hội. Điều này ngày nay chắc dùng phân tâm học để soi sáng hoàn cảnh riêng của ông ta người ta có thể lý giải được. Mác phản đối tôn giáo, phản đối hoàn cảnh xã hội thời ông sống, phản đối giai cấp, phản đối tư hữu, và đề ra những ý tưởng lạ lùng nhất mà có khi ta không thể quan niệm được. Tính cách của Mác là tính cách của người duy vật thuần túy, có nghĩa cũng không thể có ý nghĩa niềm tin nào có cơ sở hữu lý về những giá trị của ý thức, tinh thần con người. Thế nhưng ông lại đề cao giải phóng con người, giải phóng giai câp, giống như một điều hoàn toàn nghịch lý. Ông cho rằng mình là nhà khoa học, đặt cơ sở quan điểm trên ý nghĩa khách quan, khoa học, thế nhưng cơ sở quan trọng nhất của ông lại là quan điểm biện chứng duy tâm, siêu hình, không thể và cũng không có cơ sở chứng minh được về mặt thực tiển khoa học khách quan, đó lại là sự nghịch lý, mâu thuẫn thứ hai của ông. Ông xuất thân từ thành phần giai cấp tư sản, nhưng lại cho rằng mọi tư tưởng nào không phù hợp với tư tưởng của ông đều là tư tưởng của bọn tư sản. Điều này cho thấy tính nghịch lý trong quan điểm lý luận và lý thuyết của ông, cũng như cho thấy tính một chiều, chủ quan, độc đoán, mặc dầu ông cho mình là người chuộng chân lý khoa học. Ông đề cao ý nghĩa vô sản và ý nghĩa của giai cấp vô sản, trong khi các quy luật tâm lý tự nhiên của con người, thậm chí nhầm lẫn cả phương tiện và mục đích trong ý nghĩa vật chất và kinh tế như nhiều lần chúng ta đã nói. Phủ nhận tâm lý tư hữu của con người là không khách quan, không thực tế, phản tự nhiên. Gắn chặt đầu óc, ý thức con người vào cứu cánh, mục đích đấu tranh giai cấp, đấu tranh kinh tế, đấu tranh vật chất, cũng là cái nhìn hạn hẹp, tầm thường hóa, vật chất hóa con người. Cho giai cấp vô sản có sứ mệnh lịch sử, có ý thức làm chủ lịch sử, thật sự chỉ siêu hình, huyền hoặc, vì quá tin vào quan điểm biện chứng của Hegel. Điều này cũng có nghĩa đã xa rời con người cụ thể, xa rời tâm lý, ý thức cụ thể của chính con người. Vì con người không có ai là thần thánh, không có tập hợp hay giai cấp nào là thần thánh, vì họ tự nhiên đều phải chịu tác động của mọi quy luật vật chất, tâm lý, bản năng, ý thức một cách khách quan. Từ đó ý nghĩa xây dựng một xã hội tương lai không có phân công lao động, không có giai cấp, không có nhà nước, không có hàng hóa, không có thị trường, không có luật pháp (vì luật pháp chỉ là thượng tầng kiến trúc của giai cấp thống trị nên nó sẽ hoàn toàn biến mất khi không còn giai cấp thống trị nữa), tất cả mọi người đều vô sản, cùng hợp tác lao động tự nguyên với nhau, đã cởi trói giai cấp nên vật dụng sản xuất tuông ra như nước, mọi người chỉ cần làm theo năng lực và hưởng theo nhu cầu. Quả thật là những tư tưởng hết sức phi kinh tế, phi xã hội, phi thực tế, nó chỉ giống như trong giấc mơ mà thậm chí còn hơn cả một giấc mơ.

Tuy nhiên, trong thực chất, Mác lại chủ trương chuyên chính vô sản. Quan điểm của ông là quan điểm gần như vô chính phủ như trên đã thấy, nhưng con đường tới đó ông lại đi bằng con đường chuyên chính, quả là điều phi thuận nghịch. Bởi con đường một chiều mà người ta có thể quay ngược lại được, quả thật là bất chấp cả luật đi đường. Vì tính cách độc tài trong xã hội cũng giống như tính cách của các mo tre, cái này đựng lấy cái kia cho đến tận ngọn, có bao giờ mà mo tre mọc ngược. Cho nên quả ông là người không thực tế hay bất chất thực tế. Một nhà làm kinh tế xã hội, tự cho mình là nhà khoa học tuyệt đối, thế nhưng bất chấp mọi quy luật khách quan về tâm lý xã hội, tâm lý cá nhân tự nhiên của con người, bất chấp các quy luật khách quan về kinh tế học, quả là điều hơi lạ lùng mà rất ít người từng nghĩ đến. Có nghĩa học thuyết của Mác không phải sai khi được áp dụng vào thực tế như mọi người đều thấy và lịch sử khách quan đã chứng minh, nhưng nó vốn đã không ổn về mặt nguyên lý và lý thuyết khách quan khoa học. Mác giống như một nhà cách mạng quá năng nổ, đến nổi không thèm để ý, không còn biết trời đất trăng sao gì nữa. Kiểu cứ nhất thiết cuồng nhiệt đi lên vì một niềm tin bất tử, giống như một anh hùng kiểu Đương dương trường bản, thậm chí giống như một Don Quichote quyết chí bảo vệ chân lý của mình mà không nhìn vào dòng đời khách quan có thể biến chuyển ra sao. Đáng lẽ ra đứng trươc các tệ nạn xã hội của thời kỳ tư bản chủ nghĩa sơ khai, chi cần mổ xẻ, giải phẩu, chữa trị nhưng căn bệnh trầm kha của nó một cách cương quyết, sáng suốt, khách quan, khoa học và cụ thể, đằng này ông quyết định thay xã hội đó bằng một xã hội mới hoàn toàn nhân tạo do chỉ một mình bản thân mình sáng tạo nên, không cần thông qua quá trình lịch sử trong thực tế, hay phủ nhận mọi tiến trình lịch sử khách quan vốn có từ trước đã đưa đến nó, quả thật Mác là người đã vượt lên lịch sử, không có quan điểm lịch sử, cho dầu ông dựa trên lý thuyết biện chứng của Hegel để cho quy luật mình sáng nghĩ ra chính là quy luật tự nhiên, tất yếu, tuyệt đối và khách quan của lịch sử.

Mác cho rằng giai cấp công nhân cứ càng ngày càng đông thêm, giai cấp chủ tư bản càng ngày càng ít đi, số đông sẽ khống chế và thay thế cho số ít chỉ là lẽ đương nhiên. Nhưng trong thực tế, khoa học kỹ thuật càng tiến bộ, cơ chế tự động hóa máy móc dần dần sẽ thay thế bớt cho lao động giản đơn của con người. Bài toán ở đây không còn là bài toán thuần túy máy móc của cơ chế toán học hay vô tri của xã hội như Mác nghĩ, mà đã thành bài toán của các ý nghĩa nhân văn, ý thức và đạo đức của toàn thể xã hội con người. Mác quả thật chỉ nhìn xã hội duy nhất ở hai khía cạnh đối lập, tư sản và vô sản, mà không nhìn xã hội một cách bao quát, toàn diện, trong đó còn rất nhiều thành phần khác nhau cũng có các ý nghĩa hay vai trò không kém, như các nhà khoa học, các nhà quản lý, các nhà pháp chế, và chính bản thân con người của mọi giai tầng lao động xã hội nói chung. Có bao nhiêu động lực, bao nhiều thông số khác nhau, bao nhiêu mục tiêu hay ý nghĩa khác nhau Mác không hề nghĩ đến. Ông chỉ chăm bẳm tin tưởng vào quy luật biện chứng của Hegel, cho rằng phản đề vô sản sẽ phủ nhận, tiêu hủy tiền đề tư sản, và hợp đề chính là xã hội vô sản không còn tư hữu, không còn giai cấp, mọi người đều được giải phóng vì không còn tư hữu mà chỉ còn công hữu, nhất là công hữu về mọi tư liệu sản xuất. Quả thật Mác là người vô cùng cả tin và kiên quyết. Giống như người bị viêm mũi, thấy cái mũi thật của mình khó chịu, chẳng cần gì phải chữa trị, vì cho rằng có chữa trị cũng không thể nào có kết quả, vậy thì cắt phăng nó đi, lắp vào đó cái mũi nhân tạo mới quả thật là tối ưu. Điều này cũng giống như các cô thiếu nữ, thấy bộ ngực mình quá xấu xí, chỉ cần giải phẫu chỉnh hình, bôm cilicon vào, thế là ổn cả, cho dầu thực tế nó sẽ ra sao. Mác đúng là một nhà kinh tế học lãng mạn, một nhà xã hội học lãng mạn, một nhà chính trị học lãng mạn, bởi vì ông muốn “triết lý” hóa tất cả các lãnh vực đó, mà không chịu để cho nó được hoàn toàn tự do vận hành theo thực tế. Bởi vậy, thực chất người ta cũng rất khó phân biệt Mác là nhà triết học duy tâm, một nhà triết học hoàn toàn duy vật, hay chỉ là nhà kinh tế xã hội chính trị hoàn toàn cụ thể và thực tế. Bởi Mác đã từng nói mọi nhà triết học từ trước đến nay chỉ ngồi giải thích thế giới, nhưng vấn đề chính là biến đổi thế giới. Quả thế giới đối với Mác giống như một bài thơ, có thể sáng tác được tùy ngẫu hứng, và triết học cũng như cái vô hình, có thể làm cho nó trở thành được một cái hữu hình, quả thật trong thiên hạ xưa này chỉ mới thấy có ông là một.

Thế thì từ các phân tích trên, chúng ta có thể thấy được là nghĩa kinh tế, văn hóa, xã hội, thực tiển trong đời sống con người trên quan điểm của chủ nghĩa nhân văn khoa học là hoàn toàn khắn khít hay thống nhất với nhau. Mỗi cá nhân trong xã hội thực chất là một đơn vị kinh tế, văn hóa của thực tiển đời sống chính mình. Chính yếu tố kinh tế quyết định yếu tố văn hóa cũng như ngược lại. Bởi vậy, cá nhân và gia đình là các tế bào kinh tế, hay những đơn vị kinh tế nhỏ nhất trong xã hội. Người ta có thể sống bằng đồng lương, hay sống bằng các thu nhập lợi tức nào đó của chính mình. Đó là sự phân bố nguồn sống từ xã hội lại cho họ, nhằm đổi lại sức lao động trực tiếp mà họ đã bỏ ra, tức đóng góp vào cho xã hội, hoặc đổi lại các thành quả đóng góp mà những tư liệu sản xuất nào họ có đã góp phần vào cho guồng máy sản xuất chung của cộng đồng và xã hội. Đương nhiên các tư liệu sản xuất thì ở dưới các hình thức và mức độ khác nhau vô cùng, cũng như sức lao động cá nhân có thể là lao động giản đơn, lao động cơ bắp, hoặc lao động trí tuệ, tài nghệ riêng, mà người ta có thể gọi đó là lao động chất xám, lao động chuyên môn, lao động sáng tạo, hoặc lao động nghệ thuật. Tất cả mọi sự đóng góp cho cộng đồng, xã hội như thế nào, cũng được phần bù lại hay tưởng thưởng tương đương như thế trong một trạng thái xã hội nhân văn hoàn toàn hiệu quả và tốt đẹp. Ý nghĩa này rất là quan trọng, bởi vì đó là nguồn sống, là cơ sở tồn tại và phát triễn của mỗi của mỗi cá nhân. Nguồn này càng được củng cố, giữ vững thì con người mới thật sự được độc lập, tự do. Khi nguồn này bị bế tắt, bị tướt đoạt theo nghĩa nào đấy, theo phương diện nào đấy, có nghĩa là con người cũng bị mất đi sự độc lập, tự do, ngay cả có khi mất đi hết nhân cách của mình, như ngạn ngữ có nói đói đầu gối phải bò là như thế. Cho nên, thực chất con người vô sản là con người hoàn toàn mất hết độc lập, tự do, khi hệ thống đó trở thành hệ thống chung, duy nhất, bao quát hết toàn bộ xã hội. Đó là ý nghĩa tại sao trong một nền kinh tế tập thể được tổ chức một cách hoàn toàn chặt chẽ, toàn diện, mọi người đều mất hết tất cả độc lập, tự do, vì đều phải ràng buộc, lệ thuộc lẫn nhau trong nền kinh tế đó. Kể cả họ cũng không thể vô rừng để sinh sống, bởi vì tất cả là công hữu, là guồng máy khắc nghiệt bao trùm, không giành lại cho họ bất kỳ vùng trời hay không gian riêng biệt nào nữa. Đây chính là điều nghiệt ngã, gai góc nhất của con người và xã hội, bên ngoài là ngôn ngữ của sự giải phóng, mà thực chất bên trong là ý nghĩa của thực tế nô lệ vào guồng máy vô hồn, bởi nô lệ kinh tế cũng có nghĩa là nô lệ ý thức, nô lệ văn hóa, và nô lệ cả đời sống.

Trong khi đó, với nền kinh tế thị trường và tự do. Mọi sự cung cầu theo luật thị trường theo nguyên tắc bao giờ cũng tự do, dân chủ, chính xác, hiệu quả và khách quan. Tất nhiên mọi điều lũng đoạn, chèn ép, tắt tị nào đó nếu có, chỉ là do các khuyết điểm đặc thù về mặt tâm lý cạnh tranh bất chính, xấu xa cá biệt, hay về mặt tồn tại pháp lý chưa hoàn chỉnh của xã hội, không phải do nguyên lý quản lý chủ quan, giả tạo của hệ thống nhân sự cứng nhắc nơi xã hội con người. Có nghĩa con người càng lệ thuộc lẫn nhau do tâm lý đặc thù cá nhân, xã hội càng kém nhân văn, phi nhân bản, mất hiệu quả và trì trệ. Bởi ai cũng biết phần lớn cá nhân mỗi con người thông thường đều có mặt nọa tính, có bản năng ích kỷ ẩn tàng, có lòng đố kỵ ghét ghen, có sự chen đua bất chính, do đó xã hội càng tổ chức theo kiểu chủ quan, cứng nhắc, càng trở nên xơ cứng, càng trở thành nghiệt ngã, phản lại mọi hiệu quả tự nhiên, chà đạp lên mọi hạnh phúc chính đáng của con người và xã hội. Đó là ý nghĩa của các xã hội thuộc chế độ toàn trị mà bây giờ người ta quen nói cho nhẹ đi, gọi là thời kỳ bao cấp. Người ta lên án cái được mệnh danh là “lao động làm thuê” để thay vào đó lao động làm chủ tập thể, nhưng thực chất cũng là hệ thống làm thuê rộng lớn lẫn nhau, không có những ông chủ riêng mà chỉ có một ông chủ chung, không có những ông chủ cụ thể mà chỉ có một ông chủ vô hình, đó là toàn bộ cái cơ chế máy móc, khắc nghiệt mà ai cũng trở thành người làm thuê, làm công cho nó. Nó trả lương không theo sự ngang giá, mà theo mệnh lệnh, chỉ thị chủ quan. Sự bóc lột của nó không còn là sự bóc lột cá nhân mà là sự bóc lột tập thể. Sự bóc lột của nó không còn chỉ là tiền bạc, lương hướng, mà thay vào đó là sự bóc lột cả ý thức, tự do, suy nghĩ, và cả tư tưởng của con người. Không bất kỳ ai thoát ra khỏi guồng máy đó, kể cả những người thật sự điều khiển nó. Bởi vì nó là guồng máy phi chủ thể hay chỉ còn là chủ thể vô hình, đó là chủ thể ý thức hệ, chủ thể của sự tổ chức ngặt nghèo, nó trở thành một thứ quán tính lạnh lùng, không còn bất cứ kẻ hở nào để mọi cá nhân có thể vào đó trú ẩn. Tức chỉ có thể được ăn cả ngã về không, cố gắng sống lâu thì lên được lão làng, nếu loay hoay thì liền bị đào thải. Đó quả thật là tính phản nhân văn, phản xã hội, phản con người, chỉ vì mọi quyền tư hữu sản xuất đều bị loại bỏ, xã hội chỉ còn là một đám vô sản phải dựa dẫm vào nhau, chen lấn nhau để được tồn tại.

Đó là ý nghĩa tại sao những điều gì Mác cay cú, phản bác về xã hội tư sản, nó lại tái hiện trong các xã hội áp dụng lý thuyết của ông, nhiều khi còn nghiệt ngã nhiều hơn, nhiều khi còn phi lý nhiều hơn. Điều này nguyên nhân là tại Mác chỉ thấy cây mà không thấy rừng, chỉ đắm đuối vào chỗ vi mô mà không biết nhìn toàn diện ở cái vĩ mô. Ông chỉ thấy sự bóc lột như những hiện tượng cá biệt của kinh tế thị trường, để khái quát hóa nó ra thành quy luật toàn diện chung của cả xã hội tư sản. Quả thật ông chỉ cắt khúc sợi tóc, chẽ sợi tóc làm tư mà quên đi mọi quy luật tổng quan, bao quát nhất của toàn bộ lịch sử. Lịch sử xã hội luôn luôn phát triển đi lên, đó là nguyên lý chung, bởi xã hội không chỉ có những giá trị vật chất, kinh tế, mà còn có cả các giá trị ý thức, tinh thần, còn có những quy tắc đạo đức, pháp lý, những cái bị ông bỏ chung vào một giỏ giả tạo do ông tưởng tượng ra là thượng tầng kiến trúc, phản ánh cơ sở của nền kinh tế tư sản phân chia giai cấp và bóc lột. Nên nói một cách chính xác, đầu óc và suy nghĩ của Mác dường như là đầu óc và suy nghĩ không bình thường, tức nói theo ngôn ngữ bình dân là chẳng giống ai. Nhưng tất cả những gì ông đưa ra lại trở thành lợi khí duy nhất cho ông. Có nghĩa những tư tưởng lắt léo, ngụy biện, đôi khi kể cả ngụy biện, kiểu ai không phải ta, ngược lại ta đều là ý thức tư sản, trong khi chính ông ta lại là người xuất thân từ thành phần giai cấp tư sản. Chính những suy nghĩ, quan niệm của Mác vượt lên trên mọi suy nghĩ thông thường, phần lớn vượt ra khỏi mọi suy lý của người bình dân, nên hầu như người ta chỉ có thể cảm thức theo ông mà không có ai bẻ lại được, ít ai có thể phản biện lại được, khiến ông trở nên như một người một mình một cõi, trở thành ông vua của lý thuyết, và được thần thánh hóa, tôn sung như một người cứu nhân độ thế. Chính vì thế mà học thuyết Mác trong một thời gian dài đã trở thành như một thứ thánh kinh, ông trở thành như một giáo chủ, thậm chí trở thành như một người sáng tạo hay tái tạo lại thế gian, và người cầm đầu lý thuyết của ông trong xã hội thực tế gần trở nên như một giáo hoàng, khiến tất cả mọi thần dân trên thế giới như trở thành các con chiên ngoan đạo. Khởi điểm ông là người phản đối tôn giáo, dè bỉu tôn giáo như là thuốc phiện ru ngủ quần chúng, để rồi học thuyết của ông lại trở thành tôn giáo, trở thành thuốc phiện ru ngủ quần chúng lúc nào mà chính bản thân ông cũng không hề hay biết. Đây không biết là sự vô tính hay sự cố ý lúc ban đầu của Mác, điều này chỉ có thể những nhà phân tâm, những người mổ xẻ ý thức con người một cách toàn diện, sâu xa mới có thể hiểu được.

Thế nên cần phải trở lại vấn đề làm thuê hay làm chủ trong xã hội. Đây có thể là ý nghĩa ám ảnh, thắc mắc của một số người mà đến nay biết đâu vẫn còn chưa giải tỏa được. Điều này bởi vì nó được tuyên truyền quá sâu rộng qua nhiều thế hệ, bằng rất nhiều cách khác nhau, nên nhiều cá nhân giống như bị tẩu hỏa nhập ma, bị rơi vào mê cung của các khái niệm về bóc lột, về tư hữu, về giá trị thặng dư, về giai cấp, khiến cho thật khó mà được tỉnh táo, được bình thản để có thể có phương cách tự rút mình ra được. Người ta không thể hiểu rằng tư hữu tức là làm chủ, quản lý, sử dụng của cải, hay công cụ sản xuất của mình. Nếu cho rằng một người nào đó có của cải, tư liệu sản xuất bỏ ra, rồi kêu mọi người đến cùng làm chủ để sản xuất và chia chác các kết quả cùng với mình, thì thật là một suy nghĩ điên loạn và không bao giờ có thật. Thế thì mọi sự thuê mướn và trả tiền nhân công chỉ là chuyện tự nhiên. Đó là sự hợp tác xã hội một cách cần thiết và khách quan, vì không ai có thể tự làm được hết mọi việc trên đời, còn ai cũng muốn chủ động lấy mọi thành quả riêng của mình. Bởi giả dụ người được thuê mướn có khả năng đóng vai người làm chủ, thì sự thể cũng chỉ giống như vậy thôi. Do đó tên gọi hay khái niệm quả thật không quan trọng, quan trọng chính là thực chất vấn đề như thế nào. Đó là cách hợp tác sản xuất vì những nhu cầu cần thiết nào đó cho xã hội, và tất nhiên chiều ngược lại chính là sự thu về lợi ích cho chính cá nhân bỏ vốn, bỏ tư liệu ra để tạo nên các sản phẩm đáp ứng cho những nhu cầu hiện có của xã hội. Đây là điều hết sức lơ mơ trong suy nghĩ của Mác, ông luôn luôn lấy những suy nghĩ tiên kiến của mình để làm khuôn đúc cho mọi nhận định, đánh giá và kết luận về các sự kiện khách quan, tự nhiên của xã hội. Tính cách của Mác luôn luôn là tính cách chủ quan lấn át hết mọi ý nghĩa khách quan. Do đó, những người áp dụng lý thuyết của Mác cũng giống như những công trình sư, những nhà kỹ sư kết cấu một cổ máy không đúng các quy luật khách quan do nhà lý thuyết đưa ra không phù hợp, không thể vận hành tốt đẹp được, thì lỗi một phần ở họ do sự cả tin, còn cái chính là lỗi do người đưa ra lý thuyết khoa học phản lại các nguyên lý khách quan.

Chẳng hạn, ý tưởng về công hữu và cộng sản của Mác. Ông cho rằng khởi thủy xã hội loài người là xã hội cộng sản, đó là sự suy nghĩ hết sức nông cạn và sai lầm. Mọi cái gì chung một cách tự nhiên, không thể gọi là công hữu hay cộng sản được. Như bầu trời, nước, không khí, mặt đất, đó là những cái chung tự nhiên nhất không phải của mọi người mà của cả thảy loài người, nên bảo đó là công hữu hay công sản là hoàn toàn phi lý. Cần phải nói rằng chính tư hữu xuất hiện trước mà không phải là công hữu. Trên dải đất hoang hay trong cánh rừng hoang, một hay những cá nhân đầu tiên dành riêng ra cho mình cái gì đó, tạo lập ra cho mình cái gì đó, đó là ý nghĩa ban sơ nhất của sự tư hữu. Chỉ sau khi nhiều cái tư hữu có rồi, cái còn lại chưa kịp ai tư hữu, lúc ấy những cái này mới có thể trở thành công hữu theo ý nghĩa về sau. Cũng vậy, sau khi các nhà nước thành lập rồi, những tài sản nào chưa hề bị tư hữu mà còn lại, thì trở thành của chung, công hữu một cách tự nhiên, và điều này đúng khắp nơi trên toàn thế giới. Bởi vậy, những suy luận của Mác luôn luôn là những suy luận ngược. Như ông cho rằng cái riêng sẽ tiến triển và biến thành cái chung, đó quả là điều hoàn toàn không thực tế. Chẳng hạn gia đình ban đầu là đơn vị chung, nhưng sau đó tách ra thành các đơn vị riêng mà có bao giờ ngược lại. Hay như hạt cây, ban đầu chỉ là cái mầm chung, về sau phát triển thành cái cây phức tạp, đó là cái chung đi đến cái riêng mà có gì khác. Còn hạt do cây sinh ra, đó không phải toàn thể cái cây bị thu về trong cái hạt, mà hạt thật sự chỉ là một sản phẩm chi tiết về sau của toàn thể cái cây mà thôi. Cho nên xã hội nguyên thủy của loài người là một cộng đồng khách quan tự nhiên, một sự quần tụ hay nảy sinh ra từ tự nhiên, mà không phải là xã hội cộng sản theo kiểu cộng lại hay kiểu một tài sản chung vốn có gì cả như Mác suy đoán. Quả thật tư tưởng của Mác có nhiều chỗ rất méo mó, nó không giống cách suy nghĩ của con người tự nhiên, bình thường. Lúc đầu con người còn sơ khai, chưa có tài sản, chưa có tư hữu, tức chưa có mọi vật dụng cụ thể, cần thiết riêng, trạng thái xã hội đó là trạng thái sơ khai, thiên nhiên hoang dã thuần tùy, mệnh danh đó là xã hội cộng sản nguyên thủy quả là sự lạm dụng, sự cưỡng đoạt, sự giải thích méo mó khái niệm và danh từ. Từ đó ông cho rằng xã hội tương lai của loài người nhất thiết cũng phải là xã hội cộng sản, quả là một suy đoán mang tính vu vơ, áp đặt và khiên cưỡng. Suy nghĩ kiểu này cũng chẳng khác gì nói hạt thì lại sẽ cho ra hạt. Đó chính là sự đánh đồng giữa cái máy móc của tự nhiên với chính ý nghĩa của nhân văn, ý thức tinh thần của con người. Vả lẽ ngày nay người ta biết tiến hóa của hạt là tiến hóa của gene di truyền mà hoàn toàn không phải là cơ chế máy móc theo kiểu thuần túy cơ giới. Do vậy, nếu trong tương lai xa loài người có tiến tới một xã hội hài hòa chung, tổng thể nào đó, đó chỉ có thể là một xã hội cộng đồng, tức một cộng đồng phối hợp, phát triển tự do, mà không hề là một xã hội “cộng sản khoa học” như Mác vốn nông cạn suy nghĩ.

Vậy thì trở lại vấn đề, một xã hội nhân văn khoa học là một xã hội cộng đồng nhân bản mà không hề là xã hội “cộng sản” theo kiểu Mác quan niệm. Trong xã hội nhân văn, mỗi cá nhân con người được bảo vệ và phát triển tự do, không phải bị o ép theo kiểu xã hội mà Mác quan niệm. Giá trị và ý nghĩa mỗi cá nhân được hình thành nên hoàn toàn độc lập, tự do, giống như trong một hệ thống quay li tâm, mỗi hạt đường bé xíu tự kết tinh, tạo nên sự kết hợp hài hòa, ngọt ngào của toàn xã hội. Nó không giống khái niệm xã hội gọi là “cộng sản chủ nghĩa” của Mác, chỉ y hệt những thanh sắt đầu tiên, sau đó những hạt xi măng được kết dính vào, đông đặc lại, trở thành một khối bê tông rắn chắc, chết cứng, không bất kỳ một thành phần tạo thành nào có thể tách ra được nữa. Đó chính là khái niệm chuyên chính do Mác đưa ra, và nó rất dễ trở thành những chiều bài lợi dụng cho bất cứ những đầu óc tham vọng nào mà lịch sử khách quan đã chứng minh không khó. Quả thật từ những suy nghĩ nông cạn, sai lầm, chủ quan, gây nên những hệ lụy lâu dài khôn lương của toàn xã hội, đó chính là trách nhiệm muôn đời của Mác, dầu là vô tình hay hữu ý cũng không bao giờ có thể chối bỏ được. Do vậy, ngược lại với chủ thuyết Mác, quan điểm lý thuyết nhân văn không chủ trương độc tài mà chủ trương tự do dân chủ. Nghĩa là mọi người đều có quyền hạn và giá trị ngang nhau về mặt nguyên tắc trong toàn xã hội. Cơ sở quyết định cao nhất của xã hội dân chủ tự do như thế là sự ủy nhiệm hay ủy quyền, tức là sự bầu cử mở rộng và tự do, sự bầu cử theo lối phổ thông bầu phiếu, mà không thể chỉ là đặc quyền riêng của những cá nhân hay những nhóm cá nhân nào. Không ai nhân danh bất cứ điều gì để có thể tự dành đặc quyền đứng trên được mọi người khác. Nó trái ngược lại khái niệm đấu tranh giai cấp theo kiểu hận thù, ích kỷ, trái nhân văn mà Mác đã đưa ra. Nó cũng không tôn xưng giai cấp nào theo kiểu thần thánh và mê tín, tức mang ý nghĩa phản khách quan, phi khoa học mà mọi người đều biết. Giai cấp theo ý nghĩa của quan điểm nhân văn chẳng qua là sự phân công nghề nghiệp, phân công lao động tự nhiên trong toàn xã hội. Nó luôn luôn có thể đổi thay, sinh động, phối hợp cùng nhau, lợi ích tự nhiên cùng nhau mà không hề máy móc, cứng nhắc, kình chống nhau hoặc hoàn toàn nghịch nhau hay mâu thuẫn. Đấu tranh trong xã hội trở thành đấu tranh giữa cái tốt và cái xấu, cái đúng và cái sai, cái hoàn thiện và cái chưa hoàn thiện, cái hữu lý và cái phi lý, cái công bằng và cái bất công, cái nhân bản và cái phi nhân bản hay phản nhân bản, nói chung là cái tích cực và cái tiêu cực, cái phát triển đi lên và cái trì trệ đi xuống mà không là gì khác.

Bởi vậy, quan điểm nhân văn phân biệt rạch ròi giữa cái thiên nhiên và cái nhân văn. Xã hội chưa hoàn hảo là xã hội còn nhiều dấu vết của thiên nhiên. Như vậy phải luôn luôn hợp lý hóa và chỉnh sửa nó theo hướng nhân văn, không phải chỉ vì một cái cây còn bị sâu đục mà đón bỏ nó đi để thay vào đó một cái cây nhân tạo theo hướng trừu tượng, máy móc, khô cứng và giả tạo do con người làm ra, y hệt như kiểu Mác đã muốn làm. Rồi thì trên đó cũng không phải là những kết trái tự nhiên, đó là những trái cây giả tạo được treo vào, thật hoàn toàn vô nghĩa. Bởi vậy, ý nghĩa của quan điểm nhân văn là tính cách thực tiển, tinh thần khách quan, khoa học. Nó không có một công thức nào tiền chế, định sẳn. Nó luôn luôn là sự nghiên cứu, đào sâu, đổi mới không ngừng do mọi thành quả tích lũy khoa học của chính con người. Nó luôn luôn phát triển theo dòng lịch sử khách quan mà không phải tác phẩm của riêng ai hay bất cứ người nào. Nó không phải là một tôn giáo nên cũng không bao giờ tôn thờ thần tượng, thậm chí những thần tượng có tính cách giả tạo. Nó là sự đúc kết tinh hoa và nhu cầu cần thiết của tất cả mọi người. Nó là tài sản chung, ý nghĩa và giá trị chung của mọi người mà không phải của riêng ai cả. Chính trong ý hướng hoàn toàn thực tế mà quan điểm nhân văn luôn luôn tôn trọng và vận dụng sao cho  hoàn thiện hơn mọi thành tựu đã có của nhân loại, như các định chế về tiền tệ, về thị trường, về các nguyên lý dân chủ tự do của xã hội, mà không chà đạp lên, quay lưng lại, hoặc bảo thủ mù quáng chỉ thụ động làm theo mà không tìm cách nghiên cứu nhằm hoàn thiện hơn, phát triển hơn, để đáp ứng mọi nhu cầu cần thiết, chính đáng và tốt đẹp nhất của mỗi cá nhân và toàn thể xã hội. Quan điểm nhân văn do vậy cũng không bao giờ là quan điểm bảo lực hay bạo hành đối với con người, mà là quan điểm hợp tác, xây dựng và liên kết tất cả mọi người. Bất kỳ ai khi thấy ra, khi chấp nhận nhu cầu cần thiết của quan điểm nhân văn, tự động họ đã trở thành yếu tố, thành thành viên của quan điểm chủ nghĩa nhân văn. Cho nên, quan điểm chủ nghĩa nhân văn thật sự không có biên giới hay không phân biệt ranh giới. Nó chính là ý thức của con người phổ quát, con người toàn cầu nói chung, mà không hạn hẹp vào trong bất kỳ những thiên kiến hay các quan niệm đặc thù nào. Ý nghĩa của quan điểm nhân văn là sự hướng lai, sự cải thiện hiện tại để đi lên mà không bao giờ tìm cách quay ngược về quá khứ, cho dầu mỗi cá nhân hay toàn thể cộng đồng và xã hội cũng vậy.

Nó chính là mô hình phải đến để thay thế hoàn toàn cho các quan điểm đã hết sức cổ lổ sỉ của chủ nghĩa học thuyết Mác (ở những nơi nào hiện vẫn còn lại trên thế giới). Từ sự phê phán các ý nghĩa vong thân của con người (có những chỗ đúng, có những chỗ sai, do Mác đánh đồng mọi điều, và thường khi nhầm lẫn giữa ý nghĩa của mục đích và phương tiện) trong xã hội tư sản, để rồi học thuyết Mác trong thực tế đã mang lại nhiều ý nghĩa vong thân còn lớn hơn, như vong thân kinh tế, vong thân ý thức, vong thân chính trị, vong thân xã hội, vong thân cả tư duy, ý tưởng, quan niệm sống, bởi phần lớn nó trở thành giả tạo, không thực, chỉ nặng về hình thức tổ chức xã hội bê ngoài, được mệnh danh là chủ nghĩa xã hội, mà quên đi chính cứu cánh, mục đích sau cùng là các ý nghĩa, tính chất và giá trị nhân văn trong cá nhân mỗi con người và của toàn xã hội. Cho nên ý nghĩa của quan điểm nhân văn đích thực chính là tìm cách xóa bỏ đi tất cả mọi vong thân (alienation, sự đánh mất bản thân hồn nhiên, đích thực) giả tạo nơi con người. Mà đơn giản và chủ yếu nhất vẫn là sự xã hội hóa kinh tế. Tức chỉ công hữu hóa những lãnh vực nào mà tư nhân không đảm nhận được, còn cái gì toàn thể xã hội làm được, trả về cho tất cả mọi người. Điều thứ hai là sự dân chủ hóa quyền lực. Tức quyền lực là quyền lực chung của toàn xã hội, không thuộc về bất kỳ những nhóm cá nhân nào. Điều thứ ba là sự trí thức hóa quản lý. Tức nhà nước chỉ còn là nhu cầu điều hợp theo cách thông minh, quản lý xã hội chỉ như một nhiệm vụ, một trách nhiệm khoa học, sao cho hiệu quả nhất, mà không còn là chủ thể độc tôn của quyền hành, vì mọi quyền hành đã nhất thiết thuộc về toàn dân. Đó chính là tinh thần, mục đích và ý nghĩa của quan điểm nhân văn. Tính khoa học của nó là tính phân biệt giữa con người và xã hội. Chính con người tạo thành xã hội mà không phải xã hội là nguồn gốc thiết yếu của con người. Tính xã hội phải là tính nhân văn trong con người mà không phải chỉ là một thiết kế, một tổ chức hoàn toàn hình thức đi ngược lại hay dẫm đạp lên tính nhân văn. Đó chính là ý nghĩa cũng như mục đích sâu xa nhất của tinh thần và nền tảng nhân văn mà những loạt bài viết này(1) đã nổ lực định hình và hướng tới.     

 

VÕ HƯNG THANH

(08/02/2011)

 

**

 

NÓI SÂU THÊM VỀ CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN

 

Chủ nghĩa nhân văn thật ra không phải là thứ “chủ nghĩa” như kiểu quan niệm xưa nay vốn có. Các quan niệm “chủ nghĩa” theo kiểu đó phần lớn chỉ các mục đích tổ chức, uốn nắn theo các hình thức bề ngoài. Chúng gò bó, giả tạo, và thông thường cưỡng chế, máy móc, khắc nghiệt, o ép bản thân con người, độc đoán với mọi người, nói chung chúng rất có thể phản nhân văn. Trong khi đó, chủ nghĩa nhân văn ở đây thật sự chỉ là một ý hướng tự nhiên, một quan điểm sống và hành động thực tế trong cuộc đời thực tiển của mỗi người, một nhận thức và mục tiêu phấn đấu chung của mọi người trong xã hội, không phải chỉ giành cho riêng ai, không phải chỉ thuộc về riêng ai trong thế giới thật hữu này. Nó là mẫu số chung của tất cả, từ hành động, ý thức đến chí hướng mà mọi người đều có thể cùng hợp tác và chia sẻ. Có nghĩa đây là một ý thức sống hoàn toàn tự nguyện, tự giác, không phải chỉ đến từ bên ngoài, từ tác động hay bó buộc do người khác, mà thực sự phát xuất từ tâm nguyện, từ tình cảm, ý thức, nhận thức của riêng mình. Nó là nội lực của bản thân, là động lực, động cơ phát sinh ra từ lòng nhân ái, từ ý thức yêu thương con người một cách rộng rãi, vô tư, hồn nhiên, cần thiết, chính đáng, cao cả, mà không vì bất kỳ những động cơ riêng, ích kỷ nào khác, không phải sự giả tạo hay sự làm dáng nào khác.

Tại sao phải yêu thương con người, tại sao phải lấy bản thân mỗi cá nhân con người làm gốc ? Bởi vì chính mình là con người, và tất cả mọi người cũng đều như thế. Đó là nguyên lý hoàn toàn thực tế, nó khách quan, cụ thể, coi như một nguyên tắc tự nhiên đúng, gần gũi, thiết yếu, mà không có gì giả tạo, mơ hồ hay xa vời cả. Ai cũng có thể hiểu nó một cách dễ dàng, chấp nhận được nó dễ dàng, bởi vì nó có lợi ích cho mỗi người và cũng lợi ích cho tất cả mọi người. Có nghĩa nó tạo nên không những là sự an toàn, tạo nên lợi ích hỗ tương giữa mọi người, mà nhất là nó khẳng định và nâng cao giá trị, ý nghĩa của chính bản thân mỗi người, nâng cao ý nghĩa, kết quả và giá trị của toàn xã hội mà không là gì khác. Nó không phải thứ quan điểm thực dụng, cũng không phải thứ quan điểm chuộng hình thức, bề ngoài, giả tạo, hời hợt hay máy móc, mà chính là thứ quan điểm nội tâm, tự mình làm chủ, quyết định ý thức chính mình, tự giác, tự nguyện, không hề bị bó buộc hay ảnh hưởng gì bởi ngưởi khác. Ý nghĩa quan điểm nhân văn như vậy là ý nghĩa của lý trí lành mạnh, của tình cảm cao quý, của ý thức sáng suốt, của lòng thương yêu rộng lớn, của mọi giá trị tích cực, của mọi mục đích hướng thượng, mà không phải chỉ tầm thường, cá nhân, vị kỷ, đố kỵ, vụ lợi bản thân, hay đạo đức giả. Cơ sở của quan điểm nhân văn là cơ sở ý thức, tinh thần, cơ sở nhân bản, lấy phẩm chất, giá trị con người làm gốc, mà không phải là quan điểm duy vật hay mục đích vật chất tầm thường.

Nhân văn có nghĩa là văn minh, văn hóa, đó là các ý hướng phát triển, các giá trị tinh thần cao cả của con người. Nó còn cao hơn, cụ thể hơn cả khái niệm nhân bản. Bởi ý nghĩa nhân bản chỉ mới có nghĩa lấy con người, lấy xã hội con người làm gốc, mà chưa thật sự đi sâu vào các nội dung, ý hướng tinh thần bao quát, sâu xa, phong phú vô hạn của chính bản thân mỗi con người. Điều này có nghĩa chính những cái riêng, cái cụ thể làm nên cái chung, cái phổ biến, cái tổng gộp mà hoàn toàn không phải ngược lại. Chính hương sắc của mỗi bông hoa làm nên hương sắc của cả vườn hoa, mà ý niệm vườn hoa trừu tượng, phi thực tế không bao giờ đi trước hay có được trong thực tế. Đây cũng là ý nghĩa mà quan điểm nhân văn khác hẳn với quan điểm xã hội một cách tầm thường, thô kệch, giả tạo, cũng như chỉ hoàn toàn hình thức. Người ta nói đến quan niệm xã hội chỉ như một ý hướng sính tổ chức, một mục tiêu ràng buộc, cào bằng, một sự o ép quyền tự do chính đáng của cá nhân, một quan điểm nệ thức nên luôn luôn phản dân chủ, một thứ mục đích giả tạo, gò ép mà không hoàn toàn tự nhiên, một thứ ý hướng chủ quan mà không phải hoàn toàn khách quan. Có nghĩa quan điểm nhân văn đích thực chống lại mọi hình thức giả tạo bề ngoài, chống lại mọi ý hướng phản xã hội, phản con người theo kiểu hình thức và giả tạo. Ngược lại, nó luôn luôn đề cao ý thức tự do, tự chủ, bình đẳng, chủ động của tất cả mọi người, có nghĩa tinh thần dân chủ, tự do đúng đắn luôn luôn được bảo về và đề cao tuyệt đối. Chúng không thể bị lợi dụng mà cũng không thể bị chà đạp, hi sinh. Và thật sự bản chất nhân văn, lòng thương yêu rộng mở và cao cả không phải chỉ dành riêng cho con người, mà còn mở rộng ra cho cả thiên nhiên, muôn loài, như không làm phương hại đến cả cỏ cây, loài vật, nếu không thật sự cần thiết.

Bởi vậy, quan điểm chủ nghĩa nhân văn là cả một tấm lòng rộng lớn, một ý thức chân chính, một mục đích thực tiển, cụ thể, một ý nghĩa và giá trị phổ biến, rộng mở, mà không thể nào có tính vụ lợi riêng, cá nhân, vị kỷ, hẹp hòi, phiến diện, riêng tư hay cục bộ. Nó vươn lên mọi ý nghĩa hay giá trị tầm thường, nhằm hướng đến tình cảm bao dung, sự cảm thông cao quý, sự đồng cảm giữa mọi người, đặt nền móng trên sự tự chủ, tự giác, tự do, thiện chí, đặt cơ sở trên sự nhận thức, hiểu biết, tri thức sáng suốt, mà không bao giờ là sự mù quáng, dốt nát, mê tín, cuồng loạn thuần túy bề ngoài, bị động, gò ép, vụ lợi, ích kỷ trá hình, hoặc hoàn toàn giả tạo. Bởi vậy, mục tiêu nâng cao nhận thức, hiểu biết của mọi người cũng là một ý nghĩa hết sức quan trọng của quan điểm nhân văn. Bởi sự hiểu biết của con người là vô hạn, không bao giờ có thể dừng lại bất cứ ở đâu, ở thời điểm nào hay cá nhân nào. Trái lại, tri thức của loài người, của mỗi cá nhân luôn luôn đều được đào sâu, nâng cao, mở rộng và phát triển mới không ngừng. Ý nghĩa của nhân văn cũng chính là ý nghĩa của tri thức, nhận thức, ý nghĩa của cả lý trí, trí tuệ, nhưng không hoàn toàn chỉ là cảm thức, tình cảm, cho dù cảm thức hay tình cảm đó có sâu xa, cao cả ra sao. Mục đích tự mình luôn luôn thăng tiến, nâng cao giá trị về nhận thức, đồng thời cũng giúp mọi người thăng tiến, nâng cao mọi ý nghĩa, giá trị, phạm vi của nhận thức như thế, chính là tinh thần và mục đích cơ bản của quan điểm chủ nghĩa nhân văn. Bởi ý thức nhân văn coi vật chất, kinh tế, thực tiển luôn luôn cụ thể, khách quan, thiết yếu và cần thiết, song cũng luôn luôn coi đó chỉ thuần túy như là phương tiện mà không phải yêu cầu duy nhất, mục đích tối hậu, hay giá trị cùng tột của chính con người, kể cả xã hội loài người. Vì cái cao nhất trong con người chính là tinh thần, ý thức, sự hiểu biết, mục đích nhân văn, hạnh phúc chiều cao, chiều rộng, chiều sâu của con người, mà không phải chỉ duy nhất dừng lại, hay duy nhất đi tìm chỉ có hạnh phúc vật chất hay cảm thức vật chất cho chính bản thân con người. Ý nghĩa cao quý của con người chính là chiều sâu tâm thức, là quan điểm cộng đồng, mà không phải chỉ là khái niệm xã hội giả tạo và tầm thường.

Điều này thực chất làm cho quan điểm chủ nghĩa nhân văn hoàn toàn khác hẳn với quan điểm chủ nghĩa Mác. Cái trước hướng vào nội tâm, ý thức, giá trị tự thân nơi bản thân con người. Cái sau chỉ nhắm vào giai cấp và hình thức tổ chức xã hội một cách giả tạo, đánh mất hay coi thường con người cụ thể để chỉ hướng đến khái niệm con người một cách bề ngoài, đồng loạt, phi thực chất, phi nội dung. Bởi theo quan điểm chủ nghĩa nhân văn, con người trước hết phải là con người chân chất, tức không giả tạo, không đóng kịch, con người biết yêu ghét một cách bình thường, thẳng thắn, yêu ghét vì điều đúng, điều sai, không thù địch riêng biệt con người cụ thể nào, cũng không đóng giả mình là con người đạo đức để lừa dối người khác hay lừa dối tất cả mọi người. Con người chân chính như thế tất nhiên phải là con người yêu chuộng chân lý, ưa thích sự thật, cho dù sự thật đó là trong thường nhật, đời thường, trong lịch sử, nghệ thuật, trong khoa học, trong tư duy, trong triết học, kể cả trong mọi mối quan hệ cụ thể, trực tiếp giữa những con người. Con người chân thực tất nhiên cũng không phải là con người tuyên truyền, lừa dối người khác, cho dù đó là trong kinh doanh, thương mại, hay trong xã hội, chính trị. Nói sai sự thật để người khác tin nhầm đó chính là một tội ác mà người theo quan điểm nhân văn chân chính không thể nào chấp nhận. Tức tuyên truyền dối gạt, dù bất cứ phương diện, lãnh vực nào, cũng đều là sự bóc lột, sự cướp giật, sự cưỡng đoạt chính ý thức con người, sự tướt đoạt sai trái linh hồn con người, đúng hơn nhiều khi là sự giết người không đổ máu, tức khiến cho người khác sống mà không có linh hồn, chẳng khác gì thây ma chưa bao giờ thối rữa. Sự mê hoặc lòng người không chính đáng, sự lừa dối một cách thường xuyên và có hệ thống con người, cho dầu vì lý do gì hay vì mục đích nào chăng nữa, thực chất cũng đều phi nhân, phản nhân văn, phản lại chính bản thân con người và xã hội. Tình trung thực, thẳng thắn, tính thanh khiết trong tâm hồn, tính không biết lừa dối sai trái ai, đó là những cơ sở đạo đức nền tảng nhất của quan điểm chủ thuyết nhân văn.

Chính vì vậy quan điểm nhân văn luôn luôn nhìn con người vượt ra ngoài mọi giai cấp, vượt ra ngoài mọi sự hạn chế đặc thù nào đó chỉ có tính bề ngoài, bởi vì mọi cái gì không phải là tâm hồn, là bản chất khách quan vốn có bên trong con người, đều có thể không mang tính quyết định, đều có thể không phải là cơ sở tối hậu. Mọi cái bên ngoài đều không quyết định được cho chính ý nghĩa và giá trị bên trong là như thế. Bởi vậy, con người phân biệt nhau không phải bằng vật chất, quyền hành hay địa vị xã hội, mà chính là bằng tài năng, đức hạnh, sự hiểu biết, nhận thức, ý thức và ý chí riêng, cũng như tinh thần hướng đến người khác hay hướng đến xã hội nói chung. Chính tài năng là yếu tố quan trọng nhất nơi mỗi con người. Sự dị biệt tài năng khác nhau cũng có nghĩa sự phân biệt về hiệu năng, kết quả ở từng công việc hay ở từng phạm vi, lãnh vực đời sống xã hội khác nhau. Tài năng còn quan trọng hơn cả kết quả học tập hay kinh nghiệm nhận thức. Bởi vì cái đầu nặng về tiên thiên, bẩm sinh, cái sau nghiêng về đào tạo, luyện tập, kinh nghiệm hoặc thủ đắc. Vì vậy, tài năng của một người cũng là tài sản chung của cả xã hội, vì khi nó làm ích cho một người, cũng đồng thời làm ích chung cho nhiều người khác hay có khi cho toàn thể xã hội nói chung. Sự không đố kỵ tài năng, nhưng là sự nâng niu, khuyến khích tài năng, đó chỉ là ý nghĩa cao cả, thực tế của quan điểm chủ nghĩa nhân văn. Cũng trong ý hướng đó, quan điểm nhân văn luôn luôn quan tâm đến ý nghĩa của đào tạo, giáo dục, của tinh thần đạo đức và sức mạnh của khoa học kỹ thuật. Bởi con người nội tâm là con người của ý thức, của hiểu biết, nhưng con người thực tại là con người có năng lực, trình độ, có khả năng làm chủ được các sức mạnh khoa học, kỹ thuật trong các phạm vi liên quan nhất định mà không phải chỉ có nói suông. Chỉ có những con người như vậy mới luôn luôn có thể kết hợp, hợp tác, hữu ích cho nhau, mà không thể tìm cách khuynh loát, chế ngự, đố kỵ, hoặc đè đầu chận cổ, vô hiệu hóa, thậm chí loại trừ hay tiêu diệt lẫn nhau.

Tính ích kỷ, cá nhân, không phải bản chất của chủ nghĩa nhân văn. Tính xã hội theo kiểu rập khuôn, bề ngoài, hoặc tổ chức theo cách hình thức, thực chất cũng chỉ là tính ích kỷ, cá nhân trá hình, tính đố kỵ nên muốn cào bằng lẫn nhau, đó cũng không phải ý nghĩa của chủ nghĩa nhân văn. Nên ý nghĩa của quan điểm nhân văn, chính là yêu cầu độc lập, tự do chính đáng của tất cả mọi người. Tài năng, ý thức của mỗi cá nhân là tinh hoa, tài sản quý giá chung của xã hội, mà không phải chỉ có sức mạnh cơ bắp hay đơn vị sinh học cá nhân bình thường. Tính quần chúng hóa, vô danh hóa theo ý nghĩa mọi đơn vị đều như nhau, là đặc trưng của chủ nghĩa Mác, không phải tính cách của chủ nghĩa nhân văn. Bởi quan điểm nhân văn đề cao, tôn trọng tính riêng biệt, đặc thù nơi mọi cá nhân, coi đó là yếu tố không thay thế được, và ích lợi chung có nghĩa là sự kết hợp, hữu ích, bổ sung cho nhau, mà không phải loại trừ hay tối giản hóa như nhau. Chính vì vậy mà quan điểm nhân văn rất quan tâm tới cái đẹp. Cái đẹp của tâm hồn cũng như cái đẹp của hình thức muôn vật. Cái đẹp của tâm hồn chính là nội dung hay bản chất nhân văn sâu lắng trong tâm linh và ý thức nơi mỗi con người. Cái đẹp bên ngoài là phạm trù thâm mỹ mà muôn vật đều có, nó giúp nâng cao tâm hồn và phục vụ lợi ích ý thức, phục vụ quan điểm thẩm mỹ, phục vụ cảm thức về cái đẹp mà tất cả mọi con người trên thế gian đều có. Cái đẹp hay nét thẩm mỹ hình thức đó, không phải chỉ có sẳn trong tự nhiên, mà nó còn được tái tạo lại, nâng cấp lên, nhân hóa ra, trở thành sản phẩm của toàn bộ nền văn minh, văn hóa của nhân loại, luôn luôn được phát triển lên, và ngày nay cũng chính là bản thân của nền thẩm mỹ công nghiệp tiêu biểu toàn bộ cho nền văn minh hiện đại. Quan điểm nhân văn như vậy vừa mang tính chất vật chất, vừa mang tính chất tinh thần, vừa mang tính chất lịch sử, vừa mang tính chất nhân bản, nó vừa là nội dung và giá trị của thế giới nội tâm trong mỗi cá nhân con người, cũng như trong toàn bộ ý thức cộng đồng của mọi người trong toàn thể nền văn minh nhân loại, quá khứ, hiện tại, cũng như mãi mái trong tương lai.

Nói cụ thể ra, ý nghĩa nghĩa nhân văn trước hết là ý nghĩa của đời sống, ý thức như trên kia đã nói. Nhưng nền tảng của nhân văn vẫn trước nhất là ý nghĩa kinh tế. Kinh tế có nghĩa là sự phát triển đời sống vật chất chung của cộng đồng hay xã hội. Tất nhiên không cá nhân nào tách ly được khỏi xã hội. Phát triển kinh tế xã hội là nền tảng của phát triển cá nhân, nhưng chính lao động, tài năng, sáng kiến từng cá nhân đi vào kết quả chung của xã hội mà không đâu khác. Cường điệu hóa xã hội quá đáng thật sự là phi nhân văn, dối trá và ngốc nghếch. Cho nên sự hài hòa giữa cá nhân và xã hội một cách thực tế mới là ý nghĩa đúng đắn của quan điểm nhân văn. Trong quan ý hướng đó, quan điểm nhân văn phủ nhận chủ nghĩa tập thể ấu trĩ mang tính cách thuần túy hình thức và giả tạo. Quan điểm chủ nghĩa nhân văn chính là quan điểm kinh tế thị trường, quyền tư hữu chính đáng, quyền tự do dân chủ chính đáng, sự liên kết hợp tác linh hoạt, bình đẳng, hiệu quả và toàn diện nơi tất cả mọi người. Chỉ có cơ chế thị trường là cơ chế giao dịch hiệu quả, tiết kiệm nhất trong xã hội. Nó bảo đảm sự tự do, bình đẳng, dân chủ về các mặt. Cơ chế tập thể theo kiểu “lãnh đạo”, khống chế, là cơ chế độc đoán, phong kiến, phản nhân văn, phản xã hội, dễ bị lợi dụng cá nhân một cách tồi tệ nhất. Quan điểm giai cấp cũng là quan điểm phản động nhất trong lịch sử nhân loại. Bởi vì mọi cộng đồng, tập thể hay cả xã hội nói chung luôn luôn phá triển theo cách phân hóa ba vùng. Vùng tinh hoa hay tiên phong là vùng luôn luôn vượt lên trước về mọi mặt. Vùng ạch đụi, lạc hậu, là vùng trở thành thoái hóa, nghèo khổ, khó khăn nhất. Vùng đại đa số là vùng ở giữa, như là sự cân đối đại trà, tiêu biểu theo ý nghĩa phổ biến hoặc tầm thường nhất. Đây cũng là quy luật phát triển chung trong mọi loài sinh vật một cách khách quan, phổ biến, tự nhiên. Nói chung sự phát triển đi lên trong bản thân mỗi loài luôn luôn có yếu tố mũi nhọn, yếu tố trung bình và yếu tố yếu kém. Chính yếu tố trung bình là yếu tố không có gì đặc biệt, nhưng nó lập nên chính quy luật của đám đông.

Vì thế, nói cho cùng, sự phát triển của kinh tế xã hội cơ bản là do sự phát triển của khoa học và kỹ thuật. Điều này đã được phân tích khá nhiều trong các bài viết khác của tác giả. Có nghĩa lực lượng sản xuất nắm vai trò và yếu tố quyết định mà không phải quan hệ sản xuất hay quan hệ giai cấp như Mác mù quáng thổi phồng lên. Ý nghĩa đấu tranh giai cấp của Mác chẳng qua là quan điểm biện chứng siêu hình của Hegel, nó không phải là một quy luật khoa học khách quan hay toàn diện của xã hội. Và cách đặt sai nguyên lý khách quan như thế, trong thực tế cho thấy sự thực hành nó luôn luôn phản tác dụng, phản hiệu quả, mang lại những hệ lụy oái ăm, phi lý, phản nhân bản nhất mà mọi người đều thấy trong suốt giai đoạn dài của lịch sử nhiều nước trên toàn thế giới. Điều này cho thấy về nhiều mặt, lý thuyết của Mác lộ rõ ý nghĩa phản động, phản tiến hóa trong cái nhìn chung nhất, mặc dầu có những cá nhân vì các lý do vị kỷ, nô lệ đã thần thánh hóa tư duy của Mác một cách quá đáng như là đỉnh cao của trí tuệ, là chân lý khách quan tuyệt đối của lịch sử xã hội loài người. Mác tự cho lý thuyết của mình là khoa học, vì ông tin tưởng tuyệt đối vào quy luật “biện chứng” mơ hồ, trừu tượng, phi con người của Hegel. Mác bỏ qua các quy luật khách quan, cơ bản, thực tế, thông thường nhất của tâm lý, ý thức con người để xây dựng một quan điểm kinh tế học hoàn toàn trừu tượng, phi lý, máy móc, xa thực tế, huyễn hoặc, để rồi cho đó là quy luật lịch sử tất yếu khách quan của các hình thái lịch sử xã hội diễn tiến nói chung, thật sự là phản khoa học, không thích đáng, phi lý và thậm chí ngờ nghệch và lố bịch.

Bởi quan điểm tư hữu của con người là ý nghĩa tất yếu, khách quan. Điều này rất tự nhiên và hoàn toàn không sai, bởi đó là yêu cầu khách quan, cần thiết, thuận lợi cho mọi sự sống, cho thế giới sinh học nói chung. Chính phủ nhận điều này mới hoàn toàn kỳ dị và nông cạn. Đó là sự nhầm lẫn giữa mục đích và phương tiện. Tư hữu hay sở hữu riêng là công cụ cần thiết có khi thiết yếu, tiện ích nhằm phục vụ một cách sinh động và có hiệu quả cho nhu cầu đời sống, không hề là mục đích tối hậu của đời sống, là điều mọi người đều có thể công nhận là đúng. Đó cũng còn là công cụ sản xuất riêng thông dụng của đời sống cá nhân về nhiều mặt. Tuy nhiên, nếu đặt nó trở thành có ý nghĩa công hữu về tư liệu sản xuất, vấn đề cũng chẳng có gì thay đổi. Bởi vì sự tích lũy tư bản của cá nhân ban đầu trở thành tư liệu sản xuất riêng cũng chỉ là lẽ đương nhiên. Chế độ tư hữu tài sản vốn đã phát triển tự nhiên ngay sau khi xã hội cộng đồng nguyên thủy tiến lên, đó là sự diễn tiến khách quan và liên tục của lịch sử loài người qua các thời đại, chẳng có gì khác. Thế nên khi nền sản xuất tư bản thành hình do sự phát minh ra các máy móc cơ giới, nhu cầu thuê mướn nhân công trong xã hội cũng chỉ là lẽ đương nhiên. Sự phân biệt giữa chủ và thợ chẳng qua chỉ là sự kết cấu kinh tế, hay nói khác đi là mối quan hệ hay tương quan xã hội hoàn toàn tự nhiên. Tùy điều kiện khách quan mỗi cá nhân, mà mỗi người có thể thành chủ hay thợ, chẳng ai bị bó buộc cả, chỉ do các yếu tố chủ quan, tâm lý và nhiều mặt khác nữa của mỗi người. Tính chất bóc lột nếu có hay đã xảy ra lúc đó như Mác mô tả, đó là vì giai đoạn kinh tế tiền tư bản chủ nghĩa mới hình thành, mới phát sinh ra, chưa hề có tiền lệ, chính quyền chưa biết cách can thiệp vào một cách đúng mức và hiệu quả, giới thợ cũng chưa biết cách tự vệ, mà họ cũng còn phải cạnh tranh nhau vì công việc làm, bởi vì nó thu hút lao động vốn không ở trong những ngành nghề khác. Cả giới chủ tư bản cũng vậy, do nhu cầu cạnh tranh, nhu cầu tái sản xuất và mở rộng sản xuất mà mức lương cho thợ tất nhiên phải bị khống chế có khi nghiệt ngã nhất. Nhưng đó là ở góc độ hay hoàn cảnh kinh tế vi mô, còn ở giác độ hay tầm nhìn kinh tế vĩ mô, thì sản xuất hàng hóa ồ ạt, phát triển là sự đáp ứng yêu cầu tiêu dùng cần thiết của mọi người hay của toàn xã hội. Vô hình chung, cả giới chủ và giới thợ thật sự đều trở thành công cụ không tự giác để phục vụ xã hội. Thợ thì vì yêu cầu tồn tại, yêu cầu đời sống, công xá, vì cần có công ăn việc làm, chủ thì vì yêu cầu lợi nhuận, nhưng rồi chủ yếu cũng để nhồi lại vào nền kinh tế, không phải chỉ một mình bản thân tiêu pha, thụ hưởng. Có nghĩa kinh tế không thể tách rời mà luôn luôn gắn bó với điều kiện và yêu cầu phát triển chung của toàn thể xã hội. Ý nghĩa đó là toàn bộ các cơ chế tự động, khách quan của guồng máy vĩ mô, không thể chỉ dùng ở vài khía cạnh đặc thù, tách biệt theo kiểu vi mô để phê phán theo cách riêng tư, chủ quan, phiến diện.

Tất nhiên ý nghĩa ở đây là tình trạng phát triển xã hội, ý thức và quan niệm đạo đức, nhưng yêu cầu đấu tranh của nó là yêu cầu đấu tranh về nhiều mặt, phải cùng giải quyết về nhiều mặt, không thể chỉ thuần túy đấu tranh giai cấp kiểu cục bộ, chủ quan, quá khích. Ngay như ở thế kỷ 21 hiện nay, tính cách đó vẫn cứ đúng trên toàn thế giới một cách tự nhiên. Bởi giả dụ khi ấy, nếu giai cấp vô sản hay công nhân làm thuê tướt đoạt tư liệu sản xuất của giới chủ, họ cũng lại trở thành ông chủ mới, giai cấp chủ cũ lại trở thành vô sản, rồi cũng chỉ bổn cũ soạn lại, hay nếu nó được biến thành công hữu liệu có kết quả không, bởi vì lại đặt ra các khả năng quản lý, đặt ra sự dính dáng, liên đới tới nhiều lãnh vực khác nhau hoàn toàn không thể nào đồng bộ khách quan trong đời sống chung của xã hội. Sự nhận định của Mác quả thật đầy tính ngẫu hứng, nhưng ông lại cho đó là yêu cầu và quan điểm khoa học. Nói cho cùng, lập luận của ông chỉ là lập luận theo quan điểm quy luật biện chứng của Hegel được áp dụng trá hình vào kinh tế xã hội nhằm phê phán theo chủ quan thực tế của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa mà thôi. Đây là sự xuất hiện khách quan, tự nhiên của giai đoạn lịch sử sản xuất xã hội phải được phát sinh hay hình thành kể từ lúc đó. Đem một quan điểm biện chứng duy tâm vận dụng vào đó một cách hoàn toàn trừu tượng, là chuyện đem râu ông nọ cắm cằm bà kia, thật sự hoàn toàn không tương thích hay hoàn toàn giả tạo, tưởng tượng, phi khách quan và không hợp lý. Đó là chỉ nói thuần túy về phương diện kinh tế học, hay ít ra cũng là phương diện kinh tế xã hội. Còn về mặt triết học, Mác là người hoàn toàn duy vật. Dùng một quan điểm quy luật duy tâm của người khác nhằm áp dụng vào quan điểm thuần túy duy vật của mình về thực tại, quả thật là điều hoàn toàn ngược ngạo, mà từ cổ chí kim trong lịch sử nhân loại, chỉ mới có Mác là người duy nhất đã chơi theo cách đó. Bởi lịch sử nhân loại từ cổ chỉ kim, từ đông sang tây, không ai lại lý luận duy vật theo kiểu duy tâm như Mác đã làm, cũng không ai đưa nguyên lý và ý nghĩa duy vật trở thành khuynh đảo trong xã hội và trong tư duy, ý thức con người, như Mác đã từng thực hiện. Mác đã nói những điều hết sức ghê gớm như phải thực hiện triết học, tôn giáo là thuốc phiện ru ngũ quần chúng, phải đấu tranh giai cấp, phải thực hiện xóa bỏ nhà nước, vì nhà nước luôn luôn là công cụ của giai cấp bóc lột, phải chuyên chính cách mạng v.v… và v.v… toàn là những điều mà chỉ trong quan điểm của ông mới có. Kết quả khi Lênin thực hiện lý thuyết của ông, chế độ công hữu tài sản ra đời, nền kinh tế tập thể ra đời, kết quả là với bao nhiêu hi sinh cũng như tốn khó, nó cũng phải hoàn toàn tan biến khi nhà nước Liên xô và khối Đông Âu hoàn toàn sụp đổ. Điều này cũng kéo theo Trung quốc và các nước khác phải tự xoay chiều, phải mở cửa và đổi mới. Mặc dầu trước đó hiện tượng kinh tế công xã của Mao Trạch Đông, rồi đến mô hình ăng ca của Khmer đỏ đã từng làm kinh hãi và ngạc nhiên toàn thế giới, với bao nhiêu hệ lụy mà biết bao triệu người buộc phải hi sinh hay gánh chịu.

Ý nghĩa ở đây là thế nào ? Chỉ có nghĩa nó đã sai hiển nhiên về mặt nguyên lý khách quan, tức hoàn toàn đi trái lại các quy luật tâm lý tự nhiên của con người và của xã hội. Mọi sự tưởng tượng quá khích, huyễn hoặc của Mác, mà nhiều người quá hồn nhiên ca ông như một vị thánh giải phóng nhân loại, trong thực tế đã khiến ông phải chịu trách nhiệm một cách nặng nề, nếu không nói là phần nào tội lỗi trong việc gây nhiễu hại trong một thời gian rất dài, kể cả kéo theo những hiểm nguy hết sức lớn và suýt nữa đã xảy ra đối với toàn thể những thành quả của lịch sử nhân loại. Tất cả những điều đó chỉ do ông đã chủ trương chuyên chính hay độc tài. Đây là điều hoàn toàn phản khoa học và chủ quan. Bởi ai cũng biết trong con người vẫn chứa rất nhiều bản năng, kể cả bản năng hoang dã. Chính sự tiến bộ của văn hóa, văn minh làm nhân hóa con người, hạn chế hay chế ngự bớt đi những thú tính, nhất là nhờ những nguyên tắc dân chủ và tự do trong một xã hội phát triển kềm chế chúng. Chủ trương độc tài chuyên chính chẳng khác gì tái lập điều kiện thuận lợi, nền tảng lý thuyết vững chắc để chính các bản năng kia dựa vào đó mà củng cố và phát triển. Bởi vì xã hội là sự kế thừa liên tục, ai dám bảo rằng người đi sau, thế hệ tiếp theo không tìm cách lợi dụng những kẻ hở do những người đi trươc, do thế hệ đi trước để lại. Đây chính là ý nghĩa của sự suy nghĩ hết sức chủ quan, nông cạn, hời hợt, thậm chí ngây thơ và ngờ nghệch của Mác. Vả chăng giai cấp vô sản là giai cấp thất thế trong xã hội lúc đó, tức họ phải chịu những điều kiện hạn chế về nhận thức, về thực lực, về năng lực quản lý xã hội. Thế mà chủ trương độc tài vô sản quả là giàu tưởng tưởng và hoàn toàn không thực tế nếu quả thật có quan tâm đến những lợi ích chung của toàn xã hội. Đó chẳng qua là Mác quá tin chắc vào quy luật biện chứng do Hegel đưa ra. Với lập luận lượng biến thành chất, ông cho rằng giai cấp vô sản ngày càng đông, nên lượng biện thành chất, còn giới tư bản càng ngày càng ít đi, cũng là lượng biến thành chất, cuối cùng xã hội tư bản là đêm trước của xã hội vô sản như Lênin đã nói. Thực tế như trên cho thấy quy luật lượng biến thành chất mà ông mê say quả thật là kỳ ảo. Cũng cùng một quy luật đó mà hai trường hợp như nhau lại cho ra kết quả ngược chiều và trái ngược nhau. Điều này chắc bất kỳ người nào có đầu óc suy lý bình thường cũng có thể ngạc nhiên hay nhận thức ra được. Nhưng đã có rất nhiều người từng tung hô chính nguyên lý hoàn toàn mang tính lô-gích hình thức này mà tác giả bài viết này cũng đã nhiều lần phân tích và phê phán. Cho nên nguyên lý độc tài quả thật rất nguy hiểm cho con người và xã hội. Bởi vì nó rất dễ dàng trở nên một nọa lực, một quán tính mà không bất kỳ ai có khả năng chống đỡ lại được. Nó giống như cục tuyết rơi từ trên sườn núi cao xuống, nếu không có vật gì bên ngoài ngăn cản, nó cứ mãi to dần, nặng dần và chỉ có thể tự dừng lại khi đã tới chân núi nằm chờ tia nắng mặt trời làm cho rã đi. Hay nó cũng giống như một đám gà mắc tóc, không con nào có thể tự gở ra để tìm được hướng đi độc lập cho mình. Hoặc nói theo ngôn ngữ hiện đại, nó cũng giống như căn bệnh liệt kháng, đã mắc vào rồi thì chỉ có chờ chết, bởi vì mọi khả năng đề kháng tự nhiên đều đã bị vô hiệu hóa hay tê liệt mất rồi, cơ thể trở thành hoàn toàn không thể còn khả năng tự vệ tự nhiên được nữa. Toàn bộ những điều đó phải chăng chính là ưu điểm hay những lỗi lầm trong hệ thống lý luận của Mác, xin dành sự nhận định cho tất cả mọi người.

Cho nên, chỉ có chủ nghĩa hay quan điểm nhân văn mới là ý hướng đúng đắn cho toàn thể nhân loại, cho mọi quốc gia mà không phải chủ nghĩa Mác hay toàn bộ hệ thống tư tưởng của Mác. Quan niệm xã hội vô sản trong tương lai của Mác chẳng khác gì một quan niệm vô chính phủ, nên thật sự hoàn toàn không thực tế, phi chính trị và phi xã hội. Chính quan niệm sai lầm về pháp luật, về giai cấp, về quản lý xã hội, về ý nghĩa của kinh tế học mà dẫn Mác đi đến những kết luận ảo tưởng lung tung theo kiểu đó. Trong khi đó quan điểm nhân văn là quan điểm hoàn toàn thực tế, khoa học, khách quan và hiện thực. Quan điểm nhân văn nhìn chính trị chỉ luôn là những công cụ nhất thời, không bao giờ là mục đích kiểu chính trị là thống soái như Mao Trạch Đông đã nói hay quan niệm chính trị như là chuyên chính của giai cấp như Mác từng quan niệm. Chính trị là công cụ thuần túy của xã hội, mà xã hội thực sự cũng chỉ là công cụ của mục đích nhân văn, nó không phải là cứu cánh hay đích điểm của con người như Mác từng nhấn mạnh. Bởi nhà nước là công cụ bình thường, tự nhiên của xã hội, nên nhà nước cũng là công cụ chung của toàn xã hội, cộng cụ của mọi giai cấp nhất thời nếu có hay kể cả giai cấp nông dân hay nông dân tùy theo mỗi nước tùy theo các giai đoạn phát triển kinh tế xã hội. Nói chung, nhà nước chỉ là công cụ quản lý xã hội, công cụ điều phối cần thiết mà chẳng có gì ghê gớm hay nghiêm trọng cả. Có nghĩa nhà nước bao gồm guồng máy hành chánh quản lý xã hội, mang tính cách chuyên nghiệp, thường xuyên, và bộ máy lãnh đạo guồng máy đó gồm những người được trực tiếp bầu cử một cách dân chủ, tự do từ toàn dân mà không có bất kỳ những đặc quyền đặc lợi theo kiểu kế thừa phe nhóm hay cha truyền con nối nào. Bầu cử tự do, quản lý dân chủ, đó là ý nghĩa chung nhất của nhà nước. Nền kinh tế xã hội tất nhiên chủ yếu là nền kinh tế tư nhân, ngoại trừ những lãnh vực công ích quan trọng phải nhất thiết được dành riêng cho nhiệm vụ quản lý của nhà nước. Tức nguyên lý xã hội hóa nền kinh tế, xã hội hóa nhà nước, trí thức hóa và khoa học hóa mọi yêu cầu quản lý nói chung, đó là ý nghĩa cao nhất được quan điểm nhân văn chấp nhận và thường xuyên theo đuổi. Nói khác đi, giai cấp chẳng qua chỉ là sự phân công xã hội tùy điều kiện phù hợp khách quan và mang tính chất liên kết liên ngành cũng như có ý nghĩa xã hội hóa cao độ mà không mang tính chất chính trị kiểu thô lậu và giả tạo.

Trong mục đích đó, ý nghĩa và giá trị khách quan chính yếu của mọi người Nam ngày nay không phân biệt bất cứ ai là hãy cùng đoạn tuyệt với quá khứ để nhằm cùng nhau hướng đến tương lai chung của xã hội, đất nước một cách thực chất nhất. Thực chất cũng có nghĩa vượt lên trên, vượt ra ngoài mọi cái giả tạo đã có và kéo dài trong một thời gian quá lâu bởi lịch sử. Thực chất cũng đồng nghĩa với tính hiệu quả đích thực và phù hợp với tính nhân văn thực sự. Ý nghĩa nhân văn là ý nghĩa trở về lại với con người bản lai diện mục, con người thực chất, hồn nhiên nguyên thủy, sau khi đã trút bỏ ra khỏi mình mọi thứ ý thức hệ giả tạo, phi tự nhiên, bề ngoài đã có. Điều này cũng giống như cái bu-mê-riêng của thổ dân Úc châu, sau khi bay vô ích một vòng không đạt được bất kỳ những mục tiêu thực chất nào, lại phải trở về điểm xuất phát cũ, tức điểm xuất phát ban đầu. Điều này hoàn toàn đúng trên khắp thế giới, ở Nga, ở Đông Âu, và một số nơi khác, sau khi lý thuyết Mác quả thật cho thấy hoàn toàn thất bại. Sự thất bại của lý thuyết Mác đúng là điều có thật, không phải là nhận xét ảo tưởng hay phao vu, chụp mũ gì cả. Nó thất bại không phải chỉ hoàn toàn trên mặt thực tế, hiện thực, mà sâu xa nhất chính là trên mặt nguyên lý, lý thuyết. Bởi khởi điểm nó như thể có tính nhân văn, nhưng thực chất, kết quả thực hiện của nó rõ ràng đã đi ngược, phủ nhận hay phản lại chính tính nhân văn. Những điều này khắp nơi trong quá khứ mọi người đều thấy rõ. Tại sao ? Bởi vì nó xa rời con người thực tế, hiện thực, mà thực chất con người chỉ còn là một khái niệm trừu tượng, một hình ảnh khói sương, hoàn toàn không mang thực chất. Chính những sự tuyên truyền hết sức máy móc, giả tạo, thậm chí trở thành vô trách nhiệm và giả dối mà những con người trong thực tế thực hiện lên nhau, thực chất đã biến lý thuyết Mác trở thành một tôn giáo. Một tôn giáo có giáo chủ, giáo điều, có hàng nhiều triệu tín đồ, và có cả những hồng y, chức sắc, có cả những vị giáo hoàng kế vị nhau một cách cụ thể, rõ ràng. Hàng giáo phẩm của nó thực tế là bất khả xâm phạm. Bởi nó bị ngăn cách với xã hội thật, với mỗi con người thật bằng một lớp độn của quyền lực, thứ quyền lực vô danh nhưng vô cùng hiệu quả và khắc nghiệt. Nói khác đi, niềm tin tín điều của nó đã biến thành một niềm tin được gọi là niềm tin cách mạng nơi một số lớn những con người. Những con người như thế không còn sống thực với bản thân mình,với thực tế xã hội nữa, mà dường như mục tiêu cuối cùng chỉ sống để làm cách mạng, sống để thực hiện cuộc cách mạng vô sản trên toàn thế giới. Nói điều này ngày nay mọi người chỉ thấy vô lý và không cần thiết, vì thực chất hiện nay mọi hàng chức sắc, giáo phẩm cũ xưa có ai vô sản nữa đâu mà còn hoàn toàn ngược lại. Nhưng ý nghĩa khách quan trong quá khứ nó là như thế. Tất nhiên mọi quá khứ thì không còn thay đổi, sửa chữa được nữa, nhưng nó vẫn là cơ sở, nền tảng của hiện tại, và biết đâu hãy còn kéo dài nữa trong tương lai.

Cho nên sự tuyên truyền, kỹ thuật và nghệ thuật tuyên truyền giữa con người với nhau thực chất nó cũng giống như con dao hai lưỡi. Dần dần những tố chất lý tưởng nếu có ban đầu đều bị mất đi hay mai một cả, nó trở thành chỉ thuần túy như những công cụ tự vệ, tức phải bảo vệ nó và đẩy sang cho người khác nhằm mình có thể phát triển và sống còn. Cứ thế xã hội vô hình chung đều trở thành những con người dã dối, không còn tự chủ, không còn ý thức trách nhiệm chân thực, mà trở thành những hệ thống các con người kịch sĩ, tức phần đông là giả tạo hay giả dối. Đây là thực tế ở những nơi nào đã từng thực hành chủ thuyết Mác. Điều này dù những ai muốn chối bỏ, phủ nhận, cũng không thể nào phủ nhận hay chối bỏ được. Lý do vì nó luôn luôn tồn tại rành rành ra trước mắt. Kể cả những người phủ nhận, chối bỏ đó, thực chất vẫn còn muốn tiếp tục đóng vai trò đó của họ. Thế cho nên yêu cầu trở về với con người nhân văn thật sự, con người bản lai diện mục thật sự là điều hoàn toàn cần thiết, cho dù bất kỳ người đó là ai, ở đâu, hay nằm trong vị trí và tính chất như thế nào. Tính chất xã hội mà mọi người đều quay lưng lại với nhau thay vì quay mặt lại với nhau, trong thực tế cần nên khắc phục, sửa chữa. Quay lưng lại với nhau cũng giống như kiểu dùi đánh đục, đục đánh săn, cứ thế mà vũ khí hay phương thức tự vệ chỉ là đâm, kích hay thúc đẩy dây chuyền vào sau lưng của nhau một cách không tự giác và cũng chẳng đặng đừng. Đó là do hậu quả của quan điểm chủ trương chuyên chính hay độc tài trong lý thuyết của Mác. Nó chỉ trở thành lợi khí duy nhất của những người nào nắm được nó trong tay cao nhất, chắc nhất, mà không phải tất cả mọi người cùng thực hành nó hay phải chịu sự thực hành nó. Đó là các trường hợp của Stalin, Mao Trạch Đông, các lãnh tụ Đông Âu cũ, hay kể cả Fidel Castro trong quá khứ chẳng hạn. Cho nên ý nghĩa phá sản về thực chất của lý thuyết Mác ngày nay trong thực tế không phải do hiện thực phản bội lại nó, mà chính là do từ những nguyên lý giả tạo, những nghịch lý ngay từ đầu trong chính bản thân, trong lòng nó. Nó chẳng khác gì chiếc xe được lắp bằng các bánh vuông, tức trái hẳn lại với các bản chất tâm lý tự nhiên của con người, nên chỉ có thể cùng hè nhau đẩy hay khiêng nó lên, còn thực chất nó không thể nào tự vận động một cách trơn tru hoặc hiệu quả được. Ngay cả động cơ của nó cũng chỉ là động cơ giả tạo về “phép biện chứng” của Hegel, tức một tín điều mang tính tôn giáo, niềm tin ảo tưởng, mà không phải là quy luật thực tế, khách quan, khoa học. Bởi vì chính ý nghĩa như thế mà chủ thuyết Mác rất dễ bị lợi dụng bởi các tham vọng quyền lực như trên đã nói. Và khi các tham vọng quyền lực đó đã được lắp ghép, thiết kế hoàn chỉnh rồi, xã hội chỉ còn là quán tính, như một con tàu chỉ chuyển động qua lại ở giữa hai điểm trên một đường rây nhất định mà không thể nào đi khác hơn được. Đó chính là thân phận riêng của mỗi cá nhân con người và cũng là thân phận chung của toàn xã hội, không thể loại trừ bất cứ ai, bởi vì tất cả mọi người đều không ai có đủ lực, có điểm tựa nào khác để có thể thoát ra được chính quán tính tai hại, nghiệt ngã đó của bản thân nó.

Cho nên, yêu cầu giải phóng cho tất cả mọi người, cho toàn xã hội không gì hơn là ý nghĩa và mục đích của quan điểm nhân văn. Tức tất cả mọi người hãy cùng thực lòng đoạn tuyệt và quên đi quá khứ, cho dầu quá khứ đó có chua cay, nghiệt ngã, vô bổ, thua thiệt, hay mất mát như thế nào chăng nữa. Nếu một bên cứ tiếp tục hận thù quá khứ, còn một bên cứ tiếp tục ca ngợi, vinh danh quá khứ, vẫn chỉ là thực tế ông nói gà bà nói vịt, để mãi ghìm nhau, chẳng thể giải quyết được gì, chẳng có thể nào rút ra được nhận thức, kinh nghiệm, kết luận, hay yêu cầu bổ ích nào, mà thực chất chỉ giống như anh chàng Don Quichote, luôn luôn tiếp tục chiến đấu hăng say với chính cái cối xay gió mà thôi. Đây mới chính là yêu cầu hòa giải dân tộc thực sự, hòa giải thực bụng, thực lòng, thực tâm, thực ý, mà không phải chỉ là các mỹ từ lừa dối, các thủ đoạn lẫn nhau, nhưng thực chất chẳng có ai tin tưởng hay có ý muốn thực lòng về chính điều đó cả. Có nghĩa vấn đề đặt ra đơn giản chỉ là có thật sự cần thiết phải có về yêu cầu hay mục đích đó không, hay chỉ cần tính chất “ai thắng ai” như trong quá khứ có nhiều người vẫn hoanh hoang gào thét. Nên nói về thực chất, thật sự cũng chẳng có bất cứ cá nhân cụ thể nào hoàn toàn hay tuyệt đối có lỗi trong chính cái mớ bòng bong này, cho dù quá khứ, hiện tại, hay cả tương lai nếu nó vẫn còn tiếp tục giống y như thế. Bởi vì tất cả họ đều chỉ là sản phẩm của hoàn cảnh khách quan, nhưng mỗi người đều phải cần tự vệ cho bản thân mình, đều cần phải tồn tại bằng mọi giá, nên nhất thiết không thể không chạm mặt một cách khốc liệt và nghiệt ngã giữa nhau, cho dù trong nội bộ, đối với đối phương, trong toàn xã hội, trong thực tế khách quan chung, hay trong bất cứ chiến tuyến nào đã từng xảy ra vẫn chỉ như thế. Đó chỉ là những quy luật tự nhiên của xã hội, của con người, của lịch sử nói chung. Lịch sử vốn vô danh, không hề có chủ thể, hay đúng ra chủ thể đó con người không có cách nào nhìn thấy hay biết ra được. Chỉ có mỗi người tự nghĩ mình là chủ thể, kẻ cầm đầu hay lãnh tụ của mình là chủ thể, giai cấp hay nhóm của mình là chủ thể, chỉ có thế thôi. Nhưng thực chất chỉ là ảo tưởng, chân lý khách quan không hề như vậy.

Bởi thế, ý nghĩa của chủ nghĩa nhân văn là trở về lại với con người nhân loại trong bản lai diện mục của nó nói chung. Tức con người thoát khỏi mọi hình thức bề ngoài, đặc thù, giả dối, thoát khỏi mọi tiên kiến hay mọi ý thức hệ giả tạo mà chính họ đã chủ động hay bị động mắc vào. Trở lại với những con người mang chất lương tri, lương năng cố hữu, con người khách quan, đích thực của nhân loại tự nhiên. Đó chính là lời giải đáp, là lối ra cần thiết, hiệu quả duy nhất của tất cả mọi dân tộc, đất nước đang bị bế tắt trên thế gian. Con đường đi lên đó chính là con đường của tri thức, của khoa học khách quan, mọi người cùng kết hợp tự nguyện nhau trong một cơ chế xã hội khách quan, nhưng càng ngày càng được cải thiện, nâng cấp không ngừng lên, để được hữu lý, hiệu quả, nhân đạo, hoàn thiện và phát triển hơn. Đó cũng là lý do tại sao những bài viết ở đây không thể theo khuynh hướng những bài viết kiểu ngắn ngày, của những thứ mì ăn liền trong chốc lát, tức chỉ cần nhằm để thỏa mãn hay no bụng riêng mà thôi, nhưng đây là những bài viết theo cách khoa học, học thuật, nhằm để giải quyết những vấn đề nào được cho là quyết định hay căn cơ nhất, tức những yêu cầu của mọi yêu cầu, những nguyên nhân của mọi nguyên nhân, hay những giải quyết các tác hại của mọi tác hại(1). Vì chỉ có như thế mới thật sự đi đến những kết quả căn cơ nhất, những mục tiêu thực tế nhất, mà nhất thiết mọi con người đúng đắn, sáng suốt, thiện chí, cũng như có thể toàn thể xã hội nói chung đều vẫn luôn luôn mong đợi.

                                                                                         

VÕ HƯNG THANH

(04/02/2011)                      

 

**

 

CHO VÀ NHẬN

 

Cho và nhận là hiện tượng thường xuyên và phổ biến trong mọi xã hội. Người cho phải có mục đích nào đó, từ thấp kém đến cao cả, hay thuần túy chỉ để thỏa mãn thiện cảm. Người nhận cũng thế, có thích, có cần mới nhận. Nhà nước VN sẽ tiếp tục không cho Ngô Bảo Châu cái gì cả, bởi vì trong nước còn nhiều người như Châu, không phải chỉ có Châu. Châu sở dĩ được ưu ái hậu hĩ đặc biệt, ngoai lệ, đó là vì Châu được thưởng huy chương trong giải thưởng toán học danh tiếng quốc tế Fields.

Danh Châu liền nổi như cồn, quốc ngoại cũng như quốc nội. Thế thì nhà nước ưu ái Châu là hoàn toàn chính đáng, cần thiết. Bởi vì nhằm khuyến khích các tài năng trẻ khác, khích lệ bản thân Châu tiến tới hơn, nhưng cái lợi của nhà nước là có uy tín đãi hiền tạo ra mới trong nước cả ngoài nước. Song đáng lẽ ra Châu không nhận những gì mình thấy còn quá "nổi" đối với hoàn cảnh chung trong nước, hoàn cảnh chung của các đồng nghiệp như mình mới đúng. Một nhà khoa học chân chính nói chung, chỉ cần phương tiện tạm đủ, phải có để nghiên cứu phục vụ xã hội, phục vụ khoa học là tốt rồi, đâu cần gì nhà quá cao, cửa quá rộng một cách không hoàn toàn thật sự cần thiết. Thế nhưng Châu vẫn nhận, điều đó co thấy Châu cũng hoàn toàn bình thường, không có gì đặc biệt. Nhà nước hay Bộ Văn hóa Giáo dục cũng thế. Đáng lẽ ra chỉ nghiên cứu xem Châu thật sự cần những gì để lo chu cấp đủ cho Châu tiếp tục phát triển và làm việc có ích lợi. Không cần phải kiểu tam nhật đại yến, nhất nhật tiểu yến như Táo Tháo đãi Quan Công ngày xưa. Thế thì cái phần dôi doa ra đó, dùng cho những nhà toán học khác như Châu, dùng cho các nghiên cứu sinh khác đang cần, có phải là phù hợp, chí tình chí lý, mát mặt cho Châu lẫn tạo sự nễ nang cho nhà nước hay không. Có nghĩa người nào cố vấn cho Châu thuận nhận các đặc ân xôm tụ quá, cũng như những người nào tư vấn cho nhà nước đãi ngộ Châu mang tính cá nhân và bề ngoài quá, cũng chưa thật sự là hay ho hay xứng đáng mấy. Cho nên chuỗi lô-gíc tiếp theo, bây giờ Châu qua và trụ chính lại ở Mỹ, nhập quốc tịch Mỹ, vẫn cho thấy Châu yêu khoa học, đặc biệt là toán học hơn yêu đồng bào, yêu sự tiện ích ở Mỹ hơn là yêu đất nước, yêu bản thân mình hơn là yêu tính chính đáng, cần thiết, cấp bách của mọi sự phản biện xã hội. Thế nên vừa qua mới có tuyên bố công khai của Châu khiến nhiều người hoa mắt và chán ngán. Châu định nghĩa trí thức chỉ là người lao động để tạo ra sản phẩm trí thức cá nhân của riêng mình, không ăn thua gì với thực tế xã hội. Tuyên bố như thế chính là chủ nghĩa cá nhân, là thoát ly xã hội, thoát lý đất nước thực tế, chỉ biết có khoa học kiểu tháp ngà, xa vắng với cuộc sống thực tại. Bên cạnh đó có người khác là nhà giáo có tiếng Phạm Toàn cũng lại nói lời tuyên bố của Giáo sư Châu là một thông điệp hết sức trong sáng, rõ ràng thế mà nhiều người thắc mắc thật là một hiện tượng tâm lý rất đáng phân tích. Tôi không biết ông Phạm Toàn chuyên môn ngành gì nhưng chứng tỏ hoặc ông không thấy Châu nói gì hoặc ông còn cao hơn Châu gấp cả triệu lần. Trong khi đó ý kiến của GS Nguyễn Huệ Chi lại cho rằng phản biện xã hội là vai trò của trí thức. Tôi cho đây là một phát biểu nghiêm túc, cần thiết, thẳng thắn và xứng đáng. Bởi người trí thức là người đứng đầu hay đi đầu trong lãnh vực nhận thức của xã hội đương thời. Vậy thì nếu trí thức mà không biết phản biện thì ai mới là người phản biện. Trí thức ở đây không chỉ khu trú trong giới có học vị, có bằng cấp, có địa vị trong xã hội, mà là mọi thành phần hiểu biết, sáng suốt, có ý thức, tự thấy có trách nhiệm nói chung trong toàn thể xã hội. Chẳng hạn, khi nhà anh hùng Nguyễn Huệ còn trẻ tuổi ra Bắc để đại phá quân xâm lược Mãn Thanh, khi người ghé vào thăm Nguyễn Thiếp, đó chính là muốn xem các ý kiến phản biện của nhà đại trí thức đương thời đó. Từ đó cũng suy ra được Nguyễn Trãi hẵn cũng đã từng phản biện nhiều mới giúp được mọi hiệu quả cho kế sách bình Ngô của vua Lê Lợi. Các gương phản biện của trí thức VN trong xã hội quân chủ cũ thì còn rất nhiều mà phần lớn nhiều người ai chẳng biết. Ngay như thời kỳ mất nước vào tay thực dân Pháp, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Lương Văn Can ... nếu không phải đó là nhu cầu phản biện chung của giới trí thức yêu nước VN thì đó là gì. Ngô Bảo Châu không thể ngây thơ cho rằng xã hội VN hiện tại không cần phản biện, giống như phần lớn trí thức XHCN khác thấy cái gì cũng ưu việt, cũng đệ nhất, cũng trí tuệ đỉnh cao hết. Trung Quốc lấy Hoàng Sa của Việt Nam là hoàn toàn phi lý, ngược ngạo, thế tại sao Ngô Bảo Châu chẳng thấy gì để phản biện sao. Việc thế hệ trẻ VN ngày nay chỉ được tôi luyện tư tưởng Hồ Chí Minh và tư tưởng Mác Lênin, điều đó có thật hoàn toàn cần thiết, bắt buộc hay không trong ý nghĩa canh tân, phát triển đất nước sao cho thành quả nhất, cái đó có cần điều gì phản biện hay không, sao Bảo Châu không quan tâm đến. Việc xã hội ngày nay tham nhũng trở thành mối loạn, với tính cách nhà toán học, có suy nghĩ theo vận trù học quản lý như thế nào không, tại sao Bảo Châu không mặn mà tới. Một nền giáo dục khai phóng, nhân bản, khoa học, hiện đại, hội nhập toàn cầu mới thức thời, hay chỉ là nền giáo dục ý thức hệ làm chính, chủ nghĩa làm chính, đào tạo chuyên viên hồng và chuyên mới chính, hay không cần đào tạo ra các nhà kinh tế chính trị học cao cấp ngang hàng thế giới mới là chính, thế hệ trẻ chỉ cần ru rú trong tư tưởng của Mác và Lênin, cũng như của Hồ Chí Minh là chính, hay họ cần phải phát triển tư tưởng cá nhân của họ lên tầm cao của cả nhân loại mới là chính trong thời đại tân tiến của thế giới ? Đó là chưa nói sau năm 75, toàn bộ trí thức miền Nam hoặc chạy ra nước ngoài, hoặc bị vô hiệu hóa hầu hết hay hoàn toàn trong nước, sự chảy máu, chảy chất xám hay sự đồng máu, đông chất xám này, cho tới bao giờ mới có thể được "phản biện" ? v.v... và v.v... Thật là có cả một trời, một "kho", một "bồ" để phản biện mà Ngô Bảo Châu lại chẳng coi ra gì cả. Cho nên để kết luận, Ngô Bảo Châu đã nhận từ nhỏ đến lớn của xã hội, đất nước, nhân dân VN quá nhiều nhưng thực tế lại chẳng cho lại là bao nhiêu, ngoài chỉ mới là cái tên tuổi được nhiều người đánh bóng nhất thời quá nhiều như mọi người đều thấy. Bài viết này thật sự không nhằm ý tiêu cực mà chỉ nhằm ý tích cực. Vậy nên Giáo sư trẻ nhà toán học danh tiếng, nhà trí thức lớn Ngô Bảo Châu hiện nay, trong ý nghĩa là con người trí thức thật sự, nếu có đọc được các ý tưởng quê mùa này, cũng không nên buồn hay cố chấp.

 

Võ Hưng Thanh

(02/02/11)

 

**

 

CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN VÀ VẤN ĐỀ GIAI CẤP XÃ HỘI

 

Chủ nghĩa nhân văn là quan điểm lấy con người làm trung tâm cũng như mục tiêu của xã hội. Con người làm trung tâm, vì con người là chủ thể sáng tạo, là ý nghĩa và giá trị căn bản, cũng như là đối tượng được phục vụ. Có nghĩa trong đời sống, con người là cao nhất đối với con người, con người vượt lên trên mọi sự vật trong vũ trụ tự nhiên, con người có ý thức và tinh thần thông đạt với đại vũ trụ. Môi trường xã hội là môi trường gần gũi nhất, cơ bản nhất, trực tiếp nhất của chính quan điểm nhân văn, dù môi trường tự nhiên, hay thế giới thiên nhiên, là môi trường nền tảng, khách quan, và cần thiết nhất.

Con người của chủ nghĩa nhân văn là con người cụ thể, thực tế trong đời sống. Có nghĩa là con người sống thực trong cuộc đời, sống trong xã hội cụ thể và trong tự nhiên, không phải bất kỳ một khái niệm mơ hồ nào. Con người như vậy tất nhiên phải là con người biết lao động, có lao động để sống. Lao động đây là sự làm việc cho bản thân, cho gia đình, cho cộng đồng, cũng như cho xã hội. Ý nghĩa của lao động cũng không phải được cường điệu, đề cao trong tính chất thần thánh nào, nhưng chỉ xem thực tế là một nhu cầu thiết yếu, tự nhiên của cá nhân con người, cũng như của toàn xã hội, trong các môi trường đời sống cụ thể nhất định. Con người làm việc là theo yêu cầu cần thiết, tức lao động là theo yêu cầu thực tế, không lạm dụng, không hành xác, không ảo tưởng hay giả tạo.

Trong ý nghĩa đó, lao động chỉ là yêu cầu khai thác thiên nhiên của con người, tạo nên các vật chất và dịch vụ có ích, chủ yếu nhằm phục vụ các nhu cầu, đòi hỏi cần có của bản thân, cũng như cho xã hội con người. Lao động hay sự làm việc nói chung chính là yếu tố sinh tồn, phát triển về mọi mặt của cá nhân và cộng đồng, xã hội. Ý nghĩa của lao động như vậy là một mối quan hệ, quan hệ của bản thân với bản thân, quan hệ bản thân với môi trường, quan hệ giữa mình và người khác, và quan hệ nói chung của tất cả mọi người. Điều này cũng có nghĩa xã hội không phải là cái gì trừu tượng, mà là những con người cụ thể cùng tồn tại trước mắt ngay chung quanh mình, trong môi trường chung của cộng đồng, tức của một địa phương, một quốc gia, hay trên toàn thế giới. Những con người cụ thể đó tất nhiên không phủ nhận được họ, họ đều có mọi quyền sống như nhau, và đều có thể cần thiết hay hữu ích cho nhau.

Nói như thế, con người cụ thể không phải chỉ là bản thân sinh học, như là một tồn tại vật chất tự nhiên, nhưng quan trọng nhất họ còn có ý thức nội tâm, đời sống tinh thần các mặt, trong đó có tình cảm, cảm xúc, ý chí, mục đích riêng, có các quan niệm, quan điểm khác nhau về cuộc đời, có các quá khứ và kỷ niệm riêng, có các mối quan hệ khác nhau riêng, có các dự tính và yêu cầu về cuộc đời riêng. Nói chung lại, đời sống và ý thức nội tâm là yếu tố quan trọng nhất nơi mỗi con người. Sự tồn tại sinh học của họ không phải chỉ là điều duy nhất. Chính tinh thần, ý thức, nội dung trong mỗi con người mới là điều quan trọng và mang ý nghĩa nhất. Khả năng sáng tạo, khả năng tiếp thu, khả năng phát triển, đó là ý nghĩa và giá trị cao nhất trong mỗi con người. Nó không chỉ có lợi ích riêng hay phục vụ cho chính cá nhân, nó còn là lợi ích chung và phục vụ được cho tất cả mọi người.

Trong tính cách đó, ý nghĩa đầu tiên của con người là ý nghĩa đồng bào, đồng chủng, ý nghĩa công dân, và cuối cùng là ý nghĩa đồng loại hay thế giới. Tuy vậy, nói như thế không có nghĩa đánh đồng tất cả mọi người. Cái quyết định nhất trong mỗi con người là ý nghĩa hay giá trị khách quan của nó. Chẳng hạn sự hiểu biết, nhận thức, đặc điểm cá tính hay đạo đức, tính chất tiếp cận với người khác, hay nói chung lại là các mặt kết quả hay hệ lụy mang lại lẫn nhau giữa các con người trong các điều kiện, tính chất trong các môi trường khách quan, cụ thể, riêng biệt, tự nhiên hay đặc thù nào đó. Tức mọi mối quan hệ lẫn nhau giữa các con người luôn luôn phải nhằm lợi ích lẫn nhau, không thể nguy hiểm hay có hại cho nhau. Đây cũng là ý nghĩa thực tế của quan điểm nhân văn, không thể mơ hồ, không ảo tưởng.

Quan điểm xã hội nhân văn như vậy là quan điểm cộng đồng mà không là gì khác. Nhưng ở đây cộng đồng không thay thế, lấn át, làm xóa nhòa hay nuốt chửng mất ý nghĩa cá nhân của con người. Đơn vị cá nhân con người là quan trọng, không phải chỉ đơn giản duy nhất là ý nghĩa của đơn vị cộng đồng. Xã hội nói chung thật ra chỉ là thực thể bao quát hoặc trừu tượng. Chính các cá nhân cụ thể tạo nên cộng đồng hay toàn thể xã hội mà không chỉ quan trọng hóa theo kiểu ngược lại. Ý nghĩa của cộng đồng hay xã hội là ý nghĩa toàn bộ những con người cụ thể. Điều này mới nghe qua chỉ như hiển nhiên và không có gì đặc biệt. Song sự thực không phải như vậy. Sự đánh giá nhầm lẫn hay sự ngộ nhận về ý nghĩa sâu sắc của chúng, tức mối quan hệ nền tảng giữa cá nhân và xã hội, sẽ dẫn đến quan điểm duy cộng đồng hay duy xã hội, nghĩa là những thứ quan niệm hay chủ nghĩa có thể làm tác hại hay coi thường mọi ý nghĩa chính đáng của chính bản thân mỗi cá nhân con người.

Thế nên, thực chất mối quan hệ giữa con người và con người luôn luôn là một mối quan hệ dân chủ và tự do. Không bất kỳ cá nhân nào có thể thúc bách, bó buộc cá nhân nào vì bất kỳ mục đích, ý nghĩa gì, mà trái lại ý muốn chính đáng riêng của họ, đó mới chính là cơ sở sâu sắc của tính cách nhân văn. Có nghĩa mọi mối quan hệ xã hội của mỗi cá nhân luôn luôn được diễn ra một cách tự do, tự nguyện. Không bao giờ có ai bị ép uổng hay khống chế riêng tư, đó là nguyên lý cần thiết, khách quan, tự nhiên nhất mà một xã hội theo ý nghĩa nhân văn phải có. Nói cụ thể, sự hình thành nên cộng đồng chính là sự liên kết theo chiều ngang giữa các nhóm xã hội hạt nhân với nhau. Ý nghĩa các nhóm này hoàn toàn ngẫu nhiên, khách quan, tự nguyện, cần thiết, chính đáng, do bất kỳ những nhu cầu nào đó trong thực tế mà các nhóm xã hội này tự liên kết phù hợp với nhau để hình thành. Đương nhiên các nhóm hạt nhân ngẫu phát này luôn luôn biến chuyển, thay đổi. Nhưng những nhóm kết thành thứ cấp hay bao quát nói chung cũng luôn luôn như thế, tức nguyên tắc liên kết hàng ngang giữa các nhóm vẫn là nguyên tắc liên kết cộng đồng cơ bản và thường xuyên nhất của tất cả mọi người.

Thế thì ý nghĩa của giai cấp xã hội ở đây được đặt ra như thế nào ? Như đã nói trên, khái niệm giai cấp theo quan điểm chủ nghĩa nhân văn thật sự chỉ được hiểu như quan hệ nghề nghiệp. Đó là quan hệ nội tại hay quan hệ cấu trúc, và quan hệ ngoại tại, hay quan hệ tương quan. Quan hệ nội tại là quan hệ bên trong, tức mối liên kết hàng ngang trong bản thân nghề nghiệp. Bởi mọi cá nhân phải lao động, phải làm việc đề tồn tại, để phục vụ đời sống, nên nghề nghiệp của mỗi người, tức lao động chuyên môn, kể cả lao động phổ thông của mỗi người trong các trường hợp cụ thể, đặc thù nào đó luôn luôn phải có. Trong ý nghĩa đó, lao động cá nhân cũng làm nên lao động xã hội, hay là khía cạnh khác của lao động xã hội một cách tự nhiên mà mọi người đều biết. Bởi thế ý nghĩa làm việc hay lao động chỉ là ý nghĩa chung của con người, còn khía cạnh cá nhân hay xã hội chỉ là cách nhìn vi mô hay vĩ mô theo mỗi trường hợp. Điều này quả có nghĩa lao động luôn luôn tạo nên một cấu trúc hay hình thành nên một cấu trúc công việc làm hay nghề nghiệp nào đó trong xã hội. Điều này có ý nghĩa lao động là những hành vi mang tính cách lượng tử nơi mỗi cá nhân. Các yếu tố lượng tử này tạo thành kết quả đáp ứng mục đích chung của các công việc. Toàn bộ chúng trong tổng thể kết thành các công đoạn, thành phần, yếu tố của hoạt động nghề nghiệp. Đó là ý nghĩa của lao động việc làm nơi mỗi cuộc sống cá nhân và trong toàn thể đời sống xã hội.

Nói cách cụ thể hơn, lao động luôn luôn phải là việc làm có ích, tức mang lại một kết quả hữu ích nào đó, đáp ứng lại yêu cầu cần thiết nào đó của cá nhân hay mọi người trong xã hội. Đó cũng là ý nghĩa, giá trị, tính chất, năng suất, và cuối cùng là kết quả của lao động. Một người có thể bỏ ra cả một ngày nổ lực hay cặm cụi, nhưng không mang lại kết quả gì cụ thể, hữu ích, giá trị lao động ở đây trở thành vô nghĩa hay không thực tế. Tức lao động phải gắn vào một hệ thống nào đó, phải nằm trong quá trình toàn thể nào đó, dù là đơn vị tối giản hay phức tạp, nhưng luôn luôn phải là một tổng thể hoàn chỉnh trong tự thân của nó, mới thật sự mang lại một kết quả cụ thể, rõ ràng và hữu ích. Có nghĩa kết quả sản phẩm làm ra của lao động luôn luôn phải dùng được, phải phục vụ được cho cái gì đó, tức phải hữu ích, đó mới thật sự là ý nghĩa, tính chất, giá trị và công năng của lao động. Sự liên kết của lao động như vậy trước hết là sự liên kết trong bản thân của người lao động, sau đó là sự liên kết với người khác, cuối cùng là sự liên kết trong toàn thể xã hội. Đó là tính cách liên đới của nghề nghiệp hay ngành nghề trong toàn thể xã hội. Không có một ngành nghề nào hoàn toàn độc lập hay tách biệt trong toàn xã hội, nhưng bó buộc phải liên đới, hỗ trợ, và được giúp đỡ hay bổ sung bởi những ngành nghề khác. Như vậy rõ ràng kết cấu chiều ngang trong lao động hay nghề nghiệp của xã hội tất yếu là lẽ đương nhiên. Có nghĩa mọi sự phân công nghề nghiệp tự nhiên trong cuộc đời đối với mọi người luôn luôn thực tế, chính đáng và cần thiết. Không thể có chuyện thủ tiêu phân công, hòa lẫn mọi phân công, đánh đồng hay đồng nhất mọi phân công như Mác đã từng nghĩ đến khi muốn thiết chế một xã hội không giai cấp như ông quan niệm.

Bởi mỗi cá nhân sinh ra không ai giống ai, như năm ngón của một bàn tay, không thể hoàn toàn y hệt thì mọi công năng riêng của nó lại trở thành vô nghĩa vì phi tác dụng. Mỗi con người trong thực tế luôn luôn dị biệt nhau về thể lý, tâm tính, ý chí, hoàn cảnh, điều kiện cá nhân cụ thể, do đó cũng khác biệt nhau về các tính toán, mục tiêu đặc thù, ý nghĩa lao động, tính cách hiểu biết, và cuối cùng kết quả của lao động đối với bản thân và xã hội cũng khác nhau về rất nhiều mặt. Tất nhiên mỗi cá nhân không phải là giá trị trường cửu trong xã hội, nó luôn luôn thay đổi, chuyển biến, kế tiếp nhau, phát sinh ra và biến mất di trong lòng xã hội, chỉ có xã hội mới là một tồn tại liên tục, lịch sử mới là một dòng chảy liên tục. Bởi vậy thiết kế một xã hội theo kiểu cứng nhắc, đông cứng, ổn định, chính xác, lý tưởng như Mác đã quan niệm là hoàn toàn phi thực tế, phi hiện thực, phi lịch sử, hay nông cạn và ảo tưởng. Do đó, khái niệm giai cấp của Mác cũng là khái niệm máy móc, mơ hồ, trừu tượng. Chủ yếu nó dựa vào lý thuyết biện chứng của Hegel để nhằm mang ra áp đặt một cách kịch cỡm vào lịch sử cụ thể. Ai cũng biệt hệ thống tư tưởng triết học Hegel là hệ thống tối ư bảo thủ về mặt chính trị. Hegel cho rằng vua Phổ, nhà nước Phổ lúc bấy giờ, tức thời đại của ông, là hiện thân cao nhất, bất biến, toàn diện và bao quát nhất của Tinh thần (der Geist), mà theo Hegel đó là tinh thần phổ quát, là bản thân hay yếu tính của lịch sử, là chủ thể của lịch sử nhân loại.

Quan điểm của Hegel là quan điểm hoàn toàn duy tâm, cho nên ý nghĩa khái niệm biện chứng của ông cũng hoàn toàn duy tâm. Tức theo ông biện chứng là quy luật nội tại của chính bản thân tinh thần phổ quát của toàn thể vũ trụ, để cuối cùng qua tổng thể diễn tiến lịch sử toàn diện, kết tinh thành hệ thống triết học của Hegel về mặt nhận thức, và kết tinh thành vua (Kaiser) nước Phổ khi đó về mặt chính trị. Trong tính cách như thế nhưng Mác lại suy diễn quan niệm quy luật biện chứng duy tâm của Hegel trở thành quan niệm quy luật biện chứng duy vật do ông đưa ra hay áp đặt vào cho lịch sử cụ thể của xã hội loài người. Từ nền tảng tuyệt đối duy tâm chuyển sáng cơ sở thuần túy duy vật là hoàn toàn trái cựa, nghịch lý, phi lô-gích mà ai cũng có thể nhận thấy. Cho nên Mác lý luận sự mâu thuẫn giai cấp trong xã hội chính là động lực thúc đẩy lịch sử phát triển để đi đến kết quả. Trong ý nghĩa như thế Mác đã thay ông vua nước Phổ của Hegel bằng giai cấp vô sản toàn thế giới mà Mác quan niệm. Quả thật đây là một sự tưởng tượng kinh dị, hoàn toàn không có cơ sở khoa học khách quan, nhưng xưa nay có thể rất ít người nhận thấy. Chính trong lý thuyết biện chứng, Mác lý luận xã hội loài người ban sơ là xã hội cộng sản nguyên thủy, từ đó phát triển thành xã hội tư sản mà đỉnh cao của nó là xã hội tư bản chủ nghĩa, khiến cuối cùng chuyển thành xã hội cộng sản khoa học mà Mác tiên báo. Điều này không gì khác hơn là nguyên lý tiền đề - phản đề - hợp đề, như một sơ đồ tóm tắt lý thuyết biện chứng mà Hegel đưa ra về bản thân của lịch sử phổ quát.

Đúng ra, về thực tế mà nói, bản thân của trái đất chỉ là một điểm hình học rất nhỏ trong không gian vũ trụ vô hạn. Từ điểm rất nhỏ này Hegel suy diễn nó bao quát, tiêu biểu và chứa đựng cả bản thân của quy luật vũ trụ vô hạn, quả là một suy diễn mang tính cách tư biện (spekulative) thuần túy trừu tượng, siêu hình của ông. Nhưng tuy dù xa vời, nó còn chút xíu lô-gích nào đó khi ông cho rằng yếu tố duy nhất của cái tồn tại đầu tiên đã chứa trong mình nó khả năng của sự tự biện chứng, tức tự phát triển, triển khai ra bằng con đường, phương các, hay quy luật tự mâu thuẫn. Mác trái lại xây dựng toàn bộ lý thuyết của mình trên quan điểm duy vật, tức cho rằng chỉ có vật chất (Materie) trên thế gian này, lại áp đặt quy luật biện chứng của Hegel lên đó thì thật là thiếu nền tảng lô-gích, khách quan và khoa học. Thật sự Mác không giải thích được tại sao, xã hội cộng sản hay vô sản nguyên thủy lại tự mâu thuẫn để sinh ra xã hội tư sản. Điều này trong các bài viết khác trước đây tác giả bài này đã đề cập nhiều, không cần nhắc tới nữa. Còn sự hình thành xã hội tư bản hay nền kinh tế tư bản Mác cho rằng đó là kết quả đấu tranh giai cấp, mà cái cốt lõi của nó là sự tư hữu, là nguồn gốc của bóc lột lao động để tích lũy tư bản mà tạo lập thành. Mác cho rằng khởi thủy xã hội loài người không có tư hữu, chỉ có công hữu thuần túy nên cũng chưa có giai cấp, vì chưa có bóc lột lao động. Chỉ vì có tư hữu mà đi đến lao động làm thuê, tức xảy ra bóc lột, khiến dần dần tích lũy qua lịch sử mà hình thành nên nền sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Lập luận của Mác rất xa rời thực tế và hoàn toàn nặng về tính lô-gích hình thức, vì chỉ nhằm làm sao thích ứng cho được với quy luật biện chứng theo công thức tiền chế sẳn do Hegel đưa ra. Ông thật sự lập lờ giữa ý nghĩa phương tiện và mục đích của quyền sở hữu. Bởi thực tế, không phải nơi con người mà trong thế giới tự nhiên, khuynh hướng tư hữu vẫn là khuynh hướng phổ biến nơi muôn vật. Chính yếu tố vật chất là điều kiện cụ thể, tiên quyết của mọi nhu cầu sống, nên việc tích lũy, bảo lưu, vận dụng quyền sử dụng riêng về các vật thể vật chất là yêu cầu tiện lợi, tiết kiệm, hiệu quả của mọi chủ thể tồn tại là lẽ đương nhiên. Nhưng thực chất đó chỉ là công cụ, phương tiện phục vụ sự sống mà không bao giờ là mục tiêu tối hậu của đời sống như mọi người đều biết. Bởi ý nghĩa của đời sống là sự phát triển, sự nâng cấp, sự tiến lên, không thể nào chỉ dừng lại duy nhất ở việc chỉ nhằm thỏa mãn duy nhất các yêu cầu vật chất. Điều này không phải chỉ nơi loài người, mà hầu như tất cả mọi loài sinh vật đều vẫn thế. Cho nên khái niệm bóc lột và tính cách giải quyết bóc lột Mác đưa ra cũng hết sức xa vời, không thực tế. Cho rằng chủ thể A bóc lột chủ thể B trong các trường hợp đặc thù, cụ thể nào đó, điều này quả thật chỉ bản thân hai chủ thể này tự biết chính xác nhất, mà không phải chỉ dựa trên công thức tính toán giá trị thặng dư do Mác đưa ra mới là tiêu biểu hay chính xác. Bởi trường hợp này A bóc lột B, thì trường hợp khác, chưa chắc gì đã không xảy ra ngược lại. Cho nên Mác mới khái quát hóa là trong lịch sử chỉ có hai giai cấp đối kháng, thể hiện sự bóc lột toàn diện nhất là giai cấp hữu sản và giai cấp vô sản, hay giai cấp thống trị và giai cấp bị trị về mọi mặt trong xã hội, như Mác đã phạm trù hóa. Nhưng nếu chỉ ngồi để lý luận theo kiểu phạm trù hóa, tức định loại hóa theo cách trừu tượng, suy lý mơ hồ kiểu lô-gích hoàn toàn hình thức như thế thì làm gì còn cơ sở cụ thể, khách quan, khoa học như mọi điều trong thực tế xảy ra và chỉ có thể giải quyết được cụ thể, hiệu quả trong thực tế.

Do đó Mác chủ trương phải tiêu diệt chế độ tư hữu, có nghĩa tiêu diệt nền kinh tế thị trường, tiêu diệt nền kinh tế sản xuất hàng hóa, tiêu diệt mọi sự phân công lao động tự nhiên, phá bỏ tiền tệ, phá bỏ thương mại, mới có thể đi đến xã hội hoàn toàn công hữu, mọi người làm việc tự nguyện, không còn tư hữu về các mặt xã hội, con người mới thật sự hạnh phúc, vì không còn giai cấp nên cũng không còn đấu tranh giai cấp. Song Mác lại không tự thấy nói như vậy là thật sự khiên cưỡng hay phi lô-gích, bởi vì nếu tính biện chứng hay tính tự mâu thuẫn trong thế giới vật chất là hoàn toàn khách quan thì làm sao có thể vượt lên, đi ra ngoài hay tiêu diệt, triệt tiêu nó vĩnh viễn được. Đó là chưa nói Mác hoàn toàn xã rời chính quy luật tâm lý khách quan, tự nhiên của con người. Bởi về mặt cụ thể, tồn tại con người là tồn tại sinh học, xuất phát ra từ thế giới vật chất, thế giới sinh học, thì cơ sở của vật chất, của sinh học vẫn phải luôn luôn có đó, bản năng đấu tranh sinh tồn, tự vệ, bản năng tấn công, khuynh loát, khuynh hướng hoang dã, khuynh hướng hủy hoại, khuynh hướng trở về với nọa lực hay trì lực nguyên thủy vẫn luôn luôn có đó, làm thế nào mà thần thánh hóa con người một cách tuyệt đối, thánh thiện hóa con người một cách toàn diện, quả thật sự là nông cạn, phi thực tế và phi khoa học. Cho nên cái khung biện chứng của Hegel giống như cái lồng sắt lý tưởng mà Mác như tuồng không thể bước chân ra được. Và nếu Hegel tôn thờ vua nước Phổ, coi như hiện thân tột cùng của lịch sử nhân loại, là một loại tư tưởng bảo thủ, phản động, thì Mác thế vào đó ý niệm giai cấp vô sản của ông đưa ra, thực chất cũng chỉ là một loại tư tưởng bảo thủ, phản động không hề kém.

Bởi lẽ mỗi con người luôn luôn là một thực tế cụ thể, khách quan, tự nhiên. Cơ sở chung là hoàn toàn bình đẳng về nguồn gốc, giá trị, dự phóng và mục đích như nhau. Sự khác nhau của mỗi người luôn luôn là sự khác nào đó về tình huống, hoàn cảnh, điều kiện chủ quan cũng như khách quan, tức sự khác nhau thuần túy bên ngoài, còn bản chất bên trong về mọi mặt là hoàn toàn giống nhau. Sự lấy cái bên ngoài làm cái bên trong để phân biệt giai cấp thật sự là hoàn toàn phi lý. Cả ý hướng, phương diện tiêu cực, hay cả ý hướng, phương diện gọi là tích cực về điều này đều cùng là bản chất kỳ thị không hơn không kém. Mác chỉ thấy sự bóc lột và quyền tư hữu như là khởi điểm hay nguyên do của mọi sự, mà không thấy yếu tố hay động lực phát triển lịch sử của con người thực sự là yếu tố nhận thức, yếu tố trí tuệ, yếu tố khoa học và kỹ thuật. Mác giống như kiểu anh chàng mù xem voi, hễ chạm được một yếu tố có thật, cụ thể nào đó rồi đoán mò, khái quát lên, làm thành một nhận thức, kể cả một quy luật bao trùm, phổ quát. Thật ra cái gì làm cho con người khác nhau từ cổ chí kim, nếu đó không phải là năng lực hay tài năng riêng, là ý nghĩa của khả năng nhận thức, trình độ hiểu biết, ý chí và ý thức trong cuộc sống qua hoàn cảnh khách quan mà người đó có được. Chính sự khác nhau về hoàn cảnh, điều kiện sống làm cho con người ta khác nhau. Nhưng cũng chính khả năng giải quyết khác nhau về điều đó nơi mỗi người cũng làm cho người ta khác nhau. Tất cả hai tính chất này vừa đúng cho đơn vị mỗi cá nhân mà cũng đồng thời đúng cho tổng thể toàn xã hội. Sự phân chia dị biệt nơi đời sống con người cụ thể, thực tế, mà Mác gọi là sự phân chia giai cấp trong xã hội, có phải chăng là tính khách quan, tự nhiên như trên đã nói, mà không thể nào phạm trù hóa nó, khái quát hóa nó, định hình hóa nó một cách máy móc, cứng nhắc, giả tạo như chính Mác đã làm ? Và làm điều đó cũng có nghĩa đi ngược lại tính chất cấu trúc tự nhiên của muôn vật, dù luôn luôn biến chuyển, thay đổi, nhưng không thể nào không có và cũng không thể nào chối bỏ hay phủ nhận được.

Đã có không biết bao người, vì các lý do khác nhau nào đó, đã từng xưng tụng như một vì thánh, như một thiên tài, như một đỉnh cao của trí tuệ loài người, trong khi thực tế trong cõi đời này không bất kỳ ai là vị thánh, là thiên tài tuyệt đối, là đỉnh cao của trí tuệ muôn đời cả, mà lịch sử bản thân mỗi cá nhân luôn luôn phát triển, lịch sử xã hội luôn luôn phát triển, cái mà người ta không thấy lúc này sẽ thấy lúc khác, cái mà xã hội chưa giải quyết hay còn mù mờ về lúc này sẽ được giải quyết hay sáng suốt ra vào lúc khác. Bởi không thể có chân lý chủ quan, cảm tính, xúc động hay tính cảm, mà thực sự chân lý chỉ luôn luôn khách quan, khoa học, hiệu lực, cụ thể và thực tế. Cho nên ý nghĩa cấu trúc là ý nghĩa khách quan nơi bản chất muôn vật. Tồn tại sự vật luôn phải là tồn tại cấu trúc, đó là yêu cầu tiên quyết của tính cụ thể, thực tế, không thể nào khác hơn được. Bởi cấu trúc chính là cơ sở của sự vận động. Không cấu trúc có nghĩa cũng không thể vận động. Đây là ý nghĩa cơ chế của mọi loại máy móc, đồng thời cũng là bản thân tồn tại khách quan của mọi sự vật từ tinh thần đến vật chất. Từ ý thức, ngôn ngữ, nhận thức, đến trí tuệ con người vẫn luôn luôn vận động trong khuôn khổ hay dưới những hình thức cấu trúc nào đó. Vật chất vô cơ cũng vậy, cả sự sống cũng vậy. Nguyên tử là một cấu trúc, hạt nhân nguyên tử cũng vậy. Ngày nay người ta biết kể cả những hạt cơ bản cũng có thể phân ra hay hiểu chúng, phân biệt chúng thành các dạng cấu trúc. Như hệ mặt trời là một dạng cấu trúc luôn luôn vận động. Dải thiên hà của chúng ta, các đại thiên hà khác, ngay cả không gian vũ trụ hay toàn bộ vũ trụ cũng phải tồn tại như một cấu trúc. Từ nhân tế bào, bản thân tế bào, hay từ con virus đến thân xác con người cũng không thể thoát ra khỏi được chính quy luật và nguyên tắc phổ biến đó. Cho nên ý nghĩa sự phân hóa xã hội, giai tầng hay giai cấp xã hội cũng chỉ là điều tự nhiên, vấn đề phải hiểu chúng trong ý nghĩa hay tính chất thế nào mới thật sự là điều đáng quan tâm nhất.

Có nghĩa tâm điểm của con người là ý thức, là nhân cách, là tinh thần, là trí tuệ, cho nên tính nhân văn buộc con người phải biết vượt lên các ý nghĩa vật chất tầm thường và thô lậu nhất. Ngay cả mọi sự phân biệt bên ngoài thân thể, phần nào đó cũng thể hiện sự phân biệt ngay bên trong bản chất tâm hồn. Cho nên ý nghĩa, tính chất và giá trị nhân văn mới là các ý nghĩa, tính chất, giá trị tự nhiên, còn mọi sự phân biệt về giai cấp chẳng qua chỉ là các cấu trúc khách quan bên ngoài của xã hội và chúng cũng có thể luôn luôn thay đổi. Chính điều kiện phát triển kinh tế xã hội, ý nghĩa phát triển tinh thần là yếu tố phân hóa tự nhiên của giai cấp nhưng cũng đồng thời là yếu tố khắc phụ mọi tính cứng nhắc hay giả tạo của giai cấp mới là điều cơ bản nhất. Có nghĩa giai cấp hay giai tầng xã hội luôn luôn là một sự phân hóa phát sinh, chuyển biến, xóa nhòa, rồi lại phát sinh mới lại không bao giờ đứng yên hay ngừng nghỉ giống như những vòng libe trong mạch gỗ vẫn luôn luôn đổi mới, phát triển. Giai cấp xã hội chẳng qua chỉ là những giai đoạn, những yếu tố trung gian trong sự cấu thành xã hội, chúng tồn tại nhưng không cứng nhắc, và khi điều kiện hay bản thân thay đổi, một cá nhân có thể chuyển từ giai tầng hay giai cấp này sang giai tầng hay giai cấp khác. Nói khác đi, giai cấp chỉ là tình trạng phân công lao động do yếu tố phát triển kinh tế xã hội tạm thời gây ra hay tác động vào mỗi lúc, theo từng hoàn cảnh cụ thể của mỗi cá nhân mà không hề bất biến hay cứng nhắc. Ngày nay người ta biết có những luồng lao động di chuyển, hoặc từ thôn quê ra thành thị, có khi ngược lại, tùy theo từng trường hợp. Chính sự biến đổi kinh tế xã hội có thể tạo nên những thay đổi hay biến chuyển về giai cấp xã hội mà không là gì khác. Cho nên ý nghĩa của giai cấp chẳng có gì huyền bí hay gai góc cả. Nó biến thiên theo sự phát triển của hoàn cảnh, điều kiện kinh tế xã hội, cũng như theo từng cơ may của mỗi cá nhân. Sự chuyển đổi giai cấp có thể có nhiều yếu tố, chủ quan cũng như khách quan, không bao giờ là một nguyên tắc bất di bất dịch. Một triệu phú có thể trở thành phá sản, một nông dân có thể trở nên một trí thức, một người thợ có thể trở thành một chủ doanh nghiệp, đều là những điều bình thường trong lòng xã hội mỗi quốc gia hay trên toàn thế giới.

Chính những phát kiến về khoa học kỹ thuật, các tiến bộ, phát triển về khoa học kỹ thuật là động lực chủ yếu làm cho xã hội tiến lên, lịch sử phát triển mà không hề là sự đấu tranh giai cấp như Mác nói. Bởi đấu tranh giai cấp nhiều lắm cũng chỉ là sự giành giật, phân chia về quyền lợi vật chất, không hề là chất liệu hay nội dung của động lực phát triển. Trong khi đó chính kỹ thuật là điều kiện của năng suất, chính năng lượng tạo ra là động lực hỗ trợ, phát huy kỹ thuật, mới thật sự là những động cơ chính yếu làm chuyển động hiệu quả chính guồng máy kinh tế. Chẳng hạn khi con người phát kiến ra lửa, phát minh ra bánh xe, chế tác được kim loại, phát minh ra dòng điện, tạo tác ra cơ chế các máy móc tự động, khám phá ra năng lượng nguyên tử, khám phá ra cơ cấu điện toán, và ngày nay bước sâu vào thời đại tin học, đó chính là những bước đi ngoạn mục của khoa học kỹ thuật mà không phải của tính đấu tranh giai cấp như Mác từng tuyên bố. Có nghĩa Mác chỉ là người áp đặt lệch lạc quan điểm biện chứng siêu hình của Hegel vào cho kinh tế xã hội để tự mệnh danh nó là quy luật phát triển khách quan của lịch sử như nhiều người đã biết. Đó chẳng khác là chuyện siêu hình hóa, tư biện hóa các thực tại kinh tế xã hội khách quan trong đời sống con người mà ai cũng rõ. Ý nghĩa đó đã dẫn dắt tất nhiên đến các mô hình kinh tế tập thể, đến kiểu làm chủ tập thể trong xã hội, kết quả là đi ngược lại các động lực và động cơ chính đáng, tự nhiên của tâm lý con người, nên kết quả là sự hoàn toàn phá sản là điều tự nhiên không thể nào tránh được. Bởi vì ý nghĩa tâm lý của con người ai cũng muốn bảo toàn bản thân, muốn thăng tiến một cách tự do, độc lập, không ai muốn bị ràng buộc, ngăn cản hay bị khống chế một cách giả tạo, đó là lý do tại sao mọi chủ nghĩa tập thể mang tính hình thức đều bị thất bại. Xã hội con người thực chất cũng chỉ giống như một núi san hô, chính những đơn vị pôlip làm nên tất cả mà không hề giống như một tảng phún xuất mácma trào dâng lên từ lòng đất. Sự phát triển lịch sử xã hội thực chất là sự tập thành từ các yếu tố trí tuệ, tri thức của con người, chúng được vận dụng dưới muôn vàn hình thức và công cụ khác nhau để làm nên lịch sử mà không phải chỉ là lao động cơ bắp thuần túy hay sự tranh giành các quyền lợi vật chất kinh tế thuần túy như Mác quan niệm. Sở dĩ tư tưởng của Mác có nhiều chỗ hết sức quái dị, chẳng qua đó là hệ thống tư biện theo kiểu của Hegel trá hình, Mác chỉ thay thế các yếu tố của tư duy trừu tượng Hegel bằng các quan điểm hoàn toàn duy vật, vật chất do ông ta sáng nghĩ ra. Cho nên nói chung lại, chúng hoàn toàn xa thực tế hay phi thực tế.

Chính vì vậy, Mác nghĩ tưởng học thuyết của mình là học thuyết nhân bản, giá trị của nó là giá trị giải phóng nhân loại. Song nghĩ như vậy những ông lại đưa ra một công cụ hoàn toàn trái ngược, sự độc tài, độc đoán hay ý niệm chuyên chính vô sản. Đó là chuyện trống đánh xuôi kèn thổi ngược, hoặc gậy ông đập lưng ông, bởi trong thực tế hầu như mọi nơi thực thi học thuyết Mác, xã hội trở thành một hệ mạng khắc khe, máy móc, không còn ai có quyền tự lập, tự phát huy theo cách dân chủ, tự do thật sự, mà tất cả đều chỉ là các đơn vị đồng nhất, các nhân tố vô hình khống chế toàn thể xã hội chỉ theo một hướng định sẳn, làm ngăn trở phát triển, làm xa rời tính nhân văn, làm điêu đứng xã hội theo nhiều cách khác nhau, nhiều phương diện khác nhau, thậm chí tự làm nô lệ hóa xã hội mà trong lịch sử xã hội cận đại rất nhiều nơi trên thế giới đi theo học thuyết Mác đã hoàn toàn chứng tỏ. Đây không hề là điều nói thêm nói bớt, mà từ thời Stalin, qua các lãnh tụ độc tài của các nước Đông Âu, đến chế độ Mao Trạch Đông, cách mạng văn hóa, hồng vệ binh, rồi hiện tượng diệt chủng của Khmer đỏ, đó đều là những gì có thật, không thể ai chối cãi. Tại sao một ý hướng nhân văn ban đầu lại trở thành hậu quả phi nhân văn, phản nhân văn ? Đó là vì bất chấp mọi quy luật, ý nghĩa khách quan của xã hội và con người. Nó giống như một người chế ra một cái xe bánh vuông, cho là tuyệt diệu, và đòi hỏi mọi người phải đẩy đi. Có nghĩa điều gì trái quy luật, không phù hợp, không đáp ứng yêu cầu thực tế, ngược với nguyên lý khách quan, dầu có tự mệnh danh nó thế nào chăng nữa vẫn luôn luôn và hoàn toàn phản hiệu quả nên không thể thành công. Đó là chưa nói đến quan điểm như thế của Mác trở miếng mồi ngon hấp dẫn những kẻ hám quyền sẳn sàng lợi dụng, coi như cơ hội ngàn đời thuận lợi để thực hành các tham vọng quyền lực của mình. Ai cũng còn nhớ thời kỳ nhà nước Liên xô đang lên cao điểm, trong nền chính trị toàn trị đó, Tổng bí thư của nhà nước đó hầu như là người duy nhất thống trị, chỉ huy một phần không nhỏ của thế giới. Đó là cũng bởi một khuynh hướng được gọi là bành trướng và bá quyền của Trung quốc lúc đó đang nổi lên, cũng như còn có các nước tư bản chủ nghĩa, nếu không và nếu Liên xô hoàn toàn chiến thắng, thì Tổng bí thư của họ cũng chẳng khác gì ông vua của toàn thế giới, chẳng khác gì kiểu một Thành Cát Tư Hãn của thời đế quốc Mông cổ ngày xưa. Đây là một thực tế, bởi vì Krutchev đã từ tụt giầy ngạo mạn gõ ầm ỉ trên bàn tại diễn đàn của Liên hiệp quốc mà không ai không biết.        

Vậy thì nói chung lại, vấn đề giàu nghèo trong xã hội, hay vấn đề phân bố giai cấp, vốn thực chất của nó như thế nào, vẫn là ý nghĩa được nhiều người, cũng như xã hội ở mọi thời, mọi nơi, luôn quan tâm hơn hết. Song khách quan mà nói, dẫu là mưa trên trời xuống cũng đâu có thể cùng một lần tưới ướt khắp trần gian. Hay dù thác nước chảy từ trên cao xuống, có bao giờ rải đều được cao thấp mọi nơi trong cùng một lượt. Cũng thế, ý nghĩa giàu nghèo trong xã hội, thực chất vẫn luôn là một sự kiện khách quan không dễ dàng tính toán được. Cào bằng mọi người, làm ai cũng tụt xuống mức tối thiểu, vẫn có thể được. Song làm tất cả mọi người đều được giàu sang tối đa trong xã hội là điều không thể thực hiện được hay hoàn toàn khó. Bởi vì đây không thể nào là bài toán chia bình quân để đạt được mức tối đa, mà là bài toán tự kết thành đáp số cho mỗi cá nhân khác nhau theo các thông số dị biệt riêng. Sự giàu nghèo nói chung do tính cách phân bố tài nguyên bởi nhiều nguyên nhân khác nhau trong xã hội. Đây là một kết quả với rất nhiều biến số khác nhau trong xã hội, khách quan có, chủ quan có, đặc thù hay ngẫu nhiên có, tức hết sức phức tạp mà không phải đơn giản gì. Yếu tố tài nguyên, yếu tố lao động, yếu tố nổ lực, yếu tố cơ may, yếu tố ý chí, yếu tố tài năng, yếu tố phận mạng, yếu tố may rủi, không phải không dự phần vào trong đó. Bởi vậy quan điểm cho rằng giai cấp vô sản sẽ giải quyết được điều này một cách tự nhiên như Mác nói, là một điều hư ảo, không cơ sở thực tế và rỗng tuếch. Bởi vì giai cấp vô sản cũng chỉ là tập hợp những con người bình thường, thậm chí là những người bị lép vế tự nhiên trong xã hội, thần thánh hóa họ để cho rằng họ mang một sứ mệnh lịch sử, có ý thức giai cấp như một động lực nổi trội, thì thật sự huyền hoặc và mê tín. Vì thực tế như trên đã nói, giá trị của mọi con người nói chung là đầu óc, học vấn, trình độ hiểu biết, tài năng riêng của mỗi người, mà không hề chỉ thuần túy do cái mác giai cấp, cho dù đó là giai cấp nào. Một lập luận phi khoa học để buộc người khác phải tin theo thật sự chỉ vô lý và không trung thực.

Cho nên ý nghĩa thực tế của xã hội, không phải là san bằng giàu nghèo, nhưng làm sao thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa mọi người trong đó sao cho hiệu quả. Đó là những biện pháp của pháp chế, của quản lý nhà nước trong thực tế, của các phương pháp khoa học cũng như kỹ thuật phù hợp trong sự vận hành chung của các mặt xã hội. Đó chính là bài toán hay giải pháp tổng hợp, thực tiển và khoa học, không phải kiểu ý thức hệ huyễn hoặc, phi lý, phi cơ sở hay mơ hồ. Bài toán này thực chất vừa nằm trên khía cạnh kinh tế xã hội, vừa nằm trên khía cạnh ý thức tâm lý và đạo đức. Nguyên nhân sự bóc lột nếu có trong các trường hợp cụ thể nào đó cũng không ra ngoài chính hai cơ sở này. Sự tạo thành điều kiện khách quan cùng sự tắt nghẽn trong ý thức xã hội và đạo đức của con người. Cho nên ý nghĩa của đào tạo giáo dục, ý thức về văn hóa và văn minh vẫn luôn luôn là điều không thể nào thiếu. Hiệu quả cao nhất của phẩm chất con người chính là ý thức tự giác, tình cảm yêu thương đồng loại thật sự, mà không bao giờ là sự tuyên truuyền ngụy tạo, giả dối hay tính chất bó buộc, ép uổng. Quan niệm dùng thủ thuật tuyên truyền giả tạo để đưa con người hướng đến những yêu cầu hay mục đích nào đó, thật sự chỉ là giả dối, phi hiệu quả, kém đạo đức, nhất là còn phản nhân văn. Bởi vì làm như thế là khinh rẻ con người, coi người khác như cỏ rác, coi xã hội như đồ không có thực chất hay giá trị, cho dù ý hướng và ngôn ngữ được bày tỏ theo cách như thế nào đi nữa. Cho nên nguyên lý của chủ nghĩa nhân văn cũng chính là nguyên lý của chính trị đạo đức. Chính trị đạo đức bao giờ cũng tự coi nó như phương tiện nhằm phục vụ mục đích nhân văn, không bao giờ ngược lại tự coi nó là mục đích để cưỡng bức nhân văn phải phục vụ lại. Mao Trach Đông có lần nói chính trị là thống soái, thật là quan điểm phản nhân văn hết sức. Trong khi đó ngay từ thời thượng cổ, Khổng tử từng nói “chính giả chính dã” (政者正也), có nghĩa chính trị phải thật sự luôn luôn khách quan, đúng đắn và chính xác. Đúng là một ý nghĩa hết sức khoa học, kể cả yêu cầu của xã hội hiện đại ngày nay. Hay như bậc đại thánh thiện Lão tử đã nói từ nhiều nhiều ngàn năm trước “使民不爭” (sử dân bất tranh, tức không khuyến khích những điều tiểu xảo trong dân). Do vậy ông cũng chủ trương “Hư kỳ tâm” (虛其心) có nghĩa tâm thức mọi người phải luôn cao cả, khoáng đạt. Bởi vì ông cho rằng chính trị hạ đẳng là chính trị chỉ coi nhân dân như chó rơm “Dĩ bách tính vi sô cẩu” (以百姓為芻狗), tức khi cần thì tâng bốc đưa lên, còn khi không cần thì chà đạp giống như con chó rơm sau khi đã cúng xong, sau khi đã thủ lợi xong. Điều này thật sự khác hẳn với quan điểm đấu tranh giai cấp của Mác đề xuất. Đồng thời ông ta còn gom chung vào một giỏ “đó là ý thức hệ, là tư tưởng của bọn tư sản”, tuy rằng đây là quan điểm hết sức nhân văn vốn đã ăn sâu vào tâm thức nhân loại cả nhiều ngàn năm trước. Trong khi đó lập luận của Mác chẳng khác gì lập luận ngụy biện, bởi vì chính bản thân ông xuất thân từ thành phần tư sản mà không hề từ giai cấp vô sản giống như cơ sở được ông vận dụng. Vậy nói điều gì không đúng cũng có khác gì sự bóc lột ý thức của người khác.

Nên quan điểm chủ nghĩa nhân văn là quan điểm luôn luôn rộng mở. Nó không nhằm chống lại hay thù địch bất kỳ cá nhân hay nhóm con người cụ thể nào. Bởi nó không chống lại con người mà chan hòa, cởi mở với tất cả mọi người. Ý nghĩa của chủ nghĩa nhân văn nhằm tới chính là mọi giá trị tinh thần, ý thức của con người. Quan điểm nhân văn chỉ bài bác điều gì sai trái hay không đúng khách quan, hướng đến tính hiệu quả thật sự của cá nhân và xã hội, hướng đến chân lý khoa học, hướng đến ý nghĩa nhân văn, đạo đức, không nhằm bài bác hay đả kích con người cụ thể cá nhân hay tập thể. Mọi con người thật sự đều không có lỗi, nhưng những điều gì sai trái trong họ mới thật sự có lỗi. Quan điểm nhân văn như vậy là quan điểm ý thức, quan điểm lý trí, quan điểm nhận thức khách quan khoa học, không phải quan điểm cảm xúc hay tình cảm tầm thường. Thăng tiến con người, thăng tiến xã hội, đó là đích điểm cụ thể, rõ ràng của chủ nghĩa nhân văn. Một xã hội lành mạnh, không tiêu cực, không xa rời với tính cách nhân văn, đó là ý hướng xây dựng của quan điểm nhân văn. Tính giải pháp của quan điểm nhân văn chính là tính khách quan, khoa học, hiệu quả, có nghĩa là quan điểm kỹ thuật chính xác, tích cực, phù hợp, hiệu nghiệm trong thực tế, không phải lý thuyết suông hay huyễn hoặc. Tiêu chuẩn lý trí khách quan, tiêu chuẩn ý thức xã hội và ý thức nhân văn chính là các yêu cầu chung cốt lõi nhất. Quan điểm nhân văn hoàn toàn không ghim về quá khứ, không ngại ngùng về hiện tại, mà mạnh mẽ hướng đến sự tin tưởng vào tương lai. Có nghĩa bất cứ người nào, cho dầu quá khứ và hiện tại ra sao, nhưng một khi đã nhìn thấy rõ, đã chấp nhận ý thức và mục đích của quan điểm nhân văn, lập tức họ đã trở thành con người, trở thành thành viên của lý tưởng của nhân văn. Có nghĩa ý thức nhân văn là mẫu số chung, là đích điểm và nhu cầu chung của tất cả mọi người, nó là tài sản, ý nghĩa  và giá trị của tất cả mọi người, không phân biệt bất kỳ một ai. Như thế, thật sự quan điểm chủ nghĩa nhân văn có thể thay thế được hẳn quan điểm chủ nghĩa Mác. Bởi vì mọi điều gì tích cực trong các quan điểm hay chủ nghĩa khác nếu có đều có thể tìm thấy chính trong lòng quan điểm chủ nghĩa nhân văn. Nó chỉ loại bỏ cái không hợp lý hay chưa hoàn chỉnh ở những cái khác, nhưng không bao giờ quay mặt lại mọi cái tốt ở tất cả mọi nơi. Quan điểm nhân văn chính là quan điểm đã nằm sâu, nằm sẳn trong ý thức tốt đẹp của tất cả mọi người, không phân biệt bất kỳ giai cấp hay nguồn gốc nào. Nó vốn đã có từ hàng ngàn năm trước, ngay trong lòng lịch sử nhân loại. Nó bàng bạc ở khắp nơi như nước trên mặt đất, như không khí trong không trung, nó cần thiết, hữu ích, sâu lắng trong tâm hồn mọi người và trong toàn thể xã hội. Không ai phát minh hay phát kiến ra nó(1). Người chấp bút đầu tiên, hệ thống hóa về nó, đào sâu thêm, hay hiện đại hóa về nó, chẳng qua giống như người đi chợ thu thập mọi cái gì cần thiết người ta đã bán sẳn mà mình muốn mua, hay giống như một kiến trúc sư, một kỹ sư xây dựng, chỉ kiến tạo một ngôi nhà nào đó từ mọi chất liệu cần thiết, phù hợp vốn đã có sẳn trên đời. Nên đây là thành quả từ mọi tinh hoa chung, là thành tựu của mọi ý thức tốt đẹp chung, là ý nghĩa của tất cả mọi người nhưng không phải chỉ của riêng ai.

Cho nên ý nghĩa của liên kết nghề nghiệp cũng là ý tưởng hiện đại thay cho quan niệm giai cấp xã hội. Mọi nghề nghiệp luôn luôn cần thiết và đều có ý nghĩa cũng như giá trị như nhau. Đó là sự phân công khách quan tự nhiên của xã hội tùy theo sở thích năng lực, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể trong thực tế của mỗi người. Sự phân công này luôn luôn sinh động và có thể biến đổi. Không ai có thể bị buộc chặt mãi vào một giai cấp hay sự phân tầng xã hội của mình. Nghề nghiệp luôn luôn là chỉ là sự liên đới hay tổ chức hợp tác theo chiều ngang. Kể cả nó có thể liên lạc từ xã hội này qua xã hội khác hay liên thông trên toàn cả thế giới. Cho nên ý nghĩa nghề nghiệp hay lao động hữu ích là ý nghĩa chính yếu mà không phải là ý nghĩa nhà nước hoặc chính trị. Điều này cũng có nghĩa là xã hội hóa nhà nước, trí thức hóa và nhân văn hóa chính trị, mà không phải chính trị là thứ quyền lực chuyên đoán hoặc hà khắc xưa nay. Dân chủ tự do trở thành môi trường mà tất cả mọi người công dân đều có thể thoải mái thật sự tham gia vào. Xã hội nhân văn là mục tiêu hướng tới, mà không phải chỉ là kiểu xã hội được tổ chức theo mô hình hình thức hay thuần túy công thức nào đó, nhưng lại vốn mệnh danh là chủ nghĩa xã hội. Giá trị hay ý nghĩa con người không phải chỉ được nhấn mạnh theo ý nghĩa quyền lợi kinh tế, vật chất trên quan niệm thuần túy duy vật như Mác đã làm, mà chủ yếu còn nhấn mạnh và đề cao ý nghĩa tinh thần, nhân văn, mà cụ thể là ý nghĩa văn minh, văn hóa mà con người bao giờ cũng phải luôn luôn có. Chính con người thật, xã hội thật, không hề giả tạo, là định hướng cần thiết nhất mà quan điểm xã hội nhân văn luôn luôn hướng tới. Quan điểm nhân văn là quan điểm yêu cầu một phương pháp luận khoa học mang tính khách quan, cụ thể và thực tế nhằm đưa nền kinh tế của xã hội tiến lên. Nó phải là sản phẩm trí tuệ, ý thức và ý chí của tất cả mọi người, không phải chỉ là quan điểm hay quyền hạn độc quyền của riêng ai. Công bằng xã hội cũng là yêu sách cần thiết mà mọi người đều phải có quyền và có mục đích góp phần giải quyết một cách hiệu quả, linh hoạt và tích cực nhất. Xã hội, văn hóa, khoa học kỹ thuật, đời sống mọi mặt nói chung, đều được phát triển một cách khách quan, tự do, không bị bóp méo, hay khống chế dưới bất kỳ khía cạnh nào. Đó mới chính là ý nghĩa và thực tế mọi người đều cùng làm chủ xã hội, trong ý thức liên đới, hợp tác, bình đẳng, tự do, dân chủ, xây dựng, tích cực, phù hợp với mọi yêu cầu khách quan trên toàn thế giới, mà không phải chỉ là đặc quyền hay đặc lợi của bất kỳ cá nhân, giai cấp hay nhóm cá nhân nào.

Tất cả mọi điều đều được diễn ra trong tinh thần khách quan khoa học, công khai, trong sáng, không bị che giấu, giả tạo, ngụy tạo hoặc bóp méo điều gì. Đó cũng chính là tinh thần mà hàng ngàn năm trước bậc chí nhân của xã hội Trung hoa ngày xưa từng nói “Cô bất cô, cô tai! cô tai!” (觚不觚,觚哉,觚哉), có nghĩa mọi điều gì đều phải gọi đúng danh xưng khách quan của nó; không phải trái bầu thì đừng nên gọi là trái bầu, mọi vật khác cũng vậy. Đó cũng là lý thuyết hay nguyên lý được gọi là “chính danh” (正名) tức luôn luôn phải nói đúng, làm đúng, hay trung thực về tất cả mọi điều. Đó cũng còn là ý nghĩa quan trọng về hành động mà Khổng tử đã rút ra khi ông nói “Danh bất chính tắc ngôn bất thuận, ngôn bất thuận tắc sự bất thành”, có nghĩa nói ra điều gì mà không đúng với sự thật khách quan thì lời nói sẽ trúc trắc, lời nói trúc trắc thì thật khó mà nên việc được (名不正則言不順,言不順則事不成). Đây thật sự là câu nói sáng giá cho bất kỳ người hành động nào, cho dù bất kỳ phạm vi ra sao. Cho nên mọi tính khách quan, trung thực, mọi giá trị, ý nghĩa đúng đắn và khoa học luôn luôn cần thiết.

Cuối cùng, để kết luận, xin nói thêm rằng bài viết này là đứng trên quan điểm tư duy khoa học. Nó nhằm lý giải và chứng minh khách quan mọi luận điểm có thực. Tất nhiên nếu còn có những khía cạnh chủ quan hay võ đoán nào đó, chắc hẳn là ngoài ý muốn và điều không thể tránh khỏi, kể cả nó cũng có thể gây kinh ngạc, hoặc cả việc gây ‘sốc’ nhất định cho một số người. Bởi vậy, cũng rất mong mõi và sẳn sàng đón nhận mọi ý kiến phê phán, hoặc mọi sự phản biện ngược chiều có thể đến từ bất kỳ đâu, nếu có.

 

VÕ HƯNG THANH                                                                                                

(01/02/2011)                                  

 

**

 

NÓI VỀ MỘT XÃ HỘI TỰ DO, DÂN CHỦ VÀ NHÂN VĂN

 

Một xã hội tự do là xã hội trong đó mỗi cá nhân không bị khống chế, tướt đoạt hay ngăn trở một điều gì. Mỗi người đều được quyền tự phát triển bản thân mình một cách tối đa. Một xã hội dân chủ là xã hội trong đó không một lực lượng nào đứng cao hơn bản thân của mỗi người dân. Không ai được quyền thay thế người khác trong ý chí riêng của họ. Mọi tiếng nói của họ đều phải được tôn trọng, không ai được quyền nói thay người khác nếu không được họ đồng ý hay cho phép trong bất cứ trường hợp nào.

Trong cách định nghĩa tự do và dân chủ như thế, rõ ràng hai khái niệm tự do và dân chủ luôn đi đôi với nhau hay phải có cùng nhau. Có cái này tất có cái kia, cả hai cái đều có song hành, không cái nào triệt tiêu cái nào, ngược lại chúng bổ sung nhau một cách thật sự khách quan và tự nhiên không thể nào khác được. Dân chủ nói lên quyền bình đẳng và sự tôn trọng lẫn nhau trong thực tế giữa mọi người, và tự do nói lên ý thức làm người và sự cùng tôn trọng giữa mọi người với nhau trong xã hội. Nói như vậy có nghĩa không thể nào có sự lạm dụng lẫn nhau giữa mọi người trong các yêu cầu tự do và dân chủ. Lạm dụng có nghĩa mình được tự do làm điều gì mà người khác lại không có quyền làm được. Sự mất tự do của mỗi người như vậy cũng là sự mất dân chủ đối với người đó, hay sự mất tự do của mọi người cũng là sự mất quyền dân chủ của tất cả mọi người.

Như vậy rõ ràng tự do và dân chủ không phải chỉ là tính cách, bản chất, hay yêu cầu về thuộc tính, mà còn là cái quyền của mỗi công dân. Công dân có nghĩa mọi cá nhân sống họp thành một cộng đồng xã hội, như trong một nhà nước cụ thể nào đó chẳng hạn. Có nghĩa mọi cộng đồng xã hội đều hợp thành bởi những công dân, do vậy quyền dân chủ tự do luôn luôn bắt buộc phải có hay đó là những quyền bất khả xâm phạm. Bởi hai quyền này bảo đảm sự bình đẳng và sự hợp tác tự nhiên giữa tất cả mọi người là thành viên của xã hội đó. Mất tự do dân chủ cũng là mất sự bình đẳng, mất sự hợp tác tự nhiên, chỉ còn lại sự khống chế, bó buộc hay sự cưỡng bách. Có nghĩa nó cũng mang tính cách thủ tiêu ý chí độc lập riêng của tất cả mọi người, thủ tiêu mọi ước vọng chính đáng, khách quan, thủ tiêu cả ý nghĩa, giá trị làm người cao nhất và chính đáng nhất của họ. Bởi không có tự do, dân chủ cũng có nghĩa là phụ thuộc, nô lệ hay lệ thuộc vào người khác. Lệ thuộc vào mệnh lệnh, ý chí, ước muốn, lệ thuộc vào các cách bó buộc nào đó của người khác, khiến họ không còn hoàn toàn được tự do, độc lập theo các ý muốn chính đáng của mình được nữa.

Ở đây nhất thiết phải phân biệt xã hội với chính trị, phân biệt hành chánh, luật pháp với các yêu cầu chung nhất về cộng đồng, xã hội. Xã hội là sự kết hợp chung về nhiều mặt trong yêu cầu đời sống cộng đồng khách quan của tất cả mọi người. Chính trị là yêu cầu hoạt động có tổ chức nhằm hướng đến những mục tiêu cụ thể nào đó nói riêng của những con người trong xã hội. Tất nhiên nền tảng của chính trị là xã hội mà không phải hoàn toàn ngược lại. Hành chánh, luật pháp cũng là những yêu cầu tự nhiên chung của xã hội, mặc dầu phần nào đó nó có bị sự tác động trực tiếp bởi quyền lực chính trị. Bởi quyền lực chính trị luôn luôn được cụ thể hóa ra bởi guồng máy chính quyền, nó nắm giữ hay điều khiển cả nền hành chánh, mặc dầu cả hai không hoàn toàn đồng nhất hoặc thay thế được cho nhau. Đây chính là những điều đáng nói nhất, bởi vì không phải ai ai cũng có thể nhận thấy, nhất là những công dân phổ thông, tức những thành phần xã hội thuộc bộ phận bình dân hay những con người quần chúng bình thường. Nói khác đó là những thành phần dân dã, không có sự hiểu biết cao hơn hay không có ý thức vượt lên cao hơn các thành phần thông thường khác, nói khác đó là những người không có chuyên môn cao và cũng không có sự hiểu biết cao về các chuyên ngành tri thức nói chung.

Đây là một thực tế. Bởi vì không phải mọi người trong xã hội đều có các trình độ chuyên môn cao hay đều có các trình độ hiểu biết ngang nhau nói chung. Nói khác đi, bất kỳ xã hội nào thành phần đại chúng nói chung cũng đông đảo, còn thành phần hiểu biết, trí thức phần lớn chỉ là thiểu số hay không nhiều lắm. Điều này dĩ nhiên vì nó luôn luôn phụ thuộc vào điều kiện đời sống, nổ lực riêng của mỗi cá nhân liên quan, đó là chưa nói đến mục tiêu, cá tính, ý chí, hay tính cách về đời sống của từng người. Mặt nào đó, nó cũng là kết quả do điều kiện xã hội, điều kiện giáo dục của mỗi nước qua mỗi thời kỳ nhất định. Song nói cho cùng, nếu khối đông đảo quần chúng là chất liệu của nền kinh tế, chính thành phần thiểu số trí thức lại là chất liệu hay đầu tàu của văn hóa, của phát triển khoa học kỹ thuật, lại là động lực hay sức đẩy quan trọng nhất của nền kinh tế. Bởi vậy xét cho cùng, lãnh đạo xã hội về mọi mặt nói chung vẫn là các tầng lớp trí thức, dù họ có ở trong chính quyền hay không ở trong chính quyền. Bởi vì các yếu tố thông tin, tri thức được thâm nhập và kết tinh rộng rãi về mọi phương diện trong xã hội vẫn phải bắt nguồn từ họ. Do đó, kiểu nói giai cấp nông dân hay giai cấp công nhân lãnh đạo xã hội thực chất chỉ là cách nói tuyên truyền, giả tạo, thậm chí mị dân. Lý do vì những người nằm trong chính quyền, tức được đào tạo hành chánh hay chuyên môn đến một khả năng cần thiết, cụ thể nào đó, đều cơ bản thoát ly giai cấp nguồn của họ, tức thoát ly sản xuất trực tiếp trong guồng máy kinh tế nói chung về mọi ngành nghề mà các người bình thường khác đang tham gia. Đó là lẽ đương nhiên, bởi chức vụ càng cao càng thoát ly sản xuất, có nghĩa mọi người làm hành chánh, tham gia bộ máy quản lý nhà nước chuyên nghiệp, những người trong guồng máy chính trị chuyên nghiệp, tất yếu đều thoát ly khỏi giai cấp nguyên thủy của họ. Ngoài ra, không nhất thiết người xuất thân từ giai cấp nào sẽ đều nhất định luôn sống chết bảo vệ cho giai cấp đó. Bởi khi thoát ly giai cấp, thì ý nghĩa chính của họ là nhiệm vụ chung trong guồng máy, đồng thời mọi góc độ nhìn cũng có thể phụ thuộc vào tính cách riêng của cá nhân cũng như nó có thể thay đổi theo sự chuyển biến riêng trong hoàn cảnh sống của người đó.

Nhưng thật ra, nói đến các yêu cầu tự do dân chủ trong xã hội không phải nói đến các ý niệm hoàn toàn trừu tượng, tách biệt với thực tế. Tự do dân chủ có nghĩa là phục vụ đời sống, đáp ứng yêu cầu tự nhiên của đời sống thực tế mà không là gì khác. Cho nên một nền kinh tế thị trường, một nền thương mại tự do chính là những yếu tố cơ bản của tự do dân chủ trong xã hội, mà không phải là nền kinh tế chỉ hủy theo kiểu kế hoạch hóa hoặc những nền kinh tế tập thể theo kiểu bao cấp, chuyên đoán mà có người cho đó là nền dân chủ gấp cả triệu lần. Bởi theo nguyên tắc, khi nhà nước không hoàn toàn khống chế mọi hoạt động kinh tế thì có nghĩa cũng đã tôn trọng hay nhường chỗ phần nào cho kinh tế thị trường. Mà kinh tế thị trường cũng có nghĩa là thương mại tự do, không phải kiểu phân phối giả tạo, máy móc các sản phẩm được làm ra trong xã hội từng được thực hiện một số nơi trên thế giới trong quá khứ mà mọi người đều biết. Với kinh tế thị trường và thương mại tự do, cơ bản đã có sự tự do nào đó trong nền kinh tế, điều đó cũng có nghĩa tất yếu đã có những khía cạnh tự do dân chủ nào đó về mặt kinh tế xã hội, mặc dầu không thể nói đã có về mặt nhà nước hay chính trị. Đó chính là điều không nền nhầm lẫn hay đánh đồng giữa xã hội và chính trị, giữa hành chánh và kinh tế như trên kia đã có nói. Ý nghĩa của điều này thực chất cũng chính là không phải tất cả mọi cá nhân trong xã hội đều quan tâm đến các yêu cầu tự do, dân chủ, hay đều quan tâm đến chính trị. Điều đó còn tùy thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện sống của mỗi người, tùy thuộc vào thói quen, cá tính, ý thức, mục đích sống, kể cả khả năng, trình độ hiểu biết, tính cách văn hóa và tri thức cũng như ý nghĩa nhận thức của mỗi người. Nói khác đi, các tính chất này không hoàn toàn chỉ phụ thuộc vào thành phần giai cấp, mặc dầu điều đó có phần nào cơ bản, mà chủ yếu phụ thuộc vào ý nghĩa của chất lượng đời sống, hay yếu tố văn hóa và ý thức tinh thần riêng của mỗi con người.

Nói như thế cũng có nghĩa ý nghĩa và yêu cầu của tự do, dân chủ là ý nghĩa về văn hóa, tinh thần, ý thức, mà đồng thời cũng là ý nghĩa về nguyên lý, nguyên tắc cho toàn xã hội. Hai vế này đi đôi với nhau, hạ thấp về nào tức cũng hạ thấp ý nghĩa, hiệu quả và giá trị của xã hội nói chung. Bởi lẽ trên nguyên tắc mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng, sự mất dân chủ và tự do cũng có nghĩa là sự thủ tiêu hay đánh mất chính yêu cầu và nguyên lý tự do, bình đẳng tự nhiên này. Thế nên, thật sự chỉ có thực tế dân chủ, tự do mới phát huy được tất cả quyền, năng lực, tinh hoa của tất cả mọi cá nhân trong xã hội. Sự mất tự do nói chung, sự bị khống chế hay bị lũng đoạn, tính cách phi dân chủ hay phản dân chủ trong xã hội, hay mọi sự độc tài, độc đoán của cá nhân, tập thể hoặc thiểu số nào đó nắm quyền, từ cổ chí kim, thật sự chỉ phát huy hay có lợi cho thiểu số mà không thể phát huy được đầy đủ hoặc có lợi cho đa số. Nguyên tắc tự do, dân chủ chính là nguyên lý hay yêu cầu chung của toàn xã hội mà không phải chỉ của bộ phận hay các thành phần nào. Nói như vậy cũng để thấy rằng các thành phần hay các giai cấp yếu kém trong xã hội luôn luôn cần được quan tâm, hỗ trợ và giúp đỡ họ, không thể để mặc cho họ. Trước hết chính những con người trong các thành phần đó phải ý thức về quyền lợi chính đáng của thành phần mình, tức có nghĩa vụ phải bảo vệ, dẫn dắt, đấu tranh về các nguyên tắc và lợi ích của tự do, dân chủ cho những người cũng yếu kém như mình, bằng mọi cách nào đó mà chính mình ý thức được. Trước hết là như thế, sau đó đến mọi thành phần trong xã hội, dù ở trong giai tầng hay giai cấp nào khác, nhưng vì trách nhiệm xã hội, trách nhiệm chung của con người, nhất là những người hiểu biết, có ý thức, biết nguyên tắc, cần phải để tâm tranh đấu, hậu thuẫn, giúp đỡ họ, đó mới chính là ý nghĩa nhân văn, ý nghĩa văn hóa, ý nghĩa xã hội, ý nghĩa cộng đồng thật sự.

Tất cả những yêu cầu này là hoàn toàn thực tế, nó mang ý nghĩa khoa học, ý nghĩa trí thức, ý nghĩa đạo đức và ý nghĩa thực tiển. Bởi vì nếu hiểu chỉ có giai cấp nào mới đấu tranh cho giai cấp đó, rõ ràng đã rơi vào quan điểm đặc thù trong ý niệm đấu tranh giai cấp của Mác. Đúng ra, trong xã hội luôn luôn có sự đấu tranh về quyền lợi một cách cụ thể, cần thiết, chính đáng hay không chính đáng trong nhiều trường hợp giữa các cá nhân. Đó chỉ là hiện tượng tự nhiên, nói chung của con người và của xã hội, vì thuộc vào quy luật sinh học, quy luật sinh tồn mà ai cũng biết. Nhưng nếu khái quát hóa điều đó trở thành quy luật máy móc và phổ biến, thậm chí phạm trù hóa nó ra thành các giai cấp đối kháng nhất định theo kiểu quan niệm “biện chứng” về lịch sử xã hội một cách máy móc, huyền hoặc, cả tin hay giáo điều, thì thật qua khích, nhiễu động, không khoa học hay không thực tế. Có nghĩa những điều này cần phải được xem trên các góc độ kinh tế học, xã hội học, văn hóa học, tâm lý học, sinh học, thực tiển học, mà không nên đưa vào ý nghĩa của ý thức hệ một cách siêu hình, võ đoán, định kiến và giả tạo. Có nghĩa con người và xã hội luôn luôn cần phải được nhìn trên khía cạnh nhân bản, nhân văn, không thể nhìn duy nhất trên khía cạnh thuần túy vật chất, thuần túy sinh vật, để có một quan niệm xã hội thật sự tầm thường, máy móc, lạnh lùng, nghiệt ngã, chuyên đoán, không cụ thể, thực tế, mà trở nên trừu tượng, khó hiểu, phủ nhận mọi thực tại khách quan trong đời sống để cho đó là quy luật tuyệt đối đúng, duy nhất đúng, khiến trong thực chất chỉ làm phương hại đến con người và xã hội như mọi người đều biết mà chính lịch sử khách quan đã không thể nào phủ nhận hay chối bỏ được.

Nên nói khác đi, ý nghĩa của việc phủ nhận tự do dân chủ một cách khách quan, tự nó là gì, đó là điều cần nên phân tích. Trong lý thuyết của Mác, căn cơ của việc này chính là Mác coi khái niệm tự do dân chủ như trên đã nói, hay coi khái niệm tự do dân chủ theo nghĩa cổ điển, chỉ là tự do dân chủ của tư sản, tức tự do dân chủ kiểu tư sản trong xã hội tư sản. Mác coi nó chỉ là sản phẩm lịch sử của giai cấp tư sản, của xã hội tư sản, không quan trọng và cần thiết cho giai cấp vô sản, cho xã hội vô sản trong tương lai mà ông hướng đến. Có lẽ đây là cơ sở để những người mác xít cho rằng nền dân chủ vô sản là nền dân chủ hơn cả triệu lần nền dân chủ tư sản là như thế. Thực tế hơn cả triệu lần đâu không thấy, nhưng cụ thể qua các thời kỳ của Stalin, Mao trạch Đông, Khmer đỏ, và nhiều nơi khác nữa trên thế giới trước đây xảy ra rất nhiều những hiện tượng, những sự kiện phi nhân mà ai cũng rõ, và cuối cùng tất yếu cũng đã dẫn đến sự sụp đổ của Liên xô, khối Đông Âu, sự kết thúc của chế độ diệt chủng Khmer đỏ mà không ai không biết. Vậy nên mọi ý nghĩa của việc khẳng định suông, một chiều, bất chấp thực tế, chỉ là những thái độ vô ý thức, phản xã hội, không khách quan khoa học, thực chất chỉ mang tính vụ lợi, ích kỷ, chỉ cốt nhắm sao cho được phần mình, tức là quyền lợi thực tế của cá nhân mình, nhưng vẫn mệnh danh là giai cấp, là con người, là xã hội. Chính vì thế mà thực tế hiện thực của lịch sử đã trả lời tất cả. Ngày nay không còn bất kỳ một nền kinh tế bao cấp nào của dạng thức trước đây trong lịch sử. Tất cả đều theo chiều hướng cải cách, đổi mới, mở cửa, quay lại với kinh tế thị trường một cách mạnh mẽ, thậm chí còn hổn loạn, quả thật hoàn toàn trái hẳn lại những ý niệm trước đây của Mác đã từng một thời coi như nguyên lý vàng của lý luận kinh tế xã hội. Có nghĩa chính những giá trị thật sự khách quan, khoa học mới luôn là những chuẩn mực vàng, những thước đo đúng đắn của tri thức loài người, còn mọi cảm tính, chủ quan, thiên kiến, cho dù một thời được thổi phồng lên một cách giả tạo, cuối cùng không phù hợp với tiến hóa, với xu thế tự nhiên của lịch sử, cũng đều bị vượt lên hay dẹp bỏ. Đây chính là ý nghĩa về tự do, dân chủ như ngay từ đầu đã nói. Nền tảng của nó là bản thân con người, là nguyên lý hay nguyên tắc hữu dụng, khách quan của xã hội, không thể chỉ dựa trên những cảm hứng nhất thời, những lý luận sai nguyên tắc, phi thực tế của bất kỳ các cá nhân cụ thể nào trong lịch sử.

Thế cho nên nhân văn vẫn là ý nghĩa sâu xa nhất của con người và xã hội. Nhân văn là trở lại với con người cụ thể, thực tế trước nhất, con người giải tỏa mọi ý thức hệ giả tạo, độc đoán, con người phi ý thức hệ tiền chế, con người được giải phóng ra khỏi mọi ý thức hệ xa lạ với con người thực tế, hiện thực. Quan điểm nhân văn là quan điểm khách quan, duy nghiệm. Tức lấy thực tại đời sống làm cơ bản, lấy thực tế đời sống làm nền tảng, lấy hiện thực làm chân lý thực tế, ra khỏi mọi mây mù ảo tưởng, không nhầm lẫn giữa trần gian và ý nghĩa siêu thực, không mắc mứu vào mọi ảo tưởng phi thực của cuộc đời, tức quan điểm nhân văn là quan điểm khoa học thật sự cụ thể khách quan, quan điểm con người bằng xương bằng thịt, quan điểm về một xã hội nhân bản, hiện thực, xã hội của những con người hiện thực, có tình cảm, có lý trí, có ý thức, có tri thức cụ thể, xác đáng, không mê muội, không ảo tưởng, không mơ hồ, huyền hoặc, tức không sống trên mây, trên một thế giới ảo vọng khác không phải bản thân của chính cuộc đời cụ thể và thực tế hàng ngày. Dân chủ, tự do trong xã hội nhân văn là dân chủ, tự do có thực, thiết yếu, cần thiết, không phải là thứ bánh vẽ hay ảo giác, ảo tưởng. Đó là tính dân chủ, tự do giữa những con người hoàn toàn cụ thể, thực tế, hiện thực, không phải giữa những bóng ma phi thực tế của những con người. Những bóng ma đó là những con người lảo đảo, say sưa, mê đắm, cuồng tín trong bầu ý thức hệ không thật. Con người ý thức hệ thực chất chỉ là những con người giả, những giả nhân (pseudo-man), hoàn toàn không phải những con người tự nhiên, khách quan, cụ thể và hoàn toàn hiện thực. Trong tính cách của xã hội nhân văn, ý nghĩa của dân chủ, tự do phải chính là bản chất khách quan, tự nhiên, không có điều kiện hay không cho phép bất cứ một ai, một tập thể nào có thể lợi dụng để thực hiện sự độc đoán, độc tài. Bởi vì như vậy là tự chối bỏ tính nhân văn, đi ngược lại bản chất tự nhiên, đi ngược lại nguyên tắc khách quan tự nhiên của tính nhân văn.

Thật ra con người sinh ra đời trước tiên là trong trạng thái bình đẳng, tự do và dân chủ. Nhưng trạng thái đó hãy còn là trạng thái của hoang dã, của thiên nhiên, tức trạng thái vô chính phủ trong xã hội. Thế thì sự kết hợp thành cộng đồng, thành xã hội của con người là cần thiết phải có, nhưng phải hiểu đó là nhằm củng cố, bảo vệ, phát huy ý nghĩa bình đẳng, tự do, dân chủ ban đầu, không phải thủ tiêu hoặc đi ngược lại nó để rơi vào chỗ chuyên đoán, độc tài. Đây chính là điều sâu xa, vi tế nhất mà những đầu óc nông cạn, tiêu cực rất khó thấy hay hoàn toàn không rõ. Bởi họ cứ nghĩ xã hội cần phải có quyền lực mạnh, cần phải chuyên đoán mới ổn định được trật tự, nếu không sẽ trở thành hổn loạn. Đó là sự suy nghĩ giản đơn và nông cạn, bởi phần nào nó có nghĩa là thay tính hoang dã này bằng tính hoang dã khác cao hơn, nhưng có khi còn tệ hơn. Đó chính là tình trạng bộ lạc đi lên phong kiến, từ phong kiến đi lên quân chủ chuyên chế, rồi từ nền dân chủ tự do theo cách phổ biên, đi tới nền chuyên chính ý thức hệ theo quan điểm cuộc cách mạng vô sản toàn thế giới mà Mác đã từng nghĩ đến. Đây là sự phát triển, tính tích cực, hay chỉ là bề trái, tính tiêu cực của lịch sử và xã hội, mọi người đều có thể tự do suy nghĩ và nhận thức. Bởi lẽ tại sao từ mông muội xã hội loài người lại chuyển sang bộ lạc. Đó chính là yêu cầu phát triển về mặt tổ chức của xã hội. Tính tổ chức hoàn toàn là tính khách quan, thiết yếu, không thể không có, đó là nguyên tắc phù hợp với quy luật cần thiết đi lên, với yêu cầu phát triển khách quan, tự nhiên chung. Tương tự như vậy, từ bộ lạc đến xã hội phong kiến cũng thế. Đó chỉ là sự tiến triển về mặt lịch sử đối với các hình thái xã hội phù hợp với tình thế, yêu cầu khách quan phải có. Bởi xã hội càng mở rộng, nhưng vẫn chưa thống nhất được, mặc dầu không thể chỉ quá đơn giản, sơ khai, thì hình thái phong kiến là thực tế phát triển tự nhiên. Chính yêu cầu tổ chức của xã hội, yêu cầu thống nhất của từng địa bàn xã hội đơn lẻ, cụ thể làm phát sinh ra nó mà không là gì khác. Mác cho rằng chính do sự phát triển của kinh tế làm chuyển biến và tạo nên các hình thái xã hội mà không là gì khác. Nói như vậy không sai, nhưng chỉ đúng một phần mà không đúng hoàn toàn. Bởi vì trong bản thân hay cấu trúc của mọi sự vật, có những thành phần hay yếu tố thiết yếu nào đó, nhưng cũng không thể cường điệu nó trở thành thành phần hay yếu tố khuynh loát, mang tính quyết định duy nhất. Kinh tế là một trong các yêu cầu tự nhiên của xã hội, nhưng không có nghĩa kinh tế là mục tiêu duy nhất. Bởi như đã có nhiều lần nói, Mác luôn luôn nhập nhèm hay nhầm lẫn, đánh đồng giữa mục đích và phương tiện. Yêu cầu chính yếu của xã hội, cá nhân con người là yêu cầu phát triển về đời sống mọi mặt, tất yếu trong đó phải có phương tiện vật chất, công cụ kinh tế, nhưng mục đích kinh tế không phải là bản năng hay mục tiêu duy nhất và tối hậu. Sở dĩ Mác luôn luôn nhấn mạnh vào khía cạnh kinh tế, bởi vì quan điểm của ông là quan điểm thuần túy duy vật, coi giá trị con người không gì ngoài ý nghĩa vật chất (Materie), nên cũng không gì ngoài ý nghĩa kinh tế (ekonomikus).

Trở lại ý nghĩa thực tế của lịch sử, như trên đã nói, xã hội không thể là xã hội phi tổ chức, phi chính phủ, đó là ý nghĩa và yêu cầu của sự xuất hiện bản thân chính quyền dầu bất kỳ trong thời đại nào. Ngay cả khi một xã hội bị ngoại xâm, cũng không thể nào trở về với trạng thái vô chính phủ, phi chính quyền mà chỉ là chính quyền cũ bị thay vào một chính quyền mới, bị sáp nhập vào một chính quyền mới, theo ý nghĩa bị xâm lăng của nó, mà không thể chỉ là sự triệt tiêu hay tiêu diệt hoàn toàn xã hội cũ đó. Ý nghĩa lịch sử của sự hình thành các quốc gia, sự tan rã các quốc gia trên toàn thế giới từ cổ chí kim đều luôn luôn như thế. Thế cho nên các trạng thái xã hội, hay các hình thái xã hội nói theo Mác, thực tế cũng chỉ là các hình thái chính quyền mà không là gì khác. Tính cách khác thường trong cách suy nghĩ của Mác là chỉ chăm chắm tin vào quy luật biện chứng của Hegel để dùng đó làm bửu bối, làm đơn vị đo lường, khuôn khổ chung nhằm lý giải và giải quyết mọi sự. Đó chính là nền tảng của lý thuyết đấu tranh giai cấp của Mác. Nhiều người không hiểu, chỉ nhìn bề ngoài, tưởng rằng ý nghĩa đấu tranh giai cấp của Mác chỉ là đấu tranh quyền lợi tự nhiên, chính đáng của các giai cấp đang mâu thuẫn, nhất là yêu cầu cần thiết của các giai cấp bị thất thế, bị thua thiệt, thậm chí bị bất công, áp bức. Nếu chỉ nghĩ đơn giản như thế quả thật là lầm to. Bởi vì Mác hoàn toàn không quan tâm đến những điều nhỏ nhặt tự nhiên đó, ý của ông là tin vào quy luật phát triển biện chứng tự nhiên của lịch sử theo cốt lõi của tư tưởng Hegel về khái niệm biện chứng mà ông mê đắm, để cho rằng xã hội loài người từ trạng thái vô sản ban đầu, đi đến phản đề của nó là xã hội tư sản, và cuối cùng đi đến hợp đề của nó là xã hội vô sản trong tương lai mà ông gọi là xã hội cộng sản khoa học. Đó là lý tưởng và mục tiêu đấu tranh trong toàn bộ cuộc đời của Mác, trong toàn bộ hệ thống lý thuyết của ông ta.

Thật ra đây là sự suy nghĩ rất giả tạo của Mác. Quy luật biện chứng của Hegel là ý nghĩa hoàn toàn duy tâm. Đem một yếu tố duy tâm áp dụng vào cho bản thân duy vật, đó chính là sự vô lý hay điều nghịch lý ngay ở nền tảng ban đầu. Đây là một điều hoàn toàn khiển cưỡng, giả tạo, không tương thích và không hiệu nghiệm. Đó là chưa nói quan điểm thuần túy duy vật tự bản chất nó là quan điểm phi nhân văn mà nhiều người ít thấy. Đây cũng là điều phi lý hay nghịch lý khác trong Mác là lý tưởng giả nhân văn cũng như khởi điểm phi nhân văn trong nhận thức về xã hội và con người lại cùng được kết tập với nhau trong chính ý nghĩa hệ thống học thuyết của ông. Cho nên con người vô sản ban đầu thực chất là trạng thái con người chưa hoàn toàn thành người mà vẫn còn ở trạng thái tự nhiên, hoang dã. Chính tài sản hay công cụ đời sống là yếu tố quan trọng hàng đầu đưa con người thoát ly thế giới sinh học thuần túy buổi đầu để tiến lên thế giới nhân văn, thế giới con người mà không là gì khác. Cho nên ý nghĩa vô sản nó giống như tâm thức muốn trở về với trạng thái tự nhiên ban sơ muôn thuở, hay thực chất nó chỉ là một ảo ảnh, một tính chất không tưởng trong một xã hội cộng đồng luôn luôn thực tế và hiện thực của những con người. Nói khác đi, thực chất quan điểm kinh tế xã hội của Mác chỉ là quan điểm triết học tư biện của Hegel trá hình mà không là gì khác. Mác cho rằng mình lật ngược Hegel lại, vì ông này đi ngược đầu, nên phải giúp trở lộn ngược lại đi trên chân. Đây đúng ra chỉ là một ảo tưởng hay một ngụy biện của Mác. Bởi thật sự, hệ thống duy tâm của Hegel không phải là người đi lộn ngược như Mác đơn giản nghĩ một cách tầm thường, mà chỉ là một người đi trên mây. Đi trên mây tức là không liên quan gì đến thế giới cụ thể, thực tế này. Thế mà từ phạm trù đi trên mây Mác lại chuyển thành phạm trù đi lộn đầu của Hegel đúng là sự suy nghĩ không chính xác hay hoàn toàn không có cơ sở. Cho nên quan điểm lật ngược Hegel lại mà Mác đưa ra là quan điểm hoàn toàn ảo tưởng mặc dầu ông cho đó là một phát hiện kỳ tích nhất của mình. Từ đó cũng có thể nói lý thuyết kinh tế xã hội của Mác cũng chỉ là lý thuyết ảo tưởng, phi thực tế, phi giá trị.

Vậy mà vì quá tin cậy vào lý thuyết “biện chứng” (Dialektik) của Hegel, Mác cũng đi đến chủ trương sự độc tài hay chuyên chính vô sản (Diktatur des Proletariats) coi như giải pháp không thể thiếu để xây dựng xã hội vô sản trong tương lai theo sự mong muốn của mình. Mác đã từng nói trong bộ sách then yếu của ông, bộ Tư bản luận (das Kapital) rằng nếu không có hay loại đi ý nghĩa biện chứng của Hegel, lý thuyết của ông cũng không còn động cơ vận động. Nhưng nói như vậy có nghĩa hệ thống tư duy của Mác cũng chỉ là hệ thống tư duy của Hegel được duy vật hóa. Đây là một điều hết sức phi lý, bởi việc biến đổi bản thân một sự vật khách quan chỉ hoàn toàn bằng suy nghĩ mà không có cơ sở hay phương tiện cụ thể, thật sự cũng chỉ là ảo tưởng. Nói chung Mác vẫn không thoát ra khỏi phạm vi ảnh hưởng, phong tỏa, hay không thoát ra khỏi phạm trù của chính Hegel. Ý nghĩa duy vật của Mác trở thành ý nghĩa duy tâm phi cơ sở, tức nó còn tệ hơn tính cách duy tâm từ bản nguyên, vì trở nên hoàn toàn phi thực tế và nghịch lý. Đem một quan điểm triết học thuần túy tư biện để áp dụng vào cho kinh tế chính trị học hoàn toàn cụ thể, thực tế, đây không những là sự nhầm lẫn tai hại mà còn là một ảo tưởng có một không hai của Mác. Mác bất chấp mọi tính cách khách quan, tự nhiên của xã hội, bất chấp mọi quy luật tâm lý khách quan tự nhiên của con người. Mác phủ nhận Hegel những thực ra vẫn rơi vào hay không thoát ra tầm ảnh hường nơi cái “bẫy” của Hegel, giống như một điện tử không bao giờ thoát ra khỏi sức hút của hạt nhân nguyên tử, sự lóe sáng nhất thời tức sự sản sinh ra hạt photon của nó chẳng qua chỉ là sự bứt ra chốc lát quỹ đạo thường rồi lại trở về với trạng thái nguyên sơ như cũ. Sự lật ngược Hegel mà Mác quan niệm đích thật chỉ là một ảo tưởng không cần thiết, giống như ở trong không gian mà tưởng rằng có thể thoát ly ra khỏi không gian, trong khi điều thiết yếu là phải trở về mặt đất mà không thể chỉ bám đuôi con người Hegel chỉ mãi mãi chuyển động trên chín tầng mây.

Thế thì quy luật cuộc đời cần phải luôn là quy luật thực tế. Phải luôn luôn dùng thực tế khoa học khách quan, hiệu quả để giải quyết thực tế mà không thể chỉ ảo tưởng trên bình diện triết học. Triết học thật sự chỉ là phạm trù tư duy đặc biệt của con người, nó hoàn toàn không thể thay thế được cho thực tế, cũng không được phép thay thế cho thực tế bởi như thế là điều hoàn toàn vô lý. Thế giới siêu hình, thế giới trừu tượng, thế giới tư duy vẫn luôn là những phạm trù riêng của nó. Thế giới cụ thể, thế giới hiện thực, thế giới khách quan vẫn luôn là những phạm trù riêng của nó. Các dung môi dầu với nước vẫn có thể tồn tại song hành nhưng không bao giờ hòa lẫn với nhau được. Chỉ chuộng cái này mà loại bỏ cái kía hay muốn hợp nhất cả hai lại với nhau là điều hoàn toàn hời hợt, ấu trĩ, nông cạn và hoàn toàn phi lý. Nên đại thể, Mác là người muốn chơi nghịch như thế, giống như một cậu bé nghịch ngợm nhưng tự tin và chỉ muốn hoàn toàn quyết đoán. Chính vì vậy mà quy chuẩn trong cuộc đời thực tế không gì khác hơn là các quy chuẩn khách quan, khoa học. Nếu đời sống là mọi sự phân công của xã hội con người trong thực tế, thì trong phạm vi tri thức, phạm vi nhận thức của con người nhất thiết cũng phải có sự phân công rạch ròi như vậy. Không thể lẫn lộn giữa triết học và khoa học thực nghiệm, không thể lẫn lộn giữa khoa học lý thuyết và kỹ thuật trong cụ thẻ, không thể lẫn lộn giữa khoa học tự nhiên, chính xác cùng với khoa học nhân văn và xã hội v.v… và v.v… Chính những sự lẫn lộn đại loại như thế làm cho thực tại chỉ thêm rối nhùi, biến thành trạng thái tẩu hỏa nhập ma, biến thành những sự nhiễu loạn trong tư duy và trong thực tại. Cái gì của Xê-da hãy trả về cho Xê-da, đó là một nguyên tắc hoàn toàn công bằng và thực tế. Mọi vấn đề kinh tế xã hội chính trị của con người hay trả về với các phạm trù kinh tế học thuần túy, xã hội học thuần túy, chính trị học thuần túy, đó đều là những phạm trù khoa học và kỹ thuật nhân văn hoàn toàn cụ thể, khách quan, hiện thực, không thể sa vào mãi các ảo ảnh ý thức hệ hoàn toàn phi lý và không thực tế.

Thật ra, nếu quy luật “biện chứng” của Hegel về mặt triết lý khoa học là điều hoàn toàn không thể chứng minh một cách khách quan, cụ thể, xác đáng được, thì chính bản thân khái niệm ý thức hệ (Ideologie) của Mác đưa ra cũng giống như thế. Quy luật biện chứng của Hegel thật ra chỉ là một cảm thức mang tính tư biện, không hoàn toàn đầy đủ, bao quát hoặc chính xác về mặt cụ thể, khách quan khoa học. Quan niệm “ý thức hệ” của Mác cũng chỉ là sự phỏng đoán, suy diễn tư biện, khi cho rằng hạ tầng cơ sở tạo nên hay phản ánh sang thượng tầng kiến trúc. Mác cho rằng mọi ý thức của con người về tinh thần, pháp quyền, văn hóa, thậm chí đến cả nghệ thuật, tôn giáo … tức không loại bỏ điều gì về mặt ý thức, tinh thần trừu tượng đều chỉ là sản phẩm hư ảo của thực tại đời sống kinh tế, nói đúng ra đều là sản phẩm phụ sản sinh ra do đấu tranh giai cấp trong xã hội. Điều này thực sự chỉ là quan điểm duy vật quá mức của Mác. Bởi vì tất cả chỉ là vật chất trong tồn tại của thế giới thì có gì ngoài ra vật chất đâu mà đó không phải là sản phẩm, là sự phản ánh, là sản phẩm thừa, sản phẩm phụ của các đấu tranh quyền lợi về giai cấp. Quan điểm của Mác quả là phủ nhận tính nhân văn, tính đa dạng, tính phong phú vô cùng của bản thân hay chiều sâu ý thức con người. Bởi thế giới chỉ có vật chất thì làm gì có lý tưởng, cần gì có lý tưởng. Bởi nếu quy luật biện chứng là hoàn toàn diễn tiến tự nhiên thì cần gì phải tranh đấu, cần gì phải nổ lực xây dựng nó trong thực tế, cần gì phải cầm đèn chạy trước ô tô. Đó là những điều hoàn toàn trái ngược, phi lý, nghịch lý mà chính Mác không hề lý giải mà rất nhiều người chắc cũng không hề thấy. Bởi vậy quan niệm muốn thực hiện triết học trong cuộc đời của ông quả là quan niệm nông nổi, cũng như quan niệm cho rằng tôn giáo là thuốc phiện ru ngủ quần chúng của ông đưa ra phần nào đó cũng lệch lạc, thiếu sót, không đầy đủ, giống như quan niệm của ông cũng trở thành thuốc phiện ru ngủ quần chúng mà sau này ông không hề hay biết.

Nói chung lại, loài người phải rời bỏ mọi cái phiêu lưu, ảo tưởng, không thực tế để trở về với xã hội nhân văn hiện thực hoàn toàn khách quan, thực tế, hiện thời cũng là xu thế tất yếu của thời đại. Sự toàn cầu hóa, sự hội nhập toàn cầu, đó là một minh chứng. Con đường mở cửa, con đường đổi mới, con đường hội nhập, đó là yêu cầu thiết yếu của mọi đất nước ngày nay không thể ai đi ngược hay tìm cách cản trở được. Cái thế giới đại đồng ảo tưởng trong lý thuyết của Mác giờ đây đã được thay thế bằng thế giới toàn cầu hoàn toàn cụ thể, khách quan và thực tế. Đây không phải là sự bành trướng của đế quốc, sự lũng đoạn của các tập đoàn đa quốc gia như đã rất từ lâu trong giai đoạn trước kia các luận điều, các ngôn ngữ tuyên truyền kiểu chính trị thô kệch một chiều đã không ngớt không buông tha quần chúng về các ý đồ che giấu, ngụy tạo của mình. Cho nên sự tuyên truyền không đúng đắn, lừa đối, rõ ràng phản nhân văn, phản xã hội, chỉ rất tiếc có nhiều thành phần trong xã hội loài người vẫn cố tình, dụng ý, hoặc hoàn toàn không nhìn thấy. Thật ra, yêu cầu tổ chức của xã hội và yêu cầu lạm dụng, xâm đoạt sự tổ chức của xã hội vẫn luôn luôn có. Đây quả thật là một bi kịch trong bản thân đời sống của xã hội loài người. Hình thành một đất nước mạnh, có trật tự, có hiệu quả, có tổ chức phù hợp vẫn là điều mà các bậc minh quân trong lịch sử trên thế giới vẫn thường làm, vẫn có thể thành công và được nhân dân ủng hộ. Nhưng bên cạnh đó, quyền lực xã hội, quyền hành nói chung, vẫn không phải không có nhiều trường hợp lọt vào trong tay các bạo chúa, thậm chí cà trong tay những kẻ bất tài bất lực, kể cả đàn bà và sự dựng hình trẻ con, do guồng máy quyền lực đã trở thành thô bạo, nghiệt ngã, vượt lên trên mọi ý nghĩa tinh thần hữu lý, vượt ra ngoài mọi ý chí khách quan bình thường, nên cũng không bất kỳ ai ngoài chính nhóm cầm quyền hay cá nhân cầm quyền đó mới có thể làm thay đổi được. Những bài học lịch sử thực tế đó luôn luôn xảy ra ở mọi thời, mọi nơi trong lịch sử bất kỳ quốc gia dân tộc nào vẫn là những sự kiện thực tế khi điều kiện hoặc hoàn cảnh đặc thù nào đó cho phép, vì phần lớn các cá nhân con người không ai không có tham vọng không có lòng ích kỷ, không có các dục vọng tầm thường, để đến khi cờ đến tay ai thì nấy phất.

Có nghĩa có nhiều sự vật trên đời luôn luôn mang tính hai mặt. Cả ý nghĩa của sự tổ chức, của chính quyền hay của quyền hành cũng tương tự như vậy. Đó là nhu cầu cần thiết của trật tự xã hội, của pháp luật, của công lý, nhưng nó vẫn có thể là miếng mồi ngon của các tham vọng, của bản năng dục vọng riêng tư nói chung mà ai cũng thấy. Bởi nếu mọi con người đều được độc lập, tự do, dân chủ, thì quả thật khó có ai có thể lợi dụng hoặc áp đặt điều gì đó được. Nhưng khi xã hội đã được tổ chức hẳn hòi, tức có chính quyền, có quyền lực chung, tất nhiên lại rất có thể rơi vào tay các cá nhân hay các nhóm người độc đoán. Điều này từ các đế chế lớn trên thế giới như La mã, Trung hoa ngày xưa đều hoàn toàn thấy rõ. Các bạo chúa như Caesar, Tần Thỉ Hoàng … thật sự cho thấy điều đó. Cho nên sự tổ chức xã hội quá chặt chẽ đúng là con dao hai lưỡi. Nó rất hay bị lạm dụng và có thể bị lạm dụng bất kỳ trường hợp nào khi xã hội mất đi tính vương đạo, trở thành bá đạo, hay nói theo ngôn ngữ ngày nay khi toàn dân mất hết mọi ý nghĩa của quyền dân chủ, tự do. Sự tổ chức xã hội quá chặt chẽ cũng giống như sự tạo nên một cục sắt, hình thành nên một mảng beton, đan thành một tấm lưới thép, trong đó mọi cá nhân giống như rơi vào mạng tinh thể, phải gắn chặt vào đó không thể nào hay không cách nào thoát ra được. Đây chính là một trạng thái xã hội phi nhân, phản nhân văn mà ai cũng có thể thấy được, và như thế cũng có thể nhận thức được yêu cầu tự do, dân chủ của xã hội và cá nhân con người thật sự quan trọng và cần thiết như thế nào. Bởi vì tính cách linh hoạt của không khí là sự tự do của các phân tử trong lòng nó, tính cách lưu hoạt của chất lỏng, của nước, cũng phần nào là tính cách tự do tương đối của các phần tử tạo nên chúng, đó là cơ sở của sự sống, nhưng một tảng beton, một cục sắt, một tấm lưới thép thì hoàn toàn ngược lại, không bao giờ có được sự sống tự nhiên, bình thường, đúng nghĩa trong đó cả.

Mác chủ trương một xã hội chuyên đoán, sự chuyên đoán được mệnh danh giai cấp, quả là điều tai hại, và thực chất nó là yếu tố bảo thủ, phản động trong tư tưởng của ông, chẳng khác gì tư tưởng bảo hoàng, cái nhìn cứng nhắc, thậm chí hệ thống tư tưởng đầy bảo thủ, phản động của Hegel mà Mác đã hoàn toàn bị ảnh hưởng. Ý nghĩa giai cấp của Mác thực chất chẳng qua là ý nghĩa của quy luật biện chứng do Hegel đưa ra, mà ông chỉ hoàn toàn tiếp thu, sử dụng lại nó một cách hết sức chủ quan, thô kệch và máy móc. Ý thức giải phóng nhân loại của Mác trở thành ý thức nô lệ nhân loại, là điều hoặc vô tình hoặc cố ý, hoặc có nhận thức hoặc không có nhận thức mà chính ông đã mắc phải. Cho nên mối quan hệ giữa nguyên tắc hay nguyên lý khách quan với thực tại là điều thật sự vô cùng quan trọng. Sự diễn đạt một thực tế khách quan đặc thù không phải là quy luật trở thành tính quy luật là một điều hoàn toàn tai hại. Ngược lại, sự sáng nghĩ ra các sự vật trái ngược với quy luật tự nhiên nhằm vận hành nó trong thực tế tự nhiên cũng phản tác dụng và phi lý không kém. Điều này chẳng khác gì lắp một chiếc xe bánh vuông cho là hợp lý và hết sức cố gắng và nổ lực đẩy nó đi. Sự khiêng một chiếc xe như thế, khiêng chính người cầm lái chiếc che đó quả thật là khôi hài như có thời kỳ toàn dân Trung quốc phải phải cùng hè nhau khiêng chính người cầm lái vĩ đại là Mao Trạch Đông, để cuối cùng quyền hành cung đình lại lọt vào tay bè lũ bốn tên mà đứng đầu là Giang Thanh, không ai khác hơn là vợ sau của ông ta. Nói những điều này chẳng phải lạc đề hay thêm mùi vị cho câu chuyện mà chính là nhằm chứng minh một cách cụ thể, sống thực cho ý nghĩa câu chuyện về nhân văn, về sự tự do và dân chủ.

Cho nên kết luận lại, chính quan điểm nhân văn, quan điểm tự do dân chủ khách quan tự nhiên mới là quan điểm đúng đắn nhất của tất cả mọi người. Ý  nghĩa của nó ở đây là ý nghĩa hoàn toàn khoa học, hợp lý và thực tế, không hề cường điệu, không hề bóp mép hay giả tạo nào, bởi vì mọi cái gì khách quan tự nhiên đều không thể nào làm như thế được. Nói khác đi, quan điểm nhân văn là quan điểm của tất cả mọi người có các suy nghĩ tự nhiên và hợp lý, nó thoát ly mọi ý nghĩa quá khứ, mọi hoàn cảnh hiện tại của mỗi con người, để cùng tiến tới những con người phổ quát, không phải ở mỗi hoàn cảnh không thời gian, ở mỗi quốc gia mà còn cả trên toàn thể cộng đồng quốc tế, không phân biệt bất kỳ sự dị loại đặc thù nào, miễn rằng cùng có được những tâm hồn, ý thức và các mục tiêu nhân văn cao cả, để có thể cùng chia sẽ với nhau, cùng hỗ trợ, kết hợp cùng nhau, nhằm vào mọi lợi ích chung và nhằm hướng đến tương lai tốt đẹp chung. Đó là ý nghĩa thống nhất của tính nhân văn hay mục đích nhân văn với các yêu cầu tự do và dân chủ cần thiết và khách quan là như thế. Xã hội còn bất công, sự nghèo đói còn phổ biến, đó là vì tính hiệu quả của xã hội chưa được thực sự đẩy lên cao lắm. Nhưng đó lại là nghĩa vụ, bổn phận, thậm chí là mục tiêu chính đáng, cần thiết của tất cả mọi người. Sự phát triển của xã hội, lịch sử, mỗi đất nước cũng giống như sự phát triển của một cái cây. Cần phải có sự nhịp nhàng, toàn diện và đồng bộ, không thể chỉ nghiêng về mặt nào, cường điệu một mặt nào, hay sẳn sàng hi sinh vô lý về những mặt nào. Không thể vì những cành khô, lá héo, những bộ phận nào đó èo uột, còi cọc mà mà bứng hẳn gốc cây lên trồng lại theo kiểu khác giống như việc xóa bài làm lại. Con người là thực thể giá trị tự thân cho dầu mỗi hình thức và điều kiện của nó là thế nào, đó là ý nghĩa nhân văn trong xã hội nhân văn. Và xã hội nhân văn là xã hội nhân bản, hữu lý, đặt trên nền tảng khách quan, khoa học, thực tiển, mà không hề ảo tượng, mơ màng, huyễn hoặc trong bất cứ khía cạnh hoặc thực tế nào. Xã hội nhân văn chính là xã hội con người hoàn toàn cụ thể, thực tiển, những lý tưởng và mục tiêu của nó là những lý tưởng nhân bản, đạo đức tự nhiên, mà không phải sự tưởng tượng, huyền hoặc hay ảo tưởng. Trong tính cách đó, những bài viết này(1) vô tình chỉ là một trách nhiệm, một nghĩa vụ tự nhiên của một con người đối với xã hội loài người nói chung, cũng như đối với đất nước của mình nói riêng. Có thể đây là một người Việt Nam đầu tiên lên tiếng phê phán học thuyết Mác một cách toàn diện, sâu xa, bao quát và thẳng thắn nhất, đồng thời cũng là lần đầu tiên hệ thống hóa một cách chính xác, cụ thể, khách quan, đầy đủ về ý nghĩa của quan điểm chủ nghĩa nhân văn, khả dĩ góp được phần nào làm sáng tỏ về yêu cầu cần thiết, đích thực của tính chất dân chủ, tự do trong xã hội con người, theo một cách nhìn đúng đắn, khách quan, thực tiển, phù hợp và tích cực nhất.

 

   VÕ HƯNG THANH

   (30/01/2011)

 

**

 

TƯ SẢN – VÔ SẢN – CỘNG SẢN

 

Các khái niệm tư sản, vô sản, cộng sản không phải đến ngày nay không còn có những người nhất định nào đó hãy còn mơ hồ, băn khoăn hoặc lờ mờ. Đó là vì những danh từ này đã được nói đến quá nhiều, nhưng nói theo kiểu tuyên truyền một chiều, mang tính hình thức, không chính xác, nội dung cũng có quá nhiều nhập nhằng qua từng trường hợp, từng giai đoạn lịch sử, nên nói chung có thể còn nhiều ý nghĩa nội dung hay cách nói chưa thật sự chính xác, xuyên suốt, chưa thật sự khách quan, đầy đủ, đó mới là điều đáng nói nhất.

Thật ra ba khái niệm này có thể nói chỉ xuất hiện đầu tiên với sự xuất hiện của chủ thuyết Mác (thê kỷ 19) và thật sự chủ yếu cũng chỉ gắn liền với nội dung lý thuyết của chủ nghĩa Mác. Tư sản theo Mác có nghĩa là giai cấp có tài sản, tư hữu. Vô sản là giai cấp thợ thuyền không có tài sản, không có tư hữu về phương tiện sản xuất. Cộng sản là xã hội lý tưởng và cao nhất của loài người trong tương lai theo Mác quan niệm, là xã hội mọi người đều là vô sản, tức không có tư hữu, không cần tư hữu, đặc biệt là công cụ sản xuất, vì tất cả của cải đều là của chung của xã hội, không còn nhà nước, không còn pháp luật, không còn thương mại, không còn tiền tệ, bởi cũng không còn việc sản xuất hàng hóa, không còn phân công lao động khách quan, tự nhiên theo kiểu cổ điển, mà tất cả là sản xuất tập thể, hoàn toàn tự giác, tự nguyện, ban đầu làm theo khả năng hưởng theo lao động, cuối cùng làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, vì mọi của cải lúc đó đều thừa mứa, ai cũng có thể vừa lao động tự nguyện, vừa thưởng thức đời sống một cách tự do, không có khuôn khổ nào bó buộc từ bên ngoài nữa, hình ảnh lý tưởng (hay tưởng tượng) đó được Mác cho là xã hội cộng sản khoa học.

Sở dĩ Mác cho đó là xã hội cộng sản khoa học, bởi vì theo ông nó tiến hóa theo luật “biện chứng” khách quan của lịch sử mà không phải chỉ do ý muốn thuần túy của con người tạo nên như các khái niệm cộng sản mà ông cho là không tưởng (utopique) của các thời kỳ cổ điển đã có trước đó. Mác cho dự báo của mình là dự báo khoa học, bởi vì ông tin tưởng tuyệt đối vào lý thuyết được gọi là biện chứng (Dialektik) của Hegel. Mác nói nếu không có quy luật biện chứng khách quan thì học thuyết của ông cũng không thể có được, không có nghĩa gì, vì học thuyết của ông là học thuyết của Hegel lật ngược lại, tức tức một học thuyết thuần túy duy tâm chuyển thành một học thuyết thuần túy duy vật. Nguồn gốc của loài người là do từ loài vượn người (Ăngghen), chính khả năng lao động biến nó thành người. Đồng thời cũng nhờ quy luật biện chứng duy vật và biện chứng lịch sử mà nền sản xuất tư bản chủ nghĩa (tư hữu trong tư liệu sản xuất) nhất thiết phải chuyển thành nền sản xuất cộng sản chủ nghĩa (tuyệt đối công hữu trong tư liệu sản xuất, dẹp bỏ mọi quyền tư hữu), đó chính là nguyên nhân, ý nghĩa và mục đích của cuộc cách mạng vô sản hay cuộc cách mạng cộng sản trên toàn thế giới.

Lý luận của Mác y hệt một kiểu lý luận toán học hay một kiểu lý luận theo lô-gích hình thức (logique formelle). Tức từ một tiên đề ban đầu nào đó rồi suy diễn ra nguyên hệ thống, không cần tham chiếu thực tế, không cần lật lại tiên đề, chỉ cần suy diễn thuần túy theo lô-gích trừu tượng, tức theo kiểu tư biện (spéculativement). Điều này chẳng khác gì câu chuyện ngụ ngôn cô Mariette và cái bình sữa. Nó cũng không khác mấy với những hình thức suy luận theo các kiểu tam đoạn luận đã từ ngàn xưa được Aristote đề ra, rồi thực chất nó vẫn mãi đứng nguyên tại chỗ, bởi vì thật sự chỉ hoàn toàn có tính hình thức không thể cập nhật được với muôn vàn dị biệt cụ thể, chuyển biến và đổi thay trong thực tế với vô vàn khía cạnh hết sức phong phú của chính bản thân cuộc sống khách quan, hiện thực và cụ thể hàng ngày. Mác chỉ có biết tin vào “phép biện chứng” của Hegel, nhưng chưa hề bao giờ phân tích sâu thêm về chính kết cấu của quy tắc biện chứng này, thậm chí không thấy rằng chuyển một nguyên lý này thành một nguyên lý khác mà bản chất hoàn toàn trái ngược nhau chỉ có thể là một điều tuyệt đối mâu thuẫn, nghịch lý, bất tương thích về mặt thực tế cũng như về mặt lý luận. Đó là việc đem râu ông nọ cắm cằm bà kia hay việc gọt chân theo giầy là điều mà Mác đã thực hiện một cách đầy đủ nhất trong chính tác phẩm xương sống của ông, bộ Tư bản luận (das Kapital).

Vậy thì chúng ta hãy trở lại với thực tế. Tư sản là gì ? Tư sản hay tư hữu là có tài sản riêng, tài sản cá nhân và cũng có thể cả công cụ sản xuất. Tài sản là của cải vật chất hữu ích mà cá nhân hay tập thể con người làm ra hoặc tích lũy được từ những nguồn khách quan nào đó của tự nhiên. Ngay từ thời mông muội, con người đã biết tích lúy các tài hóa, đó là các khuynh hướng và nhu cầu thực tế tự nhiên, đó vừa như bản năng vừa như một phán đoán lý trí theo cách khách quan. Nói chung lại, tài vật là công cụ, là phương tiện thuận lợi, cần thiết đáp ứng, phục vụ nhu cầu mà không là gì khác. Nó không bao giờ là mục đích tối hậu mà chỉ là phương tiện. Đó chính là yêu cầu của sự tiện ích, của sự cần thiết nào đó phải có, mà tự bản thân nó thật sự không là gì cả. Bởi mọi tài hóa khi tiêu dùng đều có thể hao mòn và mất đi. Nó luôn luôn phải được tích tụ mới, làm ra mới, đáp ứng thêm các nhu cầu mới, đó là cách phát triển tự nhiên của cá nhân và xã hội, tài hóa không bao giờ vĩnh cửu hay bất biến. Thử tưởng tượng nhiều người cùng sử dụng một tài vật nào đó, trước hết đó hoàn toàn là sự bất tiện, sau hết nó khó được bảo quản, gìn giữ. Đó là lý do nền tảng nhất của mọi yêu cầu về tài sản chính đáng mà mỗi cá nhân hay những tập thể xã hội nào đó cần luôn luôn phải có. Sở hữu luôn bao hàm sự tiện ích, tính hiệu quả, ý nghĩa tự do, cùng là sự tiết kiệm nhất. Chính sự hiểu sai lầm hay không phân biệt giữa tính mục đích và tính phương tiện đã khiến đi đến sự phủ nhận tư hữu, lên án tư hữu, đòi hủy bỏ tư hữu. Đó là điều hoàn toàn phi lý và không có cơ sở khách quan, bởi vì làm như thế cũng là phủ nhận luôn cả nguyên lý khách quan của sự sống, của các quy luật đời sống. Ngay trong bản thân sinh học, mỗi tế bào, mỗi cơ quan, mỗi bộ phận hoặc cũng phải tự có, hoặc phải dựa một cách thuận lợi nơi một nguồn cung cấp năng lượng nào đó. Các kết cấu của trứng, củ, hay của cơ quan dự trữ năng lượng cụ thể nào đó trong bản thân mỗi sinh vật đều cho thấy rõ ràng nguyên tắc tự nhiên cần thiết đó.

Ngay về phương diện tư liệu sản xuất cũng vậy. Mọi phương tiện hay công cụ sản xuất hiệu quả hầu hết đều không thể tự có trong tự nhiên. Đó là kết quả của sự tìm tòi, sáng tạo, khám phá, và tạo dựng nên của chính bản thân con người. Từ cái thô sơ như việc ghè đá, cần câu, cung tên, lao, mác, hầm, bẫy … đều do chính con người tạo ra. Đó trước hết là sáng kiến đầu tiên nơi mỗi cá nhân, từ đó nó mới thành phổ biến, có nghĩa tài sản xuất hiện ban đầu phải từ cá nhân rồi mới đi đến tập thể. Hiểu tài sản trước hết là tài sản chung của cộng đồng người nguyên thủy là cách hiểu hời hợt, hình thức, không có chiều sâu, không có thực tế. Xã hội nguyên thủy cộng đồng hay cộng đồng người nguyên thủy, chỉ là xã hội quần tụ hay phát triển tự nhiên, hoang dã, thế nhưng Mác lại mệnh danh đó là xã hội “cộng sản” nguyên thủy, đó quả thật là điều hoàn toàn nhầm lẫn về mặt lô-gích cũng như thực tế nhận thức. Cộng có nghĩa là đã có rồi mới cộng lại. Ở đây chưa hề có khái niệm tài sản, chưa hề có tài sản riêng lấy gì đâu mà cộng. Phạm trù cái chưa có và phạm trù cái có là hoàn toàn khác nhau. Cái hạt mầm duy nhất khi chưa có rừng cây, và rừng cây đã có về sau là hai điều hoàn toàn khác. Sự nhập nhằng, nhầm lẫn cả hai điều này thật quả là hời hợt và non nớt.

Thế nên phương tiện hay công cụ sản xuất công nghiệp là hoàn toàn chưa có khi sự phát triển nền khoa học kỹ thuật hãy còn chưa có mặt. Sự phát kiến ra máy hơi nước, đó là cái mốc đầu tiên quan trọng được đưa ra ứng dụng trong đời sống một cách thành công và kết quả nhất. Công nghệ sợi ở Anh vào cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 là cơ sở đầu tiên để nền sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển, đó là điều mà chính Mác cũng đã mô tả. Nhưng giới công nhân và giới chủ thì đầu tiên xuất hiện từ đâu nếu không phải cùng từ trong các tầng lớp xã hội vốn có. Sự phân biệt hay phân hóa này là do từ đâu, có ai đưa ra phạm trù nào để bắt buộc hay phân biệt cho họ. Đó chỉ là sự phát triển khách quan tự nhiên theo từng hoàn cảnh và điều kiện cụ thể nội tại, tự thân cũng như ngoại tại hay xã hội của mỗi con người. Sự tích lũy tư bản tất nhiên là điều kiện tiên quyết của sự đầu tư và phát triển công nghiệp. Sự huy động tư bản có thể là do nhà tư sản nhưng không phải chỉ bắt buộc luôn luôn như vậy. Nguyên tắc các công ty cổ phần vẫn là điều đã được biết và được sử dụng từ lâu trong lịch sử nhân loại. Có nghĩa mọi hiện tượng khách quan, thực tế trong lịch sử không hẳn phải theo những nguyên tắc thiết yếu, tiền định nào đó cả, mà có khi chỉ là sự đột phát hoặc kết quả ngẫu nhiên. Những sự tích lũy lao động xã hội từ trạng thái hoang dã, qua thời kỳ nô lệ, thời kỳ phong kiến, thời kỳ quân chủ, và đến thời kỳ tư bản, liệu có phải là sự liên tục hay không, chẳng có ai dám chắc. Nói khác đi, lịch sử nhân loại trải qua các thời kỳ, giai đoạn hoàn toàn là sự tự nhiên, khách quan. Quy vào đó thành những công thức như “các hình thái xã hội” theo kiểu trật tự tiền chế hoàn toàn, đó quả là một sự chủ quan, khiên cưỡng, giả tạo, có định hướng và có ý đồ dẫn dắt. Có nghĩa đối với Mác, từ xã hội cộng sản nguyên thủy, đến xã hội tư sản, tư bản chủ nghĩa, cuối cùng là xã hội vô sản hay cộng sản khoa học, như một quy luật khách quan, tất yếu tự nhiên, theo nguyên lý biện chứng của Hegel như trên kia đã nói.

Mác lên án nền sản xuất hay xã hội tư bản chủ nghĩa, bởi vì ông phản đối tư hữu, đồng thời cũng cho đó chỉ là giai đoạn phản đề tất yếu của tam trình biện chứng nói chung do ông đưa ra : cộng sản nguyên thủy – tư bản chủ nghĩa – cộng sản mác xít. Mặt khác, ý nghĩa trụ cột của sự phản đối hay lên án này là vì Mác kiệt liệt nhấn mạnh đến ý niệm bóc lột và ý niệm giá trị thặng dư. Theo ông xã hội loài người từ nguyên thủy đến nay chỉ là xã hội đấu tranh giai cấp. Chỉ có hai giai cấp cơ bản thay thế nhau không ngừng là giai cấp thống trị và giai cấp bị trị, tức giai cấp chủ và giai cấp tớ. Nhưng ông không nói tại sao có sự thay đổi luôn luôn đó, nguyên nhân khách quan nào và nguyên tắc cụ thể thế nào. Đúng ra ông chỉ căn cứ vào niềm tin cốt lõi nơi quy luật “biện chứng” của Hegel. Đối với Mác, chính tư hữu tạo ra giai cấp, gây nên đấu tranh giai cấp, sự bóc lột giá trị thặng dư cũng xuất phát từ đó và do nguyên nhân đó. Ông cũng đưa ra một nguyên tắc tính toán giá trị thặng dư hay công thức về sự bóc lột, nhưng thật sự đó cũng chỉ là công thức hết sức máy móc, khô cứng và giản lược. Ngay cả cuối cùng ông cũng không phủ nhận sự tích lũy tư bản là cần thiết để đầu tư và phát triển sản xuất xã hội, nhưng khăng khăng lại ông vẫn chỉ muốn phủ nhận phạm trù tư hữu và gắn vào đó bản thân của sự bóc lột và giá trị thặng dư, cho là nguyên nhân của giai cấp, của mọi tệ trạng xã hội nhằm đi đến xã hội vô sản, xã hội không giai cấp mà ông tiên liệu.

Quan điểm kinh tế học của Mác, quan điểm kinh tế xã hội, quan điểm lịch sử xã hội, hay quan điểm kinh tế chính trị mà ông chính thức gọi, thật ra chủ yếu vẫn chỉ là quan điểm triết học tư biện. Hai chân của nó là biện chứng pháp của Hegel và quan điểm xã hội học không tưởng cổ điển như ông vẫn thừa nhận. Ông cho các quan điểm cộng sản cũ, tức quan điểm cộng sản có trước ông chỉ là không tưởng, vì chúng đều chưa áp dụng quy luật biện chứng của Hegel, còn quan điểm cộng sản của ông là quan điểm cộng sản khoa học, vì nó làm điều ngược lại, tức vận dụng chính quy luật mà theo ông là tuyệt đối đúng đắn và khách quan đó. Trong tính cách đó, Mác không hề chú trọng yếu tố tích lũy tư bản như là điều kiện cơ bản của phát triển xã hội. Quan điểm của ông ít nhiều vẫn là quan điểm cào bằng, có nghĩa là quan điểm phi giai cấp, phi cấu trúc tự nhiên của xã hội, mà ông cho đó là hoàn toàn không cần thiết và giả tạo. Quan điểm của Mác đúng là quan điểm lý tưởng hóa thực tế, phủ nhận khách quan thực tế, tức cũng có nghĩa là quan điểm trừu tượng, không tưởng hay phi thực tế. Lý do vì ông không để ý tới cơ cấu tâm lý nơi ý thức con người. Phủ nhận quy luật tâm lý khách quan cũng là phủ nhận chính thực tại đời sống, đó là điều Mác hoàn toàn chủ quan nên không ngờ tới. Mọi sự sống đều có quy luật riêng khách quan nội tại của nó. Đó là quy luật sinh học, quy luật về quần thể xã hội, nhất là ở người nó còn là quy luật tâm lý học phổ biến, cộng đồng và cá tính, là điều Mác rất ít khi hay có thể nói hầu như không nhắc đến. Ông chỉ nhấn mạnh hay thế thế vào đó bằng một thực tại khác, thực tại hoàn toàn không có trong thực tế, chỉ do ông tưởng tượng ra, đó là ý thức giai cấp, coi ý thức giai cấp của giai cấp công nhân như là động lực, động cơ để phát triển lịch sử, là sứ mạng của lịch sử.

Cũng bởi vậy mà các nguyên tắc cơ bản nhất trong kinh tế học đúng nghĩa như nguyên tắc quản lý sản xuất, nguyên tắc tái đầu tư, nguyên tắc năng suất, nguyên tắc tái phân phối, nguyên tắc cộng hiệp hay hợp đồng, nguyên tắc giao dịch tiền tệ, nguyên tắc sản xuất hàng hóa, nguyên tắc điều phối và mở rộng thị trường, nguyên tắc phân công lao động, nguyên tắc tự điều chính trên phạm vi vĩ mô v.v… và v.v… hình như ông không hề tham bác đến. Mác chỉ có nhấn mạnh khu khư trong phạm vi giao dịch hay trao đổi vi mô trong kinh tế. Bởi vì cũng chính đây là nền tảng để ông chứng minh, xác định tính trạng bóc lột lao động và giá trị thặng dư mà ông vẫn luôn luôn quán triệt và nhấn mạnh. Ông không nghĩ rằng ý nghĩa tiêu dùng hằng ngày của người thợ và người chủ thật sự cũng không hề khác mấy. Bởi nó không thể vượt qua ngưỡng của yêu cầu tiếp thu nặng lượng vật chất trong quy luật sinh học. Có khác là khác về mặt cơ cấu chất lượng hay cách thức chế biến của thức ăn. Về các mặt tiếp thu những tiện nghi khác về vật chất cũng vẫn phải theo đúng quy luật như thế, vì nền tảng của chúng vẫn là nền tảng các quy luật sinh học tự nhiên. Thế thì sự khác nhau căn bản nhất giữa nhà tư bản và người công nhân là gì nếu không phải là tương quan chủ - thợ. Đây chính là ý nghĩa của lao động làm thuê mà Mác đặc biệt luôn luôn nói tới. Đối với ông, nền sản xuất tư bản chủ nghĩa chỉ là nền sản xuất trên cơ sở làm thuê, trên cơ sở thuê mướn công nhân. Đó là đầu mối của thặng dư giá trị, của bốc lột, mà ông nhất tâm muốn loại bỏ. Đây cũng là ý nghĩa của nguyên tắc sản xuất tập thể do Lênin khởi xuất và được áp dụng suốt từ cuộc cách mạng vô sản 1917 do Lênin phát động cho đến khi toàn khối Xô viết của Liên xô tan rã vào cuối thế kỷ vừa rồi.

Thế thì lao động làm thuê hay không lao động làm thuê cũng là điều đáng nói đến nhất trong học thuyết của Mác. Mác kịch liệt phản đối lao động làm thuê, mà chỉ muốn mọi người đều cùng làm chủ như nhau. Điều này Lênin đưa ra thực hiện ở Liên xô sau năm 1917 với nền kinh tế tập thể nhưng thực sự không thành công mấy cũng như xảy ra khá nhiều mặt tiêu cực. Ở VN trong thời kỳ bao cấp của nền kinh tế tập thể theo mô thức của Liên xô, với khẩu hiệu mình vì mọi người, mọi người vì mình, cuối cùng bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phúc là ông Kim Ngọc để cứu vãn sự thất bại trong hợp tác xã nông nghiệp, cũng đã phải xé rào bằng chủ trương khoáng hộ và liền bị mất chức. Tục ngữ VN có nói cha chung không ai khóc, đây chính là cái ngưỡng quy luật tâm lý tự nhiên rất khó vượt qua mà Mác không hề để ý đến. Thật ra quan niệm “làm thuê” là một cái nhìn đầy tính tiêu cực cũng như thiếu sâu sắc về phương diện xã hội. Trong mọi nhu cầu cuộc sống, không bất kỳ cá nhân nào có thể tự thực hiện được hết mọi yêu cầu công việc thiết yếu cho mình. Sự kết hợp hay hỗ trợ của nhiều người khác luôn luôn thiết yếu và cần thiết. Đó là sự hợp tác hay liên kết xã hội. Còn hình thức hay tên gọi điều này lại là chuyện khác. Mác có vẻ như một người nệ thức, hay nặng về ý nghĩa hình thức, bởi vậy trở nên có phần không thực tế. Sự không phân biệt giữa ý nghĩa của mục đích và ý nghĩa của phương tiện, ý nghĩa của nội dung và ý nghĩa của hình thức, ý nghĩa của ý thức tâm lý và ý nghĩa của sự việc bề ngoài, đó có lẽ là khuynh hướng tự nhiên mà Mác luôn vấp phải. Ông phản đối kinh tế thị trường vì không nhìn thấy là khía cạnh môi trường tự nhiên của hoạt động xã hội. Thị trường đúng nghĩa chính là môi trường (milieu) của xã hội, chẳng khác gì thiên nhiên là môi trường (environnement) hay môi sinh của thế giới sinh học. Chức năng và công cụ của môi trường là điều chính yếu, cần thiết, tự nhiên, còn tên gọi hay sự biểu hiện của nó ra dưới hình thức nào thật sự vẫn là thứ yếu. Nên nói cho cùng, nếu bảo mọi người trong xã hội đều liên kết sự hợp tác cùng nhau, hay đều chỉ làm thuê một cách có hệ thống cho nhau, đều hoàn toàn đúng cả. Đó chỉ là ý nghĩa của tên gọi, của cách nhìn, của quan niệm, còn thực ra tính chất hay yêu cầu khách quan chỉ là một. Tính bới lông tìm vết phải chăng đây chỉ là một tính cách tâm lý. Bởi vì có người chủ nào mà thực chất lại không làm thuê cho một người chủ khác trong chuỗi quan hệ vô hạn giữa lòng xã hội. Đúng là Mác chỉ ưa tách một sự vật riêng lẻ ra để xem xét, trong khi lại không chú ý đến cái nhìn toàn cục.

Đó cũng là lý do từ việc đả kích quan hệ lao động được ông gọi là quan hệ “làm thuê”, ông cũng đả kích luôn mọi sự phân công tự động trên thị trường xã hội, tức đả kích nền kinh tế thị trường, đả kích việc sản xuất hàng hóa, đả kích việc sử dụng tiền tệ, nhằm quay lại với các quan hệ kinh tế hoàn toàn theo kiểu trao đổi hiện vật, là điều được Mác xem là lý tưởng, cao đẹp, nhưng nó cũng nói lên tính cách kỳ dị, khác thường, quái lạ trong các cách suy nghĩ của ông. Các yếu tố này dường như cũng nói lên rằng các cách suy nghĩ của ông có vẻ như không bình thường. Luôn luôn có sự nhập nhòe giữa khái niệm mục đích và khái niệm phương tiện, khái niệm kỹ thuật và khái niệm mục tiêu hay ý nghĩa nội dung. Bởi vậy các yêu cầu kỹ thuật luôn luôn thiết yếu và hiệu lực như sự phân công xã hội, sự tiện ích của hàng hóa, sự hiệu quả của giao lưu bằng tiền tệ, đều bị ông đả kích, sổ toẹt và lên án tuốt. Đúng ra đây là cái nhìn hết sức nệ thức, bị cây che rừng, nên gần như nó cũng không mang tính cách thiết thực, khách quan hay xác đáng. Nên trong thực tế, người hiểu biết kỹ thuật, có vốn bỏ ra ban đầu, có kế hoạch và mục đích sản xuất hàng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu cho xã hội, lại không thuê mướn lao động, chỉ kêu gọi mọi người đến cùng “làm chủ” với mình, thì thật sự hoàn toàn quái dị. Khách quan hay trung thực mà nói, sự xuất hiện của chủ tư bản cũng như công nhân lao động lúc ban đầu không thể nào khác hơn chính thực tế như thế. Bởi mọi sự xuất hiện, biến chuyển, thay đổi của tất cả mọi sự vật trên cõi đời này không phải luôn luôn không có điều kiện, không có lý do, không có tính chất hay yêu cầu cụ thể nào đó, đó là điều mà hình như Mác rất còn phi thực tế. Quan điểm của ông giống như một quan điểm đạo đức mang tính bệnh tật, vượt ra khỏi mọi yêu cầu kỹ thuật tự nhiên hay mọi tính chất khách quan cần thiết của khoa học. Cái được ông gọi là tính khoa học trong học thuyết của ông, thật ra chỉ là ý nghĩa niềm tin vào lý thuyết biện chứng của Hegel như nhiều lần đã được nói đến.

Cũng như thế mà ông phản đối khái niệm tư bản, và cũng phản đối luôn cả nền sản xuất, kinh tế, hay xã hội tư bản chủ nghĩa. Phản đối tư bản bởi vì ông chỉ muốn dừng lại nơi ý nghĩa lao động trực tiếp của con người. Ông cho rằng tư bản (Capital) là hiện thân của sự tích lũy quá khứ của giá trị thặng dư tức của sự bóc lột. Nói như vậy chẳng khác gì phủ nhận mọi kết quả và sự tiện ích của khoa học kỹ thuật, phủ nhận mọi giá trị hay ý nghĩa tích lũy lao động quá khứ của cả xã hội, tức chỉ nhìn thấy có nước mà không nhìn thấy cả dòng sông, nên các cách phân tích về lao động của Mác thật sự phần lớn có phần phiến diện, không đầy đủ, lệch lạc hoặc thiếu sót. Chẳng hạn như về ý nghĩa, giá trị của lao động, về giá trị tự thân và giá trị thị trường của lao động, về tính cách của lao động xã hội và lao động cá nhân, lao động hữu ích và lao động vô ích v.v… Tất cả những điều này có thể đem mổ xẻ ra trong cuốn tư bản luận hoặc các bản thảo về kinh tế chính trị học, về triết học mà ông đã viết. Cho nên yêu cầu công bằng xã hội của Mác nhiều khi cũng có phần quá đáng. Ý hướng cách mạng của ông quá rốt ráo, có phần quá khích, theo kiểu xóa bài làm lại ngay từ đầu hết tất cả. Trong tính chất như thế, Mác hầu như đã quên chính nguyên tắc thứ tự trước sau của thực tại. Tức cái đến sau luôn luôn xây dựng trên nền tảng của cái có trước mà không hoàn toàn ngược lại. Nguyên tắc này luôn luôn đúng trong tự nhiên và trong xã hội. Địa mạo tầng sau luôn phải đặt nền trên địa mạo tầng trước tầng trước mà không thể khác đi được. Giống như trong một sân vận động hay trong rạp hát, ai vào trước ngồi trước, khi bỏ chỗ mới đến người sau, không thể lùa tất cả ra hết để cho vào lại một lần nhằm có sự công bằng tuyệt đối. Cho nên ý niệm loại bỏ quyền thừa kế cũng là một ý nghĩ hết sức lạ lùng của Mác, vì ông cho quyền thừa kế là bất công. Nên nói cho cùng, tư tưởng kinh tế xã hội của Mác có nhiều chỗ không giống ai.

Mác quan tâm đến kinh tế xã hội nhưng có những điều rất tầm thường trong kinh tế học ông không hề nghĩ đến. Quyền sở hữu hay quyền tư hữu của nhà tư bản ông không nhìn đó như một quyền quản lý mà nhìn đó như một quyền tài sản theo kiểu tầm thường. Ông không thấy rằng hoạt động kinh tế là hoạt động không ngừng biến chuyển. Sự cạnh tranh không dứt, sự quản lý sao cho hiệu quả, yêu cầu tồn tại, phát triển nhằm tái đầu tư và đầu tư mở rộng, bởi thụt lùi, ngừng lại là phá sản, khiến cho nhà tư bản, người doanh nhân, người hoạt động kinh tế luôn luôn không bao giờ được yên nghĩ mà phải chạy vắt dò lên cổ. Quyền sở hữu của họ thật sự chẳng qua cũng chỉ là quyền quản lý. Quản lý tồi, quản lý không kết quả, có nghĩa phải lập tức cắt xén, tự tiêu, hoặc phải chuyển một phần hay toàn thể quyền quản lý đo sang cho người khác. Có nghĩa hoạt động kinh tế của doanh nhân thực chất chính là một hoạt động xã hội. Sự chuyển hóa mọi hàng hóa, sản phẩm họ làm ra đúng là một sự chuyển hóa mang tính xã hội. Của muôn phương lại trao về cho muôn phương. Hàng hóa là kết cấu của hàng hóa mọi loại đã có thành một dạng mới, chúng đến từ xã hội và cũng quay về với xã hội, bởi vì thân phận và công năng của chúng là vật phẩm làm ra cho tiêu dùng, là đối tượng sử dụng cho tất cả mọi người, không phải làm ra cho chính nhà sản xuất. Đành rằng bán xong được hàng hóa, nhà tư bản hay doanh nhân sẽ thu về được tiền tệ tức lợi nhuận. Nhưng điều đó chính yếu là phục vụ cho yêu cầu tái đầu tư sản xuất, phục vụ cho quy luật quay vòng của nền kinh tế. Có nghĩa nhà sản xuất luôn luôn phải quay vòng như cái chong chóng, vì ý nghĩa vai trò của họ chủ yếu vẫn là vai trò quản lý sản xuất, tạo ra sản phẩm nhằm tiếp tục đáp ứng yêu cầu càng ngày càng mở rộng và nâng cao lên của toàn xã hội.

Cho nên chủ trương dẹp bỏ tư hữu, dẹp bỏ thị trường, dẹp bỏ sản xuất hàng hóa, dẹp bỏ tiền tệ, nhằm trở về với nền kinh tế công hữu tuyệt đối, sự sản xuất vật phẩm trao đổi trực tiếp tuyệt đối, không thông qua cơ chế tự động của thị trường và tiền tệ, không chỉ là ý nghĩ lẩn thẩn, một mục đích hoang tưởng mà thật sự còn siêu hoang tưởng của Mác. Mác chủ trương một xã hội như thể con người  hoàn toàn thánh thiện trong tương lai. Điều đó đi trái lại với quan điểm sinh học khách quan, đi trái lại với quan điểm duy vật vốn là nền tảng ban đầu của lý thuyết Mác. Thật ra ngưỡng quy luật sinh học tự nhiên là ngưỡng không bao giờ vượt qua được của con người và xã hội thực tế. Sự giáo dục, sự tiến bộ về ý thức khi xã hội phát triển, tiến lên, chỉ có thể được canh tân, bổ sung, cải thiện, nâng cấp hơn cho các ngưỡng quy luật sinh học, bản năng, mà không bao giờ có thể triệt tiêu hay xóa nhòa được chúng. Cho rằng con người sẽ trở nên tuyệt đối thánh thiện trong xã hội lý tưởng tương lai là điều hoàn toàn ảo ảnh. Quy tắc làm theo lao động hưởng theo nhu cầu là quy tắc phi thực tế, tự nghịch lý và mâu thuẫn, bởi vì nhân số con người, yếu tố tài nguyên, sự biến chuyển bất thường của hoàn cảnh xã hội, sự không ổn định hoặc bất trắc của kỹ thuật, các tâm lý khôn lường của chính bản thân xã hội và cá nhân con người, không bao giờ có thể chấp nhận hoặc cho phép dễ dàng làm được điều ấy. Nhưng quan trọng nhất, con người không phải chỉ sống để hưởng thụ vật chất. Ý nghĩa của sự sống là bản thân chính nó, là các mục đích ý thức tâm lý hay tinh thần, cho nên sự đồng hóa hai mục tiêu khác nhau vào làm một, quả là một suy nghĩ thật sự giản đơn và nông cạn của Mác. Đó quả là một quan điểm duy vật thô thiển, một quan điểm duy tổ chức hay sính tổ chức một cách quá bề ngoài và hình thức. Bởi mục đích chính yếu hay giá trị cao nhất của con người chính là đời sống nội tâm, là ý thức chiều sâu về mọi mặt, không phải chỉ để nhằm hưởng dụng mọi tiện ích vật chất ở đời. Cái trước chính là mục tiêu, cái sau chỉ là phương tiện hay công cụ, vậy mà dường như Mác hãy còn quá lập lờ về điều đó. Đó quả là một sự nhầm lẫn không thể nào dễ dàng cho phép lướt qua cho được.

Cho nên tâm lý của Mác dường như là tâm lý nặng bề ngoài và hình thức. Đó là ông muốn nhìn xã hội về phương diện cấu trúc hình thức hơn là nhìn nó như một tập hợp của những đơn vị con người nội tâm. Quan điểm đấu tranh giai cấp trong lịch sử của Mác đúng là quan điểm vẫn còn nặng về mô thức kết cấu hay tổ chức bề ngoài. Ông chỉ nhìn đó như những mảng con người trong xã hội, mà ít quan tâm đó là những thực thể người trong xã hội. Ngoài khái niệm quy luật biện chứng còn mang nhiều tính chất mơ hồ của Hegel, Mác nhìn giai cấp xã hội hầu chỉ thuần túy là bề ngoài, là điều kiện kinh tế xã hội của những tập thể người mà không là gì khác. Thật ra khái niệm giai cấp của Mác và kể cả của Lênin vẫn chỉ là khái niệm có tính gộp chung, chưa hoàn toàn đầy đủ chi tiết về mặt cấu trúc hay tính chất. Bởi vậy Mác nhiều lần định nghĩa khái niệm giai cấp theo cách khác nhau trong bộ Tư bản luận, và trong các tác phẩm của Lênin cũng vậy. Chẳng hạn như ý niệm tập đoàn người, ý niệm toàn thể những con người cùng hoàn cảnh trong điều kiện đời sống và lao động. Thật ra, giữa giai cấp và con người thì cái gì quyết định, đó vẫn luôn luôn là bản thân con người quyết định. Bởi giai cấp hay giai tầng xã hội là sự khái quát hóa chung điều gì giống nhau giữa những con người cụ thể lại với nhau mà không phải là một thực thể nào khác hơn chính là những con người cụ thể đó. Có nghĩa trong môi trường khai thác đời sống thiên nhiên, như trồng trọt, chăn nuôi, hoạt động phổ biến chính của xã hội con người chính là những người nông dân mà không ai khác. Trong ngành công nghiệp hay khai thác, chế biến các vật phẩm tự nhiên, những người lao động đó là những người công nhân đâu có gì lạ. Mở rộng ra hơn, mỗi ngành nghề trong xã hội đều có các loại dạng, các phạm trù lao động chung tiêu biểu, nó tạo nên những phân công hoạt động, các đặc điểm sinh hoạt đời sống khác nhau, đó chính là ý nghĩa của các giai cấp hay giai tầng xã hội mà nào có gì khác.

Thế cho nên, cái quyết định những đặc điểm sinh hoạt của con người khác nhau trong các khu vực xã hội chính là những điều kiện phân bố của lao động việc làm, của tài nguyên vốn có, của hoàn cảnh sinh sống khác nhau, đâu phải ai ai cũng đều được quyền chủ động. Hoàn cảnh sinh ra con người, không phải con người tạo ra hoàn cảnh, đó chính là điều kiện khách quan tiên quyết mà tất cả mọi người đều cần phải thấy. Xã hội phân hóa hay phân bố thành giai cấp nhưng không phải giai cấp tạo thành xã hội, đó là điều hình như Mác hãy còn nhiều uẩn khúc, chưa thật sự rõ ràng trong suy nghĩ hay nhận thức. Bởi con người là chính, thế mà thay vì chủ trương khôi phục con người, Mác lại chỉ nặng về giai cấp, chỉ chủ trương đề cao giai cấp. Tâm lý con người ai cũng muốn thăng tiến, ai cũng muốn được hạnh phúc, ai cũng muốn phát triển, đó là những đòi hỏi chính đáng rất tự nhiên và cần thiết của tất cả mọi người, không phân biệt hay hạn chế đối với bất cứ ai. Chủ nghĩa nhân bản, chủ nghĩa nhân văn, chính là nhằm trung tâm con người, nhằm bản thân chính đáng của con người, không phải chỉ nhằm bề ngoài của tổ chức hay kết cấu xã hội giống như Mác thường quan niệm. Ai cũng muốn được tốt, nhưng không phải ai ai cũng dễ dàng đạt tới được điều đó, đó là do tính khách quan tạm thời của các điều kiện xã hội, không phải là nguyên nhân chủ quan thuần túy của mỗi cá nhân. Thật ra mỗi cá thể sinh ra đời để sống và để chết qua vòng đời của mình chỉ là quy luật tự nhiên. Cái tính cách bóng câu quả cửa sổ đó hay còn tùy điều kiện của cái nhìn qua cửa sổ cũng như điều kiện di chuyển của bóng câu. Nhưng có bóng câu nào dừng lại vĩnh viễn mà vẫn tiếp tục nối tiếp qua đi. Đó là quy luật lịch sử hay quy luật phát triển của cuộc đời. Đòi hỏi những cái gì vượt qua các quy tắc khách quan của lịch sử đều là những đòi hỏi hoàn toàn không thực tế hay quá đáng. Tài nguyên của thiên nhiên luôn luôn khan hiếm, tâm lý ý thức và năng lực tự nhiên của mỗi người đều vẫn khác nhau, các hoàn cảnh khách quan của xã hội và bản thân nơi mỗi người cũng không phải đều giống nhau, thậm chí cơ hội và tính chất may mắn của mỗi người cũng không như nhau, sự phát triển lao động sản xuất trong xã hội phải còn tùy thuộc vào nhiều điều kiện phức tạp khác nhau, trong bài toán phân bố có rất nhiều biến số đó, kể cả biến số về thời gian và lịch sử, thế mà lên án một xã hội có giai cấp như một sự sai trái hoàn toàn là điều không thiết thực, không khách quan hay hư tưởng. Cho nên trong xã hội phải luôn luôn có sự đấu tranh giữa cái hợp lý và cái chưa hợp lý, giữa yêu cầu công bằng và tính chất bất công, giữa sự phát triển, trì trệ và thút lùi, giữa lý trí và tình cảm, giữa bản năng và ý thức, giữa sự hiểu biết và tính ngu muội, giữa vị tha và lòng ích kỷ, giữa sự nổ lực và tính chây lười, v.v… và v.v… nói chung giữa mặt tốt và mặt xấu, mặt tích cực và mặt tiêu cực nơi mỗi cá nhân cũng như của toàn xã hội. Sự phạm trù hóa kiểu giai cấp tính, máy móc và giả tạo, đó cũng chính là ý nghĩa mặt trái của con người và xã hội.

Do đó chủ nghĩa xã hội theo kiểu liên kết ngoại vi hay biến con người thành tổ chức thuần túy bề ngoài là hoàn toàn phi lý. Khi con người không có chiều sâu, không có cá tính, đều chỉ là những đơn vị giống nhau, cũng mất đi những sắc thái đích thực và quý báu nhất của chính con người. Con người tốt, con người có tài năng, con người có ý thức và tri thức, thử hỏi họ đến từ đâu nếu không đến từ xã hội, tức từ bất kỳ thành phần giai cấp hay giai tầng xã hội nào mà kết quả thật sự là đã có thể vươn lên. Những con người như thế không phải chỉ thổi phù hô biến là tất cả mọi người đều thành ra được. Họ phải có các tố chất riêng, có hoàn cảnh và điều kiện thuận lợi riêng. Cho nên chủ nghĩa xã hội thực chất chính là chủ nghĩa nhân văn, nhằm nổ lực tạo điều kiện, giúp cho mọi người được thuận lợi và bình đẳng lẫn nhau trong yêu cầu thăng tiến, mà không phải nhằm cố kết mọi người lại với nhau theo kiểu hình thức cá mè một lứa, hay tổ chức thành hệ mạng xã hội một cách khắc nghiệt, máy móc, bất chấp mọi bản thân chính đáng của con người, bất chấp cả mọi yêu cầu cần thiết của các giá trị và ý nghĩa sự dân chủ, tự do. Chủ nghĩa hình thức và chủ nghĩa thực chất quả thật hoàn toàn khác nhau như vậy. Thấy cây quên rừng, tuy vậy vẫn còn vớt vát được tính cách của cây. Nhưng thấy rừng quên cây, tất nhiên sẽ không còn quan tâm tới cái cây nào hết. Hiểu xã hội như là cứu cánh, mục tiêu tuyệt đối chính là sự giả tạo, nông cạn, và phản lại, đi ngược lại các ý nghĩa chính đáng nơi bản thân con người. Ai cũng còn nhớ chủ nghĩa tập thể đã từng xăm xoi đến cả bửa ăn của các gia đình, cá nhân, cho rằng không ai được hơn ai mới chính là công bằng xã hội. Đó không phải là công bằng xã hội mà phản nhân bản, phản con người, phản xã hội.

Chủ nghĩa cá nhân ích kỷ đó cũng là điều tầm thường, vô nghĩa. Nhưng chủ nghĩa xã hội theo kiểu trật tự giả tạo khống chế bên ngoài cũng là điều hoàn toàn vô nghĩa lý. Cho nên chỉ có chủ nghĩa nhân văn hay ý hướng nhân văn mới dung hòa, hòa đồng, hòa hợp hay kết hợp được cả hai, tức không quá nặng về cá nhân cũng không quá chỉ nặng về xã hội. Cá nhân là hạt nhân chính đáng, cần thiết trong lòng xã hội, còn xã hội phải là môi trường luôn luôn thân thiện mà không được nghiệt ngã chống lại cá nhân. Chính đây mới thật sự là yêu cầu hiểu biết, tự giác nơi tất cả mọi người. Nó phải thật sự hoàn toàn thành tâm, hồn nhiên, mà không bao giờ đóng kịch, giả đò hay hoàn toàn giả dối. Chủ nghĩa nhân văn như vậy là sự quay về lại với chính bản thân phổ biến, đích thực, tự nhiên của tất cả mọi con người. Nó thoát ra khỏi mọi phạm trù riêng tư, phân biệt giai cấp, phân biệt hoàn cảnh xã hội, phủ nhận mọi cái phân biệt giả dối, tạm bợ của cái bên ngoài, để trở về với chính bản chân diện mục mà mọi người đều có thể có được bên trong. Con người giáp mặt nhau bằng tâm hồn, ý thức, bằng nhận thức hiểu biết, hay bằng tình cảm chân chất của chính mình, đó chính là quan điểm nhân văn đích thực, vượt lên trên cả quan điểm chủ nghĩa xã hội (dù bất kỳ sắc thái hay hình thức, mục đích nào) chỉ mang tính cách thuần túy tổ chức bề ngoài. Ý nghĩa nhân văn luôn luôn giống như rừng cây tự nhiên, mỗi cá thể có quyền tự do bộc lộ và phát triển tối đa hết tất cả mọi tài năng, nhân cách của mình. Trong khi đó chủ nghĩa xã hội hình thức, bề ngoài, giả tạo, thật sự chỉ giống như một cánh đồng toàn những chậu bon sai được uốn nắn phản tự nhiên, phi khoa học, hoàn toàn giả tạo nên chỉ cằn cỗi mà không sao phát triển hoàn toàn tốt đẹp được. Cái bệnh sính tổ chức, sính hình thức, và ý nghĩa của sự tôn trọng khách quan, tôn trọng mọi giá trị tự thân, mọi ích lợi tự nhiên là khác nhau như vậy.

Có nghĩa xã hội khách quan, tự nhiên cũng giống như một cánh rừng đại ngàn. Trong cánh rừng đó có chỗ rừng thưa, có chỗ rừng nguyên sinh tùy theo ý nghĩa phát triển tự nhiên của lịch sử. Khi giai cấp công nhân mới phát sinh trong xã hội tư sản, điều này cũng giống như một cánh rừng thưa mới xuất hiện. Nhưng với sự phát triển theo thời gian, các yếu tố rừng thưa đó cũng sẽ hoàn toàn đổi khác. Ngày nay hoàn cảnh xã hội đã phát triển, ý nghĩa của giai cấp công nhân cũng không còn giữ nguyên thực trạng như cũ ở các nước phát triển, nhưng ở những nước mà nền kinh tế mới nổi lên, thì vẫn tái diễn lại một số hoàn cảnh y như cũ. Đó chính là những nhược điểm về mặt lịch sử mà chính các nước này còn chưa có khả năng khắc phục được. Nhưng nói cho cùng, cộng đồng xã hội nơi mỗi quốc gia vẫn là cộng đồng của toàn dân. Đáng lý ra mọi nhà nước đều phải là nhà nước của toàn dân, về phương diện thực tế cũng như về phương diện lý thuyết. Đó là một ý nghĩa khách quan cần thiết. Tuy nhiên, quan điểm của Mác lại nhìn theo một cách khác. Ông cho nhà nước chỉ là nhà nước của giai cấp. Đối với ông nhà nước luôn luôn là nhà nước của giai cấp thống trị. Bởi vậy ông nói muốn có xã hội không giai cấp cũng phải tiến tới một xã hội xóa bỏ nhà nước. Bởi vì Mác cho rằng luật pháp thật sự chỉ là thượng tầng kiến trúc của ý thức hệ. Cơ sở căn bản của ý thức hệ là phương thức sản xuất kinh tế, do vậy ông cũng cho rằng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa sẽ tạo ra nhà nước tư sản và ý thức hệ tư sản. Đó là lý do ông bảo xã hội tương lai là xã hội vô sản, phi giai cấp, cũng không còn nhà nước tư sản, tức cũng không có nhà nước nói chung. Đây quả là một quan điểm hết sức kỳ dị của Mác. Ông luôn luôn nhầm lẫn hay đánh đồng giữa phương tiện và mục đích. Thật ra nhà nước chỉ là phương tiện hay công cụ quản lý của xã hội. Nhà nước thật sự cũng chỉ là một tổ chức hay một cơ cấu của các cá nhân con người. Cơ cấu đó luôn luôn cần thiết để điều hòa xã hội và tạo thành một cơ chế quản lý, điều hành chung. Đó chính là ý chí, là sự nhận thức về tính hợp lý hay về các yêu cầu cần thiết liên quan của bản thân thực tế của xã hội con người. Cho rằng nhà nước chỉ là nhà nước của giai cấp để chủ trương tiến tới triệt tiêu nhà nước, xóa bỏ cả chính quyền, thật là điều hoàn toàn phi lý. Bởi vì nhu cầu quản lý hành chánh về mọi mặt vẫn không bao giờ là nhu cầu thừa thải hay không cần có trong xã hội. Lý thuyết của Mác đầy những điều không tưởng là như thế.

Từ nguyên lý nhà nước là nhà nước của toàn dân, Mác chủ trương nhà nước vô sản là nhà nước của giai cấp vô sản, do đó ông cũng chủ trương độc tài hay chuyên chính vô sản (Diktutur des Proletariats) coi như điều kiện để đi đến xóa bỏ nhà nước về sau này. Thế nhưng ông vẫn quên tính cách quán tính của xã hội con người. Một nhà nước độc tài khi được thiết lập rồi tự nó sẽ bị xóa đi, đó quả là một ảo tưởng, bởi nguyên lý cố hữu của con người, rất ít ai dễ dàng từ bỏ thói quen dễ chịu và các điều kiện thuận lợi của mình. Con người là thực tại sinh học, nếu không có các nguyên tắc chế ngự bên ngoài, bảo đảm sự bành trướng ý chí của nó là luôn luôn vô hạn. Đó cũng là điều tự mâu thuẫn trong các cung cách suy luận của Mác. Có nhiều cái ông suy nghĩ rất phi lô-gích nhưng lại khẳng định đó là hoàn toàn hữu lý và lô-gích. Bởi giai cấp vô sản ban đầu cũng giống như cánh rừng thưa, thay vì phải nuôi dưỡng, giúp đỡ nó, ông lại chủ trương đó là yêu cầu lý tưởng, là chân lý phát triển tất yếu, tiên phong, và bởi thế cũng muốn biến luôn mọi cánh rừng nguyên sinh khác thành rừng thưa tất cả. Quan điểm của Mác đúng là quan điểm xóa bài làm lại cho toàn lịch sử đã có của xã hội. Quả ông không phải là người có quan niệm thực tế mà hoàn toàn chỉ là một người có quan điểm siêu hiện thực hay là người có quan điểm hoàn toàn ảo tưởng. Đây chính là lý do tại sao cho đến thế kỷ 21 học thuyết Mác đã hoàn toàn không thành công nếu không nói nó đã bị đánh rơi ngay trong lòng thế kỷ trước. Nguyên nhân đó không phải do sự thất bại về mặt thực tế, mà chính là sự thất bại về mặt nguyên lý hay lý thuyết như toàn bộ các phần trên chúng ta đã phân tích. Nó có quá nhiều lổ hổng, có nhiều chỗ phi lô-gích, và đó chính là những yếu điểm hay các khuyết khuyết tự thân của nó.

Học thuyết về giai cấp vô sản và xã hội vô sản của Mác là học thuyết không có cơ sở khách quan, thực tế. Học thuyết xã hội cộng sản của Mác cũng là học thuyết siêu không tưởng. Mác chỉ nhìn yếu tố con người hời hợt bên ngoài nên không khách quan, không thực tế, không xác đáng. Bởi con người thực chất là chiều sâu bên trong. Tâm hồn và tài năng nếu có của con người thực chất là luôn đa dạng và vô hạn. Đó mới là yếu tố nội lực, là giá trị và ý nghĩa bên trong. Mọi sự tổ chức xã hội bên ngoài thực chất chỉ là phương tiện, là công cụ phục vụ, không thể lấy đó làm cứu cánh, làm ý nghĩa xã hội của xã hội con người. Đó là lý do tại sao nhà nước phải luôn luôn có. Nó chỉ biến thiên hình thức theo phát triển của lịch sử xã hội, nhưng không bao giờ triệt tiêu như Mác quan niệm. Bởi chất lượng của nhà nước vẫn chỉ là chất lượng của những lực lượng con người kết cấu ra nó. Và nếu đó là nhà nước của toàn dân thì chất lượng của nhà nước cũng là chất lượng toàn dân. Cho nhà nước là nhà nước của giai cấp, nhất là giai cấp vô sản, là một điều vô cùng huyền hoặc của Mác. Vô sản chỉ là những người lao động thất thế và rơi vào những tình thế yếu kém phải đi làm thuê cho nhà tư bản trong thời kỳ xã hội tiền tư bản. Nhưng thực chất nhà tư bản bị phá sản hay bất kỳ người nào thất thế cũng có thể bị rơi vào giai cấp vô sản. Vậy đó là tình trạng nhược điểm của xã hội cần phải cải thiện nó, tạo cơ hội, điều kiện thuận lợi cho tất cả mọi người cùng phát triển, không phải thần thánh hóa giai cấp vô sản để nhằm tiến tới một xã hội vô sản như Mác ngây thơ quan niệm. Thật ra đây là một ý thức mê tín vì quá tin cậy vào quy luật biện chứng của Hegel. Bởi xã hội vô sản là xã hội không tích lũy, hoàn toàn trái với quy luật thực tế của yêu cầu phát triển muôn vật. Sự nhầm lẫn lớn nhất của Mác là tính không phân biệt giữa mục đích cuộc sống và các công cụ bề ngoài phục vụ cuộc sống, kể cả đó là tài sản hay điều kiện, hoàn cảnh xã hội.

Ý nghĩa quan trọng của con người là tinh thần, ý thức, sự hiểu biết, hoàn toàn không phải là ý nghĩa giai cấp. Không phải ai cũng muốn làm nông dân, công nhân, hay thậm chí làm nhà tư bản. Đó còn do cá tính, sở thích, mục đích, thói quen, hay hoàn cảnh và điều kiện xã hội thực tế của mỗi người. Thần thánh hóa giai cấp này hay lên án giai cấp khác chỉ mang đầy tính chất cảm tính, nông cạn, không thực tế và không khách quan khoa học. Học thuyết Mác thực chất giống như một trái cây nhân tạo, nhìn bề ngoài thấy đẹp, nhưng thực tế không ăn được vì vô bổ. Đó là lý do tại sao học thuyết của ông ngày nay có thể xem là đã thất bại trên toàn thế giới. Thật ra khi sinh thời của Mác ông cũng không nổi tiếng mấy, đến khi ông chết cũng chỉ là một nghi lễ khiêm tốn, bình thường, ngôi mộ của ông cũng chẳng có gì đặc sắc so với tầm vóc một con người sau này trên thế giới mọi người không ai không biết đến tên tuổi. Thực ra ông chỉ thật sự nổi tiếng khi Lênin thành lập được nhà nước Liên bang Xô viết và tên tuổi của ông trở nên được thần thánh hóa hầu như không còn giới hạn. Đó là lý do tại sao trong suốt non một trăm năm không một người mác xít nào nói lên điều gì ngược lại hay vượt ra ngoài khuôn khổ của tư tưởng Mác mà thực chất chỉ đồ tới đồ lui và chép qua chép lại. Thực tế đây là sự nô lệ hóa về mặt ý thức của con người, và kết quả của ý nghĩa chuyên chính do ông đưa ra làm cho lý thuyết của ông không còn mang ý nghĩa cách mạng bồng bột, sôi nổi lúc ban đầu, mà trở thành một thực chất phản động (phản tiến hóa xã hội) trên toàn lịch sử thế giới. Sự khắc nghiệt nơi lý thuyết của ông đã được khắc họa mạnh mẽ trong thời kỳ Stalin, thời kỳ Mao Trạch Đông, thời kỳ Pôn Pốt Yêng Sari, và nhiều nơi khác nữa trên toàn thế giới. Cái vô lý nhất ngay khởi đầu nơi lý thuyết của ông là quan điểm cho rằng ý kiến nào khác ông đều là ý kiến của bọn tư sản. Cho dù đó có thể không phải là một tiểu xảo, sự ranh mãnh, hay thủ thuật về lý luận. Nhưng cũng chính từ đó khiến ông đi tới quan niệm về chuyên chính vô sản, trở thành quan niệm phi khoa học và rời xa hẳn chính bản thân con người thực tế. Khởi đầu ý thức của ông có thể là sự khởi đầu nhân bản, nhưng thực chất cuối cùng nó trở thành đi ngược lại trong thực tế về nhiều mặt, bởi vì chính những quan điểm ngụy biện vô hình chung đã được ông đưa ra mà ngày nay mọi người đều thấy.

Mặt khác, về thực chất, quan điểm duy vật của ông đưa ra là quan điểm không đầy đủ. Bởi nó dựa trên lý thuyết biện chứng của Hegel là lý thuyết hoàn toàn duy tâm, một quan điểm triết học hãy còn mơ hồ và cũng không thể chứng minh hay không bao giờ chứng minh được về mặt khoa học khách quan, thực tiển. Trên cơ sở đó mà ông quy nạp vào nguyên lý phát triển trong lịch sử của các hình thái xã hội được ông đưa ra thực chất chỉ máy móc, cả tin và không đủ cơ sở. Chính Ăngghen còn đưa ra quan niệm khỉ (người vượn) phát triển thành người nhờ qua lao động cũng rất còn mang tính phiến diện, bề ngoài và hời hợt. Nó cũng giống như một sự trích đoạn tầm thường trong toàn bộ vở diễn của toàn thể vũ trụ. Bởi chính chuỗi nguyên nhân vô hạn về trước và ý nghĩa nội lực của chính bản thân điều đó đã không hề được lưu ý đến. Nó cũng giống như cách nhìn qua kính vạn hoa. Mọi hình dạng về hình ảnh sau khi được lắc mỗi lần thực tế chỉ là ảo ảnh. Bởi vì cơ bản ban đầu của nó không hề thay đổi, chỉ khác nhau về chỗ lắc và cái nhìn sau mỗi lần, một hiện tượng hoàn toàn bề ngoài và hình thức. Quan điểm duy vật của Mác cũng chỉ mang tính cách giản lược và đơn sơ như thế. Nó phủ nhận mọi ý nghĩa nội lực cần thiết vốn có, nên mọi sự giải thích hiện tượng thực chất là không có cơ sở chắc chắn, khách quan hoặc thực chất khoa học. Bởi vậy Mác cũng nói một câu hết sức ngớ ngẩn : các nhà triết học xưa nay chỉ giải thích về thực tại, nhưng vấn đề cần thiết phải là biến đổi nó, vấn đề phải là thực hiện chính bản thân triết học mà không phải chỉ dừng lại ở giải thích. Đây chính là câu nói rất thu hút được nhiều người, nhưng thực chất là ngụy biện và thiếu hẳn cơ sở. Nó chẳng khác gì dùng quan điểm duy tâm, duy ý chí để bài bác, phủ nhận lại chính các quan điểm duy tâm. Giống như người vừa ngồi thuyền trên sông vừa nghĩ rằng mình có thể dùng hai tay để nhấc bổng được thuyền lên.

Nói khác đi, hệ thống học thuyết Mác là hệ thống hết sức lộn xộn. Ông thường dùng phạm trù này để soi sáng, giải thích và nhằm thực hiện phạm trù khác. Chẳng hạn ông “triết lý hóa” theo cách của ông các phạm vi kinh tế xã hội và chính trị, là các ý nghĩa hoàn toàn, cụ thể thực tế. Rồi ông lại kinh tế hóa, xã hội hóa, thậm chí “chính trị hóa” bản thân của triết học, là phạm trù chỉ mang tính tư duy trừu tượng và thực tế không ăn thua gì một cách tuyệt đối với thế giới hiện thực. Sự lộn tùng phèo, bùng nhùng, cà kê cà cuống như thế, rõ ràng là một đặc trưng phiền toái nhưng lại được một số người nào đó cho là tính ưu việt, toàn diện, bao hàm và sâu xa  của học thuyết Mác. Mác quả thật thiếu quan tâm đến các quy luật tâm lý cố hữu và luôn luôn khách quan, hiện thực của con người. Con người trong lý luận của ông chỉ gần giống như một hình bóng hình thức bề ngoài của con người mà không phải là con người có chiều sâu, thực chất, cụ thể và thực tế. Bởi nói cho cùng con người là một thực thể sinh học, xã hội loài người là một quần thể sinh học, chính quy luật vật chất, sinh học là quy luật thực tế và nền tảng nhất. Nhưng con người không phải chỉ có thế mà còn là con người tâm thức, con người có chiều sâu và con người có bản chất như thể là con người. Đây là điều cơ bản mà Mác lờ đi để chỉ nhìn thuần túy trên khía cạnh duy vật thô giản, đó là một sự nông cạn, thiếu sót mà bất kỳ ai cũng đều có thể nhận thấy. Ý nghĩa quan điểm về giai cấp của Mác cũng chính là ý nghĩa chỉ mang tính hời hợt bề ngoài như thế. Mác không thấy rằng giai cấp không hề là sự lựa chọn chủ động và tự nguyện của mỗi người mà thực chất nó chỉ mang tính cách tình thế và hoàn cảnh. Cho dù trong giai cấp nào mọi cá nhân đều muốn thăng tiến, muốn vươn lên, đó là ý nghĩa và tính cách hoàn toàn chính đáng. Thế nhưng thay vì hòa hợp hóa giai cấp, coi giai cấp chỉ là những hình thức bên ngoài và tạm thời, Mác lại chủ ý hằn sâu giai cấp, coi như phạm trù tiên quyết và là động lực đấu tranh cách mạng. Cho nên điều nguy hiểm nhất là nếu có quan điểm nào ngược lại thì Mác lại quy vào đó là tính giai cấp, là ý thức đấu tranh giai cấp. Một thái độ cả vú lập miệng em, một mình một chợ, mất tính cách bao quát, vô tư, dân chủ, tự do và khách quan của chính tinh thần khoa học và triết học đúng đắn, cần thiết nhất. Tinh thần của Mác có vẻ như phần lớn ngụy biện, chủ quan và chuyên đoán.

Nên có thể nói các quan điểm phần lớn trong học thuyết Mác có mang tính giả tạo, không khách quan và không thực tế. Thay vì lấy con người làm trung tâm, Mác chỉ lấy giai cấp và xã hội làm trung tâm. Yếu tố thứ nhất là yếu tố thực chất, hai yếu tố sau chỉ là hai yếu tố phụ thuộc, bề ngoài, bởi chỉ có yếu tố đầu rồi mới có được các yếu tố thứ hai mà không hề ngược lại. Ý nghĩa của con người là ý nghĩa của lịch sử, chính lịch sử của bản thân con người làm nên xã hội. vì xã hội thực chất chỉ là một khái niệm trừu tượng, khái quát hóa mọi mối quan hệ thực tiển, cụ thể của những con người. Thay vì quan niệm xã hội trong ý nghĩa như là một môi trường khách quan, thiết yếu và tự nhiên của mọi người, người ta lại hiểu lầm bản chất và mục đích của chủ nghĩa xã hội là cố kết mọi con người lại với nhau theo cách hoàn toàn hình thức. Chính quan điểm như thế là quan điểm phủ nhận mọi ý nghĩa dân chủ và tự do trong thực chất, nói cách khác nó cũng dễ dàng đi ngược lại các ý nghĩa tự nhiên về nhân quyền và dân quyền. Bởi vì khi guồng máy xã hội được tổ chức quá chặt chẽ, toàn diện, cộng với ý nghĩa nhà nước là nhà nước chuyên chính của giai cấp, thì thực tế đó chỉ là sự nhân danh, còn mối hiểm nguy thường trực là tất cả mọi quyền lực xã hội có thể dễ dàng rơi vào thay các cá nhân, các tập thể nào đó nhất định khi họ có cơ hội hoặc sự thuận lợi tiếp cận được với quyền hành. Đây là kinh nghiệm và bài học chung của nhân loại từ cổ chí kim không phải riêng biệt hay đặc thù cho bất cứ trường hợp nào bởi vì nguyên lý và thực tế hoàn toàn là hai phạm trù khác nhau. Có nghĩa nguyên lý có thể phản ảnh qua thực tế, nhưng thực tế chưa chắc đã phản ảnh được nguyên lý, vì còn có những yếu tố khác can thiệp vào ngoài chính nguyên lý.

Chẳng hạn xe có bánh vuông là hoàn toàn trái nguyên lý, nhưng người ta vẫn có thể tạm thời đẩy đi được nếu muốn, nhưng lại là một kết quả hoàn toàn không phù hợp và không thực tế. Đó cũng là ý nghĩa kinh tế học không thể nào vượt ra ngoài hay vượt lên trên mọi quy luật tâm lý khách quan của cá nhân con người và của xã hội. Đề xuất ra một quan điểm kinh tế xã hội không phù hợp hay đi ngược lại quy luật tâm lý con người, đi ngược lại các động cơ thúc đẩy tự nhiên và khách quan nơi mỗi người là thật sự trái khoáy, phản hiệu dụng và phi lý. Đó là ý nghĩa của các lý thuyết ảo tưởng. Chính sự hòa hợp con người, sự hòa hợp xã hội, sự đi đúng quy luật xã hội và lịch sử một cách khách quan, thực tế, với các kỹ thuật xã hội thông minh, hữu lý, hiệu quả, có ý nghĩa và giá trị mới là những giải pháp tốt đẹp nhất mà không phải chỉ là những quan niệm cá biệt, chủ quan lại được mệnh danh đó là những quy luật lịch sử tất yếu và khách quan. Thật ra xã hội luôn luôn phát triển do dầu tình trạng nhà nước quản lý nó có như thế nào chăng nữa. Bởi vậy một nhà nước tích cực nhất phải luôn luôn là nhà nước của toàn xã hội, nhà nước của toàn dân (có thực chất, không phải mị dân hay chỉ là khẩu hiệu), một nhà nước có tính dân chủ, mang tính cộng đồng cao, thuộc mọi tầng lớp nhân dân, mà không phải chỉ nhân danh giai cấp nào như Mác quan niệm. Nói khác, trong xã hội nếu có cá nhân hay thành phần nào còn bị ức chế cách phi lý, dầu vô tình hay cố ý, đều là phi nhân đạo. Do đó, động lực kinh tế cũng chính là động lực của toàn xã hội, động lực của toàn dân, của tất cả mọi cá nhân, không phải yếu tố duy nhất của nhà nước, bởi thực chất nhà nước chỉ luôn là thực thể trung gian điều phối, là quyền lực quản lý chung nhất về nhiều mặt của toàn xã hội. Xã hội hóa cũng có nghĩa là dân chủ hóa nhà nước, nhân văn hóa xã hội, không phải cái vẫn được gọi là “triết học Mác-Lênin”, được giảng dạy phổ biến trong các nhà trường, mà thực chất chỉ là một học thuyết chính trị nhằm tập trung mọi quyền lực vào trong tay một nhà nước.

Nói tóm lại, quan điểm xã hội nhân văn thực chất và quan điểm chủ nghĩa xã hội theo kiểu máy móc, hình thức, quả thật khác nhau một trời một vực. Một cái thì của tất cả mọi người, hướng về tất cả mọi người, còn một cái thì chỉ của một số người, và cũng chỉ hướng đến cho một số người. Đó cũng chính là lý do của bài viết này(1), một bài viết chỉ hoàn toàn cố gắng dựa trên các quan điểm khoa học và triết học thuần túy, khách quan thật sự. Tuy nhiên, nếu vẫn còn những khía cạnh chủ quan nào đó, hay mang tính vô tình áp đặt, thì quả thật vẫn không thể tránh khỏi, do đó cũng rất cần mọi sự tranh luận thẳng thắn hoặc mọi sự trao đổi thiện chí khác nhau, nếu có thể được.   

       

VÕ HƯNG THANH 

(27/01/2011)

  

 

**

 

NÓI VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ ĐỊNH HƯỚNG

XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 

Việt Nam sau ngày thống nhất Bắc - Nam 1975 cả nước đi vào chủ nghĩa xã hội. Câu khẩu hiệu và cũng là mục đích trọng điểm của cả nước lúc bấy giờ được cựu Tổng bí thư Lê Duẩn đưa ra ai cũng còn nhớ là “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”. Kết quả đó là toàn bộ một nền kinh tế tập trung, nói đúng ra là một nền kinh tế tập thể theo mô hình của Liên xô và các nước khối XHCN cũ, dưới ý nghĩa sản xuất tập thể, phân phối tập thể, và thụ hưởng tập thể. Sản xuất tập thể tức xây dựng các công nông trường, các hợp tác xã trong nông nghiệp, làm ăn chia điểm, phân phối theo tem phiếu, trong ý hướng giai cấp công nhân lãnh đạo, công nông liên minh, để cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Trong mục tiêu đó, việc cải tạo tư sản ở các đô thị miền Nam cũng đã diễn ra rầm rộ, gay gắt. Kết quả nền sản xuất tập thể, tập trung theo kiểu bao cấp thực chất đã thất bại. Nông công nghiệp đều bị đình trệ, sắp đến chỗ phá sản. Mũi nhọn đầu tiên phải tự đột phá trong lãnh vực sản xuất nông nghiệp là chính sách “khoán hộ” do nguyên bí thư tỉnh ủy Kim Ngọc đưa ra từng rất nổi danh một thời và vừa rồi cũng đã được dựng lại thành phim ảnh. Kết quả tiến triển chung của lịch sử là tình hình thế giới biến chuyển, Liên Xô sụp đổ, khối XHCN tan rã, Trung Quốc và Việt Nam đều bước vào thời kỳ đổi mới.

Trở lại với việc tư hữu hóa sản xuất phần nào, còn còn dè dặt, bỡ ngỡ buổi ban đầu, rồi càng ngày càng tiến mạnh về sau, nền kinh tế của Trung Quốc đã bắt đầu tiến lên, ở Việt Nam cũng vậy. Trung Quốc từ một đất nước nghèo nàn lạc hậu, qua vài thập kỷ, ngày nay đang trở thành một nền kinh tế đứng hàng thứ nhì trên thế giới. Việt Nam từ một nước toàn dân ăn bo bo, từ một trong những nước nghèo nhất thế giới, ngày nay theo thừa nhận, đã là một nước thuộc hạng trung bình. Thế nhưng, ý nghĩa và tên gọi chính thức của Việt Nam ngày nay vẫn là một nước Xã Hội Chủ Nghĩa. Còn trong thực tế, Việt Nam đã là một nước kinh tế thị trường, rất muốn được toàn thế giới công nhận mình là một nền kinh tế thị trường, tức trừ đất đai về mặt nguyên tắc thuộc sở hữu toàn dân, có một vài lãnh vực kinh tế mũi nhọn thuộc về quốc doanh, tức sở hữu nhà nước, còn một số mô hình hợp tác xã trong sản xuất nhất định, nhưng tính chất hầu đã được đổi mới, nền thương nghiệp hoàn toàn phân phối sản phẩm chủ yếu không còn nữa, chế độ lưu thông tiền tệ bình thường, tự nhiên đã được tái lập, lãnh vực kinh tế tư nhân được cho tự do phát triển. Đó là những kết quả đổi mới hoàn toàn cho thấy, nhưng tên gọi chính thức hiện nay vẫn luôn là “Nền kinh tế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa”.

Nền kinh tế thị trường hầu đã rõ. Đó là quan điểm hội nhập với thế giới, nền kinh tế hàng hóa trao đổi, mua bán tự do, chính sách tiền tệ bình thường, đã xuất hiện cả thị trường chứng khoán, đã hoàn toàn giải thể nền kinh tế bao cấp vốn tồn tại trên hai thập kỷ, hình thành nên nền kinh tế tư bản chủ nghĩa của buổi ban đầu, tức nền kinh tế tư nhân được thừa nhận và cho phát triển nói chung, toàn bộ sự vận động của xã hội và pháp luật cũng cơ bản tiến lên theo hướng đó, tất nhiên nhiều tệ nạn ban đầu của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa cũng lần lượt xuất hiện, chế độ quan liêu bao cấp thời xưa cũ không còn, nhưng thực tế phần nào nó đã biến thành nhiều hiện tượng tham nhũng tràn lan, phổ biến trong xã hội chưa thể nào dẹp được. Danh từ “tiêu cực” trước kia chỉ được hiểu về ý nghĩa chính trị, từ lâu rồi nó đã được hiểu rộng rãi như một hiện tượng có thật và khách quan của xã hội.

Từ hai đất nước chống Mỹ kịch liệt, ngày nay cả Trung Quốc và Việt Nam thực chất từ lâu đã bắt tay với Mỹ, một đất nước vốn cả gần thế kỷ được mệnh danh là tên sen đầm quốc tế, một tay đế quốc sừng sỏ, bởi vì toàn bộ thế giới ngày nay đã được toàn cầu hóa, đã trở thành quốc tế hội nhập, một thế giới trên nền tảng tư hữu, không phải một thế giới của cách mạng vô sản như trong non hai thế kỷ lý thuyết luôn luôn hướng đến. Thế nhưng ý niệm “định hướng XHCN” ở Việt Nam ngày nay tuy từ lâu đã được chính thức và luôn luôn nói tới nhiều, song vẫn chưa thấy một Viện nghiên cứu hay các nhà khoa bảng nào đưa ra được một định nghĩa hoàn toàn bao quát, thật sự đầy đủ, chính xác đúng theo yêu cầu của nó. Khái niệm này thật sự vẫn chưa trở thành một khái niệm khoa học thuần túy khách quan, sự định hướng có vẻ như vẫn còn là một ý muốn, một cảm thức, một khuynh hướng, một tình cảm, một cảm tính mơ hồ hay lờ mờ nào đó mà có một bộ phận nhất định trong xã hội vẫn không rời bỏ, vẫn muốn bảo vệ, hay vẫn muốn tiến tới, mặc dầu nó không thật sự rõ ràng, chính xác hoặc cụ thể.

Thế thì, chủ nghĩa xã hội hay xã hội chủ nghĩa, cơ bản hay theo nguyên tắc vẫn là chủ nghĩa Mác Lênin mà không là gì khác. Nguyên tắc cốt lõi của nó là một nền kinh tế phi tư hữu, một nền kinh tế hoàn toàn công hữu, một nền kinh tế trong khuôn khổ ý thức hệ do Mác đưa ra, giai cấp công nhân được coi là có sứ mạng lịch sử lãnh đạo toàn thế giới để tiến lên xây dựng một thế giới hoàn toàn vô sản. Từ nguyên lý ban đầu này, Lênin đã lần đầu tiến hành áp dụng và thiết kế nên một nền kinh tế xã hội hoàn toàn được tập trung và tập thể hóa trong suốt quá trình đất nước Liên bang Xô viết tồn tại và cuối cùng đã sụp đổ, tan rả như mọi người đều biết. Nói cách cụ thể, chính xác, khái niệm chủ nghĩa xã hội không phải là quan điểm hay ý nghĩa “xã hội” chung chung theo kiểu tư sản, mà cốt yếu chỉ là chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa quốc tế vô sản mà qua học thuyết mọi người đều hiểu. Bởi Mác gom chung tất cả mọi lý thuyết nào không phải do ông đưa ra đều là lý thuyết kiểu “tư sản”, tức xây dựng trên nền tảng xã hội tư sản, xã hội có giai cấp và bóc lột theo ông hiểu, mà không phải là xã hội phi giai cấp, không còn bóc lột như ông khẳng định và mong muốn.

Vậy thì tựu trung lại, mọi sự khởi đầu chỉ là do hai khái niệm căn bản trong lý thuyết mà Mác đã đưa ra : khái niệm “giai cấp” và khái niệm “bóc lột”. Ông khẳng định nguồn gốc của giai cấp là tư hữu, có tư hữu thì có bóc lột, có nền kinh tế thị trường, có nền sản xuất hàng hóa và có tiền tệ. Mác cho rằng toàn bộ những điều đó gây nên mọi ý nghĩa và trạng thái bất công xã hội. Bởi thế, niềm ham muốn tột cùng của ông là loại bỏ quyền tư hữu, tiêu diệt nền kinh tế tư hữu, nền kinh tế thị trường, nền kinh tế sản xuất hàng hóa, xóa bỏ tiền tệ, xóa bỏ phân công xã hội theo kiểu tư sản, thiết lập nên một xã hội công hữu hoàn toàn, tiến tới một xã hội vô sản, mà nền kinh tế trong giai đoạn đầu là giai đoạn xã hội chủ nghĩa, tức làm theo năng lực hưởng theo thành quả, hay một nền kinh tế phân phối hoàn toàn. Giai đoạn thứ hai, giai đoạn cuối cùng, giai đoạn cao nhất là nền kinh tế cộng sản chủ nghĩa, mọi người làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu. Tuy thế, học thuyết của Mác không phải hoàn toàn thuần túy là học thuyết kinh tế xã hội hay lịch sử theo kiểu thông tục, theo quan điểm tự nhiên, khách quan, bình thường. Học thuyết của ông chủ yếu và cơ bản dựa vào một ý niệm triết học, ý niệm về quy luật “biện chứng” (Dialektik) do chính nhà triết học duy tâm Hegel, là bậc tiền bối về tư duy triết học của ông đưa ra. Luật biện chứng tức là mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn. Nguyên lý này được Hegel cho rằng hoàn toàn có ý nghĩa và nền tảng cho toàn bộ hệ thống tư tưởng duy tâm của ông.

Nhưng đó cũng là lý do tại sao Mác đã muốn lật ngược Hegel lại. Ông cho rằng Hegel duy tâm vì đi lộn ngược, đầu ở dưới mà chân chỉa lên trời, tức cách trồng chuối, các đi bằng đầu. Ông nói lật ngược Hegel lại để ông này đi bằng chân, chân đó là chân thực tại, chân kinh tế xã hội và lịch sử cụ thể, hay cũng là chân đấu tranh giai cấp trong kinh tế xã hội mà Mác chủ trương. Điều lật ngược này đã được nói rõ trong bộ sách quan trọng nhất của Mác, bộ Tư bản luận (das Kapital). Ông cho rằng lịch sử xã hội từ trước đến nay chỉ là lịch sử của đấu tranh giai cấp, điều được nói đến ngay trong trang đầu của Tuyên ngôn Cộng sản (Kommunitisches Manifesto), nên cũng cho rằng sự mâu thuẫn tột cùng trong thời đại mới là sự mẫu thuẫn trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư bản, là yếu tố tự hủy diệt của xã hội tư sản để đi đến xã hội vô sản mà ông mong muốn.

Nguyên lý biện chứng là nguyên lý phát triển theo tiền đề, phản đề và hợp đề do Hegel đưa ra. Đây là nguyên lý hoàn toàn mang tính chất duy tâm. Mác là người hoàn toàn theo chủ nghĩa duy vật, lại áp dụng một nguyên lý duy tâm vào cho học thuyết của mình, đó thật sự là điều hoàn toàn phi lý, giống như kiểu đem râu ông nọ cắm cằm bà kia, đem hai nguyên tắc trái ngược lẫn nhau để áp dụng cho nhau, một điều hoàn toàn nghịch lý, mâu thuẫn, và không hề có cơ sở khách quan, hữu lý hoặc đầy đủ. Tuy vậy, nếu không có nguyên tắc biện chứng thực chất cũng không thể có chủ nghĩa Mác, đó là một ý nghĩa hết sức quan trọng, do chính Mác đã nói ra, nhưng có lẽ rất ít người để ý. Lênin là người đã triệt để khai thác ý nghĩa của quy luật biện chứng, ông đã cho rằng chủ nghĩa đế quốc là tột cùng của chủ nghĩa tư bản, là đêm trước của cách mạng vô sản toàn thế giới. Tuy vậy, mô hình nền kinh tế tập thể của Lênin áp dụng ở Liên Xô và các nước Đông Âu ngày nay đã hoàn toàn xóa bỏ, hoàn toàn không còn nữa.

Bởi vậy, đúng ra khái niệm “định hướng xã hội chủ nghĩa” ở Việt Nam hiện nay đúng ra cần phải làm rõ một cách đầy đủ, chính xác và cụ thể nhất. Đó là trách nhiệm của những nhà khoa giáo, những Viện nghiên cứu, những vị khoa bảng cao trong nhà nước về mặt chính xác khoa học, không thể chỉ đưa ra chỉ như một cảm thức, một khẩu hiệu mang tính hình thức, một ý hướng mơ hồ nhất định để buộc mọi người nhất thiết chấp nhận. Các ý nghĩa kinh tế thị trường, hội nhập, đổi mới, đó là các ý nghĩa và nội dung ngày nay hoàn toàn thực tiển, cần thiết, khách quan, hữu lý, mọi người đều ủng hộ, không bất kỳ ai chống lại, nhưng còn khái niệm “định hướng xã hội chủ nghĩa” thì thật sự nhiều người hoặc hầu hết đến nay vẫn hoàn toàn chưa hiểu rõ, còn thấy mơ hồ, chưa thật sự hoàn toàn đầy đủ hay chính xác, đó chính là trách nhiệm của nhà nước, của các cơ quan chuyên môn cẩn phải lý giải một cách thật sự chính xác, đầy đủ, toàn diện, khách quan và thật sự nghiêm túc về mặt lý thuyết lẫn khoa học. Bởi vì thực tế nguyên tắc nhà nước nói sao dân hay vậy trong suốt thời kỳ dài quan liêu bao cấp ngày nay đã thực sự qua lâu lắm rồi. Ngày nay nhà nước luôn luôn tuyên bố nguyên tắc và yêu cầu dân chủ tự do càng cần phải được củng cố, mở rộng, cho nên việc giải thích ở đây là nghĩa vụ đích thực của nhà nước, hay nếu cần phải mở rộng công khai để toàn dân thảo luận. Xu thế xã hội hóa hiện thời đang là xu thế tất yếu của thời đại, không phải của riêng nước nào, xã hội nào, mà chính là xu thế toàn thế giới, trong thời đại của tin học phổ biến, mở rộng mà ai ai cũng đều biết.

Bởi vì như đã nói từ đầu, khái niệm chủ nghĩa xã hội được nói ở đây không hề là khái niệm chủ nghĩa xã hội (socialism) theo nghĩa chung chung, cổ điển, mà theo Mác đó cũng chỉ là chủ nghĩa xã hội theo kiểu tư sản. Tức chủ nghĩa xã hội hiểu theo nghĩa mác xít chỉ là chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa quốc tế vô sản mà không thể là gì khác. Có nghĩa đối với khái niệm chủ nghĩa xã hội theo kiểu tư sản tuy là nhằm hướng mạnh đến ưu tiên cho xã hội hơn là chỉ cho lợi ích cá nhân, nhưng nền tảng của nó vẫn là nền tảng tư hữu. Chủ nghĩa xã hội ở đây chỉ như một khuynh hướng lý tưởng, một khuynh hướng nhân bản, một khuynh hướng đạo đức, một khuynh hướng cần thiết, hữu ích cho cộng đồng, còn ngoài ra cũng không là gì khác. Đó là ý nghĩa căn cơ nhất để phân biệt khái niệm chủ nghĩa xã hội tư sản và khái niệm chủ nghĩa xã hội theo kiểu cách mạng vô sản trong học thuyết Mác nói chung. Đây quả thật cũng là một điều rất đáng nên suy nghĩ, bởi sự khác nhau của nó không phải ý hướng đạo đức, nhân bản nơi con người, mà chính là ý nghĩa kỷ thuật nơi tổ chức, điều hành, quản lý xã hội, tức trên nền tảng hữu sản hay vô sản.

Điều này vô hình chung lại trở về với ý nghĩa cốt lõi trong học thuyết của Mác. Cái căn yếu nhất trong quan điểm học thuyết của Mác là phủ nhận tư hữu, lên án tư hữu. Mác kết tội đó là nguyên nhân gây ra giai cấp, gây ra mọi tệ trạng khác nhau trong xã hội loài người. Đây đúng là quan điểm không thực tiển. Bởi vì con người như Mác thừa nhận là một thực thể sinh học, thế nhưng Mác quên đi điều cơ bản khuynh hướng tư hữu vẫn là khuynh hướng tự nhiên trong thế giới sinh học, trong tất cả mọi loài sinh vật. Đó là vì Mác không phân biệt hay cố ý đánh đồng giữa phương tiện và mục đích. Sự sống và phát triển sự sống chính là mục đích và ý nghĩa tối hậu duy nhất, trong khi đó tất cả những gì phục vụ cho chính mục đích chỉ vẫn luôn là phương tiện, đó là điều mà dường như chính bản thân Mác không để ý tới. Không gian sống chính là ý nghĩa và yêu cầu đầu tiên của mọi tồn tại sinh vật. Từ mỗi tế bào cho đến các cá thể sinh vật hoàn chỉnh cũng vậy. Mọi yếu tố cần thiết, chứa đựng trong không gian sống đó, thật sự chính là tài sản, là sở hữu riêng của chính không gian sống đó. Chim có tổ, các loài động vật đều biết cách đánh dấu, bảo vệ phạm vi riêng không gian sống của mình. Ngay rừng cây cũng thế. Các thực vật cùng loại quần tự thành những thảm thực vật, các quần thể thực vật, thậm chí mỗi cá thể cây đều có táng lá riêng của mình, phạm vi phát triển rễ cây riêng của mình mà ở đó ít có các cây loài khác có thể yên ổn xâm nhập được. Sự đấu tranh tự nhiên chính là trong ý nghĩa thực tế đó. Nhưng trong thiên nhiên không phải chỉ có duy nhất sự đấu tranh sinh tồn, còn có sự cộng sinh, sự ảnh hưởng hỗ tương lẫn nhau mà ngày nay ai cũng biết đó là các quy luật phong phú của hình thái học, của môi trường, nói chung những sự đan xen, liên kết, hỗ tương, bổ dung cho nhau trong các chuỗi thức ăn, trong các quần thể động cũng như thực vật.

Mác quá nhấn mạnh duy nhất đến đấu tranh giai cấp hay đấu tranh kinh tế trong xã hội loài người, đó không phải chỉ là nhận định về tính chất khách quan tự nhiên, mà đó là chủ yếu đặt nền tảng trên quan điểm biện chứng về mặt triết học của Hegel như trên kia đã nói. Cái nhược điểm lớn nhất của Mác là chỉ biết có lật ngược Hegel mà không hề biết nhận xét, phê phán Hegel, cụ thể là ý nghĩa cốt lõi của khái niệm quy luật hay nguyên lý biện chứng trong Hegel. Điều này tác giả bài này hình như đã có nhiều lần thực hiện đâu đó ở các bài viết khác rồi, thiết tưởng không cần nhắc lại ở đây nữa. Tựu trung quan điểm biện chứng luận của Hegel chưa hẵn là ý nghĩa chân lý triết học khách quan toàn diện, mà chủ yếu vẫn là quan điểm tư biện lô-gích luận (spekulative Logik) mà những người nào có đi sâu vào lĩnh vực triết học thuần lý đều có thể nhận biết. Nói cách khác, quan điểm biện chứng của Hegel vẫn là quan điểm còn phiến diện, không đầy đủ hay chưa thật sự toàn diện và hoàn chỉnh. Điều này nếu cần thiết, chúng tôi sẽ xin triển khai đầy đủ ở một dịp khác. Chính trên ý hướng đó mà Mác quá thần thánh hóa hay đề cao giai cấp công nhân, coi giai cấp công nhân như có sứ mạng lịch sử của toàn thể loài người. Sau này chính Lênin còn bổ sung vào giai cấp nông dân. Đây quả thật trở thành một khuynh hướng siêu hình mà không còn là những ý nghĩa khách quan của khoa học thực tế.

Thật ra, người công nhân hay người nông dân thật sự đều là những con người, giống như tất cả mọi người, tức mọi con người sinh ra đời đều hoàn toàn bình đẳng, giống nhau về tất cả mọi quy luật sinh học, mọi quy luật tâm lý, lịch sử và xã hội. Giai cấp xã hội thực ra chỉ là những hoàn cảnh sống, những điều kiện sống. Không ai tự quyết định được giai cấp của mình trước khi sinh ra. Cho nên ý niệm đấu tranh giai cấp theo cách tiên thiên, như một phạm trù tiên thiên (a priori) thật sự là hết sức vô lý và phi nhân bản. Điều này trong thực tế lịch sử cụ thể trước đây đã xảy ra nhiều mà mọi người đều biết. Nói cách khác, sở dĩ có người công nhân, giới công nhân, giai tầng công nhân, tập hợp hay tập thể công nhân ra đời chính vì có nền khoa học kỹ thuật ra đời trong sản xuất, nếu không họ vẫn chỉ luôn là những người nông dân thuần túy. Chính máy móc xuất hiện, sự tích lũy tư bản, sự đầu tư sản xuất tạo ra các cơ sở công nghệ, các nhà máy, xưởng thợ, đó chính là tiền đề của giai cấp công nhân. Nhưng khoa học kỹ thuật xuất hiện bình đẳng trước tất cả mọi người, tại sao xã hội lại phân hóa thành nhà tư bản và các thợ thuyền, đó là điều thực tế Mác không hề lý giải chi tiết. Ông chỉ gộp vào một câu lịch sử từ trước đến nay của loài người là lịch sử của quyền tư hữu, của đấu tranh giai cấp, thế thôi. Cộng đồng người nguyên thủy được ông cho là xã hội cộng sản nguyên thủy. Rồi từ phép biện chứng của Hegel ông kết luận quy luật tất yếu khách quan, tự nhiên của lịch sử là cuối cùng phải đi đến xã hội cộng sản khoa học trên cơ sở học thuyết do ông đưa ra. Ông cho kết quả của tích lũy tư bản là nhờ giá trị thặng dư, nhờ bóc lột, sự đầu tư phát triển kinh tế trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa theo ông cũng chính là sự đào mồ tự chôn của xã hội tư bản, khiến cuối cùng tự nó phải dẫy chết. Bởi theo ông giai cấp công nhân càng ngày càng nhiều lên, giới tư bản càng ngày càng ít đi, đó là sự mâu thuẫn tất yếu và sự giải quyết mâu thuẫn tất yếu.

Sự luận giải xã hội và lịch sử của Mác giống như việc giải toán một hệ thống phương trình đại số phức tạp mà bỏ sót khá nhiều biến số cũng như những thông số hoàn toàn thiết yếu hoặc cần thiết. Cách giải của Mác là với tiền đề cho sẳn, kết luận cho sẳn, chỉ làm sao thích ứng được các phép tính toán cần phải thực hiện mà thôi. Đó là cách gột chân theo giầy mà ông đã rất tâm đắc khi soạn thảo bộ Tư bản luận. Còn một điều khá thú vị nữa trong Mác, là theo ông thì bất cứ quan điểm nào không giống cách suy nghĩ của ông đều là quan điểm tư sản cả. Đây thật sự là cách cả vú lấp miệng em, khiến học thuyết của ông tự nhiên mất đi các yêu cầu vô tư cần thiết, và sở thành cách lý luận một chiều, một mình một chợ, hết sức chuyên đoán, mà đỉnh cao nhất của nó chính là quan điểm chuyên chính vô sản (Diktatur des Proletariats) mà ông đã từng tuyên bố. Thế nhưng ai cũng biết Mác xuất thân không phải là người công nhân vô sản, cho nên khái niệm về sứ mệnh của giai cấp vô sản, về ý thức lịch sử của giai cấp vô sản, tức ý thức giai cấp do ông đưa ra, thật sự mang tính cách tưởng tượng, thậm chí mê tín, phóng đại, huyền hoặc, bởi vì ông hoàn toàn và tuyệt đối cả tin vào chính quan điểm quy luật biện chứng về mặt lịch sử xã hội con người của “phép biện chứng” Hegel.

Nói một cách rõ ràng và cụ thể hơn, sự xuất hiện của khoa học kỹ thuật cơ bản và thực chất là tiến trình tích lũy, phát triển của tri thức, của trí tuệ loài người, không ăn nhằm gì đến quan điểm đấu tranh giai cấp xã hội mà Mác luôn nhấn mạnh. Thành quả khoa học kỹ thuật là sự nổ lực không ngừng, thường xuyên của trí tuệ, thậm chí đôi khi chỉ hoàn toàn do tính cách ngẫu nhiên, tình cờ quyết định, không nhất thiết là một thứ lô-gích khách quan, bất di bất dịch nào cả. Chính lao động tư duy cộng với tài năng bẩm sinh, tự nhiên riêng của các nhà khoa học, kỹ thuật làm nên tất cả mà đó không phải thành tựu của bất kỳ giai cấp xã hội nào. Yếu tố trí tuệ, lý trí, óc thông minh của con người ở đây là thành tố quyết định mà không phải chỉ có vai trò của xã hội hay kinh tế. Bởi vậy yếu tố trao đổi qua thị trường tự do, công cụ tiền tệ, đều là những phát kiến quan trọng của xã hội loài người, lại bị Mác lên án như là các yếu tố tiêu cực của chính bản thân xã hội. Ông chủ trương xã hội cộng sản tương lai là xã hội không còn thị trường, không còn tiền tệ, hoàn toàn sản xuất, phân phối theo kế hoạch, theo phân công lao động tự nguyện, tự giác, chỉ toàn những con người bình đẳng, vô tư quyết định lẫn nhau, đó không những là điều hoàn toàn không tưởng mà còn hoàn toàn phi lý.

Bởi vì thực chất sản xuất là gì, nếu đó không phải là làm ra làm ra các vật phẩm tiêu dùng đáp ứng cho nhu cầu đời sống tự nhiên của xã hội con người. Sản xuất là biến đổi các chất liệu thô của thiên nhiên, khai thác thiên nhiên để tạo nên sản phẩm khả dụng cần thiết. Trình độ sản xuất thấp nhất là trình độ thủ công, là sự hoàn thành các hành vi lao động phổ thông, cơ bắp hay đơn giản. Nhưng trình độ sản xuất cao là sản xuất có vận dụng các thành tưu hay yếu tố về khoa học và kỹ thuật. Nhưng khoa học kỹ thuật không phải chỉ một lần có sẳn mà luôn phát triển, tiến hóa theo thời gian lịch sử xã hội, có nghĩa hiệu quả của sản xuất luôn luôn không ngừng tiến tới. Cho nên sức lao động tự nhiên của con người dần dần bị hạn chế đi, thậm chí phần lớn hay hoàn toàn bị thay thế do các thành tựu của phát triển khoa học kỹ thuật. Ý nghĩa của giai cấp công nhân theo Mác quan niệm thực chất càng ngày càng biến chuyển luôn theo thực tế, không phải chỉ mãi mãi dừng lại trong điều kiện hay hoàn cảnh xã hội trong thời đại của Mác.

Vả chăng về mặt sinh học và xã hội thì tất cả mọi cá nhân con người đều chịu các quy luật cũng như có các yêu cầu căn bản hoàn toàn giống nhau. Các yếu tố sinh tâm lý, các yếu tố bản năng, vô thức xã hội chẳng hạn luôn luôn chỉ có thể biến thiên mà không bao giờ biến mất hay đổi thay hoàn toàn được. Sự ham muốn và yêu cầu thỏa mãn của con người là hoàn toàn vô hạn, trong khi tài nguyên thiên nhiên là hoàn toàn có hạn, các sản phẩm làm ra luôn luôn phải được phát triển theo thời gian, thế thì công thức làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu là hoàn toàn không thực tế, hoang đường hoặc ảo tưởng. Có nghĩa giai cấp xã hội không thể là điều hoàn toàn viễn tưởng mà đó chỉ là những sản phẩm nhất thời luôn luôn biến chuyển trong thực tế vận động khách quan của xã hội loài người. Đây cũng chính là yêu cầu cấu trúc tự nhiên của mọi tồn tại không phân biệt, từ vật chất đến tinh thần cũng vậy. Một sự vật phi cấu trúc là một sự vật không tồn tại. Vì hoặc nó phải tự có cấu trúc hoặc là thành phần hay tham gia vào một cấu trúc sự vật nào đó khác nó mới có điều kiện hiện hữu được, cho dầu năng lượng trong tự nhiên, các thành phần của thế giới siêu vi mô hay vũ trụ đại vĩ mô vẫn luôn luôn phải thế. Cho nên một xã hội không giai cấp giống bản thân trong lành của một khối thủy tinh hoàn toàn trong suốt không màu sắc, lại tự vận động nội tại một cách lý tưởng và tự do, quả là điều hết sức không tưởng và phi lý.

Do đó vấn đề chỉ còn lại là mọi sự bất công, phi lý trong xã hội tại sao lại có, chúng phát sinh ra như thế nào, yêu cầu cũng như kỹ thuật giải quyết của nó làm sao. Đây cũng chính là vấn đề của khoa học và kỹ thuật khách quan mà không là gì khác. Mác đưa vấn đề này trở thành như một yếu tố về ý thức hệ, thật là huyền hoặc, trong khi chính xác nó chỉ là ý hướng giải quyết của khoa học kỹ thuật một cách hoàn toàn cụ thể, thực tế và nhất thiết khách quan. Đó cũng chính là ý nghĩa của sự nghèo giàu trong xã hội. Sự nghèo giàu hay sự khác biệt về tài sản thực chất là do tính khan hiếm của các yếu tố tự nhiên hay sản phẩm. Trong cuộc sống bình thường, không ai cần tranh giành nhau về nước hay không khí, là những thứ hoàn toàn không khan hiếm hay chỉ có ý nghĩa và giá trị bình thưởng. Nhưng trong sa mạc, ở những nơi chật chội, điều này lại hoàn toàn khác. Các vật phẩm sản xuất ra cũng thế, lúc đầu còn ít, còn khan hiếm, nó chỉ đáp ứng yêu cầu được cho một số ít người có hoàn cảnh, điều kiện, chưa thể mở rộng ra cho khắp hết mọi người. Đó có thể cho là sự bất công hay sự hợp lý ? Đây có thể cũng chính là vấn đề quan điểm hay tâm lý ích kỷ, đố kỵ tự nhiên của hầu hết mọi người. Nói khác đi, yếu tố hay các quy luật tâm lý cơ bản tuy tất cả mọi người đều giống nhau, nhưng mọi sự dị biệt, khác nhau cũng còn do tính khí, kết quả giáo dục, kinh nghiệm cuộc đời, không phải ai ai cũng đều hoàn toàn đồng nhất.

Có nghĩa tính chất xã hội luôn luôn gắn liền với tính chất tâm lý, cá tính của mỗi cá nhân. Đây là sự hỗ tương song hành, cũng giống như rừng với cây mà không thể cho rằng chỉ yếu tố nào mới là điều quyết định duy nhất. Để cây che rừng hay để rừng che cây thật sự cũng chỉ là như vậy. Người nông dân từ ngàn đời phải sống và khai thác đất đai, đó là yêu cầu đầu tiên tự nhiên của xã hội con người. Nhưng người công nhân chỉ xuất hiện thật sự khi nền khoa học kỹ thuật có mặt và phát triển. Sự phát triển kinh tế xã hội của con người trong lịch sử chủ yếu là do sự đi lên của nền khoa học kỹ thuật mà không là gì khác. Sự xuất hiện của lửa, của kim loại, của máy móc, của dòng điện, đó là những dấu mốc lịch sử quan trọng nhất từ trước tới này không bất cứ một ai có thể phủ nhận được. Sự phân hóa giai cấp trong xã hội nói chung lại do rất nhiều yếu tố, khách quan cũng như chủ quan, cá thể cũng như cộng đồng, nhưng nó không bất biến mà luôn luôn biến chuyển, đó cũng chính là ý nghĩa của lịch sử xã hội và đời sống không bất kỳ ai có quyền phủ nhận. Thế thì ý nghĩa giải quyết của nó không gì hơn cơ bản vẫn là sự phát triển của kinh tế xã hội, của pháp luật, của tinh thần, văn hóa, giáo dục, một sự giải quyết luôn luôn phải cụ thể, khách quan, bao quát, toàn bộ, tiệm tiến qua thời gian, đột phá theo sáng kiến, nhưng không thể siêu hình, viễn mơ, máy móc, rập khuôn hay công thức.

Thực chất, Mác sau khi tốt nghiệp tiến sĩ triết học về một đề tài của lịch sử triết học (Sự khác nhau giữa triết học tự nhiên nơi Democrite và Epicure), ông chỉ có thời gian tự nghiên cứu kinh tế học trong hơn một năm ở thư viện về các lý thuyết kinh tế cổ điển Anh lúc bấy giờ như của Ricardo và nhiều người khác, còn phần lớn của ông chỉ là hoạt động cách mạng thực tiển và báo chí. Có nghĩa nơi Mác, lý thuyết kinh tế là nhằm phục vụ cho lý thuyết cách mạng, lý thuyết triết học của biện chứng duy vật, biện chứng lịch sử, mà theo như ông nói là ý thức hệ của giai cấp vô sản mà không là gì khác. Học thuyết của ông thực chất là học thuyết triết học về kinh tế xã hội do ông đưa ra, tức một thứ kinh tế chính trị học đặc thù, mà không phải theo yêu cầu của khoa học xã hội hay kinh tế học nói chung mà ông vẫn mệnh danh thống nhất là của bọn tư sản. Tức điều quan trọng trong Mác chính là vấn đề ý thức hệ (Ideologie), được ông coi là mấu chốt nhất mà không phải chỉ là ý nghĩa kinh tế xã hội theo kiểu bình thường. Chính ông cho rằng hạ tầng cơ sở quyết định thượng tầng kiến trúc. Có nghĩa đấu tranh giai cấp xã hội là nền tảng, động lực quyết định cho mọi ý nghĩa về pháp luật, văn hóa, tinh thần, ý thức nói chung của con người. Điều này quả là Mác chỉ suy đoán, khẳng định, nhưng quả thật chưa hề hay không chứng minh được một cách chi tiết, chính xác, thuyết phục được về mặt khách quan khoa học. Chẳng hạn Mác là người thuộc giai cấp tư sản, tại sao sáng tạo ra được một ý thức hệ vô sản là điều mà ai cũng thấy. Ngay như sau này Lênin, cùng nhiều nhà cách mạng cộng sản khác ở các nước đều cũng thuộc giai cấp tư sản nhưng lại chấp nhận đi theo ý thức hệ của Mác, cũng là điều mà mối quan hệ hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc của ông chắc chắn không thể lý giải được, nếu không trở về cách giải thích theo các ý nghĩa tâm lý học cá tính của mỗi cá nhân con người.

Nhưng bởi quá tin vào nguyên lý biện chứng của Hegel mà Mác cũng chủ trương chuyên chính vô sản như trên kia đã nói. Đây là một sự thật không thể nói khác được, bởi vì đó là tính nguyên tắc của học thuyết Mác. Theo ông chỉ chuyên chính vô sản mới có thể thực hiện được mục đích cuối cùng của lý thuyết ông đưa ra. Trong khi đó ông cho lý thuyết của mình là lý thuyết khách quan khoa học, tức tự bản thân nó chắc chắn đúng, vậy mà còn chủ trương chuyên chính nhằm bảo đảm tiến trình phát triển và thành quả của nó thì quả thật rõ ràng nghịch lý và mâu thuẫn. Do đó Mác cũng cho rằng nhà nước không gì khác hơn là công cụ của đấu tranh giai cấp. Nhưng ông quên rằng giai cấp công nhân phải trực tiếp sản xuất trong nền công nghiệp, còn nhà nước là cơ chế xã hội của những người nắm vai trò điều hành, quản lý xã hội, tức một sự dị biệt giữa guồng máy điều hành và sự lao động sản xuất trực tiếp, khiến cho sự đồng nhất là khiên cưỡng, khập khễnh hay giả tạo, đó là điều mà Mác lờ đi hay không hề để ý tới. Bởi vậy Mác cho rằng hệ thống quản lý đó là lực lượng tiên phong của giai cấp công nhân, nhưng thực chất đây cũng chỉ là một lời giải thích hay một sự lý giải hầu như là một mệnh đề không cần chứng minh, tức một định đề theo kiểu toán học của riêng ông. Cụ thể, những người như Mác hay Lênin quả là những con người duy lý tưởng, có thể hoàn toàn vô tư, nhưng các trường hợp như Stalin, Mao Trạch Đông, cùng rất nhiều người khác nữa, có mấy ai dám phủ nhận họ không có ý chí, dục vọng, tham vọng riêng như của bất kỳ những con người bình thường nào khác. Đó chính là một sự trớ trêu của lịch sử mà trong thực tế ai ai cũng đều nhận rõ.

Vậy nên chủ nghĩa xã hội, thực chất hay trong bản chất là gì nếu không phải là công thức phát triển và hình thành của một hình thức tổ chức xã hội do chính lý thuyết của Mác đã đưa ra. Tức giai đoạn đầu là giai đoạn làm theo lao động hưởng theo thành quả. Giai đoạn sau hay cao nhất, là giai đoạn làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu mà Mác vẫn tiên liệu. Đây chính là một bài toán chia đơn giản giữa hai biến số, biến số về sản phẩm và biến số về nhân khẩu, chưa nói đến các thông số khác như tài nguyên, kỹ thuật, các bất nhất về rủi ro đột xuất của vũ trụ tự nhiên hay của xã hội con người, vậy mà phép chia đó theo Mác lại cho ra một hằng số bất biến là sự thỏa mãn tối đa, đồng đều về sản phẩm trong tương lai của cả loài người, thì quả thật là ảo tưởng cũng như hết sức quá đáng. Do đó, Mác lên án kinh tế thị trường, lên án kinh tế tư bản chủ nghĩa, phủ nhận mọi yếu tố điều tiết tự nhiên hay sự tự điều chỉnh khách quan, linh động của nó, với sự can thiệp của lý trí và yêu cầu tồn tại phát triển tự nhiên của con người, để thay vào đó một mô hình mang tính chất hoàn toàn lý tưởng, hoàn toàn tưởng tượng, quả thật là hết sức không khách quan, không chính xác và không thực tế. Tức là sự tổ chức xã hội thực chất chỉ là sản phẩm của lịch sử khách quan, chỉ là phương tiện cần thiết vốn có, chỉ là yếu tố bề ngoài, Mác lại biến thành như một mục đích, một cứu cánh tối hậu của toàn thể loài người, quả thật là một sự nhầm lẫn hiển nhiên giữa phương tiện và mục đích mà ông luôn luôn mắc phải.

Bởi chính mục đích sống của con người, ý nghĩa sống của con người, tiêu chuẩn sống của con ngươi luôn luôn mới là mục đích tối hậu mà không phải các hình thức tổ chức nào đó thuần túy bên ngoài của xã hội. Khi trồng một cái cây, người ta chỉ có thể đoan chắc được nó sẽ cho ra trái gì, nếu đó là loại cây thông thường đã biết. Nhưng nếu là loài cây lạ, chưa hề bao giờ trong xã hội con người từng trồng đến, vậy mà đoán trước nó sẽ cho trái như thế nào quả là điều rất khó tin được. Vả chăng mỗi cá nhân con người cũng giống như bao loài sinh vật khác, tức mỗi cá thể đều phải có yêu cầu tự nhiên riêng, phải có sự độc lập tự do riêng, đó mới đúng là ý nghĩa của quy luật khách quan tự nhiên, quan trọng và cần thiết lớn nhất. Nguyên tắc thích nghi, nguyên tắc phản ứng tự động, nguyên tắc phù hợp tự nhiên, đó là những nguyên tắc cơ bản mà trong lĩnh vực sinh học mọi người đều rõ. Vậy thì một xã hội với tính tổ chức hình thức toàn diện, rập khuôn theo kiểu hoàn toàn máy móc, kiểu lãnh đạo toàn diện, lãnh đạo tư tưởng v.v… như trong quá khứ, quả là những điều vô lý, hoàn toàn phản tự nhiên, hay là những bước lùi, đi ngược lại dòng phát triển khách quan của lịch sử. Với ý nghĩa của sự tổ chức chặt chẽ, khe khắt như vậy, tất cả mọi cá nhân trong đó phần lớn đều chỉ biết phản ứng theo một chiều trong mọi trường hợp, từ tư duy, cảm xúc, tình cảm đến hành động. Đó có thể chỉ là sự giả dối bề ngoài, nhưng lại chính là nhu cầu của sự tự vệ, của việc tự bảo vệ mình, nói chung là tính cách thụ động, e dè, sợ sệt, tiêu cực, nhu nhược, buông xuôi, mánh lới, vô cảm, đóng kịch, hô khẩu hiệu hay chỉ  nói suông theo một cách, hoặc thờ ơ đối với tất cả mọi điều ngay trong thực chất. Trong học thuyết của Mác, khái niệm phản động có nghĩa là ý hướng đi ngược lại học thuyết của Mác, trong khi đó ý nghĩa phản động nếu hiểu theo ngoại diên rộng rãi nhất, chính là tính cách đi ngược lại mọi sự phát triển khách quan, chính đáng của toàn bộ lịch sử loài người nói chung.

Yêu cầu chính đáng, cần thiết của mọi cá nhân, hay xã hội nói chung không gì khác hơn là tính cách độc lập, tự do, mà thiết yếu chính là nền dân chủ. Dân chủ có nghĩa không ai quyết định thay mình mà mọi người đều có quyền tự quyết. Chính ý nghĩa độc lập, bình đẳng, tự do là nền tảng khách quan của yêu cầu dân chủ trong xã hội mà không là gì khác. Bởi vậy nếu một hệ thống xã hội được tổ chức theo kiểu hệ mạng vật chất, như một mạng kim loại, một mạng thủy tinh, một tấm lưới kết cấu theo cách nào đó, thậm chí theo các mô thức uốn nắn tiền chế kiểu những bon sai, thì quả thật chỉ là những hình thức giải trí cho vui, chỉ phục vụ cho người chủ chiêm ngắm, tự hào, mà không hề có ý nghĩa hay giá trị khách quan của chính các yêu cầu bản thân nơi sự vật. Hệ điều khiển theo cách tập trung đầu mối một cách chặt chẽ, máy móc, giống như một guồng máy không phải tự động hóa mà có sự điều khiển thống nhất, duy nhất từ trên hay thậm chí từ xa là kiểu sự quản lý, điều khiển vật chất mà không phải tinh thần, giá trị hay ý nghĩa của con người và xã hội. Đây chính là điều mà khái niệm định hướng hay ý hướng xã hội chủ nghĩa là như thế nào, cả nhà nước, các cơ quan chuyên môn học thuật và khoa học của nhà nước nhất thiết cần phải nên chính xác hóa thật sự cụ thể hay nhất thiết phải rất nên làm rõ. Đây là ý nghĩa, quyền lợi chung của xã hội, của mọi người, của tất cả đất nước, dân tộc, không phải chỉ của riêng ai hay thành phần nào của xã hội, nên thực tế là một yêu cầu vô cùng quan trọng. Trong thời  phong kiến nhà Nguyễn, đất nước hoàn toàn bế quan tỏa cảng, hậu quả đó đã di hại thế nào ngày nay mọi người đều thấy. Trong suốt thời gian dài bao cấp, các hậu quả về kinh tế, xã hội, văn hóa, tinh thần, đời sống nói chung của toàn dân đã phải ra sao thì nay tất cả mọi người cũng đều đã biết. Quả đất nước chúng ta đã từng nhiều phen mở cửa rồi đóng cửa, không giống như người ta chỉ mở cửa một lần rồi đủ. Ý nghĩa đó không phải trách nhiệm của ai là người chốt cửa. Cho nên mọi điều quan trọng, toàn bộ xã hội phải có quyền quyết định cho chính mình, không bất kỳ cá nhân hay thành phần nào có quyền tự thay mặt để quyết định chung tối hậu cho mọi vấn đề thiết yếu của toàn xã hội. Đây là ý nghĩa trách nhiệm của tất cả mọi người không phân biệt, không loại trừ của bất cứ ai. Kiểu mô hình nào đó hoàn toàn còn mờ nhạt trong tương lai, giống như củ cà rốt được buộc trước càng xe của cổ xe xã hội thì quả thật rất đáng phê phán, rất đáng tức cười, và cũng hoàn toàn phi lý.

Cho nên ý nghĩa xã hội là ý nghĩa của những con người hoàn toàn thực tế. Ý nghĩa thông thường của tất cả mọi người là đều muốn thăng tiến, muốn củng cố, phát triển địa vị, vị trí của mình, đó là quy luật khách quan tự nhiên của sinh học, của xã hội không thể nào phủ nhận mà cũng không ai không biết. Nhưng điều cần thiết là làm thế nào cho tất cả mọi điều này hoàn toàn chính đáng, hữu lý một cách khách quan, tự nhiên, đó cũng chính là yếu tố hòa hợp và sự công bằng xã hội. Bởi vì xã hội thật sự giống như dòng nước chảy, không bất kỳ thành phần nào bị cản trở, tù đọng cách giả tạo, trái lẽ, đó là sự công bằng, mà không phải sự cần thiết cào bằng một cách máy móc. Chủ nghĩa làm ăn tập thể, góp gạo nấu chung, đếm đầu chia xôi, đó không phải sự công bằng xã hội nhưng là sự trì trệ và bất công xã hội. Bởi vì mọi sự bất công khi ấy có thể xuất hiện, tồn tại, phát triển, nhân ra, khoét sâu vào bất cứ phạm vi nào. Đó dĩ nhiên là do bản chất cố hữu tự nhiên của con người. Trong hoàn cảnh bó buộc nào đó, người ta luôn luôn tìm cách chuyển dịch sự bất công mà mình phải chịu qua cho người khác, hay để cùng nhau đều phải chia sẻ. Bởi vậy quản lý xã hội đúng ra là một kỹ thuật khoa học, một nghệ thuật nhân văn, mà không bao giờ chỉ là một giáo điều hay công thức máy móc. Chính yếu tố pháp luật cũng là một trong những giải pháp thông minh, cần thiết, hiệu quả, mà không phải coi pháp luật chỉ là công cụ của đấu tranh giai cấp, thuần túy là lợi khí của giai cấp thống trị để rồi nhằm đi đến xóa bỏ, triệt tiêu luật pháp như chính Mác đã suy nghĩ một cách nông cạn và nhầm lẫn.

Chính vì thế mà xã hội Việt Nam ngày nay cũng là lần mở cửa vĩnh viễn sau cùng, không thể nào còn đóng cửa lại được nữa. Dầu có chậm cũng còn hơn không. Bởi đây là yêu cầu, trào lưu, xu thế tất yếu tất yếu trên toàn thế giới của chính sự toàn cầu hóa. Có nghĩa nhân loại ngày nay đã trưởng thành nhiều rồi, căn bản chính nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật, mọi tính cách ấu trĩ từng một thời làm mưa làm gió giờ thì cũng đã vĩnh viễn qua đi. Nhưng mở cửa lần này quả cũng mang theo rác bụi nhiều điều, những gì bản thân nội tại tự có của nó, mà cả những gì do luồng gió mới ngoại nhập mang theo vào. Dầu sao ý nghĩa của các mặt tích cực, mặt tốt của mở cửa cũng hơn hẳn rất nhiều khi chưa mở cửa. Thực tế chỉ có điều mọi người phàn nàn, bức xúc nhiều chính là nạn tham nhũng, tiêu cực nói chung ở rất nhiều mặt trong xã hội. Nếu trong thời gian rất dài đóng cửa người ta chỉ tập trung ca ngợi những cái tối ưu, thì giờ đây khi mặt trái của xã hội được phơi ra, đó cũng chỉ là điều dễ hiểu. Bởi thực tế của tham nhũng là gì nếu không phải đó chính là bản năng tiêu cực của con người kèm theo những ưu quyền mà nó có được. Không có một trong hai về hay hóa giải tối đa được cả hai hoặc ít nhất cũng là cái nào quyết định thì thực chất mới có thể loại trừ hay chế giảm, cải thiện được tình trạng tham nhũng. Đây là ý nghĩa của khoa học và kỹ thuật xã hội, tức sự giải quyết từ cơ bản, mà không phải chỉ nói suông trên ngọn, mới thật sự là điều tiên quyết nhất. Sự kết quả của giáo dục ý thức, đạo đưc, sự giải tỏa được cơ chế xã hội quá đặc thù, sự loại bỏ được các ưu quyền giả tạo, đó chính là liều thuốc chống tham nhũng, cải thiện xã hội căn cơ nhất mà có thể nhiều người chưa nhất quán.

Sống chung với xã hội tham nhũng, chịu đựng nó hay giải quyết nó, đó chính là bài toán đặt ra mà ngày nay nhiều người còn chưa tìm được lối ra, hay chưa thật sự chịu tìm cách giải quyết được nó một cách rốt ráo và hiệu quả. Xã hội cũng giống như khoảng sân hay căn phòng nào đó, rác do người này nổ lực quét ra lại bị những người khác vô tình hay cố ý đùa vào, đó quả thật là một điều hoàn toàn quái dị. Tất nhiên ai cũng biết tham nhũng là xấu, là trái với đạo lý xã hội, là tạo ra rất nhiều hậu quả thứ sinh về mọi mặt, nhưng phần lớn vẫn sẳn sàng làm, đó là tại sao, điều này chắc chắn ai cũng có thể nghĩ ra chính xác được lời lý giải. Đó chắc chắn không phải chỉ do thiếu thốn trong đời sống, không phải chỉ do nghèo, mà chính là do ý thức. Bởi vì tham nhũng có cả hàng ngàn kiểu trên đời, không phải chỉ nghèo mới tham nhũng, mà có thể có nhiều trường hợp đã giàu vẫn tham nhũng. Nguyên do vì lòng tham của con người thì vô độ, lại ở vào trường hợp thuận lợi vì đặc quyền đặc lợi. Con người chủ yếu khác nhau ở phẩm chất đạo đức, ở giá trị bản thân, ở trình độ hiểu biết, mà không phải ở thành phần hay giai cấp như từ rất lâu rồi nhiều người vẫn hiểu. Chính hậu quả của ý nghĩa giáo dục sai lạc, của đào tạo và sử dụng không khách quan, công bằng, hợp lý và không đúng hướng vốn đã quá kéo dài trong quá khứ chính là một trong những tiền đề của tình trạng xã hội ngày nay mà không là gì khác. Tất nhiên nghe nói như thế, sẽ có rất nhiều người la ó phản đối, trợn mắt phùng mang, bởi vì đã nói đúng tim đen hay yếu điểm của họ. Con đà điểu rúc đầu trong cát vẫn luôn luôn là bản chất tự nhiên của loài đà điểu. Cho nên xã hội của những con công hay xã hội của những con đà điểu thì điều đó vẫn hãy còn tùy, vì đà điểu biến thành công hay công biến thành đà điểu đó còn tùy những yêu cầu chủ quan quyết định.

Nên nói chung lại, có nhiều người nói tới chủ nghĩa xã hội hay định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng thật sự họ vẫn còn nhiều mơ hồ chưa xác đáng. Cái yếu tố chính vẫn luôn là từng cá thể con người mà không phải chỉ là xã hội. Đầu tóc hay rừng cây là do từng sợi tóc hay từng cây tạo thành mà không phải là điều ngược lại. Xã hội nói cho cùng là công cụ cần thiết, là yêu cầu cơ bản những không bao giờ là cứu cánh hay mục đích tối hậu của mọi cá nhân. Ý nghĩa cao nhất của mỗi cá nhân vẫn luôn luôn là bản thân chính họ, còn coi xã hội là tối hậu đó chẳng qua chỉ là những trường hợp quá ư ngoại lệ hay rất đặc thù. Con người sống hòa hợp với xã hội, dung hòa lợi ích chính đáng với xã hội là điều hết sức cần thiết và tự nhiên. Nhưng nếu con người sống chỉ vì xã hội, thì đó là ý nghĩa hoàn toàn giả tạo, thực chất là phi hiệu dụng trong thực tế, vì tất cả sẽ trở thành hoàn toàn hình thức và không thực chất. Chất lượng của rừng cây hay phẩm chất của đầu tóc là do các đơn tố của nó tạo thành mà không phải là điều gì khác. Quan điểm duy xã hội, chuộng xã hội một cách bề ngoài và giả tạo rồi tưởng lầm đó là nhu cầu thiết yếu của xã hội, là mục đích và bản chất đích thực của chủ nghĩa xã hội, quả thật đã lầm to. Bởi đó thực chất chỉ là quan điểm sính tổ chức, sính hình thức bên ngoài, mà không phải thực lòng thực bụng gì với cá nhân con người hay xã hội. Vì nếu cái áo không làm thành thầy tu, các trang sức không làm nên phẩm hạnh của cô gái, thì yêu cầu và bản chất sâu xa, đích thực nơi ý nghĩa của học thuyết nhân văn(1), của chủ nghĩa xã hội thực chất, cũng luôn luôn y hệt như thế. Trong thực chất đó chính là điều quan tâm đến mục đích tối hậu của giá trị bản thân con người, mà không phải chỉ nhằm dừng lại ở các sự cố kết hay những hình thức bên ngoài của xã hội. Sự khác nhau hay giống nhau thật sự giữa chính quan điểm nhân văn và quan điểm xã hội đúng nghĩa nói chung cũng chính là ở đấy. Không nhầm lẫn giữa cứu cánh và phương tiện, không nhầm lẫn giữa giá trị, ý nghĩa và tinh thần của con người với mọi phương tiện, công cụ phục vụ nó, đó mới chính là ý nghĩa và giá trị của điều cốt lõi. Nếu hiểu xã hội tư bản chỉ nhằm tìm kiếm lợi nhuận, hiểu xã hội cộng sản chỉ cốt củng cố guồng máy tổ chức, quyền hành và địa vị chính trị, thì quả thật hoàn toàn phản xã hội và hoàn toàn tai hại.

 

VÕ HƯNG THANH

(25/01/2011)

 

**

PHẦN DANH MỤC CÁC BÀI VIẾT NGẮN,

CHỚP NHOÁNG (II) – (16)

 

1.   CẦN BÌNH LẠI MỘT BÀI THƠ ĐỂ ĐỜI CỦA NHÀ THƠ TỐ HỮU

(15/02/11)

2.   CHÍNH TRỊ NHƯ MỘT KHOA HỌC VÀ CHÍNH TRỊ NHƯ MỘT

PHẠM TRÙ ĐẠO ĐỨC (14/02/2011)

3.   NGƯỜI TA RÚT RA ĐƯỢC ĐIỀU GÌ TỪ VIỆC TỔNG THỐNG AI

CẬP TỪ CHỨC (13/02/2011)      

4.   CÂU CHUYỆN ĐỜI THƯỜNG (11/02/2011)

5.   THẾ NÀO LÀ NHỮNG CHÍNH PHỦ THÔNG MINH (10/02/2011)

6.   NÓI THÊM VỀ Ý NGHĨA KINH TẾ, VĂN HÓA, XÃ HỘI VÀ ĐỜI  

                     SỐNG CỦA QUAN ĐIỂM CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN KHOA  

HỌC (08/02/2011)

7.   NÓI SÂU THÊM VỀ CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN (04/02/2011) 

8.   CHO VÀ NHẬN (02/02/2011)

9.   CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN VÀ VẤN ĐỀ GIAI CẤP XÃ HỘI

(01/02/2011)

10.               NÓI VỀ MỘT XÃ HỘI TỰ DO, DÂN CHỦ VÀ NHÂN VĂN  

                                                                       (30/01/2011)

11.               TƯ SẢN – VÔ SẢN – CỘNG SẢN (27/01/2011)

12.               NÓI VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ 

                                                            NGHĨA (25/01/2011)

 

     **




(1) Xem cùng tác giả : Chủ nghĩa nhân văn (23/01/2011), Nói thêm về ý nghĩa kinh tế, văn hóa, xã hội, thực tiển đời sống con người của quan điểm chủ nghĩa nhân văn khoa học (08/02/2011), Thế nào là những chính phủ thông minh (10/02/2011), Người ta rút ra được điều gì từ việc tổng thống Ai Cập từ chức (13/02/2011).
(1) Xem thêm cùng tác giả : Thế nào là những chính phủ thông minh (10/02/2011).
(1) Xem cùng tác giả : Nói thêm về ý nghĩa kinh tế, văn hóa, xã hội, thực tiển đời sống con người theo quan điểm của chủ nghĩa nhân văn khoa học (08/02/2011).
(1) Xem cùng tác giả : Chủ nghĩa nhân văn (23/01/2011), Nói về một xã hội tự do, dân chủ và nhân văn (30/01/2011), Chủ nghĩa nhân văn và vấn đề giai cấp xã hội (01/02/2011), Đầu Xuân, nói sâu thêm về chủ nghĩa nhân văn (04/02/2011),Mục đích sống của nhà doanh  nghiệp và ý nghĩa của vấn đề giai cấp xã hội (06/02/2011).
 
(1) Xem thêm cùng tác giả : Chủ nghĩa nhân văn (23/01/2011), Chủ nghĩa nhân văn và vấn đề giai cấp xã hội (01/02/2011).
(1) Xem cùng tác giả, Chủ nghĩa nhân văn (23/01/2011), Nói về một xã hội tự do, dân chủ và nhân văn (30/01/2011), Tư sản – vô sản – cộng sản (27/01/2011).
(1) Xem cùng tác giả : Chủ nghĩa nhân văn (23/01/2011), Tư sản - vô sản - cộng sản (27/01/2011).
(1) Xem thêm cùng tác giả : Nhìn lại quá trình lịch sử từ một xã hội nông dân (02/01/2011), Điều cốt lõi của chủ nghĩa Mác-Lênin (16/01/2011), Bản chất sâu xa của chủ nghĩa quốc tế vô sản (18/01/2011), Bản chất của xã hội dân chủ và nền chuyên chính độc tài (22/01/2011), Chủ nghĩa nhân văn (23/01/2011), Nói về chủ nghĩa xã hội và định hướng XHCN (25/01/2011). 
(1) Xem CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN, Võ Hưng Thanh, 23/01/2011.

No comments:

Post a Comment