NHỮNG BÀI PHÓNG BÚT NGẮN, CHỚP NHOÁNG (TẬP II)
- (15)
**
LẠI
NÓI VỀ XÃ HỘI, PHÁP LUẬT VÀ CHÍNH TRỊ
Đây
là ba ý nghĩa thực tế, thiết yếu nhất của đời sống con người mà nhiều người có
lẽ chưa thấy hết. Bởi cái thấy ở đây phải là cái thấy về chiều sâu, không phải
chỉ nông cạn, giản đơn hoặc hời hợt. Vì trước hết khái niệm xã hội gắn liền với
khái niệm con người, chính là điều đơn gian, song lại quan trọng nhất. Xã hội
được tạo nên bởi mọi con người cụ thể đang sống trong những thời điểm nào đó mà
không là gì khác. Mỗi cá nhân luôn có vòng đời của mình, tức tuổi thọ nhất định
nào đó, và chính các vòng đời đó họp thành xã hội, nhưng rất nhiều người không
để ý. Có nghĩa xã hội thực chất cũng giống như một sân chơi, mọi người đều đến
và đi trong những thời điểm cụ thể, và sau đó, xã hội là xã hội của những người
còn lại, mà không còn là xã hội của họ.
Một
đất nước hay quốc gia cũng thế. Nó luôn luôn là sự kết nối của những lớp người,
những thế hệ sinh sống trên đó kế tiếp nhau. Có nghĩa là một xã hội thu nhỏ, một
xã hội của một lãnh thổ hay của một dân tộc tồn tại trường cửu nhất định. Thành
phần của đất nước như vậy là những công dân. Cái khung của đất nước đó chính là
nhà nước, là chính quyền, là pháp luật, hay nói khác đi là mỗi chế độ chính trị
nào đó. Thế thì rõ ràng xã hội luôn luôn gắn với luật pháp, và luật pháp thì
luôn chịu tác động hay thuộc về một màu sắc chính trị cụ thể. Nói như vậy cũng
để thấy rằng giữa xã hội, luật pháp, chính trị có mối tương quan gắn bó một
cách khách quan, tự nhiên, nhưng trong đó mỗi cá nhân con người cụ thể vẫn là
những nền tảng thực tế và căn cơ nhất, như trên kia đã nói. Điều này cũng có
nghĩa xã hội, luật pháp, chính trị luôn luôn chỉ là tương đối, chuyển biến tất
yếu theo thời gian, không phải là những ý nghĩa hoàn toàn tuyệt đối, như có thể
có một số người nào đó vẫn thường ngộ nhận.
Nói
như vậy cũng để thấy rằng cái quyết định cho xã hội, luật pháp, chính trị,
chính là bản thân những con người cụ thể trong cuộc sống cộng đồng chung, mà
không là cái gì khác. Đây chính là nguyên tắc cái riêng làm nên cái chung, cái
yếu tố làm nên cái tổng thể, cái thành phần làm nên cái tổng gộp, mà không hề
ngược lại. Cho nên mỗi cá nhân con người sống luôn cần phải có yếu tố kinh tế
và văn hóa. Đó cũng là lý do tại sao xã hội phải phụ thuộc vào kinh tế, văn
hóa, và tất nhiên kể cả pháp luật và chính trị cũng phải đều như thế. Nói khác
đi, chất lượng của xã hội chính là chất lượng của kinh tế và văn hóa, chất lượng
của pháp luật cũng như của chính trị cũng đều là như thế, đó là quy luật chung
muôn đời, mọi người không thể không biết đến. Bởi kinh tế là sự hoạt động tạo
ra của cải, lợi ích của mỗi cá nhân để nhằm phục vụ chung cho xã hội, pháp luật
là cái khung sườn pháp lý mà chính mọi cá nhân cùng tạo ra, cùng bắt buộc tôn
trọng để làm nền nếp, mang lại sự ổn định cho xã hội, còn chính trị là hoạt động
tổng thể về cơ chế chung để bao quát mọi yêu cầu phát triển cần thiết cho toàn
xã hội.
Nói
cá nhân mỗi con người tạo ra tất cả những điều đó, là nó trong tính cách nó vừa
là đối tượng vừa là chủ thể. Đối tượng là cái chung nhất, tức không loại trừ một
ai, nhưng chủ thể lại không phải vậy. Bởi đối tượng là cái được nhắm đến của những
điều đã nói, còn chủ thể là cái tạo ra những điều đã nói. Bởi đương nhiên ai
cũng phải làm kinh tế, cũng phải hoạt động đời sống mọi mặt trong xã hội, nhưng
làm ra luật pháp, thực hành chính trị, quả nhiên chỉ có những người chuyên môn,
những kẻ chuyên trách, những người chuyên nghiệp, hoặc những người đại diện, đại
biểu cho các đơn vị tập hợp nào đó, mà không phải mọi người đều có thể nhất loạt
cùng hè nhau làm tất cả mọi việc đã biết. Đó chính là nguyên tắc của nền dân chủ.
Dân chủ không phải chỉ một người, hay một thiểu số nào đó quyết định, cũng
không phải tất cả mọi người đều cùng quyết định, nhưng chính các thành phần đại
biểu đúng nghĩa nhất quyết định. Nói như vậy cũng để thấy rằng tính cách đại biểu
luôn đi đôi với tính cách dân chủ trong xã hội. Bởi nếu trong chế độ quân chủ
phong kiến, vua quan là những người quyết định duy nhất, thì trong nền dân chủ
đúng nghĩa, chính toàn thể nhân dân quyết định duy nhất, song thông qua chính
những đại biểu do họ thật sự quyết định lựa chọn.
Song
đây không phải là điều hoàn toàn đơn giản, dễ hiểu, nên có thể vẫn có nhiều người
chưa hiểu. Chính vì chỗ chưa hiểu đó nên xảy ra hiện tượng khinh dân, coi thường
dân. Có nghĩa coi dân là những người không biết gì, kiểu dân ngu khu đen, nên
mình được quyền lèo lái, lãnh đạo theo ý muốn, tự cho mình là thành phần tối
ưu, thành phần nổi trội hay trội vượt hơn mọi người khác, nên mình phải thay mặt
họ, nhưng không thể để họ tự quyết định. Điều này thực chất không hoàn toàn
sai, nhưng ngược lại cũng không hoàn toàn đúng. Bởi vì dân chủ là nguyên lý mà
không phải chỉ là thực tế hay lý thuyết. Điều này có nghĩa nguyên lý bao giờ
cũng quyết định thực tế và lý thuyết mà hoàn toàn không thể có điều ngược lại.
Bởi nguyên lý là ý nghĩa giá trị khách quan khoa học, là điều không thể khác,
còn lý thuyết hay thực tế có thể là những cảm quan nhất thời, có thể phù hợp
hay đúng với nguyên lý trong các thực tế nào đó, nhưng không bao giờ đúng thường
xuyên hoặc đúng vĩnh cửu. Cái đầu là cái gốc, cái sau là cái ngọn. Gốc bao giờ
cũng sinh ra được cành nhánh, nhưng không bao giờ là điều ngược lại.
Cho
nên mọi người sinh ra đều bình đẳng trong xã hội, nhưng quản lý xã hội, lãnh đạo
xã hội luôn phải cần những thành phần trội vượt, những phần tử ưu tú, tài năng,
nhưng không thể chỉ kiểu cá mè một lứa. Đây là một ý nghĩa hoàn toàn thực tế,
khách quan, vì nói ngược lại điều này chỉ có nghĩa là chủ quan, là giả dối, là
mỵ dân, không phải có ý nghĩa hoặc giá trị đúng đắn hoặc hữu lý. Đó là lý do tại
sao từ các xã hội cổ xưa cho đến hiện đại, bao giờ những người ra làm quản lý đời
sống chung, tức giới làm quan, làm công chức cũng phải là người có hiểu biết,
có học, có chuyên môn, được đào tạo, không phải ai ai cũng tự tiện thò tay vào
được. Có nghĩa nguyên tắc giáo dục, nguyên tắc văn minh, nguyên tắc trật tự vẫn
là nguyên lý muôn đời của xã hội loài người, và không bất kỳ ai có lý do gì
khác để đi ngược lại cả. Cũng chính trong ý nghĩa và nhu cầu đó mà mọi nền giáo
dục đúng đắn, mọi ý nghĩa văn minh thực chất, mọi trật tự hữu lý đều phải mang
tính chất tự do, dân chủ, khoa học khách quan thật sự, mà không thể lệch lạc,
chủ quan, phản dân chủ, phản tự do, hoặc mờ tối như thế nào đó. Đó cũng chính
là ý nghĩa của tính chân lý, tính hiệu quả, mà không bất kỳ ai có thể nói khác,
đi ngược, hay phủ nhận lại được.
Cũng
chính trong ý nghĩa đó mà bất kỳ lý thuyết nào cho giai cấp là động lực của
phát triển xã hội, cho luật pháp, cho nhà nước là công cụ của giai cấp thống trị,
là sản phẩm của ý hệ giai cấp, thực chất đều không có cơ sở khách quan khoa học,
hay thậm chí gọi được là ngụy thuyết, vì các lý do như trên đã nói. Có nghĩa
kinh tế là nhu cầu cơ bản của xã hội, nhưng thực chất bản thân nó không có gì
là huyền bí cả. Mục đích hay đối tượng của kinh tế là nhằm tạo ra sản phẩm, tạo
ra dịch vụ để đáp ứng mọi nhu cầu cần thiết hiện có của xã hội. Đó là tính cách
con người, tính cách nhân bản của kinh tế. Kinh tế là nền tảng, là cơ sở của ý
thức, tinh thần của cá nhân cũng như của xã hội, nhưng kinh tế không thể tự biệt
lập hoặc là nguyên do tạo ra duy nhất của cái do nó làm nền tảng hay cơ sở. Có
nghĩa chủ nghĩa thuần túy duy vật, thuần túy duy kinh tế không hề là một quan
điểm thật sự có tính nhân văn hoặc hoàn toàn sáng suốt. Điều đó cũng có nghĩa
giai cấp là do bản thân các cá nhân tạo nên, không có giai cấp theo kiểu như một
phạm trù hay bản thể nào đó có tính tiên quyết, hay tiên thiên, vì đó chỉ là ý
nghĩa huyền thoại, huyền hoặc, không khách quan, khoa học, hay thậm chí hoàn
toàn mê tín.
Chính
kinh tế tạo nên văn hóa, nhưng ngược lại văn hóa cũng là nền tảng của kinh tế.
Nói khác đi, đây là mối tương quan qua lại hai chiều, không thể có cái này nếu
không có cái kía, nên tuyệt đối hóa vế nào trong cả hai đều chỉ là phiến diện
hoặc què quặt. Bởi kinh tế luôn luôn là ý nghĩa cụ thể, nên phát triển kinh tế
tất yếu phải dựa vào khoa học, kỹ thuật. Còn văn minh, văn hóa là ý thức, tinh
thần, nên phát triển văn hóa, văn minh không phải chỉ dựa vào vật chất, kinh tế,
mà còn dựa vào ý thức, tinh thần, cũng là điều chính yếu hay cũng mang ý nghĩa
và giá trị quan trọng không kém. Nói như vậy cũng để thấy kinh tế, vật chất
không thể bao giờ là mục đích tối hậu, mà thật sự nó chỉ là phương tiện cần thiết,
cả phương diện cá nhân cũng như xã hội. Chính ý nghĩa của tinh thần, ý thức,
văn hóa, văn minh mới là mục đích. Đó là điều không thể nhầm lẫn. Bởi nhầm lẫn
là rơi vào quan điểm duy vật, duy kinh tế hoàn toàn hoặc hết sức dung tục, vô
lý và tầm thường. Cho nên, trong ý nghĩa đó, giai cấp là đối tượng phải quan
tâm của xã hội, mà không phải là đầu tàu hay động lực, như là một số quan niệm
lâu này vẫn nhầm lẫn. Có nghĩa các quan điểm coi giai cấp như là ý nghĩa tiên
thiên, coi ý thức giai cấp như là động lực của lịch sử, thật sự chỉ mang tính
cách siêu hình, huyền hoặc, phi thực tế, phản khoa học, có tác hại đến chính
giai cấp và xã hội hơn là hữu ích hoặc có lợi.
Lý
do tại sao, vì ý nghĩa chung của xã hội luôn luôn là ý nghĩa vĩ mô mà không là
ý nghĩa vi mô. Ý nghĩa vĩ mô là ý nghĩa của cộng đồng, của tổng thể. Trong khi
đó ý nghĩa của vi mô là ý nghĩa của cá thể, của riêng tư, của sự đặc thù, và của
tính phiến diện. Mọi sự quan hệ vi mô có thể khập khiễng, tương đối, không lý
tưởng, thiếu sót, không đầy đủ, và khuyết điểm. Nhưng ý nghĩa của quan hệ vĩ mô
phải luôn luôn cần hướng tới chỗ lý tưởng, tức là tới tính kết quả đầy đủ, tối
ưu, hoặc trọn vẹn nhất. Điều này chẳng khác gì mọi giọt nước, mọi ngòi lạch nhỏ
đều phải chảy về các dòng sông và trôi ra biển, đó chính là nguyên lý. Trong ý
nghĩa đó cũng thấy rõ nước chảy xuống, lửa bốc lên, chính là những nguyên lý
khách quan làm cơ sở không những cho thiên nhiên mà cả toàn bộ đời sống xã hội
của con người, là nguyên lý đời đời không thay đổi trong lịch sử, để thấy được
nguyên lý quan trọng và cần thiết ra sao như trên kia đã nói. Đó cũng là ý
nghĩa của khoa học, tức tìm ra các nguyên lý, các cấu trúc khách quan của sự vật
để nhằm đạt đến mọi kết quả thiết yếu nhất, mà không phải chỉ dựa vào cảm tính,
vào thói quen hay kinh nghiệm thực tế. Đó cũng chính là yêu cầu của xã hội, của
pháp luật, của chính trị, mà ngay từ đầu đã nói.
Như
thế, đến đây cũng thấy được rõ ràng xã hội là cái gốc, còn pháp luật chỉ là cái
trung gian, và chính trị thực chất chỉ là cái ngọn. Bởi xã hội là căn bản, là
cơ sở của tập hợp những con người. Chính tập hợp của những con người cụ thể,
khách quan đó làm nên kinh tế, làm nên pháp luật, làm nên chính trị mà không là
gì khác. Pháp luật thật sự chỉ là cái trung gian cần thiết, bất kỳ ở đâu, thời
nào, xã hội nào đều cần phải có. Kinh tế, văn hóa cũng vậy. Nhưng chính trị quả
thật chỉ là sản phẩm thuần túy, là công cụ thuần túy của tất cả những cái đó mà
không hề là mục đích. Có nghĩa thực chất chính trị chỉ là công cụ để phục vụ xã
hội mà không phải là mục đích để bắt ép hay nắm đầu xã hội. Nói khác đi, chính
trị là công cụ hiệu quả nhất để điều hòa giai cấp, tức điều hòa các lợi ích và
quyền lợi của giai cấp, không phải là công cụ của giai cấp hay mục đích của
giai cấp như có lý thuyết đã chủ trương hoặc phản ánh một cách hoàn toàn phi
khoa học và không thực tế. Đó chỉ là một quan điểm mang tính chất của lý thuyết
siêu hình như trên kia đã lý giải. Đây cũng chính là ý nghĩa cần nên mổ xẻ và
phân tích. Bởi vì vấn đề ở đây là ý nghĩa khoa học, khách quan, hiệu quả trong
thực tế, mà không phải chỉ cảm tính, siêu hình, chủ quan, hoặc phản khoa học
hay phi khoa học.
Bởi
tại làm sao, là bởi cái lo kinh tế luôn luôn là cái lo riêng, còn cái lo pháp
luật, xã hội, chính trị lại luôn là cái lo chung không thể nào khác được. Cho
nên mọi cái lo riêng không thể nào bất chấp hoặc đi ra ngoài hay vượt lên cái
lo chung, là điều không thể bao giờ được cho phép. Đó cũng là ý nghĩa tại sao
pháp luật phải cần khách quan, vô tư, và chính trị thì không thể đồng thời cùng
lo về kinh tế được. Vì pháp luật mà không khách quan, vô tư, khoa học, thì phản
pháp luật, phản hiệu dụng, vì sẽ tạo ra sự bất công, sự phản xã hội, sự mất niềm
tin vào pháp quyền, và khiến xã hội sẽ loạn, vì phá nát cái khung sườn lý tưởng,
chung nhất, mà mọi người phải tin cậy, phải nương theo đó. Cũng vậy, chính trị
mà cùng lo về kinh tế là phi chức năng, phản chức năng, hoàn toàn không cần thiết,
vì như vậy cũng đã đánh mất ý nghĩa tổng quát, chung nhất của chính trị. Vả
chăng, đó cũng là lợi điểm, là cơ hội hay điều kiện thuận lợi để các cá nhân có
thể làm giàu hoặc tham nhũng. Vì trong tính cách nhập nhèm, nhá nhem giữa hai lằn
rành, sẽ không biết đâu là thực chất, không biết đâu hiệu lực hoặc kết quả mà tất
yếu cần phải luôn luôn phân biệt. Lý do, vì làm chính trị thì không thể nghĩ đến
cá nhân, không có quyền nghĩ đến cá nhân. Muốn nghĩ đến cá nhân, muốn vì quyền
lợi cá nhân, tất yếu phải làm kinh tế, không thể cùng nhập nhèm được cả hai, đó
là điều cấm kỵ tự nhiên, mang tính cách lý tưởng phải có, hoặc ý nghĩa hay giá
trị cần thiết, mà ai ai cũng phải biết.
Cho
nên, giai cấp thực chất là giai cấp kinh tế, không thể là giai cấp chính trị, bởi
giai cấp mà chính trị thì cũng thủ tiêu chính trị, không còn ý nghĩa cần thiết,
tự nhiên, đúng đắn, khách quan của chính trị nữa. Vì thực chất, ý nghĩa, mục
đích hay chức năng của chính, trị chính là ý nghĩa, mục đích, hay chức năng về
xã hội, mà không thể thuần túy chỉ là kinh tế. Kinh tế chỉ là một bộ phận, một
lãnh vực của xã hội, nhưng không bao giờ và không thể nào bao quát cả toàn xã hội.
Điều này có nghĩa giai cấp nào phải cần được quan tâm nhất trong xã hội, đó
cũng là mục tiêu quan trọng của chính trị, mà không thể coi thường hoặc bất chấp.
Bởi chính trị nắm trong tay công cụ pháp luật, nếu không làm được điều đó thì lấy
gì để trông cậy, còn ai tin tưởng được, và chính trị cũng tầm thường hóa, đánh
mất mục tiêu hay chức năng phải có của chính mình. Nói cụ thể, minh bạch hơn,
trong bất kỳ xã hội nào, giai cấp công nhân và giai cấp công nhân là hai giai cấp
cần phải được quan tâm hàng đầu nhất của mọi người làm chính trị chân chính, của
mọi nền chính trị chân chính, nếu thực chất không phải là sự nhân danh, sự lợi
dụng, sự lơ là hay thậm chí là sự phản bội lại họ. Đó không những là ý nghĩa
khoa học, ý nghĩa xã hội, mà còn là ý nghĩa nhân văn một cách khách quan(1).
Vậy
thì thực chất, người công nhân và người nông dân đúng nghĩa đều là những người
làm kinh tế mà không bao giờ là những người làm chính trị. Bởi khi họ làm chính
trị được một cách thật sự hiệu quả, có nghĩa họ phải trở nên chuyên nghiệp, phải
trong tính cách như những đại biểu được lựa chọn, tức phải có năng lực hay ý thức
chính trị, phải có tri thức thật sự, còn không chí ít họ phải có học, có chuyên
môn, có đào tạo để trở thành công nhân viên chức của nhà nước, của các đoàn thể
chính trị, có nghĩa họ cũng đã mặc nhiên thoát ly hay tạm thời rời bỏ giai cấp
vốn có của chính họ. Đó là ý nghĩa hoàn toàn khách quan, tự nhiên, vì nói ngược
lại chỉ là giả dối, là mị dân, là phản khoa học. Điều đó có nghĩa giai cấp nông
dân, giai cấp công nhân, hoặc các giai cấp có những điểm bất lợi nào đó trong
xã hội đều phải cần được bảo vệ, bênh vực. Người bênh vực họ chính là những người
trong các giai cấp của họ, hay những người làm chính trị chân chính, có lý tưởng
xã hội thật sự, cho dù có thể xuất phát hoặc xuất xứ từ bất kỳ giai tầng hoặc
giai cấp xã hội nào. Nói như vậy để thấy rằng chính trị thực chất phải là một
khoa học, một văn hóa, một đạo đức thực tiển, mà không phải chỉ là một ý thức hệ
trừu tượng nào.
Điều
đó cũng có nghĩa xã hội luôn luôn là một bản thân khách quan của con người mà
không thể là một mục đích. Mục đích của mỗi cá nhân con người là ý thức, tinh
thần, là văn minh, văn hóa, là tri thức hiểu biết, là ý nghĩa và giá trị đạo đức
mọi mặt, mà không phải chỉ là xã hội. Nói cách khác, xã hội chỉ là môi trường,
là bản thân thứ hai, bản thân khách quan của con người, mà không phải duy nhất
là mục đích của con người. Xã hội là điều kiện cần nhưng không bao giờ là điều
kiện đủ. Xã hội là công cụ, là phương tiện để phát triển cá nhân, cá nhân có
nghĩa vụ, có trách nhiệm đối với xã hội, nhưng không thể coi xã hội là mục đích
tối hậu, vì như thế là không thực chất và hoàn toàn vô lý. Có nghĩa mọi hình
thái hay cách tổ chức xã hội như thế nào đó, thực chất cũng chỉ là những hình
thức bên ngoài, hoặc mang tính chủ quan hay khách quan, hoặc tự nhiên hay bó buộc,
áp đặt, mà không hề là mục đích tối hậu, ý nghĩa mục tiêu hay giá trị. Đó chẳng
qua cũng chỉ là những quan điểm sính tổ chức, sính cai trị xã hội, cai trị người
khác, mà không hề là mục đích nhân văn đúng nghĩa. Chẳng hạn, như nhà nước hay
xã hội Việt Nam hỉện nay, đúng ra phải là một nhà nước theo định hướng khoa học, khách quan, thực tiển,
mà không phải chỉ là nhà nước theo “định hướng xã hội chủ nghĩa” như kiểu thuần
túy ý thức hệ giáo điều xưa cũ, mà có thể có một số lý thuyết gia trong tính
cách hạn hẹp, vô trách nhiệm nào đó, biết đâu đã từng tư vấn(1). Đó cũng chính là điều để cho mọi người
Việt Nam thức thời, có ý thức nghiêm túc ngày nay nhất thiết bắt buộc cần phải
quan tâm suy nghĩ.
VÕ
HƯNG THANH
(11/03/2011)
**
CÁI
ĐỨC CỦA NHÀ CẦM QUYỀN
Cái
đức của nhà cầm quyền thì sách vở đông tây kim cổ hẳn nhiên đã nói tới nhiều rồi,
có nhắc lại cũng tốt, song nhiều khi cũng bằng thừa, bởi mỗi thời đại có thể có
các yêu cầu và cách nhìn hoàn toàn khác nhau. Bởi vậy bài viết này chỉ tập
trung nói về thời hiện đại. Song tất nhiên trước khi nói đến cái đức của nhà cầm
quyền, phải nói đến cái đức của con người, vì bất cứ nhà cầm quyền nào chẳng
qua đó cũng chỉ là những lực lượng con người, tức mọi cá nhân những con người
liên quan trong đó tạo ra, mà cụ thể là những người đứng đầu, tức chính phủ và
chính quyền của một nước.
Thế
cái đức của mỗi cá nhân con người trước hết là gì ? Đó là điều tốt hay giá trị
tốt của bản thân cá nhân đó. Bởi đức có nghĩa là đạo đức, tức ý nghĩa tốt, ý
nghĩa đúng đắn và hữu lý, vừa ích lợi cho chính bản thân cá nhân mà cũng ích lợi
cho mọi người khác nói chung. Điều tốt hay cái đức đó chính là điều đức hạnh,
mà dĩ nhiên trong đó phải có ý nghĩa nhận thức, ý nghĩa trung thực, và ý nghĩa
thiện chí. Bởi nếu không nhận thức thì mù quáng, không mang khả năng tự chủ,
cũng rất khó mà trung thực được với mình, với người khác, và như thế cũng thiết
yếu rất khó để có thiện chí với mọi người hay với toàn xã hội. Vậy rõ ràng như
thế thì đức trung thực, đức thẳng thắn phải là những đức tính hàng đầu của ý
nghĩa cái đức nơi cá nhân cũng như nơi nhà cầm quyền ở mọi lúc, mọi nơi và
trong mọi thời đại.
Chính
sự trung thực tạo nên niềm tin nơi người khác, đó là yếu tố an tâm, yếu tố đoàn
kết. Còn sự thẳng thắn là nền tảng của sự phát triển và sự tiến bộ. Vì thẳng thắn
mới có đấu tranh, loại bỏ, chỉnh đốn cái sai, cái xấu để tìm đến cái đúng, cái
phát triển, cái tiến tới. Mặt khác, tính trung thực cũng là yếu tố của sự thẳng
thắn, vì không trung thực thì cũng không thể có thẳng thắn, mà không thẳng thắn
thì nhu nhược, giả dối, lừa mị, không có đấu tranh tích cực vì các mục tiêu, ý
nghĩa hay giá trị tích cực, có nghĩa cũng sẽ không có điều gì đáng giá hết, hay
không còn gì để nói nữa hết. Điều này không những chỉ mang tính chất đức hạnh
cá nhân, mà còn mang cả ý nghĩa chính trị và xã hội, có khi cả ý nghĩa lịch sử
nói chung trong mọi thời đại mà mọi người đều có thể dễ dàng đánh giá, kết luận
hoặc suy ra được. Bởi lẽ mọi người đều biết không ai có thể lấy tay che được mặt
trời, và mọi sự thật hay ý nghĩa khách quan vẫn chỉ có thể che giấu được trong
các không gian, thời gian nhất định nào đó, nhưng không bao giờ che giấu được
mãi với lịch sử và với thời gian.
Điều
đó cũng nói lên cái đức của nhà cầm quyền nó là như thế. Bởi vì mọi nhà cầm quyền
đều phải từ những cá nhân trong xã hội mà ra. Ở đây không nói tại sao những cá
nhân nào đó được lên cầm quyền, bởi vì nguồn gốc của điều ấy có cả ngàn lý do
và thiên hình vạn trạng, nhưng cái chính là cái đức của nhà cầm quyền như thế
nào mới chính là điều đang được nói tới. Bởi mọi nhà cầm quyền thực chất đều
mang ba ý nghĩa, ý nghĩa hiện tại, ý nghĩa tương lai, và ý nghĩa lịch sử. Ý
nghĩa hiện tại là yêu cầu giải quyết mọi thực trạng hiện tại của xã hội làm sao
cho hiệu quả, tốt đẹp hoặc tối ưu nhất. Ý nghĩa tương lai là từ nền tảng giải
quyết hiện tại đó cũng đồng thời đặt để hay tạo lập nền tảng, triển vọng của mọi
sự phát triển xã hội trong tương lai. Ý nghĩa lịch sử là dù cá nhân, đảng phái,
tập thể, hay nhà cầm quyền trong mọi giai đoạn lịch sử đều không thể trốn chạy
đi đâu được khỏi sự đánh giá, khen chê về mọi mặt của lịch sử nói chung về sau
này, nếu không nói là một cách hoàn toàn vĩnh cửu.
Thế
thì nếu không nói những cá nhân hoặc những tập hợp con người nào đó, vì những
hoàn cảnh lịch sử xã hội nào đó mà lên cầm quyền được, cho dù trong những thời
gian ra sao, chỉ là chuyện khác. Còn những nhà cầm quyền thật sự có ý thức, có
ý chí, có mục đích, có thiện chí, tất nhiên không thể không quan tâm tới cái đức
của nhà cầm quyền như trên kia đã nói. Bởi vì ai cũng biết, sự cầm quyền là một
thực tế xã hội phức tạp mà không hề đơn giản. Vì bất kỳ một cá nhân nào đó có
quyền, không hề chỉ độc nhất riêng cá nhân đó, mà đàng sau anh ta, chung quanh
anh ta, có biết bao nhiêu là lực lượng, là sức mạnh mà thực chất anh ta không
hoàn toàn độc lập hoặc tách rời ra được. Đó là lực lượng, đảng phái hay nhóm
người nào đó đã đưa anh ta lên cầm quyền. Đó là cả một cơ chế nhà nước, chế độ,
chính phủ đứng đằng sau lưng anh ta. Ngay trong chính phủ, mỗi khi quyết định
điều gì quan trọng đều cũng phải họp bàn, hỏi ý kiến chung ngang cấp, cấp trên,
kể cả đôi khi cấp dưới, cũng có khi phải hỏi ý kiến cả toàn dân, đâu phải chỉ
hoàn toàn tùy tiện hoặc đơn giản.
Tuy
vậy, qua đó vẫn có thể nói được có hai diện đối lập hoặc khác nhau chính yếu.
Đó là nhà cầm quyền, xã hội hay toàn dân. Đây là một thực tế khách quan, hoàn
toàn hiển nhiên, nên cũng không thể xem thường. Nhà cầm quyền xem thường dân,
trước sau cũng phải đương đầu với dân, sự bạo loạn, sự lật đổ, sự đổ máu thế
nào rồi cũng sẽ xảy ra, kiểu như tức nước vỡ bờ, bất kỳ trong thời đại nào, hay
nước nào cũng thế. Người dân xem thường nhà cầm quyền, tất nhiên có thể đưa đến
bạo lực, trấn áp, bất kể những điều đó có cần thiết hoặc chính đáng hay không.
Bởi mọi người dân trong tay đều không có một tất sắt. Trong khi đó quyền lực của
nhà cầm quyền bao giờ cũng là súng ống, đạn dược, vũ lực. Điều này chẳng khác
gì người ngồi trong xe với người đi chân đất dưới lề đường. Cho dù người lái xe
đó có như thế nào, song nếu đó là chiếc xe bọc thép, dĩ nhiên không ai tay
không mà có thể cự lại được. Đó chỉ là mối tương quan giữa vật chất và thân xác
con người. Đó chỉ là mối tương quan xấu, mối quan hệ bạo hành. Còn mối quan hệ
tốt giữa người và người, dĩ nhiên bao giờ cũng phải là mối quan hệ về ý thức, về
nhận thức, về đức hạnh, về đối thoại, trao đổi, để cùng tìm ra một hướng đúng,
một nhu cầu chính đáng, như trên kia đã nói.
Bởi
vì bất kỳ nhà cầm quyền nào hình thành nên trong lịch sử, hoặc đó là do nhu cầu
khách quan của lịch sử, hoàn cảnh lịch sử cụ thể, hoặc do các tham vọng cá nhân
chủ quan, được đưa đẩy bởi những yếu tố ngẫu nhiên hoặc các phương cách khôn
ngoan nào đó. Tất nhiên, không một cá nhân hay nhóm cá nhân nào có thể khơi
khơi mà tự thân lên cầm quyền được. Luôn luôn họ phải dựa vào số động. Chính số
đông ban đầu là lực lượng thực tế đã đưa họ lên. Song kết quả sau đó là những
người được đưa lên trở thành nhà cẩm quyền, và mọi người còn lại đều trở thành
dân. Điều này đúng trong thời đại phong kiến cũng như đúng với mọi cuộc cách mạng
nói chung, từ các cuộc cách mạng tư sản dân quyền ở Mỹ, ở Pháp trước kia, hoặc
cuộc cách mạng vô sản ở Liên xô và nhiều nước tiếp theo trong thời kỳ đó cũng
thế. Đây chỉ là quy luật khách quan xã hội, ai có nói khác đi hay muốn khác đi
cũng không được. Có lý thuyết cho rằng vấn đề cầm quyền chỉ là vấn đề giai cấp.
Nói như vậy chẳng khác gì cưỡng lý đoạt từ, là kiểu nói bướng hay kiểu mê tín dị
đoan, bởi vì đấu tranh giai cấp trong xã hội thực chất luôn luôn là đấu tranh
kinh tế, còn đấu tranh chính trị lại vẫn luôn là đấu tranh quyền hành. Quyền
hành bao trùm cả toàn xã hội, trong khi đó kinh tế chỉ mang tính cách cá nhân
hay các giai tầng xã hội nào đó nhất định.
Hãy
lấy hình ảnh một cái xe, một con tàu, mọi bộ phận trong đó có thể có mọi chiều
ngược nhau hay khác nhau, nhưng bộ phận tay lái hay vô lăng chỉ có một. Đó là bộ
phận phải nhìn thấy và nhìn đến đàng trước, không thể nhìn ra phía sau hay nhìn
nghiêng sang bên, cho dầu cách thiết kế tay lái hay vô lăng có thể trên mặt
cong, mặt phẳng đứng, hoặc mặt phẳng nằm ngang như thế nào đó là tùy nhà sản xuất.
Tuy nhiên, một thực tế khác là quyền hành dễ dàng cùng đi theo với quyền lợi và
ý chí làm chủ. Đó là tính cách của cha truyền con nối ngôi vua thời quân chủ,
hay bất kỳ hình thức độc tài nào. Ngược lại, ý nghĩa thời của dân chủ hiện đại
phải là dân bầu đúng nghĩa, tức là nguyên tắc phổ thông đầu phiếu hoàn toàn thực
chất và tự do để toàn dân lựa chọn nhà cầm quyền một cách hoàn toàn khách quan
và sòng phẳng, là một lẽ công bằng, thích đáng, và hoàn toàn hợp lý nhất. Bởi
tính cách chính trị luôn luôn đi theo với quyền lợi, cho nên bất kỳ một lực lượng
nào lên cầm quyền, thường cũng kéo theo bè phái, những kẻ điếu đóm, những kẻ ăn
theo, những kẻ xu nịnh, những kẻ cơ hội, lợi dụng, đó là điều hoàn toàn không
tránh khỏi, mà bất kỳ lịch sử ở đâu, thời nào cũng cho thấy điều đó.
Chính
vì thế mà chỉ có cái đức của nhà cầm quyền mới có thể chế ngự được phần nào mọi
tính chất tiêu cực đó. Ngoài ra chính thể chế dân chủ, tự do khách quan, cũng
là biện pháp kỹ thuật hữu hiệu nhất về mọi tiêu cực xã hội ăn theo chính trị
như trên đã nói. Bởi bản năng, tham vọng của mọi cá nhân luôn luôn vô hạn, nếu
không có ý chí và điều kiện dân chủ cho toàn dân thì không thể nào tránh khỏi
được. Dân chủ, tự do của xã hội như vậy không phải chỉ là một nghĩa vụ, một bổn
phận, một trách nhiệm, mà còn là cái đức của nhà cẩm quyền, tức nhà cầm quyền
lành mạnh, hợp lòng dân, nhà cầm quyền tiến bộ, hữu ích. Còn nếu ngược lại thì
là chuyện khác. Do đó, cầm quyền không thể nào theo cách mút mùa lệ thủy, mà phải
có bầu bán chân thực, phải có nhiệm kỳ cụ thể, rõ ràng, nhất định. Tổng thống
Putin của Nga, qua hai nhiệm kỳ thì phải lui bước cho người kế nhiệm của mình
mà xuống làm Thủ tướng. Đó là một mẫu mực tiến bộ rất đáng khen, đáng ca ngợi
và hoàn toàn hợp lý. Bởi không bất kỳ ai có thể tự cho mình giỏi, mình cần thiết
để nắm quyền suốt đời. Đó chỉ có thể là sự lạm quyền, sự mị dân, sự giả dối, bởi
vì nguyên tắc hậu sinh khả ủy và nguyên lý có mợ chợ cũng đông, không có mợ chợ
cũng chẳng bỏ không bữa nào, đều là những chân lý khách quan mà dân gian muôn đời
đã hoàn toàn thấm đượm.
Vậy
thì rõ ràng cái đức của nhà cầm quyền là cái vô cùng quan trọng, hay thực tế hết
sức quan trọng. Cái đức đó ngay từ đầu bài chúng ta đã nói nó gồm có những yếu
tố thiết yếu như thế nào rồi. Cho nên nếu hiểu chính trị chỉ là các thủ đoạn được
thực hiện để lên cầm quyền và nắm quyền lâu dài là điều hoàn toàn không đúng.
Đó là kiểu chính trị bá đạo trong thời tao loạn. Trong khi đó kiểu chính trị của
các bậc minh quân, anh hùng, thật sự luôn luôn đều là kiểu chính trị vương đạo,
tức là việc đưa lên hoàn toàn do dân, việc nắm quyền hoàn toàn vì dân, và việc
nhường quyền cũng hoàn toàn vì dân. Điều đó không nói đâu xa, cả nước ta trong
thời quân chủ cũng không phải hoàn toàn không có. Nhưng đó là nói ngày xưa, khi
trình độ phát triển xã hội còn thấp, trình trạng dân trí chưa cao và chưa phổ
biến. Ngược lại, thời đại ngày nay là thời công nghiệp, thời dân chủ tự do, thời
điện toán, ý nghĩa của sự cầm quyền là ý nghĩa khách quan, khoa học, mà không
thể là ý nghĩa chủ quan hay giả tạo. Có nghĩa người cầm quyền, hệ thống cầm quyền,
chính phủ cầm quyền, kể cả đảng phái cầm quyền phải cần là những tinh hoa thật
sự của xã hội, của đất nước, mà không phải chỉ kiểu đào tạo hàng loạt, lâu năm
lên lão làng, hoặc cầm quyền theo kiểu chủ quan, tự nghĩ mình tài giỏi, cần thiết,
không thể ai thay thế được. Điều đó có nghĩa cầm quyền không giống với việc lái
xe, kiểu ai ngồi vào vô lăng đều có thể lái được, còn xe chạy ra sao mặc kệ.
Ngược lại, cầm quyền phải thể hiện tính chất tinh hoa của xã hội(1).
Bởi
người cầm quyền không giống như một chủ tọa cuộc họp, chỉ ngồi đó và tiếp thu ý
kiến của bá tính đăng làm của mình, và rút ra kết luận thực hiện, cũng coi như
đã xong. Trái lại, người chủ tọa cuộc họp biết hướng dẫn cuộc họp lại là chuyện
khác, và người cầm quyền có được khả năng lãnh đạo “tàng hung trung”, tức năng
lực thấy trước, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết tối ưu nhất về mọi vấn đề,
hay mọi ý nghĩa trọng đại, nhưng vốn đã được tàng chứa trong lòng rồi, lại là
chuyện khác. Đó là điều mà đất nước ta trong thời quá khứ, hay ngay cả cụ thể ở
miền Nam trước đây, đã hoàn toàn cho thấy rõ. Kiểu lên voi xuống chó, chính phủ
này thay chính phủ trước, rồi khi lên rồi, khi đã nắm quyền trong tay, lại càng
tệ hại hơn, sa sút hơn giai đoạn tiền nhiêm. Đó cũng là ý nghĩa để ngày nay rất
nên hiểu chính trị cần phải đi theo với sự công chính, mà không nên đi theo với
sự tuyên truyền. Bởi sự công chính thì không thể lừa dân hay mị dân, nên khi
chính quyền đã được xây lên, cũng phải là chính quyền do dân, của dân, vì dân
trong thực chất, không phải là kiểu cầm quyền mang tính hình thức, hay cầm quyền
mà thiếu đức, như toàn bộ các ý nghĩa phần trên đã phân tích. Nên nói tóm lại,
mọi sự tuyền truyền chính trị chính nghĩa nếu phải có, cũng luôn luôn sẽ đi đến
những kết quả chính trị chính nghĩa. Trái lại, mọi sự tuyên truyền chính trị
phi chính nghĩa được sử dụng, tức giả dối, thì luôn luôn cũng chỉ đi đến những
kết quả chính trị phi chính nghĩa, giả dối. Đây vẫn luôn là một bài học chung của
nhân loại, trong đó không loại trừ bất cứ quốc gia nào, dân tộc nào, hay thời đại
nào, nên tất cả mọi người ngày nay, dù ở đâu và trong điều kiện, hay trường hợp
ra sao, đều có thể cùng nhau nên suy xét.
VÕ
HƯNG THANH
(10/3/2011)
**
VỀ
VẤN ĐỀ CỜ XÍ VÀ CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ
Chế
độ chính trị là thể chế chính trị của một nước. Đó là khi một lực lượng chính
trị nào đó đã lên cầm quyền trong cả nước và thiết lập ra một chính phủ nhất định.
Chính phủ đó quyết định chế độ chính trị trong nước đó như thế nào, đó là thể
chế chính trị của nước đó. Điều này trong lịch sử từ trước đến nay đã có sự
khác nhau giữa chế độ quân chủ và chế độ cộng hòa, giữa chế độ tư sản và chế độ
cộng sản. Đó là điều rất rõ ràng hiện nay trên thế giới mọi người đều đã biết,
không có gì cần phải úp mở hoặc che đậy được nữa. Vấn đề là tùy theo một hoàn cảnh
hay điều kiện thực tế xã hội cụ thể mà người ta buộc phải giải thích, hay buộc
phải nghe sự giải thích theo cách như thế nào đó nhằm cho dễ nghe, hoặc để có
thể được lọt tai ra sao thôi.
Nói
khác đi, trong thời quân chủ, triều đại nào lên do dẹp yên được loạn lạc bờ
cõi, do lật đổ được triều đại cũ trước đó, do giải phóng được ách ngoại xâm, vậy
là khai sinh ra triều đại mới, trở thành vị vua hay vị hoàng đế mới. Tất nhiên
quân chủ là cha truyền con nối, có khi triều đại kéo dài nhiều trăm năm, lúc
hưng, lúc bế, có khi bị mất ngôi nhiều lúc lãng xẹt, và chuyển sang triều chính
khác có thể tệ hơn, hoặc có khi cũng tốt hơn. Đã là quân chủ thì quyền thuộc
vua mà không thuộc nhân dân, đó là quyền cá nhân mà không thể nào tập thể, bởi
một nước không thể một ngày không có vua, và một nước cũng không thể cùng lúc
có nhiều vua. Chế độ quân chủ tất nhiên cũng là chế độ độc tài, nhưng đó là độc
tài cá nhân, ý vua là “ý trời”, không bất kỳ thần dân nào có thể đi ngược hay
xâm hại đến được, cho rằng nó có thể phi lý ra sao. Tất nhiên người ta cũng có
thể đặt ra các cơ quan hoặc cá nhân can gián vua, đó là các chức quan gián nghị
đại phu ngày xưa mà ai ai cũng biết.
Nhưng
tới khi xuất hiện định chế dân chủ thì mọi việc đã hoàn toàn khác. Quyền chính
trong cả nước không thuộc về vua kiểu cha truyền con nối nữa, mà thuộc về toàn
dân. Chính nhân dân đi bầu trực tiếp, tự do lựa chọn ra người đứng đầu đất nước
để lãnh đạo mình. Ngoài ra, dân cũng bầu đại biểu Quốc hội để soạn thảo Hiến
pháp, gọi là Quốc hội lập hiến. Có Hiến pháp, tức luật mẹ, luật cơ bản xong, thì
hoặc Quốc hội lập hiến được chuyển qua, hoặc được bầu mới một Quốc hội lập pháp
khác để làm ra pháp luật pháp nói chung, và cũng là cơ quan thường xuyên đại biểu
cho dân. Cũng từ Quốc hội mà lập ra ngành Tòa án độc lập, tức là ngành tư pháp.
Vậy đã có sự phân biệt ba quyền cơ bản, hay tam quyền phân lập theo kiểu dân chủ,
đó là Lập pháp, Hành pháp, và Tư pháp như trên đây đã thấy. Đại để cả ba cơ
quan này độc lập nhau, cùng là đại diện cho dân, nhưng có nguồn gốc bình đẳng
nhau, nhằm để kiểm soát, hỗ trợ cùng nhau nhưng không thể xen lấn hoặc thay thế
lẫn nhau. Ý nghĩa trên hoàn toàn là ý nghĩa khách quan, khoa học, vốn đã được
thiết lập ngay từ đầu trong những nhà nước dân chủ tư sản sau khi phế truất được
chế độ quân chủ chuyên chế. Do vậy các chế độ quân chủ đại nghị về sau cũng
không đi ra ngoài nguyên tắc này, và nhà vua trong các nước đó cũng chỉ mang
tính chất tượng trưng mà không còn uy quyền thực tế.
Song
tới khi cuộc Cách mạng tháng Mười năm 1917 xảy ra ở Nga, nhà nước Liên bang Xô
viết hay Liên xô thành lập, thực hành theo học thuyết Mác, có nghĩa nhà nước
theo chuyên chính vô sản, thì sự việc lại một lần nữa được đổi khác. Trong ý
nghĩa tiến tới một xã hội cộng sản, mà giai đoạn đầu là xã hội xã hội chủ
nghĩa, thì nguyên tắc mới đảng cộng sản lãnh đạo lại trở thành nguyên tắc cốt
cán. Có nghĩa khái niệm nhà nước tư sản với nguyên lý tam quyền phân lập bị loại
bỏ. Cả ba quyền đó thật sự bây giờ chỉ được tập trung vào một xuất phát điểm
duy nhất, đó là đảng cộng sản lãnh đạo toàn diện. Vì nếu không làm như thế thì
không tiến tới xã hội vô sản để đi lên xã hội cộng sản trong tương lai được, chỉ
là một nguyên tắc đương nhiên. Đây là điều đã từng có suốt trong thời kỳ tồn tại
của Liên xô và khối Đông Âu cũ trước đây, cũng như ở các nước Xã hội chủ nghĩa,
tức những nước cộng sản khác. Nền dân chủ sau gọi là nền dân chủ nhân dân, hay
nói khác là nguyên lý dân chủ tập trung, trong đảng cộng sản cũng như trong
toàn xã hội, có nghĩa nó là một yêu cầu của chuyên chính vô sản theo ý nghĩa
khách quan, và thật sự điều này cũng không có gì để phải cải chính hoặc thảo luận
cả. Bởi vì nó là nguyên tắc phải có, cho tới khi hệ thống ý thức hệ theo lý
thuyết của Mác trên toàn thế giới trong quá khứ đã hoàn toàn chuyển biến qua
các sự kiện thực tế xảy ra mà nay ai cũng biết.
Trong
tính cách ý nghĩa chính trị của các chính thể hay chế độ chính trị cơ bản qua
thực tế lịch sử đã có như thế, việc hình thức các cờ xí phải cùng đi theo như
thế nào cũng là điều hoàn toàn khách quan, hiển nhiên, không có gì phải thắc mắc.
Thời quân chủ, cờ xí đó là cờ xí phong kiến, chỉ do nhà vua được toàn quyền lựa
chọn. Thời cộng hòa hay dân chủ tư sản, cờ xí đó tất nhiên là cờ phải được toàn
thể nhân dân đồng ý qua các cơ quan tối cao đại diện cho họ quyết định. Đến thời
cách mạng vô sản, tất nhiên cờ chính thức phải do đảng cách mạng, tức đảng cộng
sản quyết định. Bởi lá cờ phải mang ý nghĩa cách mạng. Cờ của đảng dĩ nhiên là
cờ búa liềm màu vàng trên nền màu đỏ, được hiểu như nó tượng trưng cho giai cấp
công nhân và nông dân, trên nền tảng đấu tranh giai cấp của cách mạng. Điều này
là thống nhất trong phong trào cộng sản quốc tế. Còn cờ quốc gia hay cờ nước,
dĩ nhiên cũng phải có nền màu đỏ và hình thức ngôi sao nào đó, tùy theo sự lựa
chọn đặc thù riêng, nhưng nói chung nó phải gần phần nào với cờ đảng như là một
ý chí xuyên suốt và thống nhất.
Ngược
lại với những điều trên, cờ của các quốc gia không cộng sản, tức các nước cộng
hòa hay dân chủ tư sản, thì không liên quan gì đến ngôi sao và nền đỏ cả. Đó chỉ
là những màu cờ lựa chọn theo truyền thống lịch sử nào đó của các nước đó một
cách tự nhiên. Như cờ ba màu của Pháp, cờ ba màu của Nga hiện nay, cờ của Anh,
của Mỹ, của cả hàng trăm nước khác nhau trên toàn thế giới hiện có, kể cả cờ của
miền Nam cũ trước đây là cờ vàng ba sọc đỏ mà ai từng sống ở miền Nam trước năm
1975 đều biết. Nên nói cho cùng lại, cờ ngoài ý nghĩa tượng trưng cho những xu
hướng chính trị nào đó, các đảng phái hay lực lượng chính trị nào đó, ở trong
những đất nước đã có chính quyền, nó còn tượng trưng cho chính quyền, hay ngay
cả nó tượng trưng trong hiện tại cho chính quốc gia đó. Tất nhiên khi còn đấu
tranh giành chính quyền, cờ chỉ là cờ của các khuynh hướng chính trị nhất định.
Nhưng khi một lực lượng chính trị nào đó đã lên cầm quyền một cách chính thức
hoặc qua một cuộc cách mạng nhất định, để lập nên một thể chế mới, thường người
ta cũng có khuynh hướng vận động đưa ngọn cờ đó hay ngọn cờ mới thích hợp thành
ra một quốc kỳ mới.
Cho
nên, ý niệm ‘cờ xí’ chỉ là ngôn ngữ bình dân nói cho vui. Nhưng trên tinh thần
nghiêm chỉnh, phải nói là cờ, hay quốc kỳ, nếu nói một cách chính thức đối với
một chế độ chính trị hay quốc gia nào đó. Dĩ nhiên, chế độ chính trị và quốc
gia hay đất nước, là hoàn toàn khác nhau. Bởi quốc gia, dân tộc thì mãi mãi trường
tồn theo thời gian, như là điều gì thiêng liêng nhất mà những người cùng dòng
máu, cùng nguồn gốc đều luôn luôn nghiêm cẩn hướng đến. Trong khi đó các khuynh
hướng chính trị, các chế độ hay chính thể, thật ra có khi chỉ nhất thời, cho dù
có thể tồn tại trong các thời gian dài nhưng không bao giờ bao trùm cả toàn bộ
lịch sử. Bởi vậy, cả quốc hiệu, quốc ca, quốc kỳ, luôn luôn có thể đổi thay
theo thời cuộc, theo các thời kỳ lịch sử khác nhau, mà dân tộc, đất nước thì
luôn luôn chỉ là một. Quốc kỳ là hồn của đất nước, đó là nói một cách tương đối,
ít ra cũng trong những thời kỳ, giai đoạn lịch sử ngắn hay dài nào đó, nên quốc
kỳ qua lịch sử có thể thay đổi, còn đất nước, dân tộc thì qua lịch sử vẫn mãi
mãi gần như nguyên xi, bất biến, tức cứ mãi mãi trường tồn.
Nói
như thế, để thấy rằng lá cờ hay quốc kỳ của một nước khong phải là điều đáng để
cợt nhã hoặc xem thường nếu là một người nghiêm túc. Thường trong những cuộc biểu
tình chống nước ngoài, hay xảy ra những chuyện đốt cờ, như đốt cờ Mỹ chẳng hạn ở
một số nơi, đó cũng chỉ là chuyện nhất thời. Nhưng xứ Mỹ là xứ tự do, người ta
không đặt thành vấn đề người dân sử dụng quốc kỳ trong đời sống thường ngày ra
sao, miễn là không có ác ý hay tà ý, cũng như không quá hoàn toàn phi lý. Nhưng
điều này ở những nước khác thường là điều cấm kỵ. Nói cách mở rộng hơn, cờ hay
quốc kỳ của bất kỳ nước nào, chế độ nào, cũng đều gắn liền với sự tôn kính,
lòng tự trọng, tình cảm, cảm xúc, những kỷ niệm, thậm chí cả mồ hôi, nước mắt,
cả xương máu của những người liên quan trong đó. Cho nên, trừ khi trong chiến
tranh, đoạt cờ chém tướng, xé rách, bắn gục cờ của đối phương giữa trận tiền là
điều khác. Nhưng khi cuộc chiến đã tàn, hay khi hòa bình đã có, việc không nên
xúc phạm vô lối đến những kỷ vật riêng thiêng liêng của người khác, là điều mà
bất kỳ người có văn hóa, có giáo dục nào cũng đều phải tránh. Đó là ý thức nhân
văn lành mạnh, cần thiết và tốt đẹp. Bất kỳ lá cờ nào đã từng tồn tại chính thức
trong lịch sử, thật sự nó đều có linh hồn, đó là linh hồn của những người đã từng
xả thân, đã từng chết thật bụng vì nó.
Có
người nói lá cờ vàng ba sọc đỏ trước đây ở miền Nam, coi như Quốc kỳ của miền
Nam, vốn đã có từ năm 1890, được vua Thành Thái đã thông qua một nghị định để
thay đổi lá cờ với các ký tự Trung Quốc bằng một lá cờ mới. Nó được gọi là Đại
Nam Quốc kỳ 1890-1920. Về sau vào cuối triều Nguyễn, khi vua Bảo Đại chưa thoái
vị đã sử dụng lại, tiếp đó là chính phủ Trần Trọng Kim, rồi tới nền cộng hòa cũ
của miền Nam vẫn sử dụng chính thức lá cờ này. Nếu ý kiến này là có cơ sở khách
quan, bất kỳ người nào có ý hướng nghiên cứu lịch sử cũng cần tìm hiểu để xác
nhận chính xác mọi dữ liệu lịch sử liên quan thực tế của nó cụ thể ra sao.
Nhưng điều này thật sự cũng chỉ còn mang ý nghĩa quá khứ, ít ra cũng ở trong nước
hiện nay. Vì thực sự trong nước hiện nay, cờ chính thức của cả nước cũng như
trên quốc tế, là lá cờ đỏ sao vàng như nói trên, không ai có thể phủ nhận được.
Bởi về mặt chính trị, Quốc kỳ thường đi liền với chế độ, với tính cách pháp lý
nhất định của chính thể đó, thì chỉ trừ những người nào chống đối lại chế độ và
ở bên ngoài lãnh thổ mới có thể không kể đến nó, cho dầu nước nào, thời nào, và
ở đâu cũng vậy.
Vì
thế, khách quan mà nói, nếu cho cờ vàng ba sọc đỏ ở miền Nam cũ là cờ “ngụy”,
và không hề có ai thực bụng hoặc đã quyết tâm đổ máu vì nó, là hoàn toàn không
đúng. Cũng như cho cờ đỏ sao vàng chỉ là cờ cộng sản và trong thực tế không có
ai đã đổ máu hay quyết tâm sinh tử vì nó như một lý tưởng yêu nước thật sự,
cũng hoàn toàn không đúng. Bởi vì, bất kỳ cuộc chiến nào, cho dù ý nghĩa ra
sao, kể cả những cuộc chiến có phần nào đó nồi da xáo thịt, thì những ý nghĩa
tuyên truyền chính trị, các mệnh lệnh một chiều hay khắc nghiệt, vô tình, không
phải không có. Còn những người buộc phải chấp hành theo điều đó trong mọi tình
huống hay tính cách khác nhau thế nào, có ý thức hay không có ý thức, tự chủ
hay không tự chủ, bó buộc hoặc tự nguyện, hoàn toàn là những ý nghĩa chỉ trong
thâm tâm họ biết mà những người bên ngoài, cho dầu ở khía cạnh hay góc độ nào
thật sự cũng khó hoàn toàn biết rõ. Thế cho nên, ý nghĩa khách quan, ý nghĩa
khoa học, ý nghĩa nhân văn, đạo đức, vẫn là những ý nghĩa thật sự sâu sắc hơn mọi
cái bên ngoài, cho dù nó được biểu tượng hoặc ca ngợi ra sao đều thực chất cũng
chỉ là bề ngoài hay hình thức.
Cho
nên đó cũng chính là ý nghĩa của sự hòa hợp, hòa giải dân tộc thực lòng ngày
nay, mà nếu muốn hay cần thiết mọi người đều có thể hướng tới. Bởi vì chỉ cần một
trong hai bên nào đó không thật lòng, không có mục đích đúng đắn thật sự, mọi sự
hòa giải hòa hợp đều không thực hiện được, chỉ là bề ngoài, hoặc thực chất, thật
sự cũng chỉ là không cần thiết. Bài này sở dĩ được viết ra không phải hoàn toàn
ngẫu hứng, mà thực chất trên mạng điện tử hiện nay, dường như đang có rất nhiều
các ý kiến khác nhau đang rất sôi nổi đề cập đến các lá cờ theo kiểu của một
cách thượng vàng hạ cám. Nên nói cho cùng lại, về mặt lịch sử cũng như về mặt
pháp lý thực tế, hiện thời lá cờ vàng ba sọc đỏ không mang ý nghĩa hợp pháp
trong nước, tức trong lãnh thổ quốc nội, còn ở ngoài nước, nó có thể liên quan
đến nhiều đối tượng khác nhau, hoàn toàn tùy nghi và được tự do sử dụng, lại là
chuyện khác. Ngay cả như cờ của MTDT GPMN
cũ, tức chỉ là một nửa lá cờ của miền Bắc, thì nay cũng hoàn toàn không còn
mang ý nghĩa gì. Điều này cũng chính là ý nghĩa pháp lý của vấn đề. Có nghĩa sự
hợp pháp hay không hợp pháp là đối với nền pháp luật trong quốc nội hiện hữu,
cho dù đó là bất kỳ quốc gia nào. Còn mọi toan tính khác nhau, điều đó chỉ là ý
nghĩa chính trị, và cũng không còn là ý nghĩa pháp lý, tức không mang tính chất
hợp pháp nữa, khi chống lại nhà nước, ít nhất cũng là đối với chính quyền, tức
là Chính phủ đang cầm quyền, đó lại là chuyện khác. Bởi thực chất, về mặt pháp
lý trong nước, VNCH ngày nay không còn tồn tại nữa, ít ra cũng đã 36 năm rồi,
điều đó hoàn toàn là một thực tế, không thể nào nói khác đi hay chối cãi được.
VÕ
HƯNG THANH
(08/03/2011)
**
THẾ
NÀO LÀ NHỮNG THÀNH PHẦN ƯU TÚ
CỦA
MỘT DÂN TỘC
Một
xe hơi chạy trên bộ, một máy bay di chuyển trên không, một tàu thủy vận hành dưới
nước, tất cả đều dựa vào động cơ và tay lái. Đó là hai yếu tố hàng đầu, quan trọng
nhất mà ai cũng biết. Không có tay lái, không có cách nào điều khiển được, còn
không có động cơ, cũng chẳng có cách gì khởi động được, chân lý ấy hiển nhiên
quá, nói ra thật sự chỉ dư thừa và còn rất tầm thường. Nhưng chính đôi khi những
cái tầm thường lại mang các ý nghĩa sâu sắc, quyết định mà ít người để ý tới.
Điều
ấy muốn nói, đối với một đất nước, một quốc gia hay dân tộc cũng vậy, yếu tố
nào là đầu tàu, là lực lượng quyết định nhất. Điều này nếu giở các sách vở, tài
liệu đông, tây, kim, cổ, người ta cũng thấy có nói rất nhiều, có bao nhiêu là
quan điểm, lý thuyết, đọc vào có khi lại càng loạn tâm, kiểu tẩu hỏa nhập ma, nếu
những người nào không biết nhận định, không có định hướng, thiếu ý thức tự chủ,
cũng chỉ khiến cho càng hoang mang, phân tán. Điều đó không phải ngày nay nhiều
người mới thấy rõ, mà thật ra từ trong quá khứ xa xưa, đã có rất nhiều người đã
từng sai phạm nhiều rồi.
Chẳng
hạn, có người bảo lực lượng tinh thần, ý thức lãnh đạo xã hội, có người bảo lực
lượng vật chất hay kinh tế lãnh đạo xã hội, có người cho rằng chính lực lượng
giai cấp mới lãnh đạo xã hội, thế thì trong ba khuynh hướng chính yếu ấy,
khuynh hướng nào là có cơ sở khách quan, hợp lý và đúng đắn nhât, có thể có nhiều
người đến nay cũng hãy còn mơ hồ, chưa rõ. Bởi vì tinh thần, ý thức, bản thân
nó tồn tại như thế nào, đó là điều mà quan điểm duy vật phản kích. Còn ý nghĩa
của vật chất, kinh tế lãnh đạo xã hội ra sao, đó là điều quan điểm duy tâm dè bỉu.
Lại còn nói quan điểm giai cấp, không có quan điểm giai cấp nào từ trước đến
nay lấn lướt hơn quan điểm giai cấp của Mác đưa ra, nhưng mọi thực tế lịch sử
thế giới và nhận thức tri thức khoa học ngày nay thật sự đều thấy nó tầm ruồng,
giả tạo, nếu không nói là lừa mị.
Chính
như thế mà một điều hết sức đơn giản lại trở thành phức tạp, một điều tưởng chỉ
hiển nhiên lại trở thành tinh tế, một điều tưởng rằng như một cảm thức, một niềm
tin, lại trở thành một ý nghĩa thực tiển khách quan cũng như một ý nghĩa khoa học
sâu xa, mà ít khi người ta lại ngờ đến. Đó là tính chất của những thành phần,
những phần tử ưu tú của một dân tộc, một đất nước, một quốc gia qua các thời đại,
là một ý nghĩa, một vấn đề, một tính cách hết sức quan trọng mà bó buộc mọi người
tâm huyết, tỉnh táo, có ý thức sáng suốt, có tâm hồn lành mạnh, có nhận thức
nghiêm túc, có tình cảm yêu nước thật sự không thể nào không nghĩ đến, nhất là
trong những lúc đất nước, xã hội đang gặp phải những tình huống thử thách, khó
khăn cần phải vượt qua thật sự.
Vậy
nên, trước nhất để mọi người khỏi phải tò mò hay nôn nóng, chỉ xin nói đơn giản,
yếu tố của phần tử, thành phần ưu tú đó thật sự không gì khác hơn là những cá
nhân cụ thể con người. Bởi vì cái gì tạo nên ý thức, tinh thần; cái gì tạo nên
vật chất, kinh tế, cái gì tạo nên giai cấp, nếu đó không phải do từng cá nhân
con người cụ thể hợp lại. Từ cơ sở dễ hiểu, khách quan như thế, có thể thấy rằng
quan điểm duy tâm mang tính cách phi thực tế là hoàn toàn phi thực tiển, không
hiện thực. Trong khi đó quan điểm duy vật, kinh tế theo kiểu thấp kém chỉ là
quan điểm tầm thường, ngụy biện. Còn quan điểm giai cấp, như quan điểm giai cấp
của Mác, như nhiều lần tác giả bài viết này đã nói, nó chỉ dựa trên khái niệm
“biện chứng luận” huyền hoặc, siêu hình của Hegel, nên thực chất cũng chỉ mang
tính chất mê tín, giả tạo, mặc dầu nó đã từng một thời làm mưa làm gió trên
toàn thế giới.
Bởi
thực chất, chỉ có cái cụ thể mới tạo nên cái cụ thể, cái toàn thể là do mỗi cá
thành phần tạo ra, mà không hề là điều ngược lại. Đây là một chân lý hoàn toàn
thực tế mà ai cũng biết. Cho nên, lãnh vực triết học, siêu hình, tôn giáo, nó
có ý nghĩa riêng của nó, nhưng khi nhập nhằng, đưa vào trong đời sống xã hội thực
tiển, nhất là về mặt chính trị là hoàn toàn ngớ ngẩn, phản hiệu quả, phản tác dụng
thế tục, và hoàn toàn không thực tế. Nói khác đi, cái được gọi là ý thức hệ, tức
kiểu triết lý hóa toàn diện đời sống xã hội, biến chính trị thành một tôn giáo,
quả là điều phản xã hội, ngốc nghếch, mê lầm, mà đã từng một thời gian dài
trong quá khứ từng gây nên bao khổ đau, bao thiệt hại cho nhiều quốc gia, đất
nước, dân tộc, nhiều bộ phận đáng thương của cộng đồng nhân loại. Đó là hậu quả
của sự sai lầm về nhận thức, về khoa học, về tư tưởng, do những cá nhân nào đó
trong xã hội loài người gây ra và toàn thể cộng đồng con người trên trái đất đều
phải gánh chịu.
Bây
giờ bình tĩnh lại, tất cả mọi người Việt Nam sáng suốt, có nhận thức đúng đắn đều
có thể cần nên phát biểu tự do hoặc tranh luận thêm về các điều đó hầu làm cho
nó được sâu sắc, sáng tỏ, quyết định, dứt khoát, và dứt giạt hơn. Tuy nhiên, tạm
gác những điều đó sang một bên, điều đáng nói nhất của muôn đời, cũng như trong
các thực tại trước mắt bất kỳ của thời điểm nào chính là ý niệm các thành phần
ưu tú của xã hội như ngay từ đầu trên kia đã nói. Và ngay cả trong nhận thức
này, mọi người đều có thể tranh luận, góp thêm ý kiến, kể cả những ý kiến hoàn
toàn ngược lại, bởi chính đó mới là ý nghĩa khách quan, khoa học, là yêu cầu của
thực tiển và chân lý, như là các ý lợi cụ thể và chung nhất mà mọi người đều
không thể phủ nhận được. Có nghĩa tính dân chủ, tự do là yêu cầu và giá trị bất
biến, khách quan của nhân loại, nó không phải chỉ đúng riêng cho ai, cho xã hội
nào, thời đại nào, mà luôn luôn cho tất cả mọi nơi, mọi người trên thế giới.
Cho
nên mọi thành phần ưu tú trong xã hội cũng vậy, nó không nhất thiết xuất phát từ
giai cấp nào, mà xuất phát từ toàn xã hội. Tất nhiên thành phần ưu tú trước hết
phải là thành phần có học, nhưng có học thức, có tri thức, hay thành phần trí
thức thực chất cũng chỉ mang tính chất ưu tú hạn hẹp, hạn chế, tương đối, chẳng
có gì là tuyệt đối trong xã hội cả. Điều này thì mọi người đều rõ. Vậy thì mọi
thành phần chức sắc trong xã hội nào đó đang có có phải là thành phần ưu tú
không ? Điều này cũng hoàn toàn chưa chắc. Bởi những sự chọn lọc nhất thời nào
đó trong xã hội chưa chắc đã là những sự chọn lọc tự nhiên, khách quan, mà nhiều
khi chỉ là sự chọn lọc phi tự nhiên, phản khách quan. Còn mọi người làm ăn
thành đạt, giàu có, có địa vị kinh tế cao tột nhất định, đó có phải là những
thành phần ưu tú không ? Điều này có thể có và có thể không, ít ra cũng chỉ
trong ý nghĩa tương đối. Có bởi vì không ai có thể phủ nhận các thành quả bên
ngoài của họ, nhưng không nếu mọi thành quả đó chỉ là do sự gian dối, sự làm ăn
bất chính mà có. Vả chẳng sự giàu nghèo không phải là thước đo phổ quát mọi ý
nghĩa và giá trị xã hội nói chung.
Vì
thế gom lại, ý nghĩa các phần tử hay thành phần ưu tú của xã hội theo tác giả
bài này, không ngoài là ý nghĩa 4T nói chung. Tức yếu tố thứ nhất phải là người
có nhận thức, có tri thức, có hiểu biết trong xã hội. Bởi vì điều ngược lại,
thì dù bất kỳ trường hợp nào cũng không thể được cho là ưu tú. Yếu tố thứ hai
phải là người có ý thức, có tinh thần độc lập. Vì chính ý thức, tinh thần độc lập
mới luôn luôn tạo nên được con người thật sự, đúng nghĩa là con người thật sự.
Lý do chỉ số đông những con người có ý thức độc lập, tinh thần độc lập mới tạo
thành một dân tộc, một đất nước, một quốc gia độc lập thật sự, vì nếu không thực
chất đó cũng chỉ là ý thức, tinh thần nô lệ bị giả hiệu, bị che đậy, đó chính
là mối nguy cho xã hội, cho đất nước, vì nó tạo nên một dân tộc èo uột, không
có sinh khí, chỉ biết sống nô lệ, dựa dẫm vào nhau, dựa vào người khác, vào nước
khác, không có tinh thần tự chủ, độc lập quốc gia, quả thật là điều vô cùng
nguy hại. Yếu tố thứ ba phải là người có tâm huyết. Bởi không cớ tâm huyết,
không biết hướng đến tha nhân, đến xã hội nói chung, thì có khác gì thằng người
gỗ, cho dầu địa vị hoàn cảnh xã hội ra sao. Yếu tố thứ tư là phải có lòng yêu
nước. Bởi vì mọi cá nhân đều bắt nguồn từ tổ tiên, dân tộc, đất nước của mình.
Đó là ý nghĩa hoàn toàn thực tiển. Cho nên không có lòng yêu nước dù thể hiện
dù không thể hiện, có khác chi những kẻ vô nghì, chỉ có biết lợi ích bản thân
ngoài ra không còn biết mô tê ất giáp hay trời đất trăng sao gì hết.
Vậy
thì yếu tố 4T trên (trí thức, tự chủ, nhiệt tình, tinh thần yêu nước) xuất phát
từ đâu ? Vấn nạn này không khó, bởi vì ai cũng biết nó phát sinh từ giáo dục,
tư chất, nhận thức xã hội và ý chí thăng tiến. Giáo dục chính là nền nếp, truyền
thống gia đình, truyền thống truyền thống xã hội, truyền thống đất nước, rồi
sau đó chính yếu là giáo dục học đường. Tư chất là cá tính bẩm sinh tự nhiên,
nhưng tư chất dù tốt đẹp cách mấy mà thiếu truyền thống, thiếu giáo dục cũng có
thể bị mai một, lù mờ, nhiễu loạn, cằn cỗi, hay không thể phát huy thật sự đúng
mức được. Nhận thức là khả năng có được do thành tựu giáo dục, kinh nghiệm sống
thực tiển trong cuộc đời, nó là năng lực tổng hợp, không phải chỉ có hiểu biết
là có nhận thức. Bởi có nhiều người trí thức cao mà nhận thức kém, trí năng
sáng suốt còn thua cả những hạng bình dân. Dễ mờ mịt bởi những mê đắm, những
tuyên truyền, những cảm thức hạn hẹp, mà không vượt đến được chỗ sáng suốt,
chính đáng hoặc cao xa. Cuối cùng, ý chí thăng tiến cũng là điều quan trọng
không kém. Bởi ý chí thăng tiến cho bản thân thì ai cũng có, bởi nó cơ bản
chính là bản năng nguyên thủy tự nhiên. Nhưng ý chí thăng tiến cho xã hội, cho
mọi người, có đất nước, cho dân tộc, không phải ai ai cũng có, mà đó chủ yếu là
những người tâm huyến, có ý thức xã hội, có tấm lòng chân thành yêu nước như
trên kia đã nói.
Như
thế rõ ràng yếu tố 4T trên là các thuộc tính hết sức cơ bản, đương nhiên của
chính nhóm tinh hoa, của thành phần ưu tú trong xã hội, tức của dân tộc, của đất
nước, mà chắc chắn không ai không đồng ý. Bởi vì sao, vì bất kỳ xã hội hay khu
vực xã hội nào lúc nào cũng bị phân hóa hay phân tán thành ba thành phần chủ yếu.
Thành phần tinh hoa, ưu tú là thiểu số, nhưng cao hơn nhất. Thành phần đại trà,
ở giữa, đó là quần chúng số đông, nói khác đi thành phần vô thưởng vô phạt, là
chất liệu chủ yếu chung cho toàn xã hội, nhưng nó cũng giống như cái xác xe,
xác tàu, hoàn toàn không phải là động cơ hay bánh lái. Thành phần dưới nhất, là
các thành phần dưới đáy xã hội, đó là những cá nhân thất thế, hoặc do đặc điểm
chủ quan hay do hoàn cảnh khách quan của xã hội đưa đẩy, có khi tạm thời, có
khi lâu dài, hoặc cả có khi vĩnh viến, đó là tình trạng đáng quan tâm, đáng
thương, những rất không nền khinh thị họ. Bởi vì đó chỉ là tính cách đi ngược lại
bản năng thăng tiến tự nhiên của bản thân hay của xã hội nói chung mà trên kia
có nói. Nói khác đi, ý nghĩa tinh hoa hay thành phần ưu tú của xã hội, đất nước,
không phải hoàn toàn tự nhiên bẩm sinh hoặc từ trời rơi xuống, mà đó là do các
thành tựu hun đúc, rèn luyện của gia đình, bản thân, nền giáo dục, kinh nghiệm
sống, cũng như của toàn xã hội, kể cả có khi là kết quả của truyền thống lịch sử
dài ngày mà mọi đất nước, dân tộc đều có và đều phải có.
Nên
nói cho cùng, tinh hoa hay ưu tư ở đây phải là tinh hoa hay ưu tư chung nhất. Bởi
vì mỗi khu vực xã hội, mỗi nghề nghiệp, mỗi hoàn cảnh cuộc sống cụ thể của số
đông, vẫn có ý nghĩa tinh hoa, ưu tú nào đó của mình, nhưng điều đó hoàn toàn
không tiêu biểu, bởi nó không bao quát, không nổi nét, không hội đủ tất cả yếu
tố 4T như trên kia đã nói. Cho nên truyền thống gia đình, truyền thống giòng họ,
truyền thống lịch sử, truyền thống đất nước là những điều không thể không quan
tâm trước nhất trong giáo dục để tạo nên các lớp người tinh hoa, ưu tú. Sau nữa
là sự tự rèn luyện bản thân qua các hoàn cảnh và điều kiện sống mà ai cũng biết.
Nhưng cuối cùng lại chính là nền giáo dục của một nước mà tất cả mọi người cũng
đều rõ. Một nền giáo dục nếu chỉ theo cách một chiều, mang đầy tính chất nô lệ
nào đó, phản dân chủ, tự do, phản tính chất nhân văn, cũng không thể tạo thành
các tầng lớp ưu tú, tinh hoa cho dân tộc, đất nước, mà thực chất chỉ có thể hoặc
chỉ nhằm tạo ra các công cụ hàng loạt, như kiểu các đơn vị hoàn toàn giống nhau
y như khuôn đúc, mà mọi người đều rõ.
Trái
lại, thật sự chỉ có thể có một nền giáo dục mang tính chất dân chủ, tự do,
khách quan, khoa học, thực tế và hiệu quả, mới có thể đạt đến những chân giá trị,
những lý tưởng về các thành phần ưu tú, tinh hoa như trên kia đã phân tích. Vì
thế để kết luận, ý nghĩa ưu tú, tinh hoa của người Việt, của dân tộc Việt, của
đất nước Việt, ngày nay không chỉ có đóng khung trong nước, mà thật sự trong mọi
gia đình người Việt, mọi bản thân người Việt, bất kỳ ở đâu, hoàn cảnh thế nào,
trong hiện tại, trong tương lai, tức trong mọi thời đại của dân tộc, đất nước một
cách khách quan, đích thực nhất, mà không phải mọi sự gò ép, chủ quan, lệ thuộc,
cả trong quá khứ, hay cả trong hiện tại, mà mọi người đều rõ. Tuy nhiên, điều
quan trọng nhất còn lại, chính là các thành phần ưu tú, tinh hoa đó có phát huy
được nhứng hiệu quả thật sự nào từ chính những vận động tự thân của mình cho đất
nước, dân tộc, cũng như những giới cầm quyền có hậu thuẫn, giúp đỡ, khai thác,
vận dụng được họ, hay chỉ ngăn trở, chế ngự, làm cùn nhụt hoặc tìm cách triệt
tiêu họ đi, lại là chuyện khác.
Nhưng
thật ra, cả yếu tố 4T trên đã thật sự hoàn toàn tiêu biểu cho nhóm tinh hoa hay
ưu tú của một xã hội, đất nước, hoặc dân tộc chưa ? Xin thưa thật rằng chưa. Bởi
yếu tố cuối cùng cũng quan trọng không kém, hay quan trọng nhất, đó chính là
tài năng. Tài năng có thể nói là khả năng bẩm sinh, mọi cái học không thể nào đạt
đến hoặc thay thế được, nhất là nếu tài năng đó nhất thiết trội vượt, hay thậm
chí trở nên thiên tài. Cho nên dân tộc nào có nhiều thiên tài trong mọi loại,
cũng có thể được cho là một dân tộc thuộc loại tinh hoa của cả nhân loại. Cũng
có ý kiến cho rằng thiên tài thật ra chỉ là sự rèn luyện lâu dài, hay 99% thiên
tài chỉ là kết thành do lao động. Nói như vậy có thể có nhiều trường hợp không
sai, nhưng nếu chỉ chân chỉ hạt bột tin theo như thế quả cũng chưa thật hữu lý
hoặc thông minh lắm. Bởi vì ý nghĩa chính là cái 1% còn lại đó, đó là cái ngưỡng,
cái giới hạn bẩm sinh tự nhiên mà 99% kia không sao vượt được. Tất nhiên tài
năng hay thậm chí thiên tài đều không phải chỉ đơn điệu, hoặc sàn sàn một loại.
Có nhiều loại tài năng khác nhau trong xã hội loài người.
Dầu
sao có thể phân ra hai phạm trù hay hai loại chính, đó là tài năng lý thuyết và
tài năng thực hành. Tài năng lý thuyết thường mang tính sáng tạo, như trong
khoa học, trong nghệ thuật, trong mọi lãnh vực tư duy nhận thức nói chung.
Trong khi đó tài năng thực hành là tài năng ứng dụng, tài năng triển khai, tài
năng tổ chức thực hiện, hoặc kể cả tài năng lãnh đạo. Trong lịch sử nước ta,
Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du chẳng hạn, đó chính là tài năng lý thuyết. Ngược lại,
Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ chẳng hạn, đó chính là những tài năng thực
hành, tài năng thực hiện. Cho nên nhất thiết tài năng mọi loại đều quý, không
thể quá đề cao hoặc chú trọng chỉ tài năng nào. Bởi vì nếu nước Đức có A.
Einstein là tài năng lý thuyết hay khoa học lỗi lạc, thì Trung Hoa có Tôn Dật
Tiên, Mỹ có G. Washington, A. Lincoln, hay Pháp có Charles De Gaulle cũng đều
là những bậc thật sự xuất chúng và đều đáng quý cả. Nói như vậy để thấy rằng
tài năng thật sự phải gắn với đạo đức. Bởi nếu trong bất kỳ lãnh vực nào mà tài
năng không đi theo với ý nghĩa đức hạnh hoặc đạo đức xã hội, tài năng đó quả được
rất ít người tôn kính, đó như trường hợp của Hitler hay như Tào Tháo ngày xưa
chẳng hạn. Nhưng tất cả những điều trên thường khi vượt quá xa mức những người
bình thường.
Tài
năng hay tinh hoa, hoặc ý nghĩa ưu tú ở đây thật sự chúng ta chỉ nhắm vào mọi
người bình thường hàng ngày trong xã hội. Bởi đây chính là chất liệu hay đầu
tàu tự nhiên nhất của phát triển, nó không hoàn toàn thật sự cao xa mà phần lớn
mọi người có thể khó với tới được. Chẳng hạn, trường hợp mới đây nhất và được rất
người nói tới, đó là nhà toán học Ngô Bảo Châu của Việt Nam. Đây thật sự chẳng
là điều gì ghê gớm lắm trên thế giới, song nó lại cho thấy một ý nghĩa quan trọng,
tức trí tuệ của người Việt Nam trong lãnh vực khoa học, kể cả toán học, lâu nay
vẫn sánh vai ngang hàng được với nhiều nước trên thế giới. Bổ đề cơ bản là một
đóng góp sáng tạo về mặt phát triển toán học nói chung, không phải mọi nhà toán
học trên thế giới làm được, nhưng Ngô Bảo Châu quả tình đã làm được. Trong khi
đó, Trần Đức Thảo lâu nay vẫn nổi tiếng như một “nhà triết học”, một nhà tư duy
lớn của Việt Nam, nhưng thực tế, nếu ai đọc sâu vào các tác phẩm của họ Trần
này, thì cơ sở nền tảng để ông ta phê phán các quan điểm triết học khác, thật sự
không phải hoàn toàn là sự sáng tạo gì của ông, mà thực chất chỉ là quan điểm
biện chứng duy vật của Mác mà chính ông ta đã thu nhận được. Đấy, ý nghĩa của
tài năng và sự sáng tạo thực sự trong thực tế nó chỉ là như thế đó. Vậy thì rõ
ràng yếu tố 5T là yếu tố quan trọng nhất.
Tài năng thật sự là yếu tố quy tụ tinh hoa, cho nên mọi sự đố kỵ tài năng là sự
hạ cấp, vì đó là tài sản quý của toàn xã hội; còn mọi sự đề cao tài năng các loại
đều vẫn luôn chính là các nền tảng nhằm phát huy tinh thần, ý thức thật sự cần
thiết và quan trọng nhất, mà tất đất nước, mọi dân tộc, trong mọi thời đại, đều
luôn luôn cần phải có.
VÕ
HƯNG THANH
(07/3/2011)
**
CẦN
NÓI THÊM VỀ SỰ GIÀU NGHÈO VÀ VẤN ĐỀ
GIAI
CẤP XÃ HỘI
Vấn
đề này từ cổ chí kim loài người đã nói nhiều, ngay như tác giả bài viết này
cũng đã đề cập khá nhiều trong các bài viết khác nhau đã có dưới nhiều khía cạnh
và cách nhìn khác nhau. Tuy nhiên, những gì người nước ngoài viết, những gì
trên thế giới đã có, thực chất nó vẫn không phải của ta, không phải chính bản
thân của người Việt Nam nói ra. Tất nhiên học hỏi mọi nơi, mọi thời luôn luôn
là sự sáng suốt cần thiết và khôn ngoan, thế nhưng người ta không thể bê nguyên
cả các thư viện, hay các khối kiến thức khổng lồ của nhân loại vào trong đầu
óc, nhất là những đầu óc bình dân của các con người phải hàng ngày bươn chãi, vật
lộn cùng cuộc sống. Đó là chưa nói sự tiếp thu máy móc, thiếu suy nghĩ, thiếu
nhận định và thiếu tự chủ, kiểu nhận thức qua truyền miệng, qua rỉ tai, qua các
lớp đào tạo hời hợt, cấp tốc, ngắn ngày vì các mục tiêu giả tạo, nói chung là
theo các kiểu tuyên truyền chính trị có tính mánh lới, thiếu trung thực, trong
quá khứ đã xảy ra nhiều nơi trên khắp thế giới, ở khá nhiều nước, và điều đó
mang lại các hệ lụy thực tế lịch sử cụ thể ra sao ở mỗi nước như vậy ra sao thì
ngày nay mọi người đều rõ.
Bởi
vậy vấn đề đặt ra như thế cũng chính là vấn đề mối quan hệ giữa trí thức và thực
tế. Trí thức là sự hiểu biết, sự hiểu biết đó phải thật sự khách quan, khoa học,
xác đáng, cụ thể, sự ứng dụng vào thực tế của nó mới thực sự mang lại kết quả,
nếu không thì ngược lại. Cho nên trí thức trước hết phải trung thực với bản
thân mình, với người khác, với xã hội. Ngược lại trí thức phải khom mình, phải
nói những điều giả dối, không dám nói lên sự thật khách quan của xã hội, nói về
hùa nhau để tự bảo vệ quyền lợi, nói mà không có suy nghĩ, đánh giá tự chủ, tự
do, nói mà không tự hiểu được điều mình nói, hoặc chỉ cố tình nói sai một cách
vô ý thức, vô trách nhiệm, không quả cảm, liệu cái gọi là trí thức, gọi là hiểu
biết, gọi là khoa bảng, gọi là thuộc lớp giai tầng trên của xã hội, ít ra về mặt
quyền lực, hiểu biết, hay năng quyền chuyên môn như thế, thì liệu thực chất có
ích lợi gì cho người dân, cho xã hội, hay chỉ phản ý nghĩa, phản tác dụng, và
đưa lại mọi kết quả thực tế hoàn toàn ngược lại. Cho nên mọi người trí thức
đúng nghĩa luôn luôn phải có các cách thức suy nghĩ khách quan, khoa học, mọi
xã hội văn minh, mọi nhà nước tiến bộ không thể gò ép trí thức, không thể làm mất
sự tự chủ, tự ý thức, tự do tư duy của giới trí thức, đó cũng thật sự chính là
điều đáng nói nhất.
Vậy
mà vấn đề giàu nghèo và ý nghĩa của giai cấp trong đời sống xã hội vẫn luôn là
một thực tế trong cuộc sống, cho nên vô hình chung nó vẫn là vấn đề luôn luôn đập
vào mắt và cần nói đến nhất. Tuy nhiên nói thế nào cho thật sự khách quan,
chính xác, đúng đắn, trung thực mới chính là yêu cầu quan trọng nhất. Bởi vì mọi
ý nghĩa đặt ra là để nhằm giải quyết, để tìm hướng đi cụ thể, tìm lối ra thích
đáng, không phải chỉ nói suông, đặt ra cho có, hoặc chỉ giải quyết một cách trật
chìa, vô bổ, kém hiệu quả, phi hiệu quả, hoặc thậm chí phản hiệu quả. Nói như
thế để thấy rằng phương pháp luận nhận thức thực tiển và khoa học phải cần luôn
luôn có, bởi vì có như thế thì mới đưa lại được các phương pháp luận hành động
cũng thực tế, đúng đắn và kết quả, nếu không thực chất chỉ là điều viễn mơ, sự
không tưởng, sự nhảm nhí, nhất là những phản tác dụng kinh hồn trong đời sống.
Đó chính là ý nghĩa phân biệt giữa lý thuyết và thực tiển, giữa tư duy và áp dụng,
giữa chuyên ngành và tổng quát, giữa ý thức và sự nhận thức chẳng hạn. Nói
chung cái nguyên lý cần luôn luôn hướng dẫn cái cụ thể. Bởi nếu không, trường hợp
cái nguyên lý sai lại tưởng rằng đúng, hoặc chỉ chăm bẳm vào cái thực tế mà
không quan tâm đến nguyên lý đúng, cũng đều là những điều ngờ nghệch và phản hiệu
quả trong chính mọi hoạt động của đời sống xã hội.
Thế
thì chúng ta hãy trở lại với một hình ảnh cụ thể. Như có một dãy sườn đồi nhấp
nhô nào đó chẳng hạn, các hạt thông từ những trái thông già nơi các cây thông rụng
xuống, tất yếu nó có thể di chuyển tự nhiên bằng trăm ngàn cách. Tức khi gió lặng
thì rơi ngay xuống gốc, nhưng khi gió nhiều, mưa bão, nước cuốn, hoặc các côn
trùng tác động đến, tất nhiên mọi đích đến hay các kết quả sau cùng đều không
đơn giản. Có nghĩa các hạt thông đều không thể tự chọn lựa nơi để mọc, chúng
cũng không thể làm thay đổi địa mạo, tức hình thể mặt đất nơi chúng nẩy mầm và
lớn lên. Tất cả những điều đó đều là các thực tế khách quan cùng là những quy
luật ngẫu nhiên. Rồi thế hệ này đến thế hệ khác của chúng cũng tương tự như vậy.
Rừng cây nhìn bên ngoài tưởng như luôn luôn không thay đổi, nhưng thực chất bên
trong là hoàn toàn khác, chúng có thể có những biến chuyển nào đó không ngừng,
có thể tự bên trong mỗi cá thể, có thể do các nội lực hay ngoại lực khác nhau
tác động vào những mảng, những số đông của nhiều cây khác nhau, cũng như vị trí
tồn tại trong không gian giữa lớp trước, lớp sau không phải luôn giữ nguyên trạng
mà hoàn toàn thay đổi. Đây, ý nghĩa của lịch sử và ý nghĩa của thực tại đời sống
khách quan nó luôn luôn là như vậy, trong thiên nhiên vật chất cũng như trong đời
sống có ý thức, có nhận thực của xã hội con người.
Có
nghĩa không có cá nhân nào chọn cha mẹ, chọn giai cấp, chọn hoàn cảnh để sinh
ra ở đời. Chỉ khi ra rồi mới biết cha mẹ mình ra sao, mới biết điều kiện xuất
thân của mình thế nào, rồi đến khi lớn lên, trưởng thành, mới hoàn toàn biết được
tất cả mọi điều gì xảy ra trong chính các môi trường sống và những điều kiện lịch
sử khách quan đã gắn với thân phận, điều kiện sống, cũng như mọi hoàn cảnh cụ
thể khác nhau của mình. Đó cũng chính là ý nghĩa về sự tương quan giữa nội lực
và ngoại lực. Tức con người không phải ai là sản phẩm thuần túy của bản thân
hay sản phẩm thuần túy của xã hội, mà chỉ là sự giao thoa, hay là sản phẩm kết
hợp hoặc tổng hợp của cả hai. Quy luật của sự tất yếu và quy luật của sự tình cờ
như luôn luôn đan xen vào nhau, đôi lúc cũng không ai rõ được đâu là sự tất yếu
hay sự tình cờ, đâu là kết quả của nổ lực bản thân hay đâu là ý nghĩa của điều
ngẫu nhiên hay ngay cả mang tính cách siêu nhiên, tức ngoài tất cả mọi dự kiến,
trong cuộc sống. Bởi vậy, nếu đem những điều này ra để nói về sự giàu nghèo,
nói về ý nghĩa của các giai cấp hay giai tầng trong xã hội thực tế, cũng không
phải hoàn toàn không có ý nghĩa hoặc vô lý. Do đó, cái cốt yếu là mỗi người hãy
tự suy nghĩ về bản thân mình, kiểm nghiệm lại lịch sử toàn bộ đời sống của
mình, phản tỉnh lại các trải nghiệm riêng biệt, đặc thù của mình, còn nếu chỉ sống
một cách vô ý thức, hoặc hoàn toàn mê muội nghe theo lời nói của những người
khác, dù trong góc độ hay khía cạnh nào có khi cũng hoàn toàn không đúng.
Vậy
ý nghĩa đặt ra, chính sự khác biệt về tình trạng giàu nghèo của mọi người trong
xã hội tạo thành giai cấp kinh tế hay là điều ngược lại. Cái gì là cái có trước,
đó có thể là điều mà có nhiều người chưa kịp suy nghĩ. Nếu giai cấp có trước,
điều gì tạo nên giai cấp ? Nếu sự giàu nghèo có trước, điều gì tạo nên sự giàu
nghèo ? Chẳng lẽ hai cái có cùng lúc hoặc không hề có cái nào tạo ra cái nào,
và như vậy thì cũng đâu còn có điều gì đáng nói. Đây có thể là điều vô cùng thú
vị để mọi người cùng suy nghĩ. Bởi vì thật ra, toàn bộ xã hội con người cũng chỉ
là một tập đoàn sinh học cùng khai thác mọi miền trên trái đất để tồn tại và
phát triển. Trên toàn bộ diện tích đồng bằng của mỗi nước không thể không có
khai thác nông nghiệp, tức không thể không có những người nông dân, thời nào
cũng vậy, bao giờ cũng vậy, chỉ khác là phương thức canh tác, chất lượng đời sống,
tức điều kiện sống, điều kiện sinh hoạt, và điều kiện lao động sản xuất mà
thôi. Tất nhiên, mặt biển cũng vậy, rừng rú cũng vậy, hầm mỏ cũng vậy, và nói
cho cùng thì các đô thị mọc lên cũng vậy. Bởi vì chẳng có đô thị, thành phố nào
từ trên trời rơi xuống, mà chính là sự phát triển của xã hội thôn quê tạo thành
thành thị. Đó chỉ là ý nghĩa tự nhiên của đời sống kinh tế khách quan của phát
triển xã hội cũng như kể cả sự phát triển của lịch sử sử thế giới nói chung. Có
nghĩa không một dân tộc, đất nước, quốc gia nào tách khỏi được lịch sử thế giới
tự cổ chí kim, đó là điều mà ngày nay ai ai cũng có thể nhận biết.
Nói
như vậy cũng để thấy rằng ý nghĩa của giai cấp nông dân ở thôn quê, giai cấp
công nhân ở đô thị, giai cấp thương nhân trong cả nước hay trên toàn thế giới
nó mang ý nghĩa như thế nào rồi. Không ai cấm hay cũng không thể cấm anh nông
dân trở thành anh thương nhân trong nước hay trở thành anh công nhân ở thành phố,
mà đó chỉ là do điều kiện phát triển tự nhiên của bản thân hoặc do các có may,
những hoàn cảnh cụ thể, khách quan của xã hội hay của bản thân theo cách đặc
thù như thế nào đó. Cả các trường hợp xảy ra ngược lại cũng hoàn toàn giống như
vậy. Có nghĩa sự tất yếu giai cấp là điều không tránh khỏi, bởi ai cũng phụ thuộc
vào điều kiện bản thân, gia đình, xã hội cụ thể của mình. Tuy nhiên, những sự bứt
phá ngẫu nhiên hay chủ động cũng không phải không xảy ra, và đó hoàn toàn hay
phần nào cũng do những sự chuyển đổi của khách quan hoặc hoàn cảnh. Nói cách
khác, ý nghĩa của giai cấp hay giai tầng xã hội chỉ là tương đối. Nó vừa có mặt
chủ quan lẫn mặt khách quan. Mặt chủ quan là các ý thức, sự nổ lực thay đổi
riêng trong bản thân mỗi con người. Mặt khách quan là điều kiện chung của ngoại
cảnh hay điều kiện tự nhiên xảy ra nào đó bên ngoài xã hội. Khi những con người
có hoàn cảnh, điều kiện sống giống nhau nào đó, vô hình chung họ tạo thành giai
cấp hay giai tầng xã hội, chỉ có thế thôi.
Có
nghĩa giai cấp là hoàn cảnh sống khách quan mà phần nào cũng còn là ý thức chủ
quan. Người nông dân nếu suốt đời hài lòng bám vào mảnh vườn, thửa ruộng, họ
mãi mãi cột chặt vào giai cấp nông dân. Nhưng khi họ muốn đổi đời, hoặc cho con
cái học hành, hoặc có cơ hội thuận lợi nào đó không còn muốn làm nông dân nữa,
tất nhiên kết quả của họ cũng có thể hoàn toàn thay đổi. Đối với mọi giai tầng,
giai cấp khác của xã hội cũng hoàn toàn như thế. Nhà buôn có thể thua lỗ, nhà
công nghiệp có thể phá sản, công nhân có thể thất nghiệp, đó là những điều hoàn
toàn hay bất cứ lúc nào đều có thể xảy ra trong thực tế. Ngay trong mỗi ngành
nghề, tự nó không phải không chia ra thành đẳng cấp. Tất nhiên cùng đẳng cấp
người ta thường có khuynh hướng đi lại với nhau, thân cận nhau hơn, bởi vì nó
thoải mái, dễ dàng, thuận lợi, dễ dàng kết quả trong mọi điều kiện và mục đích
giao tiếp hơn. Đó chỉ là lẽ tự nhiên và trong bất kỳ nghề nghiệp hoặc giai cấp
nào cũng vậy. Ngay cả trong giới trí thức, giới chuyên môn, kể cả giới khoa học
thuần túy cũng thế. Cho đển kể cả trong các tôn giáo cũng vậy, không thể nào
phá bỏ hết được mọi đẳng cấp, mọi tôn ti trật tự trong đời sống xã hội khách
quan, tự nhiên của con người. Bất kỳ ai cũng muốn phát huy, thăng tiến, hoặc hướng
thượng. Chỉ khi nào hoàn cảnh hoặc điều kiện khách quan không cho phép, họ mới
chịu dừng lại, thúc thủ, hay hành động ngược lại, vì thất vọng, vì oán trách bản
thân, tha nhân, cũng như xã hội. Cho nên nói xã hội không có giai cấp, không có
đẳng cấp chỉ là nói một cách ngu ngơ hoặc giả đối, đó là điều hoàn toàn không
thực tế và không có thật.
Chỉ
có điều là ý nghĩa giai cấp vốn mang tính chất khách quan hay chủ quan. Khách
quan có nghĩa do điều kiện xã hội bên ngoài hoàn toàn quyết định. Chủ quan có
nghĩa do ý thức con người quyết định. Tất nhiên ai cũng biết ý nghĩa khách
quan, các biện pháp kinh tế xã hội khách quan có thể cải thiện được. Còn ý
nghĩa chủ quan, chỉ có thể do văn hóa, giáo dục, ý thức tự giác, nhận thức nơi
mỗi cá nhân mới có thể nâng cấp hay giải quyết được. Ai cũng biết trong con người
có yếu tố bản năng, yếu tố cá tính, yếu tố văn hóa, và yếu tố giáo dục. Bản
năng là điều ẩn sâu trong vô thức, trong các khuynh hướng tự nhiên. Yếu tố cá
tính là yếu tố giao thoa giữa đặc điểm sinh tâm học và hoàn cảnh xã hội. Văn
hóa thì ngoài mặt truyền thống, còn mặt rèn luyện và giáo dục. Cho nên văn hóa,
giáo dục là ý nghĩa bên ngoài, cách thể hiện bề ngoài, nhưng lại mang ý nghĩa
và giá trị chi phối, phát huy, ức chế, áp đảo, hoặc chế hóa tất cả những gì tự
nhiên nhất hoặc vốn có ở bên trong mỗi cá nhân. Điều đó cho thấy ý nghĩa giai cấp
và ý thức giai cấp trong thực tế xã hội là không hề đơn giản. Nó vừa là sản phẩm
của xã hội mà đồng thời cũng là sản phẩm của ý thức và nhận thức cá nhân. Nhận
thức về mình, nhận thức về người khác, nhận thức về xã hội, kết hợp với mỗi
hoàn cảnh, điều kiện sống trong thực tế nói chung của mỗi người. Điều này cũng
có nghĩa ý nghĩa của giai cấp vừa là một cấu trúc ý thức vừa là một cấu trúc thực
tế trong xã hội. Thực tế này tất yếu, vì không có bất kỳ hiện thực tồn tại nào
mà lại không có cấu trúc, vấn đề chính là mức độ linh hoạt cũng như ý nghĩa của
cấu trúc đó ra sao lại là chuyện khác.
Mặt
khác, ngoài tính cách như một ý thức xã hội, tức ý thức trong sự liên đới,
trong sự so sánh về mặt tương quan của cá nhân với xã hội bên ngoài, sự khác biệt
giàu nghèo trong xã hội cũng là một cơ sở, một nền tảng nói chung của ý nghĩa
giai cấp. Giàu có nghĩa có nhiều của cải, nhiều phương tiện thuận lợi về đời sống,
còn nghèo là nghĩa hoàn toàn ngược lại. Ở đây chính yếu tố vật chất, kinh tế
tác động lên bản thân của ý thức giai cấp mà không là gì khác. Nhưng kinh tế là
mối tương quan xử sự về rất nhiều mặt của đời sống con người. Bởi nói đến kinh
tế trước hết phải nói đến các ngành nghề hoạt động đang có trong xã hội. Đó là
các điều kiện hay cơ sở của các yếu tố thu nhập, và sự khác nhau hoặc dị biệt
trong ý nghĩa kinh tế tự nhiên cũng mang lại các sai biệt hay các phân hóa về
giai cấp một cách tự phát mà mọi người đều có thể biết. Điều đó cũng có nghĩa
giai cấp không phải luôn luôn là cái gì chặt chẽ. Trái lại nó có thể biến đổi,
uyển chuyển, và tự chuyển tiếp lẫn nhau tùy theo từng điều kiện hay hoàn cảnh cụ
thể của mọi biến thiên lịch sử cũng như xã hội. Có nghĩa đấu tranh giai cấp thực
chất là đấu tranh giữa các cá nhân khi các điều kiện kinh tế và các quan hệ nào
đó có thể mang lại những quyền lợi khả dĩ trái ngược nhau hoặc hoàn toàn mâu
thuẫn. Đó là ý nghĩa hoàn toàn thực tế của kinh tế xã hội mà chẳng có gì siêu
hình, khó hiểu, hay huyền hoặc cả.
Nhưng
tại sao có sự giàu nghèo, và ý nghĩa cũng như nguồn gốc của nó ra sao ? Nghèo
có nghĩa là sự không làm ra và yếu kém về mặt thu nhập. Giàu có nghĩa là sự làm
ra nhiều về mặt kinh tế và có nguồn thu nhập cao. Tất nhiên sự làm ra hay không
làm ra có rất nhiều nguyên nhân và yếu tố. Điều kiện ban đầu, hoàn cảnh thuận lợi,
sự may mắn, tài năng, lao động, quyền thừa kế, sự giỏi lau lách, cạnh tranh, được
có các lợi điểm hay lợi thế nào đó trên đường đời, thậm chí có những điều kiện
xã hội thích hợp. Nói chung có cả trăm ngàn yếu tố, không chỉ riêng duy nhất một
yếu tố nào. Có khi người ta còn khái quát hóa thành những người có số giàu hoặc
nghèo, tức thuận lợi, thành công về đường tiền bạc, hoặc hoàn toàn khó khăn, bất
lợi. Thôi thì luận về cách nào cũng đúng, mặt cá nhân hay mặt xã hội, mặt chủ
quan hay mặt khách quan, mặt tích cực hay mặt tiêu cực, và nói chung là mặt xấu
hay mặt tốt. Có điều sự giàu nghèo trong xã hội không phải là thước đo duy nhất
của mọi con người. Không phải ai ai cũng chỉ hướng về mặt vật chất hay kinh tế.
Bởi vì chỉ có ý nghĩa hoặc giá trị duy nhất đó thì còn làm gì có các ý nghĩa hoặc
giá trị về những phương diện khác. Có người làm khoa học, có người làm nghệ thuật,
có người làm quản lý xã hội, có người làm văn hóa, có người muốn có một cuộc đời
thanh tao, không bon chen, trong sạch, thôi thì mọi loại. Cho nên thật ra, tầng
kinh tế hay tầng vật chất, tuy là tầng cơ bản, tầng nền tảng nhất của xã hội,
nhưng đó vẫn là tầng thấp nhất, còn tầng cao hơn là tầng tinh thần và ý thức,
là thượng tầng văn hóa, văn minh về những ý nghĩa cao hơn của con người và xã hội.
Trong đó có giá trị của nhận thức, của ý nghĩa tôn giáo và triết học, của năng
lực, tài năng sáng tạo về mọi mặt của chính con người.
Đó
là chưa nói trong những xã hội lành mạnh, nền kinh tế tất nhiên cũng lành mạnh,
sự giàu nghèo gần với tính cách khách quan, và cũng công bằng hơn, theo các
tiêu chí như trên mà chúng ta vừa nói. Nhưng nếu trường hợp những xã hội không
lành mạnh hoặc kém lành mạnh, tất nhiên sự giàu nghèo cũng bất công, giả tạo
hơn nhiều. Nó không phản ảnh điều gì thật sự khách quan hay thật sự chủ quan,
mà đó chỉ do các trở ngại hay thuận lợi chỉ mang tính cách bất thường. Điều đó
cũng giống như giòng nước chảy phải qua nhiều chướng vật, có khi bị rác rửi,
bùn lầy, và bao nhiêu vật tạp khác nhau, làm cho các hướng chảy và dòng nước đều
không còn hoàn toàn tự nhiên, trong sáng nữa. Đó chính là những điều bất công,
những cái hoàn toàn giả tạo trong mọi ý nghĩa về giàu nghèo trong xã hội. Nói
như vậy để thấy rằng không phải mọi tính cách trong cuộc sống xã hội đều hoàn
toàn đơn giản. Cho nên các ý nghĩa về giai cấp, đấu tranh giai cấp, tiến tới một
xã hội hoàn toàn bình đẳng như nhau, không còn giai cấp , do Mác đưa ra, và một
thời từng được nhiều người say sưa, đề cao lên tận trời xanh một cách thái quá,
hết sức mê say, thậm chí mê muội, là hoàn toàn không đúng. Không đúng có nghĩa
nó thật sự không khách quan, chính xác, không thực tế và phi khoa học như chúng
ta đã nhiều lần phân tích. Bởi vì các ý nghĩa phân tích và kết luận về lịch sử,
về kinh tế xã hội của Mác, thực chất không hoàn toàn thực tiển, không thuần túy
kinh tế xã hội, nhưng chỉ chủ yếu dựa vào quan điểm lý thuyết biện chững của
Hegel. Điều này chúng ta cũng đã nói nhiều, đó cũng chỉ là một lý thuyết tư biện
về triết học, kiểu như một phương pháp số học về các ý niệm nối kết nhau một
cách trừu tượng theo kiểu lô-gích hoàn toàn hình thức mà không thực tế, không dựa
vào thực tế và cũng không hoàn toàn chứng minh được một cách cụ thể hay chính
xác bằng thực tế.
Đó
cũng chính là lý do tại sao trong suốt một thời kỳ dài, sau khi áp dụng lý thuyết
Mác, trong thực tế Liên xô cũ và khối Đông Âu đã hoàn toàn thất bại và cuối
cùng phải sụp đổ, tan rã. Nhiều nơi khác trên thế giới cũng vậy, cuối cùng đã
phải đổi mới, mở cửa, hội nhập, nếu không hẳn cũng đã phải hoàn toàn bế tắt. Đó
chính là một thực tế khách quan, bởi vì không bất kỳ ai phủ nhận, nói ngược lại,
hay nói khác đi được. Lý do chính yếu vì lý thuyết Mác đã quên bẳng đi yếu tố
tâm lý của con người. Đây là động lực thực tế và cũng là bản thân của xã hội,
mà nếu phớt lờ hay cố ý quên đi thì cũng chẳng còn điều gì để nói nữa. Cho nên
người ta không ngạc nhiên khi thấy những gì Mác đã phê phán ở giai đoạn xã hội
tư bản lúc sơ kỳ, những điều đó lại xảy ra hoàn toàn trầm trọng hơn trong các
xã hội trước đây từng áp dụng một cách cực đoan theo lý thuyết của Mác. Đó cũng
giống như kiểu gậy ông đập lưng ông, bởi vì nó tạo nên một xã hội con người
vong thân, tức đánh mất bản thân mình một cách cực độ. Các vong thân (đánh mất
bản thân) chính yếu nhất là vong thân kinh tế, vong thân chính trị, vong thân
văn hóa, vong thân xã hội là những điều rất hoàn toàn dễ thấy. Bởi con người
không còn là con người tự tại, con người thực chất nữa, mà hầu hết là những con
người giả tạo, sống giống như cái bóng trong lòng xã hội thực tại. Có nghĩa hầu
như sống giả tạo, sống đóng kịch, sống không phản ảnh thực chất những suy nghĩ,
tình cảm chân thật của bản thân, mà sống bằng các sự tung hô, sống bằng các phô
trương hình thức và sống bằng sự giả tạo.
Tại
vì sao, vì lý thuyết chuyên chính của Mác đã quá hằn sâu trong xã hội. Do đó ai
cũng phải tự vệ, cũng nghi ngờ sự thiện chí của người khác đối với mình. Bởi vậy
miệng nói xã hội mà thực bụng lại nghĩ cá nhân. Làm sao để được tồn tại, để được
phát triển cho riêng mình là quý nhất. Đó là nguyên lý vàng, là khuôn thước
vàng, tuy rằng không một ai công khai thú nhận điều đó. Đó là lý do tại sao xã
hội luôn hoàn toàn yên ổn trong thời kỳ bao cấp kéo dài, mặc dầu mức sống thật
sự đã đạt đến cả dưới yêu cầu tối thiểu. Nên thực tế trong điều kiện như vậy
cũng không còn phân biệt giàu nghèo, bởi vì tất cả đều nghèo, tất cả đều vô sản
thì lấy gì phân biệt, lấy gì phân chia giai cấp. Có nghĩa giai cấp kinh tế, xã
hội thì không, nhưng giai cấp quản lý hành chánh, quyền lực thì vẫn có, thậm
chí lại có một cách hết sức chặt chẽ, cứng nhắc, thậm chí lại rất khắt nghiệt.
Thế nhưng, sau thời kỳ đổi mới, mở cửa, ý nghĩa phân hóa giai cấp trong kinh tế
xã hội lại rộ nở lên. Sự phân hóa giàu nghèo, mức cách biệt giàu nghèo lại trở
nên vô cùng quá đáng. Điều này đến cả thế giới cũng phải hết sức ngạc nhiên,
trong khi có nhiều người Việt Nam có điều kiện tiêu tiền vung tay quá trán, thì
thật sự về mực đẳng cấp thế giới cả nước nghe đâu đang đứng hàng thứ 132 trong
thang đẳng cấp giàu nghèo tên toàn thế giới. Đó cũng là lý do tại sao bài viết
này tác giả lại một lần nữa đề cập đến ý nghĩa của sự giàu nghèo và vấn đề giai
cấp xã hội như trên đã nói. Bởi thực chất ý nghĩa của giai cấp và vấn đề giàu
nghèo trong nguyên ủy của nó không mang nguồn gốc gì về ý thức hệ, mà chỉ là vấn
đề quản lý khoa học về xã hội, vấn đề sự sự phong phú hay nghèo túng về tài
nguyên, cũng như ý nghĩa về bản thân văn hóa của con người. Một xã hội dù tài
nguyên khan hiếm, nhưng biết quản lý theo khoa học hiệu quả, sự chênh lệch về
giàu nghèo tự khắc cũng giảm đi hay không hoàn toàn thật sự cứng nhắc. Trong
khi đó, cho dù tài nguyên có phong phú bao nhiêu, mà cách quản lý xã hội phi
khoa học hay kém hiệu quả thì ý nghĩa của vấn đề cũng hoàn toàn ngược lại.
Nhưng
quản lý khoa học là gì, đó là cách quản lý theo kỹ trị mà không theo ý thức hệ.
Kỹ trị có nghĩa là kỹ thuật và khoa học khách quan. Kỹ thuật và khoa học khách
quan này về mặt quản lý xã hội phải được thực hiện qua nghiên cứu lý thuyết về
mặt khoa học, qua áp dụng thực tiển về mặt kỹ thuật nhằm đúc kết, rút ra kinh
nghiệm và càng ngày càng cải thiện tốt hơn mà không là gì khác. Điều đó có
nghĩa các thành quả của thế giới phải được vận dụng và các tập hợp, phát huy chất
xám trong nước làm sao phải thật hữu hiệu và kết quả nhất. Đó chính là một ý
nghĩa nhân văn mà không phải một lý thuyết giáo điều khô cứng. Điều này ngày
nay phải trở thành thực chất mà không hề gắn gượng. Có nghĩa trong các đức tính
của con người thì sự thành thật với mình, với người khác, và với xã hội là điều
gì hết sức quan trọng và quyết định nhất. Mọi sự giả dối đều tạo nên những sự
tuyên truyền giả đối và kể cả những cách đóng kịch. Thật sự điều đó chẳng có lợi
gì cho số đông, cho đại cuộc, mà chỉ lợi cho cá nhân hay thiểu số cá nhân, ở
đâu cũng vậy, ở thời đại nào cũng vậy. Bởi vì chỉ có những con người đích thực
mới có thể xây dựng được những xã hội thực chất và đích thực. Những con người
như thế ngày xưa ở nước ta như Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đoàn Nhữ Hài, Lê
Quí Đôn, Nguyễn Thiếp, Nguyễn Trường Tộ … chẳng hạn, mà không thể có loại người
nào khác. Cho nên người trung thực với xã hội không phải có nhiều, còn những
người xu quyền phụ thế, thừa nước đục thả câu, thì không lúc nào và ở đâu mà chẳng
có. Tất nhiên những hình ảnh tiêu biểu đó đích thực là của thời đại ngày xưa,
còn ngày nay tất nhiên là những nhà khoa học thật sự, cũng như những nhà kỹ trị.
Ý
nghĩa là tại sao, bởi vì trong một xã hội công dân hay xã hội dân sự hiện đại
đích thực thì tất cả mọi người đều hoàn toàn bình đẳng và tự do. Như vậy, ý
nghĩa tự do dân chủ phải là ý nghĩa ý thức hệ chính đáng và cần thiết nhất
trong chính xã hội hiện đại, phát triển ngày nay. Trong tính cách đó, nhất thiết
không thể có quyền “lãnh đạo” theo kiểu truyền thừa, tức cha truyền con nối dưới
bất kỳ một hình hay phương cách thế nào, mà nhất định phải là những sự ủy quyền
hoàn toàn tự do, bình đẳng, tự chủ và hoàn toàn có ý thức. Trong tính cách đó
thì những con người khoa học, con người có trình độ, có tri thức nhất thiết phải
đứng vào trong hàng ngũ của những người hay của lực lượng quản lý xã hội. Họ là
những nhà khoa học tất nhiên hệ thống tổ chức quản lý của họ cũng phải là hệ thống
khoa học, có chất lượng, hiệu quả, và có kết quả(1).
Có nghĩa ngày nay các ý niệm về giai cấp, về ý thức hệ theo kiểu giáo điều đã
hoàn toàn đi ngược lại với mọi ý nghĩa thực tiển và khoa học. Điều này kẻ viết
bài này sẳn sàng tranh luận thẳng thắn và công khai với bất kỳ người nào trong
các ý nghĩa liên quan về mặt khoa học và triết học. Nhưng chắc chắn điều đó
không thể có, bởi vì bất kỳ người nào trong ý hướng khoa học và thực tiển ngày
nay cũng đều nhận thấy thật sự đúng như thế. Ý nghĩa này cũng cho thấy tại sao
trong làn song phản đối độc tài hiện nay ở các nước Trung Đông, từ Tunisie, đến
Ai Cập và Libie hiện này, đều là những nơi có những nhà lãnh đạo nắm quyền cai
trị hàng thập kỷ, với hình ảnh gia đình trị, và khi chế độ lung lay thì chính
những tầng lớp cầm quyền chóp bu lại bị khuôi ra các tài sản kết xù có liên
quan đến tham nhũng, cùng những tài khoản giấu kín đó của họ ở các ngân hàng nước
ngoài đều bị phong tỏa, đóng băng ngay tức khắc. Đó cũng chính là ý nghĩa của sự
giàu nghèo, giai cấp, và các nguyên tắc về lãnh đạo chính trị, như trên kia
ngay từ đầu đã nói.
VÕ
HƯNG THANH
(26/02/2011)
**
VÀI CẢM NGHĨ NHÂN ĐỌC “BÀI PHẬT GIÁO VIỆT NAM”
Bài viết “Phật giáo Việt Nam đang lụi tàn hay khởi sắc” là bài viết
ngày 23/02/2011 (Mùa Xuân Tân Mão), tại Napa-Sacramento của ông Trần Kiêm Đoàn (1). Bài viết này nhằm góp mặt cùng với một
bài viết cũ của tác già Nguyễn Hữu Liêm vừa mới được đăng trên Báo điện tử Phật
giáo Việt Nam, xuân Tân Mão 2011, nhan đề “Tính Không và Thượng đế : Từ thoái
trào Phật giáo đến cao trào Tin lành ở Việt Nam”(2),
cũng như kết hợp với một bài điểm sách của tác giả nước ngoài khác là Allen
Carr với nhan đề gây sốc “Lên kế hoạch ngày tàn của Phật giáo Việt Nam”. Theo ý
kiến của ông Trần Kiêm Đoàn thì các bài viết của hai tác giả Allen Carr và Nguyễn
Hữu Liêm, đều có chủ đích nói lên thực trạng đáng quan ngại về Phật giáo trước
sự vận động truyền đạo và cải đạo quy mô, năng động của các tôn giáo viễn chinh
thế giới.
Tôi tuy không phải là người theo đạo Phật, đúng ra chỉ có cảm
tình, nhưng thấy đây quả là một chủ đề lớn, vả lại bài viết của ông Đoàn có gửi
trực tiếp cho tôi qua thư điện tử, bởi vậy nhân đó cũng xin có vài dòng cảm
nghĩ. Ông Đoàn có trưng dẫn cuốn sách của tác giả Hattaway, dài 453 trang,
trong đó chủ yếu nói về nổ lực và các phương thức vận động, lôi kéo, chinh phục
mới – quyết liệt và năng động nhất – để truyền đạo, và tìm cách cải qua đạo Tin
Lành đối với thế giới đạo Phật tại Á châu. Đối tượng được liệt kê và điều
nghiên cụ thể, là 316 nhóm dân tộc, trải dài và vòng quanh từ Ấn Độ, Tây Tạng,
Trung Hoa, Mông Cổ, Đại Hàn, Nhật Bản, Việt Nam, Lào, Thái Lan, Cam Bốt, Miến
Điện, Tích Lan, và các vùng xa, vùng
sâu, nằm giữa biên giới núi rừng của các nước châu Á.
Hattaway nhấn mạnh, và đưa ra nhiều dẫn chứng cụ thể trong tác phẩm
của mình rằng, với cấu trúc lỏng lẻo của một hệ thống tôn giáo quá tự do, các
tu sĩ và tín đồ Phật giáo là những đối tượng rất dễ chinh phục đối với những nổ
lực vận động cải đạo. Nếu cộng thêm vào đó việc tăng già không hòa hợp, gây trở
ngại cho tứ chúng đồng tu, thì kiến trúc của tổ chức Phật giáo cũng rất dễ chao
đảo, và bị nghiêng đổ trước những cơn gió quét đến của thời đại. Allen Carr thì
tỏ ra quan ngại về khả năng lụi tàn của Phật giáo. Theo ông ta, nếu không có một
sự chấn hưng để bắt kịp thời đại, thì trước sự tấn công cải đạo như thế, Phật
giáo sẽ rất khó vững vàng để truyền thừa hành đạo trong một tương lai trước mắt.
Ông Đoàn cũng cho biết ông Nguyễn Hữu Liêm là một luật sư, một giáo sư triết học
đang hành nghề tại Hoa Kỳ. Ông cũng là một
cây bút về nhiều đề tài rất tế nhị và nhạy cảm thuộc thể loại chính luận.
Theo ông Liêm, trí thức Phật tử Việt Nam ở hải ngoại bỏ chùa để
theo tu học các giáo phái khác, quần chúng ở trong nước, nơi các vùng thôn quê,
tuy trước kia vốn có ảnh hưởng Phật giáo, nay lại đi theo đạo Tin lành ngày
càng đông. Ông Liêm cho rằng động lực làm cho đạo Phật Việt Nam thoái trào, là
vì giáo lý nhà Phật xa vời, khó hiểu, giống như một hiện tượng biểu dương chữ
nghĩa, không đáp ứng được khát vọng tri thức cũng như nhu cầu tâm linh của những
con người trong thời đại mới. Ông viết : “Có nhiều lý do cho sự thoái trào này.
Nhưng trong bài này tôi chỉ nêu lên hai vế của một vấn đề về khái niệm và ngôn
ngữ : cái gọi là “Tính Không” và “Thượng Đế”. Khi giáo lý nhà Phật – vốn được
hiểu bởi quần chúng - phủ nhận “Thượng Đế” và “linh hồn”, thì đối với tâm thức
khát khao niềm tin của con người thời đại, Phật giáo không còn hấp dẫn đối với
họ. Trên phương diện học thuật, khi “Tính Không” trở thành một đối thể tri thức
cho trí thức Phật giáo, khi trò chơi ngôn ngữ nay đã trở thành một “bình ruồi”
(nói theo Wittgenstein) mà kẻ tham dự không thoát ra được, Phật giáo chỉ còn là
một hoài niệm, hay là một tự ái bản sắc cá nhân”.
Theo ông Đoàn, thì ông Liêm đã dùng quan điểm triết học ứng dụng của trường phái chữ nghĩa thực dụng
Wittgenstein, Heidegger, Dewey và Marx, vào thời kỳ những năm 1930, để làm
phương tiện nhận định và phân tích về khái niệm thuộc phạm trù tri thức luận
cho “Tánh Không” của đạo Phật. Qua lăng kính “ứng dụng” đó, ông Liêm đã thấy
nhìn “Tánh Không” của đạo Phật cũng tương tự như cái bình ruồi của Wittgenstein. Đây là một cách hình tượng hóa về tính
chất phù phiếm, về trò chơi chữ nghĩa xa vời, viễn mơ, mà chẳng thực hiện được
điều gì cụ thể trong thực tế, của hệ thống triết học cổ điển. Wittgenstein và
những triết gia cùng khuynh hướng đã ra sức cổ xúy cho một nền triết học ứng dụng,
đem tư tưởng và chữ nghĩa vào đời sống hiện thực nhằm để góp phần xây dựng và cải
tạo xã hội.
Ông Đoàn cho biết, Sau ngày mừng Xuân Tân Mão 2011, bài viết Lên Kế
hoạch Ngày Tàn Phật giáo của Allen Carr được phổ biến rộng rãi trong môi trường
truyền thông báo chí Phật giáo trong và ngoài nuớc, phản ứng của quần chúng Phật
tử khá sôi nổi, nhưng nóng bỏng nhất là luồng ý kiến “vận động quốc tế chống cải đạo”.
Ông cũng nói, hiện nay có khoảng 345 ngôi chùa, trung tâm thiền học và viện
nghiên cứu Phật giáo của người Việt Nam tại nước ngoài. Với khoảng 1500 tăng ni người Việt thuộc các
bộ phái, pháp môn khác nhau đang hành đạo ở hải ngoại. Trong số đó có hai phần ba là tu sĩ trẻ. Nhìn chung, tu sĩ và tín đồ Phật giáo Việt
Nam hiện đang có từ 9 đến 13 nhóm phái đang sinh hoạt tự trị như những hình thức
“Giáo hội” độc lập. Ông Đoàn cũng nói thêm, theo ý kiến của ông Liêm thì giới
trí thức Phật giáo đang bỏ dần đạo Phật, vì họ thất vọng trước một hệ thống
giáo lý không còn hấp dẫn và không đáp ứng được nhu cầu tâm linh của thời đại.
Tuy vậy, ông Đoàn nói hiện tượng “trí thức Phật giáo từ bỏ đạo Phật...”
như nhận định của Liêm, không thực sự xảy ra trên thực tế, trong cũng như ngoài
nước, kể cả Phật giáo Việt Nam và Phật giáo thế giới. Nếu có chăng chỉ là một mớ
hiện tượng “thoái trào” của giới trí thức thuộc nhiều tôn giáo, nhưng Phật giáo
chiếm đa số, là một hiện tượng “phiêu lưu thám hiểm” tôn giáo, đã xảy ra vào những
năm 1980 tại hải ngoại. Đấy là hiện tượng một số người Việt, tương đối còn trẻ,
có học vị cao về “Tây học”, nhưng thiếu sự hòa điệu và sự tiếp cận với ngọn nguồn
và gốc rễ văn hóa Việt Nam, vì họ được du học hay di cư ra nước ngoài Sự xôn xao của thời 1980 nhạt dần trong thập
niên 1990, và đã gần như vắng bóng trong thập niên 2000. Thế nhưng, ông Đoàn
cũng nói hiện vẫn có hiện tượng có nhiều trí thức Phật giáo ngày nay chọn sinh
hoạt Phật sự ở nhà, thay vì đến chùa như thường lệ. Thái độ không đến chùa sinh
hoạt thường xuyên và trực tiếp với “tăng bảo” như thế, hoàn toàn không đồng
nghĩa với hành động bỏ đạo hay cải đạo.
Theo ông, điều đó là do phương tiện truyền thông hiện đại quá
phong phú, người ở nhà cũng có thể tham gia đàm luận, tu tập, nghe pháp, thăm
viếng Chùa, Viện qua hệ thống vi tính. Hai là do hệ thống tổ chức của giáo quyền
tan rã và bất lực, bởi mỗi chùa có một vị trú trì, một đạo tràng riêng, có sự độc
lập về mọi mặt tổ chức, kinh tế, tài chánh, lễ nghi, tu học, mà nếu cần, cũng
có thể tự đặt tên, xưng danh, và sinh hoạt như một “Giáo hội” riêng biệt, hoàn
toàn hợp pháp trong bối cảnh xã hội phương Tây. Thứ ba là hiện trạng tăng già
chống báng nhau, làm Phật tử mất niềm tin và nản lòng. Bốn là truyền thống lễ
nghi, lễ nhạc của Phật giáo Việt Nam đang bị “phát huy” một cách tùy tiện, tự
phát, và mang nặng tính trình diễn hời hợt, do hàng tăng ni cao niên và tuổi trẻ
thiếu sự hợp tác cần thiết, cả trong vai trò chủ động lễ nghi tôn giáo, trong
lúc nhu cầu thiết yếu trong sinh hoạt và tu học lại đang cần đến, tức sử dụng
phương tiện nghi thức, lễ nhạc hài hòa, thống nhất và đồng bộ, để hoằng dương
Phật pháp. Sau chót, sự bế tắc đối với một khả năng hóa giải về những dị biệt
trong cộng đồng tăng lữ, vì mặc cảm (tự tôn là chính), và định kiến (khuynh hướng
chính trị, viễn kiến bảo thủ và cấp tiến). Tuy thời đại mới, nhưng bản chất vẫn
cũ, không chấp nhận và thỏa hiệp đối với sự khác biệt để hóa giải, cứ khăng
khăng bảo thủ, cho cái riêng của mình là đúng.
Ông Đoàn cũng nhấn mạnh, đạo Phật đã ra đời cách đây hơn hai ngàn
rưỡi năm, cũng đã trải qua bao biến đổi tồn vong, hưng phế, dưới nhiều hình
thái và hoàn cảnh khác nhau. Trong khi đó, đạo Phật nhắm tiến đến cái Tính
Không (rỗng lặng) như một chân lý giải thoát cùng tột. Hơn thế, đối với tinh thần
truyền thừa của Phật giáo, ngôn ngữ chỉ được xem là phương tiện “hữu lậu” (lỏng
lẻo, rơi vãi, không mô tả hết được bản chất đích thực), dễ gây ra nhiều hiểu lầm
và biên kiến nhất. Ông cũng nói đức Phật không phải là một đấng thần linh, và đạo
Phật cũng không tin vào một Thượng Đế. Đạo Phật chỉ giúp cho con người giác ngộ
(enlightment), mà không phải là sự cứu rỗi (salvation). Đạo Phật chủ trương vô
ngã (nonself), cũng như phủ nhận sự hiện hữu của linh hồn bất biến, thường tại.
Đạo Phật không chinh phục, và cũng không thuyết phục người theo bằng bùa chú,
tín điều, hay phép lạ. Bởi vì Phật giáo chủ trương Duyên khởi, tức tất cả đều
quay theo vòng sinh diệt của quá trình thành, trụ, hoại, không, từ vô thủy đến
vô chung.
Ông cũng nói, trong giáo lý nhà Phật, con người cũng như mọi loài
có sinh có chết, đều tồn tại dưới một dạng năng lượng “chủng tử”, và biến hiện
không ngừng trong dòng sinh diệt đó. Như thế, Thượng Đế của đạo Phật (nếu cần
phải gọi theo kiểu ngôn ngữ quy ước của lý tính phương Tây), thì đó chính là
Duyên khởi. Tức vũ trụ, vạn vật vốn được tạo nên, hay hủy diệt, là do duyên khởi,
và duyên hợp hay duyên tan, là qua vô số các hình tướng hợp thể mang tính giả tạm,
tuyệt đối không hề có một tự tánh thường hằng, bất biến. Có nghĩa, đạo Phật phủ
nhận một nguyên nhân đầu tiên sáng tạo ra muôn vật, và hệ luận tất nhiên là
không hề có một Đấng thần linh uyên nguyên và chủ tể nào vốn đứng ra sáng tạo
muôn vật, muôn loài như thế. Bởi vậy, trong sinh hoạt tín ngưỡng, tâm linh, Đạo
Phật không hướng lên trên, không vọng ra ngoài để cầu xin ơn cứu rỗi của một
tha lực đầy quyền năng hay tối thượng nào đó cả, mà chỉ chủ trương quay vào bên
trong để tìm tòi, soi rọi, nhận ra, và tiếp cận với "Đấng" cao cả nhất
nằm trong chính mình, đó là Chân tâm, là Phật tánh, là Bản lai diện mục, là Tự
tánh thường hằng, là Thật tánh tuyệt đối.
Ông Đoàn cũng dẫn chứng một trí thức cư sĩ Phật giáo nói là có
không ít những trí thức Phật giáo Việt Nam hiện nay càng có cái Tâm quy ngưỡng
đạo Phật mạnh mẽ chừng nào, họ lại càng tìm cách quay lưng với việc ‘Phật sự’ ở
các chùa chiền người Việt chừng ấy. Thậm chí, họ xa lánh chư Tăng, Ni, và bạn đạo,
bởi họ không còn chịu đựng nỗi nữa cái cảnh chùa chiền bị biến thành những
trung tâm quyên tiền, gây quỹ, còn thô phàm hơn cả cảnh thương mãi ngoài đời.
Có nhiều trí thức Phật giáo khác thất vọng và giảm lòng quy phục đối với các
‘trưởng tử Như Lai’ kiểu như thế đó. Ông Đoàn cũng nói, theo nhận định của
Allen Carr trong bài điểm sách nói trên, thì các nhà truyền giáo Tin Lành đang
gặp phải những bức tường bảo vệ kiên cố của đạo Hồi ở Trung Đông, châu Phi,
“vòng đai thánh kinh” đã có sẵn ở châu Mỹ, chiếc nôi đạo Chúa ở châu Âu, nên hướng
tiến còn lại của những binh đoàn truyền giáo lắm của nhiều người, chính là Á
châu. Nơi mà đa số người dân theo đạo Phật, với đời sống tâm linh từ bi, hiếu
hòa, bất bạo động.
Ông cũng đặt câu hỏi, là trong dụng công tiếp cận với bất cứ nhóm
dân tộc theo Phật giáo nào, Hattaway cũng đều tìm thấy khả năng đầy triển vọng
cho việc vận động quần chúng tập thể bỏ đạo Phật, để cải sang đạo Chúa. Nếu vậy,
thì đạo Phật sẽ phải có một ngày bị tàn đi hay không ? Tuy vậy, ông lại lạc
quan khẳng định, có một chân lý khách quan đã được khẳng định trong tiến trình
tất yếu của sự “thành, trụ, hoại, diệt”, hay Duyên khởi của đạo Phật là một sự
biến tướng của sinh khởi trùng trùng, bất tận, chứ chẳng có gì còn, mà cũng chẳng
có gì là mất cả. Và để kết luận, ông Đoàn nói, trước những nguồn thông tin khá
sôi nổi về chuyện truyền đạo, cải đạo ở quê nhà, đặc biệt là những vùng quê,
vùng cao, vùng sâu nghèo khổ, phản ứng của giới Phật tử trong và ngoài nước,
tuy rất khác nhau về mức độ, nhưng tựu trung lại cũng rơi vào một trong hai tuyến
chính, là tuyến bảo thủ, và cấp tiến. Khuynh hướng bảo thủ thì dè dặt và vô ngại.
Những vị theo khuynh hướng nầy cho rằng, đạo Phật lấy tinh thần từ bi, hỷ xả
làm đầu, nên cứ hoan hỷ chấp nhận bất cứ sự việc nào xảy ra, và nên “thương hại”
những thế lực nào muốn ra tay đánh phá Phật giáo.
Chẳng hạn như lời nhận định của một cư sĩ cho rằng từ bi mà thiếu
trí tuệ thì thường đưa tới thái độ dễ dãi thỏa hiệp bề mặt, nặng tính trình diễn,
hơn là phát khởi từ chánh niệm. Chánh niệm không phải chỉ là ngồi yên, gỏ mõ tụng
khinh, mủ ni che tai, mà phải biết dụng công, cải tà quy chánh, dụng chánh để
đuổi tà. Trái lại, khuynh hướng cấp tiến thì xông xáo, quái ngại. Những vị theo
khuynh hướng này vẫn cho rằng cải đạo là vi phạm quyền tự do tâm linh của con
người, vì vậy họ đề nghị những phương tiện nhằm “phản công” chống lại sự cải đạo,
như phát hành tài liệu sách báo và vận động dư luận quốc tế nhằm chống cải đạo.
Như có cư sĩ bảo cổ thư có dạy muốn giữ thành cho vững thì phải giữ vững lòng
tin của người trong thành trước đã. Nên khi tăng già hòa hợp, tứ chúng đồng tu,
thiền môn thanh tịnh, thì đạo Phật hưng thịnh. Và khi đạo Phật hưng thịnh, làm
sáng niềm tin, thì khi đó chẳng cần chống ai cả, mà những vọng ngữ và vọng động
phi Phật giáo đều sẽ tự lụi tàn.
Và để gút lại, ông Đoàn nói, thái quá và bất cập đều dễ đưa tới cực
đoan, vọng động và vọng nghiệp. Con đường phong quang và tinh túy nhất của đạo
Phật, chính là Trung Đạo. Phải có trí tuệ để nhìn đúng, mới biết làm đúng. Có từ
bi để thương yêu, mới biết cách sống cho và sống với. Có hỷ xả để vui, mới giữ được tâm an lành và
hạnh phúc. Hoa sen vẫn nở được trong biển lữa. Hỷ xả có được trong mọi hoàn cảnh
để giữ cho tâm bồ đề kiên cố, phát huy năng lực hoằng pháp, độ sanh bất thối
chuyển, đó chính là cái hạnh dũng tuyệt vời trong tam pháp hạnh gồm Bi, Trí,
Dũng của người Phật tử. Đặc biệt, bản chất từ bi, chánh kiến hòa bình, và tinh
thần an lạc của Phật giáo, vẫn là vốn quý của nhân loại toàn cầu, trong một thế
giới dẫy đầy chiến tranh, bạo loạn và thường xung đột như ngày nay. Cho nên ông
kết luận là nếu nói về mặt triết lý thì sự lụi tàn hay khởi sắc của vạn pháp chỉ
là sự biến tướng do nhu cầu hình tướng bên ngoài. Đó chỉ là ảo ảnh. Mọi sự cố xảy ra đều do duyên khởi. Tánh Phật
là Tánh Không. Không có tự tánh thì lấy
gì để còn hay mất, khởi sắc hay lụi tàn.
Tất nhiên ông Trần Kiêm Đoàn đã nhận xét chính xác khi nói việc
bàn đến sự liên quan của thần thánh và con người đã xảy ra từ 9.000 năm trước,
trong kinh Vệ Đà của Ấn giáo, và trong các thần thoại cổ Hy lạp và La Mã. Nhưng
hình ảnh một Thượng Đế mang hình ảnh con người, hay con người mang hình ảnh Thượng
Đế, chỉ đã xuất hiện trong tín lý của đạo Hồi, đạo Do Thái và đạo Thiên Chúa.
Tuy trong Áo Nghĩa Thư, ngôn từ chính yếu để nói về Thương Đế, là “Neti Neti”.
Có nghĩa “không phải cái nầy, mà cũng Chẳng phải cái khác”. Nhưng cho đến nay,
chỉ có đạo Thiên Chúa La Mã là đã hình tượng hóa Thượng Đế qua hình ảnh của con
người. Và cả 3 tôn giáo Hồi, Do Thái và Thiên Chúa, đều xác định sự hiện hữu của
Thượng Đế bằng sự xác lập mối tương quan giữa đấng cứu rỗi (Thượng Đế) và kẻ được
cứu rỗi (con người). Có một ý trong Tân Ước mà ông Nguyễn Hữu Liêm đã trích dẫn
về lời Chúa Jesus, “các ngươi đều là Thượng Đế”, vốn đã được nhà thần học Irenaeus xứ Lyon sống vào thế kỷ thứ II minh giải rằng "Cha
là Thiên Chúa, Con cũng là Thiên Chúa, vì bất cứ ai sinh ra từ Thiên Chúa là
Thiên Chúa". Tức con người do Thượng Đế sinh ra, nên
mang bản thể của Thượng Đế, chứ không thể nào chính con
người là Thượng Đế.
Trên đây là tóm lược những ý chính trong bài viết của tác giả Trần
Kiêm Đoàn mà tôi đã nhận được. Qua đó người đọc tất cũng hiểu được tinh thần
bài viết của ông Nguyễn Hữu Liêm cũng như ý nghĩa các tài liệu liên quan mà cả
hai ông này đã đề cập. Dĩ nhiên theo tôi thấy, ông Đoàn có hiểu rất sâu sắc về
đạo Phật cũng như ý nghĩa những vấn đề có liên quan hiện nay của nó. Tôi không
rõ ông Đoàn có là Phật tử không, nhưng tinh thần của ông cho thấy đúng là người
Phật tử, và ngôn ngữ của ông đúng là ngôn từ rất hàm súc và rất chuyên sâu của
những người trong đạo Phật. Các tác giả liên quan kia cũng vậy, tôi không biết
họ có là Phật tử không, nhưng chí ít tôi nghĩ họ cũng là những người có quan
tâm hoặc có cảm tình nào đó đối với lý thuyết nhà Phật. Như ông Liêm chẳng hạn,
được ông Đoàn cho biết hiện nay là một luật sư và đang giảng dạy triết học. Điều
này đối với tác giả bài viết này cũng là một sự trùng hợp, có nghĩa về nghề
nghiệp và mục đích làm tư duy triết học, ông Liêm quả cũng có nét giống tôi.
Riêng các ông Allen Carr và Hattaway, tôi nghĩ họ là người nước ngoài, chắc là
người phương Tây, nên tất nhiên cái nhìn của họ về đạo Phật không thể nào hoàn
toàn giống được với ông Đoàn, ông Liêm cũng như nhiều người khác. Dù sao, ý
nghĩa của họ cũng là thiện chí mà không phải có ý làm phương hại gì đến đạo Phật.
Riêng đối với ông Liêm, tôi nghĩ chắc ông làm việc ở nước ngoài
lâu, lại có nhiều hiểu biết về triết học phương Tây, thành cái nhìn về đạo Phật
và nhận thức về Phật giáo dường như không hẳn đã mang tính chất bản lai diện mục
về đạo Phật như ông Liêm cũng đã nhìn thấy và phần nào phê phán. Bởi tôi nghĩ mỗi
nền triết học vẫn có các đặc thù riêng, nếu nhận thức về các đạo giáo, các tư
tưởng phương Đông lại thuần túy bằng phạm trù tư duy suy lý như kiểu phương Tây
thì thật sự có thể có nhiều thiếu sót và khó có thể đạt tới được nhứng mặt sâu
lắng, những ý nghĩa trực nhận mà chính những người trong bản thân của ý thức nhận
thức đó bắt buộc phải có. Nhất là nếu ông Liêm lại “chơi” triết học ứng dụng
(applied) theo lối Anh Mỹ, kiểu như Wittgenstein để đánh giá hoặc hiểu về đạo
Phật thì tôi e rằng có thể có những phần nào đó rất phiến diện. Bởi ai cũng biết
rằng mọi khía cạnh của ngôn ngữ diễn đạt hình thức luôn có phần hạn chế, mọi tư
duy theo kiểu lô-gích duy lý bề ngoài có thể nhiều khi rất xa với trực giác hay
những trực nhận bản thân của người khác mà chính người nhắm đến đo không thể
nào diễn đạt được hoàn toàn trọn vẹn hay đầy đủ được. Đây cũng chính là ý nghĩa
của triết học Phật giáo, được trải nghiệm bởi chính bản thân đức Phật, mà nếu
chỉ phê phán nó thuần túy bằng các suy nghĩ, các phạm trù nhận thức phương Tây,
các lý luận lô-gích hình thức bề ngoài, có khác gì nhìn một trái cây bề ngoài
có bao giờ biết ra được các bản thân mùi vị bên trong của nó được. Nên nói tóm
lại, hình ảnh về cái bình ruồi của Wittgenstein là có phần hời hợt và không xác
đáng.
Tuy vậy, đọc các bài viết trên, mọi người có thể giật mình là mối
đe dọa đối với Phật giáo hiện nay là có thật. Chính vì vậy tuy tôi không phải
là người Phật giáo nhưng tôi thấy có mối quan tâm, và chắc những người Phật
giáo thật sự còn phải quan tâm rất nhiều hơn như thế. Trường hợp của ông Đoàn
hay ông Liêm viết bài, có thể là những ví dụ chẳng hạn. Tính phát sinh của điều
đó đúng ra chỉ là lẽ công bình bên ngoài, mình thấy có điều gì chính đáng mà lại
có thể bị phương hại hay mai một đi, vậy thì phải quan tâm, thế thôi. Đạo Phật
cũng vậy, nó là điều rất chính đáng, chính đáng trong giáo lý của đức Phật,
chính đáng trong ý nghĩa xã hội thường xuyên của nó, nên nếu đạo Phật bị phương
hại hay mai một quả thật là điều rất đáng tiếc. Về lý thuyết đạo Phật, xin để
dành cho các tu sĩ Phật giáo. Tuy nhiên hiểu lý thuyết đạo Phật, tức giáo lý của
đức Phật sâu tới đâu lại là chuyện khác. Tu sĩ và nhà nghiên cứu Phật học hoàn
toàn là chuyện khác. Nhà nghiên cứu Phật học và nhà tư tưởng Phật giáo hoàn
toàn là chuyện khác. Người noi theo giáo lý của Đức Phật theo nghĩa nào đó và
người có thể vận dùng và thực hành giáo lý ấy hoàn toàn độc lập, tự chủ, sâu lắng
trong chính bản thân mình lại là chuyện khác. Ngay cả đạo Phật, hay Phật giáo
và triết học Phật giáo cũng là chuyện khác. Phật là nhà tư tưởng, nhà triết học
lớn, hay Phật là người tu đạo, vị giáo chủ, người chỉ đường thực hành cho người
khác, cho xã hội, cũng không phải chỉ là những điều dễ hiểu hoặc suy nghĩ hời hợt
được. Đấy ý nghĩa chiều sâu của Phật giáo là thế, và ý nghĩa của những người thực
hành đạo Phật cũng thế.
Cho nên nói đến tôn giáo là nói đến vị giáo chủ, lý thuyết của vị
giáo chủ đó đưa ra, và những tín đồ, tức những người thực hành và hoạt động
theo tôn giáo đó. Điều đó có nghĩa một tôn giáo nào đó có mai một hay không qua
từng thời đại hoặc xã hội thực chất là còn tùy cả ba yếu tố đó. Có khi tôn giáo
mai một nhưng ý nghĩa và giá trị của vị giáo chủ và lý thuyết vị giáo chủ đưa
ra vẫn luôn có ý nghĩa, giá trị và vẫn tồn tại muôn đời. Đó cũng là ý nghĩa của
việc Phật giáo từ xưa đã bị đẩy ra khỏi Ấn độ, nhưng lại phát triển và tồn tại
mạnh mẽ ở các quốc gia châu Á khác, trong đó có Việt Nam. Đó có nghĩa là sự phù
hợp hay ít phù hợp của một lý thuyết nào đó đối với khung cảnh xã hội, truyền
thống xã hội, hay chính bản chất và các sắc thái tinh thần của xã hội, dân tộc,
đất nước đó. Tất nhiên những chuẩn mực đó không thể chủ quan, bởi vì nó vẫn có
thể biên thiên, thay đổi theo từng hoàn cảnh cụ thể khác nhau của những thời đại.
Vậy nên về mặt thực tế, nói cho cùng, sự tồn tại và phát huy được hay không của
một tôn giáo còn tùy chính những con người cá nhân cụ thể đang họp thành tôn
giáo đó, tức là các tín đồ của nó. Bởi ai cũng biết tín đồ chủ yếu là ở niềm
tin, ở sinh hoạt tôn giáo, ở sự tổ chức của giáo hội, ở chất lượng và số lượng
của những người theo đạo, ở ý nghĩa, hiệu lực của những hệ thống chức sắc và bản
thân giá trị của mọi thành phần chức sắc trong chính hệ thống tổ chức, thực
hành của tôn giáo đó. Ý nghĩa của Phật giáo nhất thiết cũng không ra ngoài
nguyên lý ấy, và sự tìm tòi, cách tân lại những gì là ưu điểm, những gì còn là
nhược điểm của mình, cũng là điều hoàn toàn cần thiết, sáng suốt, và ích lợi.
Như vậy, ý nghĩa còn lại ở đây qua bài viết của các tác giả về
nguy cơ của đạo Phật hiện nay chính là niềm tin về “tính Không” và “Thượng đế”.
Các tác giả đều cho rằng điểm mạnh của đạo Tin lành đối với quần chúng vẫn luôn
là sự cứu rỗi của Thượng đế, còn điểm yếu của Phật giáo đối với quần chúng hiện
nay chính là việc không công nhận có sự cứu rỗi của một Thượng đế, và ý nghĩa của
tính Không. Các quan điểm này đúng ra hoàn toàn chính xác và thực tế. Bởi vì bất
cứ tôn giáo nào, hay ngay cả những trào lưu chính trị cũng thế, lực lượng chính
yếu của nó vẫn chính là số đông quần chúng đi theo, mà phần lớn những người này
đều là những sự hiểu biết bình dân, luôn luôn hướng đến cái lợi trước mắt, hoặc
là lợi ích vật chất hay tinh thần, hoặc là cả hai, hoặc là sự thú vị hay ích lợi
thiết thân, sát sườn nào đó mà họ quan niệm. Do đó, lý tưởng và thực lợi ở đây
hoàn toàn là điều khác. Đạo Tin lành ai cũng biết là một tôn giáo giàu có,
trong khi Phật giáo mang ý nghĩa xuất tục, hướng về sự tự thân giải thoát, hướng
về tính từ bi và chịu đựng, không đặt nặng về lợi ích vật chất mà hướng đến
tinh thần siêu thoát, hướng đến sự giải phóng tuyệt đối về cá nhân, thế thì điều
này có thích hợp với thời đại ngày nay phần lớn là thời đại thực dụng, đó cũng
là điều nên đáng quan tâm cũng như rất cần bàn tới, nhất là những người có quan
tâm, tâm huyết, hay cả những chức sắc, những người trong chính lòng đạo Phật. Tất
nhiên ý nghĩa là sự tự do tôn giáo của mọi người, cho nên sự lôi kéo bằng các
hình thức nào đó là không thể bị cấm, bởi vì đó cũng là những yêu cầu tự do nhất
định, nhưng cái chính là sự tự vệ, sự không để bị cám dỗ nhất thời nào đó, cái
chính là ý nghĩa chân lý khách quan của từng tôn giáo, cái chính là tự thân mỗi
người có đạo, dù là đạo gì cũng vậy, tức cái chính là ý nghĩa đạo lý hiểu theo
nghĩa rộng, ý nghĩa của chân giá trị khách quan, ý nghĩa của chân lý tối hậu, ý
nghĩa của bản thân nhận thức đúng đắn và chân chính của mỗi chủ thể cá nhân, đó
hoàn toàn là những gì chính đáng nhất mà không thể ai xâm phạm.
Cho nên ý nghĩa cuối cùng còn lại vẫn là ý nghĩa về Thượng đế, về
giải thoát, và về tính Không như từ đầu đã nói. Khái niệm Thượng đế tất nhiên
là khái niệm về sự tồn tại của một chủ thể siêu nhiên, một ý chí tuyệt đối, một
năng quyền và tình thương yêu đích thực mang ý nghĩa cứu rỗi, giả thoát mọi cá
nhân con người. Đó là ý nghĩa của những tôn giáo hữu thần, cụ thể là Do thái
giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo, Tin lành giáo mà mọi người đều biết, cho dầu
khái niệm Thượng đế như thế có được hóa thân ra hình ảnh con người hay hoàn
toàn không có ảnh tượng chỉ là chuyện khác. Trong khi đó Phật giáo đúng ra chỉ
là một trải nghiệm tâm linh, đó là toàn bộ cuộc đời sống đạo của đức Phật, ngài
đã thấu thị được mọi điều về bản thân vũ trụ qua chính tâm thức của riêng mình
và để truyền lại cho đời. Giáo lý đạo Phật do vậy là giáo lý của sự tự giải
thoát mà không hề mong vào sự giải thoát bên ngoài nào khác. Phật nói khi bàn
tay chỉ mặt trăng, phải nhìn vào mặt trăng mà không thể chỉ nhìn vào bàn tay. Mặt
trăng đó là giáo lý đạo Phật, bàn tay đó là bản thân đức Thích ca hay cả giáo hội
Phật giáo. Bởi vậy ý nghĩa bình dân là đi chùa cúng Phật, cầu xin Phật, còn ý
nghĩa trí thức là đi chùa để chiêm bái Phật, để ngưỡng mộ ý nghĩa cao khiết và
chân lý chỉ ra của ngài, đi chùa để tịnh lòng, để trực quan thêm về ý nghĩa
chân lý, mà hoàn toàn không phải để cầu xin bất cứ điều gì. Đạo Phật quả đúng
là cái Đạo, tức là con đường đi, tự đi thì mới đến. Tức đạo Phật không phải hữu
thần cũng không phải vô thần theo nghĩa thông thường. Trong khi đó các tôn giáo
khác rõ ràng có tin điều, có niềm tin cứu rỗi cụ thể, có sự tổ chức và những lễ
nghi chặt chẽ của giáo hội, nói tóm nó giống như con đường rây, mọi toa tàu phải
được đặt vào đúng vị trí trên đường, và toa tàu nhất thiết phải có lộ trình
cũng như phải tự động và an toàn đến đích. Đó chính là ý nghĩa tôn giáo đích thực,
là tính chất được dẫn dắt theo niềm tin, mà không phải có niềm tin rồi tự mình
phải hành trình đi cho đến đích. Điều đó cũng cho thấy ý nghĩa của đạo Phật là
ý nghĩa về triết học, ý nghĩa của một hệ thống tư tưởng, ý nghĩa của yêu cầu phải
trải nghiệm bản thân, mà không hoàn toàn là ý nghĩa thuần túy tôn giáo như những
tôn giáo khác. Bởi đối với các tôn giáo nói chung, niềm tin, tín điều là chính,
rồi mới đi đến lý thuyết hay giáo lý. Trong khi đó đạo Phật hoàn toàn ngược lại,
chính lý thuyết hay giáo lý tạo thành niềm tin, đức tin, thành mục đích hành đạo
mà không là gì khác. Do đó, tính trí thức là tính triết học của đạo Phật, còn
tính bình dân, đó là tính tôn giáo của đạo Phật.
Vậy thì để kết luận, cái khác và cái giống nhau giữa Chân lý và
Thượng đế là gì. Thật ra giữa hai cái này không có gì khác cả. Nếu Thượng đế
không phải là Chân lý, tất nhiên đó cũng không phải là Thượng đế. Còn nếu Chân
lý khách quan nó quả là như thế, thì đó cũng chính là Thượng đế duy nhất rồi
còn gì. Cho nên ý nghĩa của con người chỉ là ý nghĩa của niềm tin mà không là
gì khác. Khi ta tin rằng Chân lý là Thượng đế, thì đúng là ý nghĩa cao tột sau
cùng chính là Thượng đế. Nhưng khi ta tin Thượng đế mới là Chân lý, thì làm gì
có cái gì khác hơn Thượng đế như là ý nghĩa và giá trị sau cùng. Có nghĩa Chân
lý khách quan chỉ là duy nhất, còn nhìn hay quan niệm Chân lý khách quan đó ra
sao lại là chuyện khác. Giống như một cái lộc bình có quai. Khi nhìn từ trên xuống,
có thể người ta chỉ thấy một vành tròn, bên trong trống rỗng. Nhưng khi nhìn từ
dưới lên, đó cũng là một vành tròn, nhưng hoàn toàn đặc kín. Khi nhìn nghiêng,
có khi là một hình như thế nào đó có một quai, có hai quai, hay chẳng có cái
quai nào. Như vậy cách nhìn, cách quan niệm có làm thay đổi gì bản thân cái lộc
bình khách quan không. Hẳn nhiên là hoàn toàn không. Thế thì Chân lý và niềm
tin cũng vậy. Đúng ra Chân lý là phải có, nhất thiết phải có, thậm chí chỉ có
thể có một. Nhưng niềm tin thì hoàn toàn phong phú, hoàn toàn đa dạng, và đó lại
chính là một thực tế. Bởi vậy không có niềm tin về Chân lý tối cao, tối hậu, đó
chính là tính cách vô thần. Còn có niềm tin về Chân lý tối cao, tối hậu, đó là
ý nghĩa hữu thần, hay ý nghĩa của các tôn giáo nói chung. Tôi không phải là người
theo tôn giáo, cụ thể tôi không phải là người đạo Phật, nhưng thực chất tôi là
người làm triết học, theo đuổi tư duy triết học, nên tôi không phản đối tôn
giáo mà còn cảm tình, tìm hiểu, hay đồng hành với các tôn giáo, nói chung mọi tôn
giáo đích thực nhất, trong đó tất nhiên kể cả triết lý Phật giáo, tức đạo Phật.
Bởi vậy bài viết này chính là một bài viết để cho những người trong đạo Tin
lành cùng suy nghĩ, những người trong Phật giáo cùng suy nghĩ, những người
trong mọi tôn giáo khác cùng suy nghĩ, và tất nhiên kể cả những người không tin
vào tôn giáo, những người phi tôn giáo, tức những người hoàn toàn chủ trương vô
đạo, cũng vậy.
VÕ HƯNG THANH
(25/02/2011)
**
NÓI
THÊM MỘT LẦN CHO DỨT KHOÁT VỀ
KHÁI
NIỆM “CỘNG SẢN”
Để
cho mọi người dễ hiểu và đơn giản vấn đề nhất, trước tiên cần nói khái niệm “cộng
sản” gồm hai thành tố hợp lại, tức “cộng” và “sản”. Cộng là kết chung lại, hay
là của chung của mọi người. Sản là tài sản, tức của cải, cả phục vụ sinh hoạt đời
sống, cả nhằm để làm ra của cải mới, tức các công cụ và tư liệu sản xuất. Đối với
Mác, chính yếu tố sau mới là yếu tố quyết định mà không phải là cái trước. Bởi
đời sống xã hội thì phải có sản xuất, tiêu dùng chỉ là kết quả của sản xuất,
cho nên chính tư liệu hay công cụ sản xuất mới là quan trọng, không phải chỉ có
vật dụng sinh hoạt. Cộng sản hiểu theo Mác là phải có nền sản xuất chung của
toàn xã hội, tức là của chung tất cả mọi người, không còn quyền tư hữu trong sản
xuất, tất cả đều làm việc tập thể, và mọi tư liệu, công cụ sản xuất đều là tài
sản chung của toàn xã hội.
Thật
ra quan điểm như thế không mới, cũng không phải chờ đến Mác mới có, mà trước
Mác nhiều nhà tư tưởng chủ trương quan niệm xã hội cộng sản cũng cùng nghĩ như
vậy. Tuy nhiên Mác cho rằng những quan niệm như thế chưa đủ, bởi nó chưa lý giải
được về mặt khoa học, nên đó mới chỉ là ước muốn, là ý chí thuần túy, chưa có
cơ sở thực tế để thực hiện cho chắc chắn và kết quả, và ông gom chung lại đó là
những tư tưởng cộng sản không tưởng. Như vậy theo Mác, chỉ có hai loại tư tưởng
cộng sản, là quan niệm cộng sản không tưởng có trước Mác, và quan niệm cộng sản
từ Mác trở đi là quan niệm cộng sản mà ông cho là quan niệm cộng sản khoa học,
hay là chủ nghĩa cộng sản khoa học. Tại sao Mác bảo như vậy ? Đây là điều mà rất
ít khi người ta để ý. Đó là Mác tin tưởng tuyệt đối vào lý thuyết biện chứng
(Dialektik) của Hegel. Chính như vậy, nên Mác cũng bảo lịch sử nhân loại là lịch
sử của quy luật biện chứng, tức là đi theo công thức “Đề – Phản đề – Hợp đề”,
có nghĩa giai đoạn sau mâu thuẫn với giai đoạn trước, phủ nhận giai đoạn trước,
vượt lên giai đoạn trước, và cứ tiếp tục như vậy.
Nói
một cách giản dị, cái sườn chung đó theo Mác trước tiên là xã hội cộng sản
nguyên thủy, sau đó là xã hội tư sản, và cuối cùng là xã hội cộng sản khoa học
theo Mác quan niệm. Xã hội cộng sản nguyên thủy tức con người chỉ có tài sản
chung mà chưa có tài sản riêng, tức chưa có tư hữu. Giai đoạn ngược lại tiếp
theo, là giai đoạn xã hội bắt đầu có tư hữu, giai đoạn cộng sản nguyên thủy tan
vỡ để nhường bước cho giai đoạn này. Giai đoạn xã hội tư hữu cũng tiếp tục tiến
hóa từ thấp đến cao, mà cao nhất là xã hội tư bản chủ nghĩa, nền sản xuất tư bản
chủ nghĩa, để cuối cùng lên đến đỉnh cao nó phải tự tiêu diệt mà nhường chỗ cho
xã hội cộng sản lại, nhưng đây là giai đoạn cộng sản cao hơn ý nghĩa cộng sản
nguyên thủy ban đầu rất nhiều, và Mác cho đó là nền sản xuất lớn của xã hội cộng
sản khoa học. Nói như vậy là rất gọn ghẽ, chính xác, và mọi người đều dễ hiểu.
Nhất là từ ý niệm “biện chứng” của Hegel, Mác cho rằng nguyên lý tự mâu thuẫn
và giải quyết mâu thuẫn là định luật chung của mọi sự vật khách quan, trong đó
xã hội cũng vậy, cho nên cái cốt lõi của phát triển lịch sử loài người chính là
sự đấu tranh giai cấp.
Vậy
thì không có lý thuyết biện chứng của Hegel cũng không có lý thuyết cộng sản
khoa học của Mác, đây là điều mà phần lớn người ta ít lưu ý tới hay không nhận
thức hết được. Có nghĩa theo Mác biện chứng là cái xương sống cốt lõi của ý
nghĩa đấu tranh giai cấp, và đấu tranh giai cấp là cái xương sống cốt lõi của sự
tiến hóa và phát triển xã hội. Cho nên theo Mác, đấu tranh giai cấp không phải
chỉ là đấu tranh quyền lợi kinh tế bình thường của các giai cấp, nếu có thì đó
cũng mới chỉ là cái hình thức, cái vỏ bề ngoài, các lý do, nguyên nhân, hay mục
đích nông cạn bên trên, còn cái thâm sâu nhất, che giấu bên trong, ẩn tàng, chi
phối dưới đáy chính là quy luật biện chứng phổ quát của lịch sử nói chung và lịch
sử nhân loại nói riêng về mặt kinh tế xã hội. Bởi vậy, có nhiều người phê bình
Mác, mà thật ra chỉ phê bình các hiện tượng hời hợt, nông cạn bên ngoài, cái
bên trong họ không hề động tới được, đó chính là cái ý nghĩa của quy luật biện
chứng, hay “phép biện chứng” của Hegel, mà nhiều người không ý thức hết. Có
nghĩa cái quyết định mọi giá trị, ý nghĩa, cơ sở của lý thuyết Mác chính là nền
tảng có thực hay không có thực của lý thuyết biện chứng mà không là gì hết. Kể
cả khái niệm cộng sản khoa học cũng thế, nó không thể tồn tại độc lập với ý
nghĩa của nguyên lý biện chứng, bởi đây theo Mác không phải chỉ là ý nghĩa tâm
lý xã hội bình thường trong đời sống kinh tế, mà chính là ý nghĩa biện chứng về
mặt triết học, mà lý thuyết của Hegel chính là ngọn ngành, chính là cái gốc.
Trong
ý nghĩa đó, muốn phê bình rốt ráo và căn cơ nhất lý thuyết của Mác về mặt khoa
học, chính là phê bình lý thuyết hay quan niệm biện chứng của Hegel về mặt triết
học mà không là gì khác. Bởi vì cái bản lề, cái gốc, cái xương sống, cái cốt
lõi mà không biết nó hiệu quả hoặc thực chất tới đâu, thì làm sao mà đánh giá
được cái sản phẩm, cái kết quả, cái đưa lại của nó, đó chính là điều mà rất ít
người quan tâm hay để ý đến. Ngay cả bản thân Mác, ông ta cũng chỉ thụ động tin
vào lý thuyết biện chứng của Hegel mà không hề đặt thành vấn đề, phê phán nó, lật
đi lật lại nó bao giờ cả. Đây gần như một sự cả tin, một sự tin tưởng mù quáng
của Mác, nếu có thể nói được như vậy, cho nên ngay từ đầu nó chỉ thuần túy là
niềm tin, giống như một tín điều mà không hề được đặt thành cơ sở khoa học
khách quan nào cả. Và về sau cũng vậy, người ta cứ tiếp tục mặc nhiên tin vào
chính niềm tin đó của Mác, ngay cả bản thân Lênin và mọi người đi theo sau ông
ta cũng vậy, có nghĩa chỉ là một niềm tin dây chuyền, một truyền bá dây chuyền,
cho nên thật sự nó chưa phải hẳn là ý nghĩa khoa học mà Mác đã xác quyết.
Thế
nên về sau, sau khi nhà nước Liên xô được thành lập nên, bao nhiêu Viện nghiên
cứu Mác Lênin được lập ra, bao nhiêu nhà khoa bảng, học giả, bao nhiêu công
trình này nọ, ngốn biết bao ngân sách của xã hội, thế nhưng cũng chỉ biết triển
khai, phát huy, quãng diễn, mở rộng theo một chiều, tức cũng chỉ biết vuốt đuôi
mà không hề trở về cái gốc, không dám phân tích, mổ xẻ về cái gốc, hoặc không
có khả năng, hoặc không được phép, và thế là sự truyền bá không phải là sự truyền
bá khoa học mà thật sự chỉ là sự truyền bá tín điều, sự truyền bá niềm tin, mà
nước nào cũng có, kể từ đó về sau cho đến khi Liên xô và cả khối Đông Âu sụp đổ.
Nói như vậy để thấy rằng không biết ngày nay các nước phương Tây có đặt lại ý
nghĩa vấn đề này chưa, nhưng các nước khác, kể cả Việt Nam đến nay cung y như vậy.
Tức chưa thấy ai nghiên cứu lý thuyết biện chứng của Hegel thật là sâu xa, toàn
diện, có tính quyết định, cả về mặt khoa học khách quan lẫn về mặt tư duy triết
học. Điều đó cho thấy mọi sự hiểu về học thuyết Mác từ xưa đến nay thật sự chỉ
hoàn toàn bề nổi, hiểu về những cái râu ria mà chưa thật sự là cái cốt lõi, hiểu
như một niềm tin, một tín điều, một tôn giáo, mà chưa thật sự hiểu một cách độc
lập, tự do, khoa học, khách quan về mặt thực tế cũng như về mặt lý thuyết. Có
nghĩa chỉ có khuynh hướng chính trị lấn át cả khuynh hướng khoa học và khuynh
hướng tư duy triết học đúng nghĩa, đó quả thật là điều rất vô lý và cũng rất
đáng tiếc.
Điều
này ngay cả tác giả bài viết này cũng chỉ mới thực hiện một cách rải rác khi nhận
định về nguyên lý biện chứng của Hegel mà chưa hề có tác phẩm chuyên sâu, tập
trung toàn diện về ý nghĩa này. Lý do vì điều kiện thực tế khách quan của bản
thân còn chưa cho phép, thế thôi, mặc dầu trong nhiều bài viết cũng đã đề cập rời
rạc và bao quát đến khá nhiều. Ngay như trước đây, hình như vào các năm 1993 –
1995 của thế kỷ trước, ông Hà sĩ Phu khi ấy đã viết hai bài viết dài chưa từng
được in ra, bài “Chia tay ý thức hệ” và bài “Dắt tay nhau đi dưới những tấm biển
chỉ đường của trí tuệ”. Cả hai bài này nhằm chủ yếu phê phán thực tiển nhiều vấn
đề của lý thuyết Mác về nhiều mặt, nhưng vẫn chưa hề động đến chính cái cốt lõi
như trên kia đã nói. Điều này dễ hiểu, bởi ông Hà Sĩ Phu vẫn là một người hoạt
động thực tiển, lãnh vực chuyên sâu của ông là lãnh vực sinh học mà không phải
lãnh vực triết học hay khoa học xã hội. Dù sao những ý kiến của ông Phu về các
mặt thực tiển cũng rất đáng lưu ý. Tuy nhiên có điều là chính văn của ông ta
khi ấy không hề được cho in ra hay phổ biến, mà chỉ thấy theo như ông cho biết,
lúc ấy nhan nhãn trên các báo (có đến ba mươi công trình hoặc bài viết) nhằm
lên án, đả kích ông thậm tệ. Tất nhiên những bài này lúc đó là đả kích ông là
theo kiểu giọng chính trị hoặc giáo điều, nó chỉ mang tính cách nhiệm vụ nhà nước
của các tác giả đó mà thực chất không có ý nghĩa khoa học khách quan, chính xác
là bao nhiêu. Nhưng điều đáng nói nhất là trong những bài đả kích ông Hà Sĩ Phu
có cả ông Trần Đức Thảo, một loại cây đa, cây đề lâu năm, uy tín của nền học
thuật Việt Nam, nhưng chỉ rất tiếc các bài viết của ông Thảo cũng chẳng có gì
sâu sắc, nghiêm túc, mà cũng chỉ nông cạn, hời hợt như chính quan điểm giáo điều
mà chính bản thân ông vẫn luôn luôn thể hiện. Có nghĩa chất tri thức của ông Thảo
chắc chắn là có nhiều, nhưng chất trí tuệ của ông thì hình như cũng chưa đáng
nói lắm.
Vậy
thì trở lại vấn đề, về mặt tài sản như là công cụ phục vụ sinh hoạt đời sống,
rõ ràng việc “cộng sản” là luôn luôn bất tiện mà ai cũng rõ. Bất kỳ vật dụng
hàng ngày nào, có như là của riêng thì vẫn tiện lợi rất nhiều hơn. Bởi tài sản
hay công cụ luôn luôn chỉ là phương tiện phục vụ đời sống mà không hề là mục
đích của chính đời sống mà mọi người muốn có. Tính chất của ý nghĩa này là tài
sản phải luôn luôn được thuận tiện, được quản lý, bởi vì tính cách sử dụng và
tính cách hao mòn của nó, nếu nó được đặt dưới chế độ “công sản” của nhiều người
hay “cộng sản” của cả nhóm người nào đó, thì quả thật không ai muốn, vì nó sẽ
gây bao chuyện bực mình, phiền phức và bất tiện. cho nên chỉ còn ý nghĩa “cộng
sản” về tư liệu sản xuất, công cụ sản xuất là đáng nói tới nhất. Tất nhiên, điều
này mà ngày nay còn đề cập, sẽ có nhiều người la toáng lên rằng “biết rồi, khổ
lắm, nói mãi”. Nhưng họ đâu biết chính quan niệm này vẫn còn ăn sâu rất nhiều
trong đầu óc của khá nhiều người ở một số các quốc gia hay ở những vùng còn lại
nào đó trên thế giới giống như một niềm tin mạnh mẽ, một ý thức khó phai mờ, một
sự khẳng định như đinh đóng cột, nên cần phải soi sáng, phân tích ra, mở mang
ra, mới mong có được những suy nghĩ cụ thể đích thực trong chiều sâu, mới thật
sâu lắng trong tâm hồn, trong sự nhận thức khách quan, mà không thể chỉ là niềm
tin từ ngoài, hoặc những định kiến mang tính mơ hồ, hay huyền hoặc nhất định
nào đó.
Chính
vì lý do đó mà một lần nữa mọi người hãy cùng nhau phan tích lại một lần nữa,
làm sao cho dứt dạt, cho quyết định, cho dứt khoát, để không còn mơ hồ, hoang
mang, đắm đuối, hoặc chỉ có tính cách hiểu lơ mơ hay chưa rõ rệt nữa. Thật vậy,
công cụ sản xuất không bao giờ chỉ sinh ra và ổn định một lần, mà luôn luôn tiến
triển theo thời gian. Đó luôn luôn là kết quả của sáng tạo, là thành quả khoa học
kỹ thuật của con người, nó phát triển theo lịch sử, kết tinh của lao động không
ngừng và của trí tuệ toàn xã hội mà không phải chỉ của giai cấp nào. Sự đấu
tranh giai cấp nếu có chẳng qua chỉ là sự giành giật nhất thời về các mặt quyền
lợi cụ thể nào đó, mà không phải là một tính cách hay một khái niệm mơ hồ, bất
biến và bao quát như Mác nghĩ. Điều đó quả thật cũng giống như nhiều người cùng
đắp chung một cái mền. Cùng đắp mền có thể giành qua, giật lại, song cũng chỉ
cái mền đó, có thể làm nó sờn đi, rách nát nếu không được thay thế bởi cái mền
khác. Thế thì ý nghĩa của vấn đề là phải luôn luôn có các cái mền mới thay vào
theo năm tháng mà không phải chỉ cái mềm cũ vá đùm vá đụp và cùng nhau trành
quá, xéo lại hoài. Sự đấu tranh giai cấp nếu có và sự phát triển của khoa học kỹ
thuật cũng vậy. Chính sự phát triển khoa học kỹ thuật mang đến các công cụ, tư
liệu sản xuất mới không ngừng mà không phải đấu tranh giai cấp tạo ra chúng. Đó
là điều suy nghĩ đơn giản nhất mà rất tiếc có rất nhiều người không chịu thấy.
Nhưng
khoa học kỹ thuật phát triển là do đâu, là do tiến bộ lịch sử, do phát huy chất
xám của các nhà khoa học kỹ thuật, do sự tìm tòi, nghiên cứu của trí tuệ, của
chuyên môn, của mọi ngành khoa học và kỹ thuật hợp lại, không phải chỉ là sản
phẩm thuần túy của giai cấp công nhân hay nhân dân lao động như nhiều người vẫn
cứ tụng theo kiểu giáo điều. Thật thì, khoa học luôn luôn là sự khổ công nghiên
cứu của trí tuệ, nhiều khi chỉ do sự tình cờ ngẫu nhiên mà khám phá ra, còn đầu
tư sản xuất, kinh doanh các sản phẩm đó lại là chuyện khác. Cho nên giai cấp
công nhân nhiều lắm cũng chỉ là sự thực hành về kỹ thuật, không phải là những
người sáng nghĩ ra các máy móc thiết bị như một số người lầm tưởng. Tất nhiên
các nhà khoa học, các nhà trí thức vẫn có thể xuất thân từ mọi thành phần khác
nhau trong xã hội, nhưng khi đã là những người chuyên môn, những người trí thức,
họ lại thuộc về chính thành phần mới, về thế giới mới của chính họ mà không còn
trở về với nguồn gốc phát sinh của họ nữa. Đây cũng chính là ý nghĩa giai cấp
nói chung, tức khái niệm giai cấp, giai tầng xã hội chỉ là ý niệm khái quát
hóa, nội dung và hình thức của nó luôn luôn biến chuyển, không bao giờ cố định
để mang tính chất đấu tranh giai cấp bất biến, thường xuyên như Mác vẫn tưởng
tượng. Chính nhiều cá nhân cùng điều kiện lao động hay đời sống tạo thành các
giai cấp, giai tầng xã hội, mà không phải giai cấp như một phạm trù tiền chế, bất
biến kiểu bản thể triết học một cách trừu tượng như quan điểm “biện chứng” nghĩ
tưởng.
Bởi
thế trong thời đại tin học ngày này, ý nghĩa của khoa học kỹ thuật quyết định
xã hội hoàn toàn cho thấy điều đó. Một thập niên ngày nay có thể phát triển kết
quả bằng cả hàng trăm năm trước, thế nhưng các giai cấp thì vẫn còn y đấy, điều
đó cho thấy cái gì là quyết định. Vả chăng lịch sử phát triển xã hội cũng giống
như một cái cây. Một cái cây luôn luôn phát triển đầy đủ mọi cành, nhánh của
nó, mọi lớp lá luôn luôn thay đổi của nó, không có cái cây nào chỉ có vài ba bộ
phận chính yếu, bất biến họp lại, giống như cây dù chỉ có cán và lớp vải bọc
dù, hoặc nhiều lắm cũng chỉ thêm các kèo dù và cái chốt bật lên bật xuống. Đó
toàn là những ý nghĩa sơ đẳng nhất mà tại sao nhiều người không thấy. Hay nói về
sự mâu thuẫn, đối lập và giải quyết đối lập, vậy thì sự tồn tại đối kháng của
tính phái nam nữ, đực cái trong xã hội loài người và trong sinh vật, có bao giờ
tự tiêu diệt hay mất đi được chăng. Sự tồn tại của hai cực thanh nam châm hay sự
tồn tại cực bắc nam của địa cầu có bao giờ giải quyết và phát triển khác đi được
chăng hay chúng vẫn cứ luôn luôn như thế. Những ví dụ này thì có nhiều không
bao giờ có thể nói hết. Ngay cái sai của Hegel là chủ quan cho rằng hệ thống của
ông là đỉnh cao của tri thức nhân loại. Ông còn cho vua Phổ lúc ấy như hình ảnh
của Tinh thần nhập thế, như ý nghĩa rõ ràng của sự phát triển lịch sử thế giới.
Đến Mác lại cũng tự cho lý thuyết mình là chân lý tuyệt đối, là đỉnh cao của
trí tuệ loài người, và giai cấp công nhân theo ông cũng là biểu trưng của lịch
sử, thật chẳng khác gì ông thay vào đó hình ảnh vua Phổ của học thuyết triết học
Hegel ngày xưa.
Cho
nên ý niệm về xã hội cộng sản nguyên thủy thật ra chỉ là ý niệm gán ghép. Bởi
vì lúc đó con người còn sống trong tình trạng sơ khai, làm gì có ý nghĩa tài sản
riêng đâu mà bảo là cộng sản nguyên thủy. Gán nội hàm của khái niệm này vào nội
hàm của khái niệm khác là hoàn toàn phi lô-gích, là hoàn toàn không đúng. Điều
đó cũng giống như Mác gán khái niệm biện chứng mang tính chất duy tâm của Hegel
vào nội dung mang tính chất duy vật của mình, cũng là biến cải tùy tiện nội
hàm, như râu ông nọ cắm vào cằm bà kia, làm thế nào mà có thực chất hay hợp lý
được. Cũng từ đó để thấy rằng quy luật đấu tranh giai cấp qua các hình thái xã
hội mà Mác nghĩ ra là hoàn toàn cường điệu, thậm chí là thêu dệt. Bởi vì khi
khái niệm biện chứng đặt sai chỗ, nội hàm bị tráo đổi, thì các ý nghĩa về biện
chứng duy vật cũng vô nghĩa và biện chứng lịch sử cũng vô nghĩa luôn. Như thế
thì còn gì các hình thái ý thức xã hội, làm gì có các hình thái kinh tế xã hội
nữa, làm gì có các ý nghĩa về xã hội cộng sản khoa học vốn phải xuất phát và bắt
nguồn từ đó nữa. Cho nên nếu ai đọc kỹ những mô tả của Mác về bản thân ý nghĩa
của xã hội cộng sản khoa học trong tương lai đều thấy là hết sức không tưởng,
hoàn toàn phi lý và không thực tế. Có nghĩa người ta không hoàn toàn đọc Mác,
hoặc đọc mà không có ý thức nhận định và phê phán, tức đọc mà không có trí tuệ
thì mới hoàn toàn tin theo một cách thụ động và mê hoặc như thế. Ngay như Mao
Trạch Đông chẳng hạn, ông ta đã từng nói trí thức chẳng đáng một cục phân, còn
ông thì cũng chẳng có nhiều thì giờ để đọc Mác nữa. Đấy, ý nghĩa của kiểu chủ
thuyết truyền miệng phần lớn nó là như thế.
Chẳng
hạn các nước phương Đông, khi nhà nước Liên xô thành lập, họ phần lớn chỉ là
nông dân các nước hoặc các trí thức còn có nhiều mặt hạn chế lúc bấy giờ được gởi
tới, được thu hút để đến đó học tập. Song thực tế đó chỉ là các khóa đào tạo
chính trị ngắn ngày, thiên về các kiểu lý luận mà ngày nay được gọi là mì ăn liền,
đâu có ý nghĩa gì về mặt khoa học, mặt học thuật, hay mặt nghiên cứu. Rồi cứ thế
triết học truyền miệng trở thành áp lực chính trị, áp lực chính trị trở thành
vũ lực chuyên chính đúng theo tinh thần của Mác, cuối cùng chỉ còn là những
công nhân triết học, những công chức triết học, những cán bộ triết học có mặt ở
khắp nơi, khắp mọi nước, mà không còn là những nhà khoa học, những nhà tư duy
đúng nghĩa hay cần thiết cho sự phát triển của đất nước hoặc nhân loại mà nhiều
người mong muốn, cho dầu có bao nhiêu Viện nghiên cứu, bao nhiều chương trình,
kế hoạch đào tạo trong thực tế đã được lập ra. Điều này cứ rà soát lại chính đất
nước Liên xô cũ, các nước khối Đông Âu cũ thì hoàn toàn thấy rõ. Chính trị đã
thay cả triết học và khoa học đúng nghĩa, chính trị cũng thay cả kinh tế và xã
hội là điều mà ngày nay mọi người đã hoàn toàn rõ. Cho nên thay vì xã hội hóa
chính trị, tức dân chủ, tự do hóa xã hội, cả một chiều hướng ngược lại đã được
áp dụng cho nhiều vùng, nhiều bộ phận của nhân loại, tức chính trị hóa xã hội,
đưa xã hội vào trong các chế độ tổ chức tập thể một cách máy móc mà ngày nay
người ta gọi là chủ nghĩa xã hội trại lính mà ai cũng rõ.
Tuy
nhiên nói như vậy cũng chẳng qua là ăn cơm mới nói chuyện cũ, bởi vì ngày nay mọi
nước và toàn thế giới đã hoàn toàn đổi thay. Nói như thế chỉ cốt nhằm ôn cố tri
tân, soát lại chuyện xưa để biết chuyện ngày nay mà thôi. Tức là ngày nay thế
giới đã hội nhập toàn cầu, các quốc gia kiểu dạng Mác xít cũ cũng đã hoàn toàn
đổi mới, nên cũng chẳng có điều gì nghiêm trọng đáng nói nữa. Tuy nhiên cũng
còn có một điều, là các lớp đào tạo Mác xít ở Liên xô ngày xưa, có lẽ lúc đó
trình độ dân trí nói chung còn thấp quá, cho nên khi họ trở về nước để làm cách
mạng, để cầm quyền, lập tức được tôn lên kiểu thần thánh, không những chỉ cá
nhân mà cả tập thể đi theo họ, tức ngày nay được gọi chung trong khái niệm thần
thánh hóa lãnh tụ, thần thánh hóa lãnh đạo mà ai cũng biết, giống như Bắc triều
tiên, Cuba, Trung Quốc, mà hình ảnh của Kim Nhật Thành, của Fidel Castro, của
Mao Trạch Đông, ngoài chuyện có khi cha truyền con nối, anh truyền em nối, ông
truyền cháu nối, còn đã trở thành như những ông thánh sống muôn đời mà ngày nay
ai ai cũng rõ. Nhưng người ta lại không nghĩ rằng ý nghĩa của cách mạng mà làm
như vậy là phản cách mạng, bởi vì trong xã hội cũ cũng có ai được tôn làm thánh
sống như vậy đâu. Đó là chưa nói suy tôn cá nhân cũng có nghĩa là hạ giá dân tộc,
hạ giá xã hội, hạ giá đất nước, giống như muốn nói trong xã hội chẳng có gì
đáng sá hơn nữa, cả quá khứ, hiện tại cũng như tương lai, như thế thì còn gì là
phát triển, còn gì là triển vọng, còn gì là các giá trị, mục tiêu hay ý nghĩa
cao quý nào khác để mà hướng tới nữa. Thật sự, đó chính là tính cách coi thường
xã hội, vô trách nhiệm đối với xã hội, với mọi người mà nhiều người không thấy.
Cho
nên cũng cần nói thêm một chút. Như cái hạt cây chẳng hạn, lúc đầu chỉ là một,
tức là cái chung. Nhưng tới khi nẩy mầm, chính mọi cái riêng đã phát triển ra,
nhân ra, đâu còn cái gì gì chung như ban đầu nữa. Đó cũng là quy luật chung của
muôn vật, tức sự phát triển luôn luôn là sự chi tiết hóa, cụ thể hóa, phân liệt
hóa, không hề là con đường hay quy trình ngược lại. Gia đình con người cũng vậy,
lúc đầu tài sản vợ chồng là tài sản chung, tức là “cộng sản”, cùng ăn chung, lo
chung. Nhưng khi con cái đã trưởng thành, chúng lại bắt buộc phải có của riêng,
rồi khi cha mẹ chết đi, tài sản chung đó lại phải phân chia ra, đó chỉ là quy
luật và yêu cầu khách quan, làm gì có chuyện dồn chung, gộp chung của mọi người
lại nữa. Đó là chưa nói chuyện cha chung không ai khóc kiểu quản lý tập thể,
làm ăn tập thể, với những hậu quả nhãn tiền trong thời kỳ bao cấp, thời kỳ kinh
tế tập thể mà hầu như ai cũng đã từng kinh qua, đã từng trải nghiệm, và cũng từng
rõ cả. Cho nên khi Hegel lý luận hạt và cây là sự biện chứng, tức hạt tự phủ nhận
mình để cho ra cây và cứ tiếp tục phủ nhận như vậy. Nhưng cuối cùng tại sao cây
lại cho ra hạt, chính Hegel cũng bí, không thể giải thích được, và ông cho đó
là quy luật vòng tròn của tự nhiên. Tức qui luật biện chứng của Hegel ban đầu
là một, nhưng sau lại tách hai, thành ra biện chứng vòng tròn của tự nhiên, và
biện chứng đường thẳng của lịch sử con người, quả cũng là điều chẳng ai muốn
cãi. Nhưng điều đó dù sao cũng còn có lý hơn Mác, bởi vì nó duy tâm, tức tin tưởng
có nội lực khách quan tự nhiên, siêu hình nào đó. Trong khi đó Mác lại hoàn
toàn duy vật, tức không tin tưởng có bất kỳ một nội lực nào, thế mà lại biện chứng
được thì cũng lạ, giống như cái xe không có máy vẫn chạy được, giống như con gà
không có cái đầu vẫn đi đứng và gáy được, hay giống như cái lu không mà người
ta vẫn cứ múc nước ra được. Nhưng đó là chuyện ngày xưa, còn ngày nay trong những
kiến thức về quy luật tiến hóa, trong các hiểu biết về sinh học phân tử, quả thật
chẳng có nhà sinh học nào mà còn ngồi để tin vào các ý nghĩa “biện chứng” như
thế nữa. Bây giờ thì chính ý nghĩa của cấu tạo và vận hành gien, chính ý nghĩa
của bản đồ gien còn cụ thể gấp cả trăm lần những ý tưởng biện chứng mơ hồ mà
Hegel đưa ra và Mác bê nguyên và biến thành riêng theo quan điểm của mình nữa.
Vậy
thì nói tóm lại, xã hội luôn luôn phát triển khách quan và tiến hóa. Mặt khác,
nguyên lý cấu trúc của xã hội là nguyên lý nhất thiết bao giờ cũng phải có. Có
nghĩa là mọi ngành nghề không thể nào tiền chế hay tổ chức một cách cứng nhắc,
máy móc, mà chúng luôn luôn sinh động, biến thái theo nhu cầu xã hội, theo các
điều kiện môi trường, sinh thái, cũng như các yếu tố của thời gian. Không bất kỳ
tồn tại sự vật cụ thể nào mà không có cấu trúc, đó là nguyên lý. Cho nên nói một
xã hội cộng sản không giai cấp trong tương lai là nói một cách mơ hồ không cụ
thể, thiết thực. Bởi vì chính từng cá nhân con người tạo nên chung xã hội mà
không phải xã hội là cái có sẳn trước phân chia ra thành những cá nhân con người.
Thế cho nên khi khoa học kỹ thuật phát triển, có nghĩa mọi nhu cầu của con người
cũng tăng lên vô hạn, bởi vì chúng được chi tiết hóa ra, nâng lên, cho dầu mục
đích chung cũng chỉ là phục vụ mọi yêu cầu phải có của đời sống. Bởi vậy xã hội
và sự tổ chức xã hội nếu nói cho cùng cũng chỉ là phương tiện phục vụ con người
mà không bao giờ tự nó là mục đích. Nó cũng giống như cái đò để người ta qua
sông, qua sông xong mọi người đều phải để đò lại cho người kế tiếp mà không ai
lại vác mang theo, bởi vì nó không hề là mục đích. Cho nên mọi hình thức tổ chức
xã hội đều không thiết yếu, mà điều thiết yếu nhất chính là chất lượng sống của
mọi con người. Bệnh “chủ nghĩa” thật sự nói cho cùng chỉ là bệnh sính hình thức,
tức là sính tổ chức. Đó thật sự là một loại bệnh nhưng không phải là chuyện
bình thường. Giống như những người có bệnh ở sạch, đó là điều hoàn toàn không
thích đáng, không tự nhiên và hoàn toàn giả tạo, máy móc.
Thật
ra, kinh tế xã hội hay lao động xã hội thực chất là do kinh tế và lao động từng
cá nhân hợp lại. Điều đó cũng giống như rừng là do từng cái cây lớn nhỏ trong rừng
hợp lại. Không bao giờ có việc một cái cây to lớn vĩ đại duy nhất nào lại tạo
nên được một khu rừng cả. Cho nên ý nghĩa chính của kinh tế xã hội, ngoài lao động
còn là sự sáng kiến của cá nhân. Nhiều khi chính sáng kiến còn mang lại kết quả
nhiều gấp trăm, gấp ngàn lao động thuần túy. Như sáng kiến về cái đòn bẩy chẳng
hạn, nó lợi cho sức gân bắp có khi cả trăm lần. Hay guồng máy xa nước, hoặc cái
cối xay gió cũng thế. Ai cũng biết trong lịch sử nhân loại, chính sự phát minh
ra lửa, sự luyện kim, rồi máy hơi nước, dòng điện, cho đến thời đại điện toán
ngày nay, đều là những dấu mốc phát triển rất lớn. Những cái này thật sự không
liên quan gì trực tiếp đến ý niệm đấu tranh giai cấp mà Mác đã đề ra cả. Cho
nên chính sự đầu tư tự do của tư nhân, mới là những đầu tàu, những động lực
phát triển kinh tế quyết định hơn cả. Vì nó phù hợp với tâm lý tự nhiên của con
người, phù hợp với yêu cầu hoạt động linh hoạt tự nhiên của xã hội. Bởi ai cũng
biết những nền kinh tế kế hoạch hóa, thật ra luôn luôn biến thành hệ thống thư
lại nặng nề, tạo sức ỳ cản trở kinh tế phát triển, nhưng khó bao giờ là sự hiệu
quả, tinh vi hoặc hữu lý, như nhiều người lầm tưởng. Đó cũng là ý nghĩa thực tiển
không thể thay thế được cho nguyên lý, sự nhất thời, tạm bợ không thể thay thế
được cho cái hằng cửu, vĩnh bền. Đó cũng là ý nghĩa kinh tế như một dòng chảy,
phải khơi dòng, loại bỏ mọi chướng ngại giả tạo để cho nó được trôi chảy trơn
tru, không thể vì một số chướng ngại ban đầu nào đó khiến nó khựng dòng hoặc
đưa lại những hậu quả bất công, rồi cho rằng như thế là bất hợp lý, là không
thuận tiện, để ngăn dòng biến thành một thứ hồ chứa khổng lồ, bùn lầy nước động,
và trong ao tù đó phát sinh bao nhiều vật ký sinh vô cùng phiền phức.
Đấy
cái khái niệm về chủ nghĩa cộng sản khoa học của Mác nó cũng giống y như vậy.
Điều này ở trên chúng ta đã nói nhiều rồi. Ở đây chỉ cần nhắc lại rằng ở thời
Mác cách lý luận của con người nhiều khi hãy còn thô sơ, cho nên đôi khi người
ta không bắt bẻ Mác lại được. Vả chăng, ông ta lại hay ngụy biện hoặc xảo thuật,
cho rằng ai đi ngược lại ông đều là bọn tư sản, là giai cấp tư sản, nên nhiều
người giống như phải chịu đòn phép, mặc dầu chính thành phần xuất thân của ông
ta cũng là giai cấp tư sản. Hơn nữa ông ta còn chủ trương chuyên chính, nên sau
khi nhà nước Liên xô thành lập, quả nhiên về sau không còn ai dám nói ngược lại
ông ta nữa nếu ở trong chính những xã hội mà lý thuyết của ông ta khống chế.
Nhưng Mác không ngờ một điều, chính sự chủ trương quái dị đó của ông, không những
làm cho kinh tế xã hội ở nhiều nơi ngưng trệ, cùi đày, mà cả ý thức tinh thần của
con người, cả những đầu óc sáng tạo và cả giới văn hóa, nghệ thuật, hay văn nghệ
sĩ, tức là các tầng lớp tinh hoa của xã hội nói chung cũng phải đều chịu chung
một số phận như vậy. Đó chính là các ý nghĩa mà ngày nay không thể còn ai có thể
giấu đi đâu được nữa. Nói khác đi, cái mà bản thân Mác tự hào là mình đã tổng hợp
được ba nguồn, đó là chủ nghĩa xã hội Pháp, tư tưởng triết học cổ điển Đức,
kinh tế chính trị học Anh, thật ra chỉ là ba nguồn vay mượn giả tạo từ ngoài
vào còn chính bản thân Mác thật sự không có gì cả. Bởi chủ nghĩa xã hội Pháp chỉ
là không tưởng, chính Mác cũng công nhận như vậy. Biện chứng pháp Hegel, tức
triết học cổ Đức thì như trên chúng ta đã nói. Còn kinh tế chính trị học Anh, tức
là cuốn Tư bản luận (das Kapital) của Mác, chỉ là chuyện “triết lý hóa” kinh tế
học mà Mác đã làm, tức gọt chân theo giầy là chiếc giầy biện chứng của Hegel.
Thế thì còn lại gì, nếu không phải cái duy nhất độc đáo mà từ cổ thời tới lúc
đó chưa hề có nhà tư tưởng của nhân loại nào nghĩ đến, đó là ý niệm chuyên
chính hay độc tài vô sản (Diktatur des Proletariats) mà Mác thật sự tâm đắc.
Bởi
vậy, thật ra Mác cũng chỉ là con người bình thường, các suy nghĩ của ông thật
ra cũng còn nằm trong phạm vi hạn chế, bình thường. Thế nhưng, những kẻ xu phụ
thời cuộc lại tâng ông lên quá trời xanh như là đỉnh cao tột cùng, duy nhất,
trong mọi thời đại của nhân loại, thì quả thật là vô cùng đáng ngạc nhiên và vô
cùng dễ sợ. Cho nên trong thời hiện đại, để khắc phục mọi nhược điểm trong quá
khứ từng một thời đã có, có lẽ mọi người không trừ một ai (tôi nhấn mạnh không
trừ một ai), trừ những người hãy còn chưa thật tỉnh, phải góp phần trả lại mọi
sự bình thường cho xã hội. Tức một xã hội đi trên đất mà không phải đi trên mây
thật sự(1). Một xã hội hoàn toàn thức tỉnh để
cùng nhau xây dựng đất nước tiến lên, cùng nhau trả lại mọi hạnh phúc tự nhiên
cho con người, tức không còn mọi con người phải đóng kịch và giả tạo nữa, tức một
xã hội hoàn toàn tỉnh táo, hiện thực, không còn giống như một người say đi xiêu
vẹo, chân nam đá chân chiêu, miệng vẫn luôn lè nhè nói lớn, bố đứa nào nói ông
say ông thề sẽ đánh chết cha nó, khiến cho ai nấy đều cũng thấy buồn cười, và
chỉ có biết lặng lẽ tránh đi để khỏi trở thành phiền phức.
VÕ
HƯNG THANH
(24/02/2011)
**
NÓI
VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI
VÀ
CON NGƯỜI TRONG XÃ HỘI
Mỗi
cá nhân khi sinh ra đời đã lập tức thành thành viên hay thành phần của xã hội.
Đây là điều sơ đẳng nhất mà mọi người đều biết. Thành viên hay thành phần đó
trước hết là thành viên hay thành phần của một gia đình, của một giòng họ, của
một thôn xóm, một địa phương, hay khu phố, nói chung là một cộng đồng nhỏ nhất
mà trong đó nhiều người đã có các mối quan hệ hoặc quen biết lẫn nhau nào đó một
cách tự nhiên. Tất nhiên sau khi đã được sinh ra, mỗi cá nhân sau đó trước hết
đều được ghi ngay vào sổ bộ hộ tịch tại nơi mình sinh, như một biện pháp thừa
nhận chính thức hay như công cụ về sau nhằm phục vụ cho các nhu cầu quản lý xã
hội. Đó chính là mối quan hệ xã hội vô hình ban đầu mà không bất kỳ cá nhân nào
tránh được. Tuy vậy, thông thường phải khi đủ 18 tuổi, thì theo các luật pháp,
mỗi cá nhân mới có thể trở thành một thành viên pháp lý chính thức của toàn xã
hội mà không một ai có thể phủ nhận được.
Từ
ý nghĩa đó có thể thấy được rằng mối quan hệ giữa con người và con người trong
xã hội trước hết là mối quan hệ tình cảm, cảm thức, mối quan hệ mang tính chất
thực tại, rồi cuối cùng mới mang tính cách pháp lý hoặc pháp luật. Ý nghĩa đó
cũng nói lên rằng con người chỉ thật sự trưởng thành khi đã đủ lý trí, tức có
óc phán xét hay khả năng nhận thức đầy đủ, mà theo nguyên tắc thông thường là đủ
18 tuổi, tức là người đã thành niên, đã trưởng thành, đã tự lập, mà không còn
ai giám hộ hay vượt quyền mình được nữa. Mặt khác cũng cho thấy, ngoài mối quan
hệ thực tại hay thực tế tự nhiên vẫn có trong xã hội, thì mối quan hệ được thừa
nhận chính thức vẫn luôn luôn là mối quan hệ pháp lý, mối quan hệ trên cơ sở
pháp luật mà bất kỳ nơi nào, thời đại nào, quốc gia nào và khi nào vẫn đều luôn
luôn có. Chẳng hạn, định chế hôn nhân chính thức là định chế bắt buộc về mặt
pháp luật, bởi có như thế mới được pháp luật công nhận về mọi mặt. Hay định chế
mọi sự giao dịch pháp luật đều phải được ký kết bằng hợp đồng, kết ước, trong
các hình thức nào đó mà pháp luật thừa nhận thì mới có ý nghĩa và giá trị pháp
lý, hoàn toàn là những điều cần thiết, tự nhiên.
Nói
khác đi, trong ý nghĩa con người theo các nguyên tắc như trên thì ý nghĩa của
lý trí là ý nghĩa hết sức quan trọng. Bởi mọi tình cảm hay cảm xúc đều có thể
thiên lệch hoặc lệch lạc, nhưng nói về lý trí hay sự phán xét sáng suốt thì hầu
như được công nhận như ý nghĩa chuẩn mực chung của tất cả mọi người. Nhờ có lý
trí, con người được thừa nhận có khả năng phân biệt được cái sai cái đúng, cái
hay cái dở, cái tốt cái xấu, cái hữu lý và cái vô lý v.v… Tức người có lý trí
là người trưởng thành, người bình thường, ít ra là về mặt nguyên tắc, hoặc là
người đủ tuổi công dân, là điều luôn luôn được mọi pháp luật thừa nhận. Bởi vậy,
nói cho cùng mối quan hệ hay giao tiếp giữa con người và con người hoặc xảy ra
hay được thực hiện một cách khách quan, tự nhiên, hiện thực, hoặc được thực hiện
qua pháp lý như những mối quan hệ hay tương quan pháp lý. Tức mối quan hệ, giao
tiếp giữa con người hay các cá nhân trong xã hội, hoặc chỉ là mối quan hệ xã hội
thuần túy, hay là mối quan hệ chính thức về mặt pháp lý, tức mặt pháp luật, như
trên kia chúng ta đã thấy. Tất nhiên, trong hai mối quan hệ đó, mối quan hệ xã
hội luôn luôn rộng khắp, bao quát, bàng bạc, nhưng mối quan hệ pháp lý luôn
luôn nền tảng, không điều gì có thể vượt ra hay đi trái lại nó được, đó là điều
rất đáng nên lưu ý.
Diễn
đạt theo cách khác, mối quan hệ xã hội giữa mọi người như mối quan hệ tự nhiên,
thực tại, trong khi đó mối quan hệ pháp lý luôn luôn là mối quan hệ chính thức,
hay mối quan hệ pháp luật. Có nghĩa nếu mối quan hệ xã hội dân sự luôn luôn là
mối quan hệ xã hội tự tại, tự phát, tự nhiên, khách quan, thì mối quan hệ pháp
lý nói chung, tuy là mối quan hệ nền tảng, bao trùm về mặt chính thức, nhưng thật
ra lại là mối quan hệ được tạo thành về mặt pháp lý, tức có phần thiết định từ
ngoài, có phần chủ quan hay riêng biệt nhất định tùy theo những nền pháp luật
hoặc những quy định pháp luật do các chế độ hay các thời đại cụ thể, nhất định
nào đó. Nói như thế, rõ ràng mọi cái chất hay cái nội dung trong quan hệ xã hội
giữa mọi người đều vẫn luôn là mối quan hệ xã hội dân sự, còn mọi cái vỏ, cái
hình thức bề ngoài, vẫn luôn là mối quan hệ về mặt pháp luật nào đó, tuy có khi
không nói ra, nhưng bó buộc hoặc nhất thiết mọi người đều phải luôn thừa nhận.
Nói điều này để thấy cái cần thiết nhiều khi chỉ là giả tạo, hay cái bên ngoài
phần lớn chỉ là giả tạo, còn chính cái bên trong mới là cái thực chất, cái
khách quan, có khi người ta không nhìn thấy, không biết đến, không thừa nhận,
nhưng chúng vẫn có đó, giống như một sự thật, một chân lý mà không một ai có thể
chối cãi.
Đấy,
tính cách khác nhau giữa xã hội dân sự và xã hội pháp lý hay xã hội thể chế là
nó như thế đó. Xã hội dân sự là xã hội của những con người hồn nhiên với nhau,
là xã hội thực chất. Trong khi đó xã hội thể chế hay xã hội pháp luật chỉ là xã
hội bên ngoài, có khi mang tính cách giả tạo, có khi nó tồn tại không quan hệ
hay dính dáng trực tiếp gì với xã hội dân sự mà mọi người đều biết. Nói khác,
xã hội dân sự mới chính là xã hội thuần túy, tức mối quan hệ thuần túy, thực chất,
khách quan, cụ thể về mặt xã hội, còn xã hội định chế, hay xã hội pháp luật, tức
xã hội thể chế, đúng ra chỉ là xã hội bề ngoài, xã hội chính trị, xã hội của guồng
máy công quyền được tổ chức dưới dạng nào đó, tùy theo hoàn cảnh xã hội, lịch sử,
tùy theo thời đại, có khi nó chỉ mang tính cách chủ quan, tùy tiện như thế nào
đó, nhưng trong thực tế nó lại bắt buộc mọi người đều phải tuân thủ, chấp nhận,
hay tạm thời phải chịu đựng như thế nào đó mà không thể nào phản đối hay đi ngược
lại được. Đó cũng còn là mối quan hệ chính thức bề ngoài giữa cá nhân và cá
nhân, giữa xã hội và cá nhân, hay nói chung giữa mọi người trong xã hội tùy
theo từng hoàn cảnh, thời đại mà mọi người đều biết. Đó cũng còn là mối quan hệ
giữa xã hội, pháp luật, và chính trị rất cần phải được nói đến(1).
Thật
vậy, nói cho cùng mọi quan hệ giữa con người và con người trong xã hội cơ bản đều
là những quan hệ cá nhân với nhau. Đây là một thực tế tự nhiên, khách quan,
không ai có thể chối cãi được, và nó có mặt ở khắp nơi, trong mọi phương diện
nơi chính bản thân của sự tồn tại xã hội. Có nghĩa mối quan hệ giữa con người
và con người luôn luôn là những mối quan hệ riêng biệt, cụ thể. Điều này hoàn
toàn tự nhiên, bởi mỗi cá nhân vẫn là một cá thể, một đơn vị phải có của xã hội.
Như trong một trận bóng chẳng hạn, thao tác dẫn bóng, đá bóng nói cho cùng,
chính yếu vẫn xảy ra chỉ giữa hai cá thể. Sự tranh giành, chuyền bóng lẫn nhau,
thật sự cuối cùng cũng chỉ nhằm thể hiện được mối quan hệ của từng cặp cá thể,
để đi đến mối giao tiếp, thực hiện điều đó giữa hai cá thể chiếm được kết quả
cuối cùng, ví dụ như người sút bóng và người bắt bóng ở khung thành. Ngay trong
một cuộc họp hay cuộc hội nghị đông đảo cũng thế, mối quan hệ chính yếu ở đây vẫn
là mối quan hệ giữa chủ tọa hay người đang trình bày vấn đề với cử tọa. Ý thức
của vế đầu là ý thức phân kỳ đến mọi người nghe, người xem. Ý thức vế hai là ý
thức hội thụ của mọi người trong khán trường theo chiều ngược lại. Tính cách
giao tiếp này khi mở rộng ra toàn thể xã hội, hay mở rộng ra trong mọi cơ chế
chính trị cũng vậy. Tức luôn luôn là mối quan hệ giữa nguồn, điểm đến và yếu tố
trung gian, nếu nói theo quan điểm toán học. Do đó, một xã hội trong sáng, lành
mạnh, hay một nền chính trị trong sáng, lành mạnh, thì mối quan hệ giữa ba ý
nghĩa trên cũng hoàn toàn trong sáng, lành mạnh, còn nếu không thì hoàn toàn
ngược lại.
Ngày
xưa trong thời kỳ quân chủ, xã hội lành mạnh là xã hội được trị vì bởi đấng
minh quân, còn nếu không, ngược lại, lại là kẻ hôn quân hay bạo chúa. Tất
nhiên, đối với một đấng minh quân, cũng không một ai có thể phạm đến nhà vua, bởi
vì đó là sự tiêu biểu cho toàn xã hội, cho vương quyền, vương triều, cho quốc
gia, đất nước. Trái lại, trong trường hợp bạo chúa, hôn quân, ngoài sự đen tối,
mờ ám của nhà vua, còn cả một triều đình của bọn quyền thần, bọn hoạn quan, rồi
cả một bộ máy chuyên chế khổng lồ bên dưới, coi như mọi tương quan giữa thần
dân và nhà vua đều bị nhiễu, bị lũng đoạn, thực chất biến thành một mối quan hệ
hoàn toàn tồi tệ, hiểm nghèo trong xã hội. Bởi vậy, tương quan giữa con người
và con người nói cho cùng lại, chẳng qua là mối tương quan giữa vật chất và ý
thức. Tương quan ý thức là tương quan hiểu biết, thông cảm, chia sẻ, hợp tác với
nhau giữa những người có ý thức, lý trí lành mạnh. Tương quan vật chất chính là
tương quan thân xác, của sức mạnh cơ thể hay của vũ khí đi kèm, đó là sức mạnh
thuần túy vật chất, bởi vì mọi sự tương giao ý thức lành mạnh coi như hoàn toàn
đã bị bế tắt. Đó cũng là tương quan giữa guồng máy độc tài nào đó cai trị xã hội
và toàn thể xã hội. Tức đó chỉ còn là tương quan một chiều, của sự ra lệnh và
thi hành lệnh, mà không còn là sự tương quan cởi mở, giao tiếp hai chiều hoặc
đa chiều đúng theo các nguyên lý dân chủ, tự do một cách chính đáng và cần thiết
trong các xã hội nói chung.
Chẳng
hạn, trong giao tiếp giữa người và người. Nếu trong rừng sâu ta gặp một người lạ,
người đó có cầm khí giới và nét mặt bặm trợn, khi đó là mối tương quan nguy hiểm,
hoặc phải né tránh, phải đề phòng hay phải dòm chừng. Bởi vì sao ? Bởi vì có một
nỗi sợ. Nỗi sợ nét mặt bặm trợn, tức nỗi sợ khả năng lý trí hay ý thức không
lành mạnh hoặc không bình thường của người đó. Nhưng nỗi sợ lớn hơn cả chính là
nỗi sợ về khả năng sử dụng vũ khí của người đó, tức nỗi sợ về hung khí, về vật
chất, mà không phải chỉ là nỗi sợ về chính ý thức hay tinh thần. Trong xã hội
cũng vậy, không ai sợ người bình thường, mà chỉ sợ người say, người điên, người
làm điều phi pháp, người thiểu năng trí tuệ, hay người có những suy nghĩ và
hành động không bình thường nào đó. Đó cũng là sự khác nhau giữa mọi thể chế
dân chủ và mọi thể chế độc tài. Trong một xã hội dân chủ thật sự, thực chất người
ta không ai sợ ai, mà chỉ tôn trọng lẫn nhau và tôn trọng pháp luật. Nhưng
trong những xã hội độc tài thì hoàn toàn ngược lại, mọi người đều sợ lẫn nhau,
bởi vì thấy nhau toàn là nguy hiểm, vì mọi người đều có thể nhân danh bất kỳ thứ
gì, đều có thể đối xử với nhau tàn tệ vì bất cứ lý do gì nếu quả trong tay những
người như thế có sức mạnh hoặc có thể hậu thuẫn bởi sức mạnh. Bởi vậy trong những
xã hội như thế, con người không sợ luật pháp mà chỉ sợ guồng máy. Bởi người ta
không tin tưởng vào luật pháp, không coi luật pháp là sức mạnh của lẽ phải, của
lý trí, mà chỉ là sức mạnh của guồng máy mù quáng, lạnh lùng, khả dĩ có thể đi
ngược lại mọi điều hợp lý, lành mạnh nhất của xã hội con người. Đó cũng là lý
do tại sao ngày xưa người ta không sợ nhà vua cho bằng sợ guồng máy cai trị của
nhà vua, không sợ nhà vua cho bằng sợ các cận thần, bộ hạ của nhà vua, không sợ
cá nhân nhà vua cho bằng sợ cả một triều đình bất nhân và thối nát, cuối cùng
không phải sợ bản thân nhà vua mà chỉ là sợ uy quyền của nhà vua hay uy quyền của
chính bộ máy cai trị của nhà vua.
Tuy
nhiên, sự độc tài của nhà vua, sự ghê gớm của bộ máy cai trị của nhà vua, dù
sao chăng nữa, đó cũng chỉ mới là bản thân của các cá nhân họp lại. Có nghĩa nếu
không gần cọp thì cũng chẳng phải sợ cọp. Mọi người dân cứ lo làm ăn, không cần
quan hệ trực tiếp với nhà vua, không cần tiếp xúc với bộ máy quan quyền, không
cần vào lòn ra cúi ở chốn công đường, không cần khom lưng uốn cật ở chốn triều
đình, phần ai nấy sống, cũng chẳng có gì phải liên lụy cùng nhau. Thậm chí còn
có những người tị thế, xa lánh hẳn cõi đời, tìm đến các chốn thâm sơn cùng cốc,
cũng có thể sống hẳn một cuộc đời cao khiết, trong lành, không hề nhuốm chút bụi
bẩn hoặc ràng buộc, hệ lụy nào cả của thế gian. Đó chính là xã hội thời cổ đại
cho đến trung đại khắp mọi nơi trên toàn thế giới. Vậy nhưng đến xã hội cận đại
và hiện đại thì mối quan hệ con người lại hoàn toàn khác. Tức nếu đó là mối
quan hệ tự do, nó cũng là mối quan hệ tự do, dân chủ thật sự. Bởi vì khắp nơi đều
không còn vua, hay nhà vua đúng nghĩa, không còn mọi thế lực vương triều như
ngày xưa đã có. Vì tất cả mọi người đều hoàn toàn bình đẳng, tự do và dân chủ.
Nhưng nếu đó không phải là một xã hội tự do, dân chủ, mà là một xã hội độc
đoán, độc tài, thì thực tế nó còn tệ hại hơn cả chế độ quân chủ ngày xưa gấp cả
bội phần. Bởi xã hội ngày xưa không phải là xã hội hoàn toàn được tổ chức từ A
đến Z. Nhà vua chỉ đứng đầu guồng máy cai trị, nhưng nhà vua không suy nghĩ
thay dân, không lấy các sở thích, cảm nghĩ riêng của mình để áp đặt lên tất cả
mọi thần dân, tức áp đặt lên toàn thể xã hội. Có nghĩa xã hội quân chủ độc đoán
ngày xưa dù sao vẫn không xâm lấn toàn diện vào mọi khía cạnh của xã hội dân sự.
Nhà vua, triều đình, bộ máy chuyên chế của nó, thật sự cũng chỉ là cái khung sườn
chung cho toàn xã hội, một thành phần nào đó tuy dù mang tính cách khuynh loát,
nhưng vẫn không phải là toàn thể bản thân của toàn xã hội. Chế độ quân chủ
không bao giờ có một hệ thống tuyên truyền qui mô hoặc một nền tổ chức qui mô,
toàn diện giống như mọi chế độ độc tài cận đại hoặc hiện đại. Điều này người ta
có thể nhớ lại các chế độ phát xít thời Hitler, Moussolini, hoặc là các chế độ
Mác xít thời Stalin, Mao Trạch Đông, Fidel Castro, và cuối cùng đỉnh cao nhất
là thời Pôn Pốt, Iêng Sari, thì đều có thể thấy rõ.
Thế
nhưng vẫn có người lầm tưởng hay quan niệm rằng chế độ độc tài tạo thành sức mạnh,
nên có vẻ như tâm đắc hay ủng hộ chế độ độc tài. Nhưng quan niệm như vậy là
hoàn toàn không phù hợp hay không đúng. Bởi vì sức mạnh đó thực chất chỉ là sức
mạnh võ biền, sức mạnh của những nhà đấu vật, cỡi trần mặc quần đùi để đánh đấm
với nhau. Đó chỉ là những yêu cầu nhất thời trong thời chiến, hay trong những
hoàn cảnh bất trắc tạm thời như thiên tai hoặc những thời điểm giao thời nào
đó, nhưng hoàn toàn không phải là chính nhu cầu thiết yếu hay chân lý hoặc giá
trị thường xuyên của xã hội. Bởi các chế độ độc tài đều làm mọi người thành giả
dối, vì phải tự vệ, thủ thân lẫn nhau, không trừ một ai. Điều đó cũng có nghĩa
là sự mất nhân cách, phi nhân văn, sự bị đánh mất bản thân của mọi con người
chân chính thật sự. Trong mọi chế độ độc tài, thật sự người ta chỉ còn biết yêu
mình, không còn yêu người khác hay yêu xã hội, bởi vì tất cả mọi người thực chất
đều bó buộc phải lo tự vệ. Bởi vì nếu còn biết thương người, thương xã hội, tất
nhiên ai cũng phải lên tiếng phản đối chế độ độc tài. Thế nhưng trong mọi chế độ
độc tài, độc đoán, thường những tiếng nói phản kháng này rất yếu ớt, hay có thể
gọi được là bằng không, cho nên ý nghĩa thụ động, chịu đựng, ích kỷ, cũng đã
nói lên rất chính xác đối với nhận xét nói trên. Nhưng ngoài điều đó ra, chính
các chế độ độc tài về ý thức hệ mới là điều quái ác nhất. Bởi nó xâm chiếm và
làm tê liệt, bế tắt mọi ý thức khác nhau của xã hội, mọi ý thức khác của toàn
dân. Như trong thời kỳ Trung cổ ở châu Âu, ý thức hệ Thiên chúa giáo đã trở
thành một thời là ý thức thống trị. Dưới thời chế độ phát xít Hitler, quan điểm
về chủng tộc tối ưu của Hitler tuy dầu rất phản động, sai lầm, nhưng nó vẫn là
quan điểm trở thành thống trị. Dưới thời Stalin hay Mao Trạch Đông cũng vậy,
quan điểm Mác xít trở nên là quan điểm thống trị toàn xã hội, tuy dù bản thân của
nó chẳng phải là chân lý, mà ngoài ra nó còn bị stalin hóa và Mao hóa chính
trong những hoàn cảnh đặc thù đó của các xã hội con người.
Nhưng
tại sao gọi được bản thân của chủ thuyết Mác không phải là chân lý ? Bởi vì thực
tế của thế giới ngày nay hoàn toàn đã cho thấy rõ điều đó. Có những lý thuyết kề
cận với chân lý, có thể tồn tại cả nhiều trăm năm, thậm chí cả ngàn năm. Nhưng
học thuyết Mác chỉ tồn tại chỉ mới hơn trăm năm mà ngày nay đã hoàn toàn tơi tả.
Đó là chưa nói mọi học thuyết khác không hề đi đôi hay hậu thuẫn về mặt nguyên
tắc bằng vũ lực, bằng chuyên chính như học thuyết Mác. Bởi vậy, nếu không có
nhà nước chuyên chính Liên xô thành lập, chủ thuyết Mác cũng chưa chắc đã lan rộng
ra và được áp dụng nhiều nơi trên thế giới. Đó là ý nghĩa hoàn toàn thực tế,
khách quan, là một sự kiện rõ ràng trong lịch sử, không thể ai cãi chính hoặc
phủ nhận, nếu đó vẫn còn là những đầu óc bình thường. Còn thực sự nói sâu hơn về
mặt bản thân của học thuyết, học thuyết Mác chứa nhiều điểm trái với các nguyên
lý khoa học và thực tiển khách quan như nhiều lần đã được nói tới(2). Ấy cũng là chưa nói tới ngay trong
lý luận của Mác có mang khá nhiều tính chất ngụy biện, tính chất tiểu xảo, có
nghĩa ít có giá trị khoa học, ít có ý nghĩa chân lý, ít có tính chất khách quan,
mà ngày nay thực tế thế giới đã hoàn toàn trả lời rõ rệt. Nên nói chung lại, mọi
chế độ độc tài đều làm bế tắt các phát triển tự nhiên của xã hội, nhất là các
chế độ độc tài ý thức hệ lại càng tệ hại thái thậm, bởi vì một ý thức hệ, tức một
lý thuyết chuyên đoán, chủ quan nào đó lại có thể bị áp đặt để trở thành nền tảng,
mô thức chung của toàn xã hội, nó bị cưỡng bức hay ép buộc phải đi vào ngóc
ngánh của mọi suy nghĩ, mọi ý thức của con người, tức nó trở thành như yếu tố
soán đoạt tâm hồn của tất cả mọi cá nhân, nó có ý quyết tâm thay linh hồn mọi
người chỉ bằng chính ý thức hệ hay lý thuyết đó, có nghĩa nó hầu như muốn trở
thành một tôn giáo, một giáo lý bắt mọi người phải tin theo, phải thờ phượng, bởi
vì nó được chính thức đưa vào trong học đường, trong chương trình đào tạo, giáo
dục, trong mọi cuộc vận động, tuyên truyền trong xã hội, nói tóm lại nó muốn
chiếm lĩnh không những toàn bộ xã hội, mà còn toàn bộ cả lịch sử của một dân tộc,
một quốc gia, một đất nước, kể cả muốn chiếm lĩnh dài hạn trong mọi thời đại.
Nhưng
cái gì làm nên tất cả mọi hệ lụy và hậu quả đó. Đó chính là ý nghĩa con người
và mối quan hệ của con người lẫn nhau trong xã hội. Con người như nhà tư tưởng
Pascal nói là một cây sậy biết suy nghĩ. Cây sậy có nghĩa là không có sức mạnh
tự thân, phải lay theo chiều gió, tức phải lệ thuộc sức mạnh bên ngoài, nhưng
bên trong lại có lý trí, biết suy nghĩ, hay có khả năng, năng lực phán đoán,
suy nghĩ. Điều này cho thấy chính trị nhân văn luôn luôn là nền chính trị lý tưởng,
còn chính trị phản nhân văn luôn luôn là nền chính trị tệ hại nhất và thật sự
là không nên cũng không đáng có(3). Bởi
nếu chính trị không khéo, hay chính trị mù quáng, có thể làm điêu đứng ý thức
con người, làm điêu đứng ý thức xã hội mà mọi người đều rõ. Đó là nói những đất
nước có độc lập, chủ quyền. Còn khi đất nước ở dưới ách thống trị ngoại xâm lại
là chuyện khác. Chẳng hạn như nước ta ở thời Minh thuộc, các quan lại nhà Minh
không những chỉ đày đọa dân tình về mọi mặt, mà còn vơ vét các tài nguyên của đất
nước để mang về phương Bắc. Đặc biệt, chúng còn cố tình đốt hết sách vở mà dân
tộc chúng ta có, chỉ trừ các sách vở mà chúng cảm thấy hay ho, có lợi, thì thu
vén hết để mang về Tàu, nhất là những nhân tài về các mặt nào đó, chúng đều gom
trọn gói để đem về phục vụ cho đất nước Trung hoa. Đó quả là một chính sách ngu
dân và bòn vét chất xám dã man nhất lịch sử mà dân tộc ta đã phải chịu. Nhưng đến
hồi Pháp thuộc, tuy là chế độ thực dân, tuy chỉ là sự nhân danh “khai hóa”,
nhưng thực chất trong đó vẫn có những người Pháp hay bản thân nước Pháp có ý
nghĩa văn minh, nên ta không thể phủ nhận họ có đào tạo được nhân sự cho ta phần
nào mặc dầu có hạn chế, không phủ nhận họ đã xây dựng được các công trình lớn,
để đời cho nước ta, tuy dầu đó vẫn là công cụ trước nhất phục vụ cho chính quyền
thuộc địa, là công cụ trước nhất nhằm phục vụ hưởng thụ cho những kẻ cầm quyền.
Đấy
mối quan hệ giữa con người và con người dù lúc nào, thời đại nào và ở đâu cũng
thế. Tức con người luôn luôn chịu ảnh hưởng bởi điều thiện, điều ác trong chính
bản thân mình, cũng như điều thiện, điều ác trong bản thân người khác, tức
trong mối ảnh hưởng, tương quan, hoặc thậm chí lệ thuộc vào người khác. Mối
quan hệ xã hội do vậy luôn luôn là mối quan hệ trực tiếp, cũng như mối quan hệ
của số đông, nếu đó là mối quan hệ gián tiếp. Do đó, trong thời Pháp thuộc,
chính Phan Chu Trinh là nhà cách mạng đáng kính, là bậc chí sĩ sáng suốt, nhận
thấy muốn giải phóng khỏi ách thực dân, không thể chỉ dùng súng đạn, vũ lực hay
bạo lực, bởi vì không cân sức, mà phải dùng trí tuệ, dùng sức mạnh ý thức, tinh
thần, tức phải nâng cao dân trí, nâng cao nhận thức và tầm nhìn của tất cả mọi
người. Ý nghĩa của dân trí, dân chí, dân khí, và dân tâm, chính là như thế. Cho
nên ý nghĩa của dân quyền, nhân quyền, là ý nghĩa của những con người hiểu biết,
không tăm tối, không mù quáng, mang tính cách độc lập, tự do về nhận thức, ý thức,
và cả trong mọi hành động, suy nghĩ, đó là điều mà cách đây cả trăm năm, chính
Phan Chu Trinh đã từng nhận thấy. Đó cũng chính là ý nghĩa của tinh thần khoa học,
của cái nhìn thức thời, thực tiển, ngoài tình cảm yêu nước, ý chí thương nòi, cứu
nước mà chính Phan Chu Trinh đã hoài mong thực hiện.
Cho
nên, nếu lý trí là yếu tố quan trọng nhất trong con người, thì mọi ý nghĩa
chính trị lành mạnh đều phải thiên về lý trí, đó là điều mà mọi nhà chính trị
chân chính, những nhà lãnh đạo quốc gia đúng nghĩa trên thế giới này phải hết sức
cần quan tâm, hướng tới. Bởi vì lý trí là nền tảng của mọi nhận thức, đồng thời
cũng là nguồn gốc và mục tiêu của mọi nhận thức. Đó cũng chính là ý nghĩa của
tri và hành, mà ngay từ ngàn xưa loài người đã biết đến. Bởi vì trong bản thân
mỗi người, tuy có tình cảm, cảm xúc, khuynh hướng, cá tính, bản năng, nhưng
chính lý trí mới thật sự là tinh hoa, là yếu tố định hướng cốt lõi, quan trọng
và quyết định nhất. Bởi vậy, mọi chế độ xã hội dân chủ, tự do thật sự, thường
người ta chỉ chú trọng giáo dục về lý trí, về nhận thức, về phương pháp luận tư
duy khoa học, không ai chỉ chú trọng nghiên về cảm xúc, về tình cảm, về bản
năng, về quán tính như trong các chế độ hay xã hội độc tài. Trong thời kỳ Liên
xô trước đây, lý thuyết về bản năng sinh học của loài chó, do nhà tâm sinh học
Pavlov thí nghiệm và đưa ra, lại được xã hội ca ngợi và đề cao, đó là tính phản
nhân văn và là sự dã man. Các chế độ độc tài phát xít như kiểu Hitler,
Moussolini, đều vẫn dùng sức mạnh của sự tuyên truyền mù quáng, mị dân, khai
thác các bản năng sinh học trong xã hội, kết hợp vũ lực, trấn áp, để tạo nên những
sức mạnh tổ chức phục vụ riêng cho nhà độc tài, thật sự là những tính cách
hoang dã, đã từng bị cả thế giới căm giận và lên án.
Cho
nên ý nghĩa, giá trị của mỗi bản thân con người cũng như của toàn xã hội vẫn
luôn là giá trị, ý nghĩa của lý trí, của nhận thức, của tình cảm cao quý, của ý
chí trong sáng, của tinh thần khoa học mà không là gì khác. Chính kinh tế là nhằm
phục vụ những ý nghĩa đó, và những ý nghĩa đó cũng là công cụ đòn bẩy, là nền tảng
thực tế của kinh tế mà không một ai không biết. Thế cho nên những chính sách
giáo dục nào biết hướng đến nhân văn, nhằm khai sáng lý trí, trí tuệ của con
người, nhằm xây dựng ý thức độc lập, tự do cho tất cả mọi người, đó chính là những
nền giáo dục nhân bản, khoa học và mang ý nghĩa giá trị. Trái lại, những nền
giáo dục nào chỉ nhằm đề cao tình cảm một chiều, xây dựng ý thức bản năng một
chiều, xây dựng quán tính một chiều, thậm chí chỉ có biết đề cao tập thể một
cách mù quáng, đề cao những tập hợp cá nhân con người nào đó, hay sự thần thánh
hóa những đảng phái, những lãnh tụ nào đó, giống như những mục tiêu đối với xã
hội, đối với đất nước, mà mọi người đều thấy nhan nhãn có trong lịch sử, thực
chất đều là những nền giáo dục phản giáo dục, phi giáo dục, đi ngược lại tính
nhân văn, đi ngược lại mọi ý nghĩa và giá trị khoa học, mà bất kỳ ai có lý trí
bình thường, có tâm hồn lành mạnh, có ý thức sáng suốt đều có thể nhận ra được.
Thật
ra xã hội nói chung vẫn là xã hội nghề nghiệp. Mọi người đều phải có một nghề
nào đó mới có thể sống được trong chính xã hội. Bởi vì có nghề mới có thu nhập,
hay ít ra cũng phải có những người có nghề nào khác cung cấp thu nhập đó cho họ.
Nói trắng ra, vua cũng phải có nghề làm vua. Điều này có thể có người nghe thấy
lạ, nhưng thực tế chính là như vậy. Bởi vì trong xã hội quân chủ, không những
phi tần phải học cách, tức học nghề chiều chuộng vua, mà cả vua cũng phải học
chính các nghĩa vụ, trách nhiệm làm vua ngay từ khi còn nhỏ. Có các chức quan
làm nhiệm vụ giảng dạy đạo lý, nhận thức cho nhà vua mà ai cũng rõ. Trong xã hội
cũng thế, hoặc người ta hành nghề tự do, hoặc phải làm thuê cho người khác, tức
cho tư nhân, hoặc làm thuê cho chính phủ, chính quyền, tức cho nhà nước nói chung,
mà bất cứ thời nào cũng có. Làm thuê cho tư nhân, gọi là ăn công. Làm thuê cho
công quyền, gọi là làm công chức, thì được ăn lương và bổng lộc mọi loại được
quy định, kể cả lương hưu và phụ cấp khi về hưu, tức quyền lợi ổn định suốt đời
mà không thiếu gì những người gắn bó hoặc ham hố.
Thế
nên trong guồng máy công chức thì dễ dẫn đến những trường hợp đặc quyền đặc lợi
mà ai ai cũng rõ(4). Ngay như vua cũng vậy,
cũng sống nhờ công khố mà ngày xưa bản thân vua đâu có tài sản riêng. Cả nước
đó là tài sản của vua, đó là ý nghĩa của chế độ quân chủ. Còn toàn bộ guồng thuế
khóa của toàn dân là để nuôi bộ máy công quyền, tức bao gồm cả hệ thống hành
chánh cai trị, triều đình, hay ngày nay là toàn thể chính quyền ở khắp các quốc
gia mà mọi người đều biết. Thế cho nên, nếu những người làm công chức, những
người nắm quyền, mà làm tốt nhiệm vụ của mình, giúp nước, giúp dân có hiệu quả
về mọi mặt, thì đó là họ ăn đồng lương và hưởng bổng lộc chính đáng. Còn ngược
lại, nếu không làm được như thế, thì thật là quá tệ, giống như những kẻ ăn hại
đái nát, mà toàn thể người dân, xã hội phải è cổ ra gánh chịu, nuôi sống họ,
thì bất kỳ đất nước nào nếu người dân vô quyền vẫn có thể thông thường xảy ra
như vậy. Cho nên, vua chỉ là vua khi có trong tay ngai vàng, có trong tay guồng
máy cai trị, tức là có các thần dân. Trái lại, khi vua mất dân, mất nước, thì
đó không còn là ông vua, nhưng chỉ còn là kẻ đào tẩu lặng thinh, không kèn
không trống. Điều này ai cũng biết khi xưa ở nước ta, khi Tôn Sĩ Nghị bị người
anh hùng Nguyễn Huệ Quang Trung vây kín phải tháo chạy về Tàu, cuốn gói khỏi
kinh thành Thăng Long, thì chính bản thân Lê Chiêu Thống cũng phải tìm cách chạy
theo, và khi qua sông, đã phải dưới cơ và bị trấn lột bởi cả một anh lái đò, quả
thật khá bi thương và nhục nhã.
Thế
cho nên trong cuộc đời bao giờ cũng phải nên lấy đạo lý làm chính. Đạo lý ấy
khi xưa là đạo lý trong trật tự xã hội phong kiến, là điều khá dĩ nhiên. Tuy
nhiên, ở phương Tây cũng như phương Đông vẫn luôn có những nhà tư tưởng, nhà lý
thuyết mong muốn nêu lên các khía cạnh của chân giá trị nào đó cho muôn đời.
Như trường hợp Mạnh tử chẳng hạn, đó chính là một nhà lý thuyết dân chủ ngay
trong thời đại phong kiến cách đây đã nhiều ngàn năm. Chính vì thế mà ý nghĩa của
tư tưởng, của nhận thức, của khoa học kỹ thuật nói chung trong mọi dân tộc, mọi
đất nước, mọi thời đại đều luôn có giá trị hàng đầu và đều luôn quan trọng. Do
vậy, nếu có lý thuyết nào đó mà đi ngược xu hướng thời đại, thay vì nêu cao và
biểu dương yêu cầu xã hội về tính tự do, dân chủ, lý tính của tất cả mọi người,
lại đề cao bản năng, đề cao sự độc đoán, đề cao tính chủ quan và sự độc quyền
nhận thức, và nếu thực tế có gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng đối với xã hội,
thì đó có thể nói được là tội lỗi nếu không phải là tội ác đối với nhân loại. Chính
vì thế, mà chỉ có tinh thần, ý thức tự do, dân chủ của mọi người mới có thể
phát huy được mọi tài năng, trí tuệ của dân tộc, làm cho đất nước thật sự phát
triển về mọi mặt. Đó là ý nghĩa của văn hóa, của nghệ thuật về mọi mặt trong sự
so sánh giữa xã hội tự do, dân chủ thực sự, và xã hội độc đoán về mặt phát huy
và kết quả trong mọi thời đại. Cho nên người trí thức là gì, là người có tri thức,
có năng lực nhận thức, phê phán mọi vấn đề trên cơ sở khách quan, khoa học. Điều
đó tất nhiên đòi hỏi cũng phải có sự tự do và sự tự chủ. Do đó trí thức cũng
còn phải có nghĩa là trí tuệ, bởi vì nếu có sự hiểu biết, nhưng đó cũng chỉ mới
là sự nhận thức theo kiểu thụ động, nô lệ, một chiều, thì đó cũng chưa đúng
nghĩa hoàn toàn là trí thức. Bởi vậy, nhiệm vụ góp phần trí thức hóa toàn dân,
hay ít ra cũng được đa phần như vậy, tức nâng cao dân trí, là nhiệm vụ vô cùng
cần thiết và cao cả. Chỉ rất tiếc có một người đã từng nổi tiếng từ lâu mà
không làm được, thậm chí còn làm điều ngược lại, phải chăng đó chính là trường
hợp điển hình như ông Trần Đức Thảo ?
VÕ
HƯNG THANH
(23/02/2011)
**
THẾ
NÀO LÀ MỘT XÃ HỘI THAM NHŨNG
Con
sâu làm rầu nồi canh. Khi trong một xã hội có những sự kiện tham nhũng xảy ra,
được phát hiện vì không thể giấu giếm, toàn thể dư luận đều biết đến, người ta
kết luận trong xã hội đó có tham nhũng. Như vậy tham nhũng là một hiện tượng có
thể xảy ra trong bất kỳ xã hội nào. Tính cách là nhiều hay ít, mức độ trầm trọng
của nó ra sao, mật độ của nó thế nào trong xã hội. Tất nhiên ai cũng biết tham
nhũng là điều xấu, phi pháp, vi phạm đạo đức, bị mọi người chán ghét, lên án,
phê phán, thế nhưng hành vi tham nhũng vẫn xảy ra lại chính là điều đáng nói nhất.
Mặt khác, theo nguyên tắc mà nói, không bất kỳ chính quyền, chính phủ hay nhà
nước nào muốn để điều đó xảy ra hay lộng hành trong đất nước, nhưng nó có xảy
ra hay không, có dẹp được hay không, việc dẹp có hiệu quả và kết quả chưa, mức
độ tràn lan và nghiêm trọng của nó ra sao, lại là việc khác.
Thời
phong kiến Việt Nam, hay thời nước ta còn chịu sự đô hộ của người Pháp, dưới chế
độ quân chủ và bảo hộ đó, hiện tượng tham nhũng hầu như chưa có hoặc không có,
hay ít ra nếu có cũng chỉ là cá biệt, đặc thù, không công khai, phổ biến, tức mức
độ nghiêm trọng hay lộ liễu như là không tồn tại, tức không hề trở thành vấn đề.
Trong thời kỳ cả nước đang trong chiến tranh kéo dài, tức vào giữa cho đến gần
hết thế kỷ vừa qua, miền Nam có rộ lên dư luận về tham nhũng vào giai đoạn gần
cuối chiến tranh. Đó là giai đoạn viện trợ Mỹ còn ồ át, báo chí trong Nam lúc
đó hầu như là tự do, cho nên người dân cũng biết tham nhũng lúc đó là hiện tượng
của một số những thành phần chức sắc mọi loại ăn bẩn vào chính tiền bạc và hàng
hóa viện trợ Mỹ. Còn miền Bắc lúc đó cũng là thời kỳ huy động tất cả vào chiến
tranh, với kỹ luật thép áp dụng lên toàn xã hội, với quyền báo chí bị hạn chế nếu
không nói chỉ nằm trong tay nhà nước, nên dù viện trợ của nước ngoài mà chủ yếu
là Liên xô có nhiều đi chăng nữa, nhưng mọi người đều phải dốc lực làm việc,
hoàn cảnh trăm bề đều thiếu, lại còn chiến tranh khốc liệt, cũng không thể có
môi trường tham nhũng, hoặc đối tượng tham nhũng về mặt chủ thể ý thức và mặt đối
tượng thu hưởng cũng rất khó hay có thể nói không thể nào xảy ra được, nhất là
xảy ra được một cách quy mô hoặc lộ liễu.
Thế
nhưng sau khi chiến tranh kết thúc, đất nước đã trở thành thống nhất, chỉ còn một
nhà nước duy nhất mà không còn hai nhà nước đối kháng và chiến đấu với nhau nữa,
sự kiện tiêu cực trong xã hội cũng bắt đầu xảy ra, trước tiên rời rạc, cá biệt,
không mấy quan trọng, sau thì cứ tăng cường thêm, nhân lên, mở rộng ra, trầm trọng
hơn về nhiều phương diện và quy mô khác nhau, để ngày nay dư luận đều chú ý tới,
kể cả đến nước ngoài và quốc tế cũng đều biết, đó là điều đáng nói nhất. Lúc đầu
một số những hiện tượng tiêu cực nào đó không được báo chí nói đến, đó là thời
kỳ bao cấp kéo dài, nói đến cũng chẳng khác gì bêu xấu xã hội, bêu xấu nhà nước,
vạch áo cho người xem lưng, chỉ cần xử lý nội bộ, đó là thông lệ của thời kỳ
bao cấp kéo dài, điều đó thì rõ ràng như cơm bữa. Rồi thời kỳ bao cấp cũng qua
đi, xã hội đã được cởi trói, là thời kỳ mở cửa, đổi mới, hội nhập quốc tế như
ngày nay, sự kiện tham nhũng hầu như đã trở thành thường xuyên, có khi công
khai, tồn tại ở khắp mọi nơi, cũng là điều không thể phủ nhận hoặc chối cãi được,
nên thật sự rõ ràng như ban ngày, ai cũng biết, nhưng tới nay vẫn chưa dẹp được.
Nhất là báo chí đã được thoáng hơn, tự do hơn, tuy vẫn thuộc độc quyền của nhà
nước, nhưng ít ra cũng còn dám nói phần nào, hoàn toàn khác hơn trước kia, cho
nên tham nhũng cũng trở thành hiện tượng còn tồn tại tự nhiên trong xã hội, ai
cũng biết, cũng đề cập, không cần gì phải che đậy hay giấu giếm nữa. Tất nhiên
người biết rõ, đầy đủ mọi tính chất hay mức độ của tham nhũng, chính là giới
báo chí, truyền thông, bởi vì họ luôn luôn có đầy đủ mọi thông tin, và chính bản
thân giới tham nhũng, mà không phải người dân hoặc bất kỳ ai khác.
Thế
thì suy cho cùng, vấn đề hiện tượng tham nhũng là vấn đề về bản thân con người
và cơ chế xã hội mà không là gì khác. Bởi tham nhũng có nghĩa phải đi đôi với
quyền hành cá nhân và sự vận hành chung của xã hội, đó là ý nghĩa căn bản nhất.
Trong xã hội dân sự thuần túy, tất nhiên không thể có tham nhũng, bởi vì nó
hoàn toàn không có mục đích, không có phương tiện, không có cơ sở. Cho nên tham
nhũng chỉ xảy ra khi dựa vào quyền lực nhà nước, tức quyền hành xã hội hay sự vận
hành chung của xã hội, nhất là những cá nhân cụ thể có tham gia vào sự vận hành
đó hay có nắm trong tay phần nào các quyền hành đó. Điều này có thể đúng đối với
bất kỳ công nhân viên chức nhà nước nào nếu họ thật sự có ý thức tiêu cực, tức
có ý muốn tham nhũng, và có điều kiện, vì những lợi ích riêng. Điều đó cũng có
nghĩa những cá nhân như thế thì bất chấp pháp luật, bất chấp đạo đức, bất chấp
lương tâm xã hội, bất chấp sĩ diện hay mọi giá trị tốt đẹp của bản thân mình, họ
chỉ cần có được hoặc chạy theo các lợi lộc vật chất trước mắt, sẳn sang dẫm lên
trên xã hội, dẫm lên trên điều chân chính và sự công bằng, cũng như dẫm lên
trên mọi quyền lợi chính đáng, tự nhiên của những người khác, trong đó tất
nhiên trước hết là những người đồng bào của họ. Đó mới là ý nghĩa chính, còn xảy
ra ở đâu, lúc nào, trường hợp ra sao, quy mô và cấp bậc khác nhau cụ thể, chỉ
là các yếu tố về không gian, thời gian, các điều kiện và tính chất cụ thể khi sự
kiện xảy đến.
Cho
nên tham nhũng thật sự cũng chỉ là một thứ bệnh, nhưng đây là bệnh xã hội, mặc
dầu chủ yếu nó chỉ có thể xảy ra trong cơ quan nhà nước, cho dù ở cấp bậc nào,
kể cả ở cấp thấp nhất là cấp thừa hành hoặc địa phương. Nhưng mọi thứ bệnh dưới
gầm trời này, trừ những bệnh nan y khó trị, còn mọi bệnh thông thường, thật ra
đều có cách để trị được cả, vấn đề là có biết cách trị, có muốn trị, và việc chẩn
đoán, trị liệu có thật sự hiệu quả và đạt đến thành công hay không thôi. Điều này
hỏi bất kỳ thầy thuốc chuyên khoa nào về ý học họ đều trả lời được, cũng như hỏi
bất kỳ các thầy thuốc về những bệnh xã hội nào, họ cũng đều có thể thấy được hoặc
chỉ ra các cách thức được. Có nghĩa liệu pháp chính yếu ở đây là liệu pháp về ý
thức con người và liệu pháp về cơ chế xã hội, hay sự vận hành của pháp chế nhà
nước, tức liệu pháp về cơ chế, như mọi người vẫn nói, mà không phải gì khác. Liệu
pháp ý thức trước hết phải là liệu pháp về sự tự giác và về giáo dục. Còn liệu
pháp cơ chế chính là liệu pháp thông thoáng, dân chủ, trọng luật mà không thể
trọng gì khác. Rõ ràng cả hai liệu pháp này phải đi cùng với nhau, bởi vì liệu
pháp này làm điều kiện, hỗ trợ, tăng cường, mang lại kết quả cho liệu pháp kia
cũng như ngược lại. Nói điều này có thể có người cho là cách nói lòng vòng, vô
bổ, lý thuyết, nhưng thực tế nó không thể nào có cách khác hơn như vậy, có
nghĩa nó chỉ có thể là một giải pháp tổng thể, cần thực hiện đồng bộ, rập ràng,
như một sự tổng duyệt mà không thể có cách khác.
Thông
thường tâm lý con ông cháu cha, tâm lý đặt người theo dây mơ rễ má, là ý nghĩa
phổ biến chung ở con người, hay ít ra cũng là thói quen thường gặp của người Việt
Nam nói chung, đây là thói rất xấu, rất tai hại cho xã hội, mà phần lớn nhiều
người phớt lờ, không ý thức, hay coi như chuyện nhỏ. Đây là tâm lý công thần,
tâm lý tự bảo vệ, tâm lý thủ lợi cá nhân, mà nó có từ đầu ngay khi một nhà nước
còn phôi thai, như đưa những người vào chính quyền, đưa con em du học, tự phân
phối các quyền lợi cần thiết nào đó cho bản thân, cho phe cánh, cho các đồng đội
của mình ưu tiên trước nhất, thay vì chỉ nghĩ đến sự công bằng chung, ích lợi
chung, tình người và ý nghĩa về tài năng trong xã hội. Mục đích của sự củng cố
thế lực, bảo đảm sự tồn tại và sự thành công, chiến thắng, cho dù mục đích của
tất cả mọi điều đó là gì, cũng là sự châm ngòi vô hình chung cho mọi tia lửa nhỏ,
mọi mọi vết xe đổ, mọi sự bột phát, cũng như mọi hiện tượng xã hội bất trị về
sau này. Ngày xưa, trong các chế độ quân chủ vững mạnh, tính cách thi cử để chọn
người, tính cách sàn lọc để dùng người thường tỏ ra có ý thức và nghiêm chỉnh,
đó chính là ý nghĩa của những thực tế xã hội tốt đẹp và lành mạnh, ít ra cũng
là trong những điều kiện khách quan của chính xã hội đó. Đó là chưa nói đến
chính sách đào tạo, giáo dục, luôn luôn là chính sách vì xã hội, tức quốc kế
dân sinh là chính, mà không phải vì những mục đích đặc thù chính trị nào cả, thậm
chí không phải vì mục đích ý thức hệ như vốn xảy ra ở một số nước trong xã hội
hiện đại và trong ý nghĩa hiểu theo từ ngữ hiện đại.
Thế
thỉ rõ ràng khi một nền giáo dục mang ý nghĩa giáo dục giả tạo hoặc phiến diện,
sẽ dẫn đến kết quả là đào tạo ra những con người giả tạo, phiến diện là điều tất
yếu, tự nhiên, không thể nào tránh khỏi. Tất nhiên đây là nói chung, là tính
khái quát hóa, mặc dầu trong thực tế có khi không tuyệt đối hoặc hoàn toàn như
vậy, nhưng dù sao đó cũng là điều cơ bản. Bởi vì, đôi khi mỗi cá nhân còn có cá
tính, còn truyền thông, nền nếp, giáo dục gia đình phụ trợ vào, do sự tự ý thức
của bản thân, nên không phải hoàn toàn chịu khuôn đúc của xã hội, nhưng cơ bản
ý nghĩa giáo dục của xã hội là không thể tránh khỏi. Nói thẳng thừng ra, khi
giáo dục ý thức hệ được coi là căn bản, nhưng nếu ý thức hệ đó là không thực tế,
không hội đủ bản chất khoa học, hay chỉ mang tính cách giả tạo, tất nhiên toàn
bộ guồng máy đào tạo đó về mọi phương diện cũng đều thành giả tạo, và ý nghĩa đầu
ra của nó, tức những con người cụ thể đào tạo ra, phần lớn cũng chỉ là giả tạo.
Ý nghĩa hay giá trị sống của mỗi con người phần lớn là tự tin vào bản thân
mình, tin vào người khác, tin vào xã hội, tức tin vào những ý nghĩa, những giá
trị, những điều đúng khách quan, điều đó tạo cho họ có nền nếp, có quy củ, có mục
đích đúng đắn và giá trị thực sự trong đời sống về mọi mặt, mọi phương diện,
nhưng ngược lại, nếu ý nghĩa thật sự không phải là như thế, tất nhiên mọi kết
quả sẽ là ngược lại. Điều này có nghĩa giáo dục, truyền đạt hay đào tạo phải
luôn thật sự đi vào chiều sâu, vào sự tự ý thức, sự tự chủ và độc lập, nếu nó
chỉ dừng lại thuần túy như là công cụ tạo nên các phương tiện bề ngoài và nông
cạn, tất nhiên thức tế là sai lầm và phản hiệu dụng.
Đó
là ý nghĩa của việc con người tạo thành cơ chế, và cơ chế tạo ra con người, là
một vấn đề hết sức nghiêm trọng của một xã hội mà rất ít người quan tâm hay nhận
thức ra được. Do đó, mọi điều gì đều có khởi điểm, và mọi sự khởi đầu nan chính
là như thế. Bởi lịch sử trong thực tế là một dòng tồn tục, quá khứ, hiện tại,
tương lai thật sự không tách rời nhau, nên mọi cái gì trong hiện tại vốn bắt
nguồn từ quá khứ, và là điều kiện của tương lai, là điều hoàn toàn chắc chắn. Bởi
thế, muốn giải quyết mọi vấn đề gì, trước hết luôn phải cần nghiêm túc, khách
quan nhận chân chính ý nghĩa của vấn đề, có như thế mới tìm được lối ra, tìm được
giải pháp, nếu không cũng chỉ giống như con thằn lằn tự cắn đuôi, như con giun
tự khoanh tròn lại, chẳng bao giờ tiến tới đâu hay mang lại được những kết quả
gì thật sự lớn lao hoặc kết quả cả. Chẳng hạn, ý nghĩa yêu con người, yêu xã hội,
yêu đạo đức, kể cả yêu nước vẫn luôn là sự tự ý thức, sự lắng đọng về chiều
sâu, là thứ tình cảm được trải nghiệm tự nhiên, không thể chỉ là những công thức
bề ngoài hời hợt, giả tạo, thậm chí giả dối, cứng nhắc, vô bổ, thì thật sự chẳng
làm nên những con người có ý nghĩa hay có giá trị đích thực nào hết. Đó là kiểu
yêu đồng bào, yêu nước theo các công thức chính trị, theo các khẩu hiệu ngắn
ngày, theo các mùa vụ luôn luôn biến chuyển theo thời vụ hay theo năm tháng, đó
là điều mà toàn thể xã hội hay tất cả mọi người ngày nay đều thấy rất rõ. Thậm
chí có người còn nham nhở nói yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội, một cách nói
trơ tráo theo kiểu vô ý thức, vô trách nhiệm đối với dân tộc, đất nước, và vô
giá trị, bởi nếu thế trước khi có chủ nghĩa xã hội thì người ta không yêu nước,
hay ở những nơi không có chủ nghĩa xã hội chắc mọi người đều không yêu nước.
Cho nên mọi sự áp đặt giả tạo đều không thể tạo nên những con người thật, mà xã
hội ít có những con người thật thì xã hội có nhiều tiêu cực và nhiều tham nhũng
là điều chắc chắn.
Nói
khác đi, cái hướng dẫn con người quan trọng nhất chính là các tình cảm trong
sáng, vô tư, chân thật. Ngoài điều đó ra là ý thức tự chủ, độc lập, là lương
tâm và trách nhiệm. Cuối cùng là tình yêu đồng loại, yêu con người, yêu xã hội,
và nói cụ thể là lòng yêu nước chân thật nhất, mà điều đó thật sự không gì khác
hơn là muốn xã hội phát triển, muốn đất nước đi lên, muốn mọi người hạnh phúc,
tất nhiên cũng sẽ hạn chế rất nhiều tham nhũng, hoặc ít nhất cũng rất khó, hay
rất ít điều kiện cho tham nhũng tồn tại và phát triển. Bởi vì tại sao ? Vì khi
anh đi làm nhiệm vụ công quyền, một thì đó là một nghề nghiệp chân chính, hai
thì đó là nghĩa vụ, trách nhiệm đối với xã hội, đối với mọi người. Anh đã được
nuôi ăn, lãnh lương, anh phải có trách nhiệm đối với mọi người, với xã hội, tại
sao anh lại tham nhũng ? Bởi tham nhũng là gì, một là anh bòn rút, ăn cắp của
công, là điều hoàn toàn phi đạo đức và không chính đáng. Hai là anh lợi dụng chức
quyền để sách nhiễu dân, làm phiền hà để móc túi tiền của dân, tức cũng là một
hành động ăn cướp công khai giữa ban ngày ban mặt, hành động hại xã hội và hại
người khác mà chính anh bất chấp hay trơ trẽn dây vào. Ba là anh lợi dụng quyền
hành, thế lực để tùy tiện phân phối những quyền lợi chung nào đó cho các cá
nhân riêng một cách không hợp pháp, không chính đáng để nhằm thủ lợi. Và đây
chính là hình thức tham nhũng trầm trọng nhất, tệ hại nhất, nguy hiểm nhất mà mọi
người đều rõ. Bởi vì nó chính là sự lũng đoạn nhà nước, lũng đoạn xã hội, lũng
đoạn pháp luật, vì nó tạo nên những sự bất công ghê gớm nhất trong xã hội, nó
làm đảo lộn mọi trật tự kinh tế tự nhiên, lành mạnh trong xã hội, tạo nên nền
kinh tế què quặt, ốm yếu, tạo nên những sự phung phí và xa xí, tạo nên mọi sự
giàu nghèo chênh lệch một cách quá đáng, phi pháp, đồng thời kéo theo tất cả mọi
hậu quả, hệ lụy khôn lường khác mà tất cả mọi người hay toàn thể xã hội đều phải
gánh chịu.
Như
thế có nghĩa tham nhũng luôn đi đối với quyền hành và cơ chế, nếu quyền hành và
cơ chế đó là không lãnh mạnh. Quyền hành không lành mạnh là khi quyền hành được
sử dụng phi pháp, sai trái bởi các đầu óc không lành mạnh, tức các ý thức tiêu
cực, sự kém hiểu biết, kém năng lực, trình độ văn hóa thấp, không nhận thức được
hết mọi ý nghĩa nhân văn, ý nghĩa đạo đức, và ý nghĩa xã hội. Do vậy, mọi cá
nhân tham nhũng thực chất đều là những kẻ bất xứng, những kẻ tồi bại, tệ hại nhất
về mặt xã hội. Tất nhiên, những kẻ như thế thì nhất thiết không thể đảm đương
được những chức vụ, nhất là những chức vụ cao hay quan trọng trong guồng máy
công quyền, nên điều đó nếu nó thật sự vẫn xảy ra, là do lỗi của cơ chế, của
pháp luật. Thực tế, nhiều người vẫn hiểu cơ chế và pháp luật như hai điều khác
nhau, có khi không ăn nhập với nhau, nhưng thực chất cả hai chỉ là một. Bởi cơ
chế đây là cơ chế điều hành chung, tức bản thân nó đã là pháp luật, đã tham dự
vào hay là thành phần của pháp luật. Thế nhưng pháp luật là gì, pháp luật lại
do những người nắm quyền quyết định trong chính cơ chế đó tạo nên, nên có nghĩa
pháp luật không thể lành mạnh nếu cơ chế không lành mạnh hoặc ngược lại. Bởi vậy,
cũng có thể nói chỉ có cơ chế dân chủ, tự do thật sự mới là cơ chế lành mạnh
trong xã hội, bởi vì nó do chính người dân, hay toàn dân kiểm soát. Ngược lại,
mọi cơ chế không lành mạnh trong xã hội chính là những cơ chế độc đoán, độc tài
nào đó, bởi vì nó chỉ do cá nhân, một số các cá nhân, hay những tập hợp hoặc
thành phần nào đó của xã hội kiểm soát mà không phải là toàn dân.
Tất
nhiên không có cơ chế nào là tuyệt đối lý tưởng hoặc hoàn chỉnh trong xã hội.
Nhưng điều đáng nói ở đây chính là ý nghĩa nguyên lý hay nguyên tắc mà không phải
chỉ là ý nghĩa thực tế. Một thực tế nào đó có thể tốt theo cách nhất thời, tạm
bợ, không bền vững, không cơ bản, nhưng nếu nguyên lý là khách quan đúng, thì
chắc chắn bao giờ cũng phải tốt đẹp, phải đúng, cho dung trong thực tế đôi khi
có thể xảy ra những điều lệch lạc nhất thời, đặc thù nào đó. Ngay như nguyên tắc
chọn người cũng vậy, sử dụng nguyên tắc đúng, vẫn có thể chọn người sai, đó là
trách nhiệm hay ý nghĩa bản thân của chính cá nhân đó, còn nguyên tắc chọn người
đúng, công bằng, khách quan, khoa học, chỉ luôn luôn vì công ích, thì bao giờ
nguyên tắc này cũng hiệu quả, cũng tốt đẹp về chính mặt bản thân của nó. Đã từ
lâu, trong một vài xã hội nào đó, người ta có nguyên tắc chọn người hồng hơn
chuyên. Đó thật sự là sự nhầm lẫn hay có thể nói là tính chất tệ hại về mặt xã
hội. Bởi vì thực tế xã hội tự nó là không có màu sắc, vì bất cứ màu nào cũng đều
chỉ là chủ quan, thế mà anh muốn áp đặt màu hồng lên toàn xã hội, thực chất
chính anh là chủ quan, cho dầu anh tự mệnh danh là chân lý khách quan, duy nhất,
tuyệt đối đúng, hoặc lý tưởng gì gì đó chăng nữa, thì thực tế xã hội và lịch sử
ngày này cho thấy nó hoàn toàn không đúng. Cho nên tính cách chuyên là ý nghĩa
muôn đời của xã hội, bất kỳ xã hội nào, quốc gia nào, đất nước nào, thời đại
nào cũng vậy. Chuyên tức là có trình độ, có nhận thức, có chuyên môn, có ý thức,
có khả năng để phục vụ trong các ngành nghề, trong quản lý, trong bộ máy công
quyền hay hành chánh của quốc gia, thì nó mới thật sự bổ ích và hiệu quả.
Chuyên như vậy cần phải được đào tạo thuần túy thật chuyên, đó là tính chất
công bằng, khách quan, mà mọi người đều phải có cơ hội tham dự. Đằng này chỉ
đào tạo theo hồng, hoặc theo màu sắc nào đó, thì thật sự là bất công, là chủ
quan, làm bế tắt mọi cơ hội thăng tiến và bình đẳng của tất cả mọi người, là
coi thường xã hội, là phản xã hội, sẽ dẫn đến mọi sự nghịch lý, mọi giả tạo, kể
cả những tính chất tiêu cực hay mọi hình thức quyền thần, con ông cháu cha nào
đó.
Vậy
nên, tham nhũng không phải là không có cách trị, nhưng thực chất trong ý thức
có muốn trị hay không hoặc chỉ muốn sống chung với nó, có phương pháp trị hiệu
quả hay không, có quyết chí đến cùng trị hay không, lại là chuyện khác. Thực chất,
chỉ có những người nào tự trong ý thức hoàn toàn lành mạnh, không hề có chút tà
ý tham nhũng nào mới có thể có khả năng hay mục đích trị tham nhũng. Tất nhiên
họ phải cần có sức mạnh của ý thức, của ý chí riêng, cũng như cần phải có sức hậu
thuẫn của xã hội. Không có những thứ đó, họ cũng chỉ hoàn toàn vô phương. Còn
những kẻ có ý thức tham nhũng, có mục đích tham nhũng, hay thiếu ý chí hoặc lý
tưởng trị tham nhũng mà lại hô hào trị tham nhũng thật ra đều là những kẻ giả dối,
kiểu vừa ăn cướp vừa la làng, chỉ làm thật giả khó phân, làm nhiễu thêm xã hội
mà không ích lợi gì. Cho nên, dân thấp cổ bé miệng thì lấy gì trị tham nhũng,
chẳng qua chỉ có thể nuôi tham nhũng hay sống chung với tham nhũng. Còn những
cán bộ cấp trung, cũng lấy gì mà trị tham nhũng, bởi vì chính họ cũng chỉ là sản
phẩm hoặc phải chịu mọi sự khống chế của cấp cao hơn. Vậy trị tham nhũng với kết
quả thật lòng chỉ có thể là những người, những tầng lớp cầm quyền cao nhất của
một xã hội, một đất nước, một nhà nước, mà không thể ai vào đó khác. Tất nhiên,
ngay cả họ muốn làm được việc, với quyết tâm thật sự, cũng phải dựa vào sự hẫu
thuẫn, hỗ trợ nào đó, mà không thể nào đơn thương độc mã. Sức mạnh đó không gì
ngoài năng quyền của báo chí và năng quyền dư luận cũng như sự kiểm tra, giám
sát của toàn dân, nếu chúng được đích thực tôn trọng và được vận dụng đến. Bởi
trị tham nhũng phải trị công khai, trị lén lút, âm thầm, kiểu xử lý nội bộ, thì
không thể gọi là trị được. Có nghĩa trị tham nhũng giống như một lực lượng
mafia hùng mạnh, có vòi bạch tuột cắm vào ở khắp nơi, cứ cho là như thế, hay giả
định như vậy, cần phải có cả sách lược của quốc gia, có các giải pháp khoa học,
hữu hiệu thực tế, mà không phải chỉ nói suông hoặc lý thuyết suông theo cách cảm
tính, như kiểu vấn kế hay “dâng” kế sách của mọi người trong bàng dân thiên hạ
được.
Nói
tóm lại, trị tham nhũng, lành mạnh hóa xã hội, chính là điều kiện nhất thiết và
cơ bản nhất để đưa đất nước, quốc gia tiến lên và phát triển. Bởi vì tham nhũng
cũng giống như một đống bùn, trong đống bùn thì xe chỉ có thể mắc lầy, sa lún,
chậm chạp, mà không thể nào tiến lên hay chạy nhanh cho được. Như vậy, chống
tham nhũng cũng có nghĩa là yêu nước thật sự. Nhưng thế nào là yêu nước thật sự
và yêu nước giả đò lại là chuyện khác(1).
Bởi vì điều này thì chính mỗi người liên quan trong thâm tâm tự biết, nhiều lắm
là những người có quan hệ trực tiếp về những mặt nào đó, hoặc có đủ mọi thông
tin khách quan mới có thể biết, còn mọi người khác cũng hoàn toàn đành chịu. Do
đó, yêu nước, yêu xã hội, yêu con người hay không chẳng qua chỉ là cái tâm của
mỗi người, không thể chỉ là những lời nói suông, những khẩu hiệu rỗng tuếch, giả
tạo, hay chỉ là những hình thức thể hiện thiếu trung thực, bề ngoài. Có nghĩa sự
tự chuyển hướng của mỗi người cũng là sự chuyển hướng chung của cơ chế, của
pháp luật, của xã hội. Đó trước hết là sự tự ý thức, tự giác, sự liên kết lành
mạnh của tất cả mọi người. Bởi vì pháp luật lành mạnh không gì khác hơn do mọi
công dân đích thật thật sự tạo nên, xã hội lành mạnh không gì hơn là mọi con
người lành mạnh hay đa phần những con người lành mạnh tạo nên, đó chính là những
công dân đích thực, cho dù họ ở địa vị, hoàn cảnh thế nào, là những người yêu
nước, yêu xã hội thực sự, mà không phải chỉ là những ngôn ngữ bề ngoài, cộng
thêm phải là một cơ chế nhà nước, cơ chế xã hội mang tính dân chủ đúng nghĩa,
khách quan, và tất nhiên là hiệu quả thật sự.
VÕ
HƯNG THANH
(21/02/2011)
**
THẾ
NÀO LÀ MỘT NỀN CHÍNH TRỊ TOÀN DÂN
Nền
chính trị toàn dân là nền chính trị chân chính trong điều kiện hiện đại mà bất
kỳ quốc gia, dân tộc nào đều có quyền đòi hỏi. Xưa kia, trong thời phong kiến
và quân chủ, nền chính trị không phải là nền chính trị toàn dân, mà chỉ là nền
chính trị của một thiểu số tầng lớp cai trị, tức bọn lãnh chúa hay vua quan tùy
theo từng thời đại. Vua là người đứng đầu trong một nước, theo cách thức cha
truyền con nối, hay những khi triều đình hổn loạn, chính quyền thần dựng lên một
người để làm vua, đúng hơn để làm vì, hoặc có khi cả triều đình, tức quần thần
tại triều cùng họp nhau lại để chọn người lên ngôi, nếu vì lẽ gì đó vua không
thể truyền ngôi một cách thông thường và chính thức được. Trường hợp Việt Nam ở
cuối triều Nguyễn chính là một trường hợp như thế.
Nhưng
đáng nói nhất là những thời mất nước. Có khi vua chỉ đứng hư danh, còn thực chất
quyền lực nằm trong tay nước ngoài. Trong thời kỳ cận đại, đó là trường hợp Việt
Nam chịu sự bảo hộ của nước Pháp. Khi ấy người thực chất đứng đầu cả nước là một
người mắt xanh mũi lỏ, chính là viên Thống sứ người Pháp. Xã hội Việt Nam vẫn tồn
tại, nhưng đó là sự trong tại sự bảo hộ của nước ngoài, hay vua Việt Nam chỉ có
quyền đứng đầu nền hành chánh trị an trong nước, tức quyền quản lý triều đình
theo cách nội bộ, còn mọi quyết định chung hoặc tối cao của quốc gia, đất nước
đều thuộc về người Pháp. Triều đình khi đó chẳng qua chỉ là thứ triều đình bỏ
túi, tức bỏ trong túi người Pháp, vua và quần thần chỉ còn quyền bổ nhiệm quan
lại cho guồng máy điều hành các địa phương, các cơ quan không mấy quan trọng,
còn mọi sự cai quản tối cao tất nhiên không thể ra ngoài quyền lực của chính
viên Công sứ hay Khâm sứ do chính nước Pháp bổ nhiệm.
Điều
đó có nghĩa là gì, là mọi người trong nước đều có quyền làm ăn, sinh sống,
nhưng thật sự họ đều mất hết quyền công dân. Tức họ vẫn sống như con người,
nhưng là con người xã hội mà không phải con người chính trị. Họ sống như con
người, vì mục đích người Pháp tới là để “khai hóa”, tức mang nền “văn minh” cao
hơn đến cho họ. Họ mất quyền công dân bởi vì họ cần được khai hóa, tức người
Pháp phải “lãnh đạo” họ, còn họ thì không có quyền đòi hỏi gì cả. Có nghĩa người
Pháp có các năng lực tối ưu hơn họ, chỉ huy và lo cho họ trong chính bản thân của
chế độ thực dân. Người dân chỉ có quyền sống, làm ăn, kể cả làm giàu được nếu
muốn và có khả năng, không ai cấm, và đặc biệt là đóng thuế để nuôi bộ máy công
quyền của người Pháp là đủ, còn ngoài ra không có quyền quyết định về mọi vấn đề
gì khác. Đấy quyền công dân nó quan trọng như thế đó. Điều này cũng chẳng khác
gì khi nước ta trong thời kỳ Bắc thuộc, khi đó không phải là viên Công sứ nhưng
là viên Thái thú, đại diện cho “Thiên triều” để điều hành tất cả. Theo ý nghĩa
đó, mất quyền công dân hay không có quyền công dân cũng như không có quyền độc
lập, tự chủ, người ta chỉ sống gửi, ở nhờ trên chính đất nước của mình, vì mình
hoàn toàn không có quyền làm chủ, không có quyền quyết định.
Vậy
nên ý nghĩa của dân chủ đúng nghĩa thật sự hoàn toàn khác với ý nghĩa của quân
chủ hay ý nghĩa khi đất nước bị mất quyền độc lập, tự chủ do nạn ngoại xâm.
Chính ý nghĩa của quyền công dân quan trọng như thế, nên trong một bài viết trước,
khái niệm quyền công dân được cho đi liền hay gắn vào với ý nghĩa công quyền, bởi
vì chính quyền công dân của mọi người liên kết lại tạo thành công quyền mà
không là gì khác. Ví thử bây giờ cứ loại bỏ dần đi từng công dân một, cuối cùng
không có công dân nào nữa, tất nhiên công quyền cũng bất thành. Điều này có
nghĩa mọi người dân sinh ra đều bình đẳng, đều ngang hàng nhau, nên về nguyên tắc
không thể nào có việc những người này đương nhiên “lãnh đạo” nhưng người kia,
mà thật sự chỉ có thể có sự ủy quyền. Có nghĩa mọi người đều có quyền ra làm việc
nước, tùy tài trí, đức độ và năng lực của mình. Nhưng không phải ai ai cũng muốn
như vậy, nên phần lớn cần ủy quyền cho một số người nào đó xét ra có ý muốn,
thiện chí và thích hợp để gánh vác nhiệm vụ, đó chính là nguyên tắc tự do ứng cử,
bầu cử để chọn những người cần thiết và xứng đáng. Nguyên tắc bầu Quốc hội Lập
hiến tự do, bầu Quốc hội Lập pháp tự do, bầu người đứng đầu làm Nguyên thủ Quốc
gia, đều không đi ra ngoài các ý nghĩa như thế.
Bởi
vậy trong các đất nước tiên tiến, không bất kỳ đảng chính trị nào là đảng duy
nhất có quyền giới thiệu người của mình ra để toàn dân chọn bầu, mà phải là sự ứng
cử tự do và sự lựa chọn, bầu bán thật sự tự do của mọi người dân. Vì nếu không,
có khác gì một mình một chợ, tự biên tự diễn một vở kịch chưa chắc đã ai thấy hấp
dẫn hoặc thú vị gì. Lý do vì sao, vì mọi đất nước trên thế gian này đều do tiền
nhân của họ để lại. Nó cũng giống như tài sản của ông cha để lại trong mỗi gia
đình đều là của chung của con cái. Tất nhiên, về mặt luật pháp mà nói, cha mẹ
có quyền làm di chúc để lại cho con, cho đứa nào là tùy ý nguyện của mình,
nhưng đó phải là tài sản do chính cha mẹ làm ra. Nên nếu trong đó có phần nào
riêng của đứa con nào, nhất thiết đều phải trừ ra. Còn nếu đó là tài sản chung
của các con tự làm lấy, hiển nhiên cha mẹ cũng không thể có quyền hạn gì. Khi
cha mẹ không để lại di chúc, tất nhiên tài sản thừa kế buộc phải chia đều cho
các con, đó là luật quy định, và pháp luật nào cũng vậy. Đó thật sự cũng là quyền
công dân, quyền di sản thừa kế đất nước của tất cả mọi người, không thể ai là
công dân đặc quyền hoặc đặc lợi, hay không thể ai hoàn toàn là công dân thứ cấp,
là phó thường dân, tức bị các người anh em khác tướt đoạt hết mọi quyền công
dân.
Trong
xã hội không thể bao giờ có cảnh một mình một chợ. Đó là điều không thực tế và
cũng không thể bất kỳ ai chấp nhận được. Tất cả mọi người trên thế gian này, dù
người hạn chế nhận thức đến mấy cũng chỉ là những người thiếu tri thức về một
điều gì đó, thiếu thông tin về các điều gì đó, nhưng không ai không có nhận thức
được về sự đúng sai, phải trái. Việc này chỉ trừ ra những người cố tình phạm
pháp hình sự, tức bất chấp mọi điều hay lẽ phải để đi cướp giật, trộm cắp hoặc
cưỡng đoạt các quyền tài sản riêng của người khác. Đó không những là sự phạm
pháp mà còn phạm vào cả lẽ công bằng. Cho nên về mặt xã hội chính trị, quyền
công dân cũng giống như thế. Quyền công dân không những là quyền hữu hình, vật
chất, mà còn là quyền danh giá, vô hình, quyền lợi tinh thần, nhân cách của tất
cả mọi người. Bởi khi vô hình chung bị tướt đoạt ngoài ý muốn quyền công dân của
mình ở những khía cạnh hay phương diện nào đó, cũng có nghĩa là giá trị, danh dự,
nhân cách cũng như quyền lợi của mình bị xâm phạm. Tức mình bị cưỡng đoạt ngoài
ý muốn điều gì đó mà mình không cho phép hay chấp nhận. Bị động theo người
khác, không chống lại được người khác một cách bất công, không tự nguyện, đó
chính mình bị đánh mất hay để người khác xâm hại đến chính phẩm giá riêng của
mình. Đây là ý nghĩa rất nghiêm trọng mà không phải chỉ đơn giản hoặc nhẹ nhàng
như nhiều người thường nghĩ.
Quyền
công dân thật sự cũng chẳng khác gì người có tiền trong túi. Người trong túi có
tiền mà mình chưa xài đến, không xài đến hoàn toàn khác hẳn với người trong túi
không có tiền. Bởi vậy quyền công dân cũng chứng tỏ quyền bình đẳng, quyền dân
chủ, quyền tự do của tất cả mọi người, dầu có khi có nhiều người không hay dùng
đến chỉ vì những lý do riêng này hay lý do riêng khác. Ngay cả những người xuất
gia tu đạo thì quyền công dân của họ cũng không hề mất, chỉ trừ ra có những người
mất trí, những người thiểu năng hoặc những người còn bị thành niên. Đấy, quyền
pháp lý, quyền xã hội, và quyền chính trị nó luôn luôn rõ ràng, minh bạch như
thế. Trong tất cả ba quyền này thì quyền chính trị lại là ý nghĩa cao nhất và
quyết định nhất. Bởi không ai thường giành quyền pháp lý, trừ ra những người có
nghĩa vụ giám hộ, những người đang tranh chấp với nhau về một điều gì đó. Cũng
chẳng ai giành quyền xã hội, bởi quyền xã hội luôn luôn là lẽ đương nhiên, nhất
là nó còn có quyền pháp lý đứng sau và hậu thuẫn nó. Song giành quyền chính trị
vẫn là điều hay thường thấy trong xã hội loài người. Trường hợp mất nước là trường
hợp bị mất quyền chính trị. Nhưng mất quyền chính trị cũng sẽ dần dần dẫn đến
việc mất mọi quyền khác, cho nên người ta luôn luôn không để cho mất nước, tức
là mất quyền chính trị là vì thế. Nhưng mất nước là mất quyền chính trị về tay
ngoại xâm, nhưng nếu trong nước mà bị mất quyền chính trị, thật sự cũng chẳng
khác nào mất quyền chính trị vào nạn nội xâm.
Tất
cả những điều đó, nếu người bình dân, người lao động có khi chưa đủ trình độ,
năng lực để hiểu, thì mọi người có hiểu biết hơn, những người trí thức có nghĩa
vụ phải so sáng, giúp đỡ họ. Bởi nếu không kẻ vạch ra rõ ràng như thế, để họ tự
coi thường quyền công dân, quyền chính trị của mình, tự họ đánh mất đi chính ý
nghĩa, giá trị và các quyền hạn của mình, khi đó không phải chỉ họ mới chịu thiệt
thòi, mà thật ra mọi người khác cũng như xã hội đều phải chịu thiệt thòi, trừ
ra những người phớt lờ, coi thường, hay bất chấp mọi quyền lợi công dân, mọi
quyền lợi chính trị chính đáng và cần thiết của họ. Thế cho nên trong xã hội
không thể bất kỳ ai, tức cá nhân hay nhóm hoặc tập thể nào, có thể nhân danh bất
cứ điều gì để tự cho mình có quyền ăn trên ngồi trước, có quyền lèo lái, hướng
dẫn hoặc “lãnh đạo” người khác. Con người chỉ hơn thua nhau là do đức tính, do
năng lực hiểu biết, tri thức, do tài năng hoạt động tùy theo lãnh vực, mà không
phải hơn thua nhau về bất kỳ điều gì do tự mình cảm thấy hay do tự mình muốn
nhân danh lấy. Sự bình đẳng giữa tất cả mọi người đó chính là nguyên lý tiên
quyết và tuyệt đối nhất. Không bất kỳ ai có quyền gì hay có bất kỳ lý do gì để
xâm hại hay công phá được chính nguyên tắc này. Bởi bình đẳng đây là bình đẳng
về mặt ý thức và ý nghĩa cũng như giá trị tinh thần, nó không những là nguyên
lý làm người, nguyên lý xã hội, mà kể cả nguyên lý pháp luật nói chung.
Do
đó, trong trường hợp đất nước bị ngoại xâm hay bị nạn nhiễu nhương xã hội, những
lực lượng nào đó, dù các cá nhân bình thường hay các đảng phái nói chung, nếu
có năng lực để đứng gia giải quyết tình thế và mang lại được chủ quyền đất nước
hay trật tự xã hội lại cho mọi người, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào hay đất nước
nào, đều cũng phải tìm mọi cách giao phó lại một cách thật sự hiệu quả cho toàn
dân, toàn xã hội mà không thể chỉ tiếp tục nắm giữ để làm của riêng. Bởi vì, nếu
như thế, cũng chẳng khác gì người dân tránh vỏ dưa lại gặp phải vỏ dừa, và cũng
thật sự hoàn toàn vô nghĩa. Đó chính là lý do công quyền là quyền của tất cả mọi
người, quyền chung của toàn xã hội, mà không phải quyền riêng của bất kỳ cá
nhân, các nhóm nhỏ, hay các thành phần thiểu số nào nói chung trong toàn thể xã
hội. Mà công quyền tiêu biểu nhất chính là quyền chính trị như đã nói trên mà
không là gì khác. Khi thấy được như thế, tất nhiên mọi người cũng đều hiểu được
rằng nền chính trị chính đáng phải là nền chính trị của toàn dân mà không phải
chỉ là nền chính trị của bất kỳ những nhóm thiểu số, hay bất kỳ của những bộ phận
xã hội nào. Chính trị toàn dân có nghĩa là chính trị toàn dân làm chủ hay chính
trị nhân dân làm chủ. Đây phải là một ý nghĩa khách quan thật sự, mà không phải
chỉ là một câu thiệu, một khẩu hiệu hoàn toàn hình thức, một cái bãnh vẽ tuyên
truyền mà mọi người chỉ có thể nghe thấy, nhưng không bao giờ nhìn thấy thật
hay ăn được thật.
Điều
đó cũng chẳng khác gì có một nhóm người dẫn anh đến trước một khách sạn, nhóm
người đó bảo chính anh là chủ khách sạn đó, khá chớ vội mừng. Bởi vì anh không
phải là Ban quản lý, cũng không ở trong Ban quản lý khách sạn, cũng không phải
là người chỉ đạo điều hành Ban quản lý đó, thế thì anh làm chủ ra sao. Chỉ cần
vào đến cửa, không có tiền đặt phòng, người ta đã vội vàng tống anh ra ngay,
đâu có thể nào dễ dàng để anh thanh minh hay chứng tỏ được về quyền làm chủ. Thế
nên trong nhân gian, phần lớn các danh từ đều không thể hiện được điều gì xác
đáng cả nếu điều đó hoàn toàn không có cơ sở. Có nghĩa cái cơ sở khách quan, hiển
nhiên mới đúng là điều thực tế, mà không phải chỉ là những ý niệm hay những
danh từ. Có nghĩa nền chính trị toàn dân phải là nền chính trị phổ biến trong
toàn dân. Điều đó trước tiên là phải tôn trọng người dân, tôn trọng toàn thể
nhân dân. Phải coi toàn dân mới chính là người chủ mà không phải mình mới là
người chủ. Người dân hay toàn thể nhân dân là tất cả mọi người, không loại trừ
ra trong đó bất cứ ai. Có nghĩa trong đó người đứng đầu trong cả nước cho đến một
người dân đen thấp cổ, bé miệng nhất, cũng đều là những người dân theo ý nghĩa
nguyên thủy nhất của nó. Đừng tưởng rằng (tuy không nói ra) chỉ mình mới là hạng
“phụ mẫu chi dân”, còn người dân, hay nhân dân nói chung, chỉ là “quần chúng
nhân dân”, tức mọi người dân đen đúng nghĩa, không quyền hành, không thế lực,
nghèo đói, có mặt ở khắp nơi. Đó chính là quan điểm “lãnh đạo”, bởi vì chỉ ta mới
có quyền “lãnh đạo”, vì quyền đó là quyền tự nhiên, không phải ta được bầu, hay
nhân dân qua phổ thông đầu phiếu mà ủy nhiệm, hoặc trao phó cho ta.
Thế
thì thời buổi hiện này, cách mạng chỉ có nghĩa là các giá trị khoa học và kỹ
thuật được đem áp dụng hiệu quả vào đời sống xã hội mà không là gì khác. Cách mạng
kiểu Lênin, kiểu Mao Trạch Đông, kiểu Kim Nhật Thành, kiểu Tito, kiểu Fidel
Castro, kể cả kiểu Pôn Pốt, Iêng Sari … thật sự ngày nay đã đi vào dĩ vãng. Bởi
vì nền kinh tế thế giới ngày nay là nền kinh tế hội nhập chung của mọi nước, nền
kinh tế toàn cầu, với kinh tế thị trường làm cơ sở, thì còn nói gì đến các “lý
tưởng”, các “mục tiêu” cách mạng của ngày xưa nữa. Các cái gọi là “ba dòng thác
cách mạng” từng một thời nổi đình nổi đám, ngày nay chỉ còn là những kịch bản tầm
thường, với kiểu cách rùm beng của những nhà học giả, những kẻ trí thức điều
đóm. Cái thời oanh liệt của những sự tuyên truyền thuần túy trên giấy và trên
microphone đó ngày nay đã thực sự tắt ngấm và đã qua lâu rồi trên toàn thế giới.
Cho nên, ngày nay là thời đại của công nghiệp và khoa học, và chính trị đúng
nghĩa cũng đã và cần phải trở thành một khoa học. Khoa học có nghĩa nó không thể
chỉ còn là những cảm thức mơ hồ nào đó, những khuynh hướng phấn đấu theo cách bản
năng ở một số thành phần nào đó trong xã hội, tức chỉ thuần túy tình cảm hay cảm
xúc chủ quan, mà nó phải thật sự là chân lý khách quan đối với tất cả mọi người,
để buộc phải nhất thiết có hiệu quả và mang lại kết quả đúng nghĩa thật sự cho
toàn thể cộng đồng xã hội.
Nền
chính trị toàn dân như vậy phải là nền chính trị hiện đại, có ý nghĩa khoa học,
có nền tảng dân chủ, tự do, quyền công dân thật sự. Tất cả những khái niệm hay
cơ sở thực tế này thật sự luôn đi liền với nhau, đòi hỏi nhau mà có, đồng thời
cũng mang lại tất cả mọi lợi ích chung. Bởi vì chính trị ngày nay thực chất
không thể tách rời với kinh tế, văn hóa, xã hội, mà tất cả đều hòa quyện nhau
và làm thành là một. Chính trị không thể phi văn hóa, đó là trường hợp chính trị
của Mao Trạch Đông và của Pôn Pôt, Yêng Sari mà mọi người đều biết. Chính trị
cũng không thể phi kinh tế, đó là trường hợp của những nền kinh tế bao cấp, từng
một thời thật sự rất dã man trong ý nghĩa xã hội mà mọi người đều rõ. Và chính
trị là khoa học, có nghĩa nó phải kết tinh của những đầu óc khoa học, là tinh
hoa của toàn xã hội, là kết quả của những công trình nghiên cứu thật sự và hoàn
toàn có giá trị, mà không phải chỉ là kiểu đấu tranh giai cấp, đấu tranh ý thức
hệ một cách dã man trong các thời kỳ cải cách ruộng đất, cải tạo tư sản, cải tạo
tập trung đối với nhiều thành phần khác nhau trong xã hội đã xảy ra trong quá
khứ ở nhiều nước trên thế giới mà ai ai cũng hiểu. Trong ý nghĩa đó, ngày nay
chỉ có một nền chính trị toàn dân mới là hoàn toàn có giá trị, cần thiết và thực
tế nhất.
Nền
chính trị toàn dân có nghĩa là nền chính trị toàn dân làm chủ, toàn dân quản lý
và toàn dân lãnh đạo. Toàn dân làm chủ có nghĩa bằng phổ thông đầu phiếu, nhân
dân tuyển lựa tự do, tự chủ các đại biểu Quốc hội để soạn thảo hiến pháp, lập
ra pháp luật, chỉ định những nhân sự cao cấp chuyên môn cho các chức năng quan
trọng của quốc gia. Đồng thời toàn dân cũng qua đó trực tiếp lựa chọn ra người
đứng đầu Nhà nước, trao quyền hay ủy quyền cho vị Nguyên thủ quốc gia đó hành xử
quyền hành pháp nói chung. Đó cũng là cách để toàn dân thật sự quản lý đất nước,
bởi vì tất cả mọi chức danh quan trọng đều phải có nhiệm kỳ, hết nhiệm kỳ thì
được toàn dân bầu lại, toàn dân ủy quyền hay ủy nhiệm lại, không có kiểu như
cha truyền con nối một cách tùy tiện, bất chấp mọi ý kiến và mọi ý chí của nhân
dân. Toàn dân lãnh đạo có nghĩa là sự lãnh đạo bằng chất xám, bằng trí thức, bằng
khoa học, không phải sự lãnh đạo theo kiểu quyền lực cá nhân hay tập thể, theo
kiểu chuyền bóng hoặc sống lâu lên lão. Bởi vì tinh hoa của dân tộc luôn luôn
thật sự chỉ nằm trong giới trí thức, những người có đức và có tài. Họ có thể xuất
thân từ bất cứ thành phần giai tầng, giai cấp hay bộ phận xã hội nào. Đó mới thật
sự là lực lượng lãnh đạo đất nước hiệu quả nhất, thành công nhất, cho dù bất kỳ
trong mọi tình huống, điều kiện hoặc hoàn cảnh nào.
Lãnh
đạo đây là lãnh đạo bằng khoa học, bằng đường lối, chính sách, bằng sách lược
phát triển quốc gia sao cho thành tựu và kết quả nhất trong thực tế, mà không
phải vì bất kỳ ý thức hệ riêng biệt hoặc bất kỳ các quyền lợi chủ quan nào. Điều
đó luôn luôn đòi hỏi khoa học phát triển, giáo dục phát triển, báo chí và truyền
thông phát triển. Bởi bằng khoa học thì phải luôn khách quan, chính xác, trung
thực, không thể chỉ bằng tuyên truyền bề ngoài hoặc giả dối. Giáo dục phát triển
thì mở mang tri thức, phát huy trí thức, nâng cao trình độ hiểu biết của toàn
dân ngang tầm thế giới một cách thật sự, mà không phải chỉ bằng các hình thức
giáo dục lạc hậu, một chiều, vết mòn, chủ quan, hay thậm chí có khi mang tính
chất ngu dân. Báo chí và truyền thông có tự do và phát triển, thì đó là quyền
thứ tư quan trọng của xã hội được phát triển. Đó chính là những chốt an toàn của
toàn xã hội. Bởi vì báo chí và truyền thông phát triển thì gây sự tin tưởng của
toàn dân. Tin tưởng đây không phải tin tưởng kiểu trẻ thơ, mù quáng vào người
nào, nhóm xã hội nào, mà tin tưởng vào chính bản thân mình, tin tưởng vào tương
lai của đất nước, tin tưởng vào đồng bào mình, và tin tưởng vào chính các quyền
hạn tự nhiên, thiết yếu của mình nói chung. Đó cũng chính là cách thức, công cụ,
biện pháp chống tham nhũng, chống tiêu cực hiệu quả và mạnh mẽ nhất, bởi vì đó
chính là những bộ thắng, những bộ cảm ứng có chức năng kiểm soát một cách tinh
vi, hiệu lực, năng động, hiệu suất và thực tế nhất.
Điều
đó cũng có nghĩa sẽ không có những lực lượng xã hội hay những đảng phái nào có
thể đứng trên xã hội, trở thành chủ nhân ông của xã hội, nhằm vận động làm ra
luật pháp theo ý hướng của mình nói riêng. Nền luật pháp lành mạnh và giá trị
nhất phải là nền luật pháp của toàn dân. Có nghĩa Quốc hội lập hiến và Quốc hội
lập pháp đều phải theo ý chí của toàn dân, mà không phải ý chí của riêng ai hoặc
ý chí của bất kỳ lực lượng hay thành phần xã hội riêng tư nào. Các đảng phái
trong xã hội nếu có đều phải là các công cụ bình đẳng vô hình chung của toàn xã
hội, không một lực lượng nào là mục đích hay toàn quyền trong xã hội. Đó chỉ là
những công cụ phục vụ nhân dân mà không phải là những lực lượng đứng đầu hoặc nắm
chóp nhân dân. Bởi chỉ có như thế chính quyền mới thật sự là chính quyền nhân
dân. Tức tất cả mọi người đều là nhân dân, không có ai là quý tộc, không có ai
là dân Tây như thời kỳ thuộc địa thực dân, không có ai là phó thường dân, bán
công dân, hay không có ai bị mất quyền công dân như trong những thời kỳ mất nước.
Đó mới thật sự là ý nghĩa tự do, bình đẳng của tất cả mọi người. Không ai được
nhân danh điều gì để có thể tự đặt mình đứng trên người khác, có quyền “lãnh đạo”,
cầm đầu người khác nếu trái với sự ủy quyền, trao quyền, ý chí, nguyện vọng, hoặc
ý muốn của họ. Đó là những điều hoàn toàn sơ đẳng và cơ bản trong mọi nền pháp
lý, pháp luật từng quốc gia tiến bộ, dân chủ, cũng như pháp luật đương nhiên
trên toàn thế giới của Cộng đồng quốc tế (1).
Nói
chung lại, một nền chính trị toàn dân là một nền chính trị thật sự danh chính
ngôn thuận, hữu lým và hiện đại nhất, mà ngày nay mọi quốc gia tiến bộ, phát
triển trên toàn thế giới, đều cần nên hướng đến. Đó cũng chính là chân lý của
thời đại, là kết quả phát triển, là thành tựu, kết quả đấu tranh qua bao thời đại
của cả lịch sử loài người. Bởi chính trị không những là điều kiện sống có tính
nhân văn của mọi người, mà còn chính là nền tảng của dân chủ, tự do và sự giải
phóng trong thực tế đối với bản thân con người trên toàn thế giới. Bởi thế,
ngay từ nhiều ngàn năm trước, Khổng tử cũng đã từng nói “Chính giả, chính giã”, tức là chính trị phải nên luôn ngay ngắn, có
danh chính ngôn thuận, mà không nên thiên lệch, mờ tối. Đó chẳng khác gì nói
chính trị phải luôn như một giá trị, một ý nghĩa, một chân lý khách quan có
tính đúng đắn, tức là một khoa học, kể cả mang tính chất công lý, tức không được
bao giờ đi ra ngoài mọi nhu cầu chính đáng, cao quý của toàn thể xã hội, tức một
nền chính trị toàn dân như trên kia chúng ta đã phân tích.
VÕ
HƯNG THANH
(19/02/2011)
**
THẾ
NÀO LÀ QUẦN CHÚNG VÀ LÃNH TỤ
Khi
xã hội bị nhiễu nhương hay bị nạn ngoại xâm, thông thường phần lớn người dân đều
phải đành cam chịu trong một thời gian dài. Không phải họ không thấy mọi điều
đó là tệ hại, là nhục nhã, không phải họ không thấy mình bị thiệt hại nhiều mặt,
nhưng họ không làm gì được, vì họ không có sức mạnh trong tay. Sức mạnh đây là
sức mạnh vũ lực hay sức mạnh pháp luật. Sức mạnh vũ lực là khí giới, vũ khí,
lương thực để đánh giặc. Sức mạnh pháp luật là sức mạnh của guồng máy cai trị,
hoặc đã bị phân tán, chia rẽ tùy tiện vào trong tay các nhóm thiểu số hổn độn,
hoặc đã hoàn toàn do nước ngoài, tức nước xâm lược chiếm giữ cai quản. Sức mạnh
luật pháp là sức mạnh xã hội, nhưng khi nào nó trở thành lợi khí của chế độ xâm
lược hoặc lợi khí riêng của những thành phần nào trong xã hội để chống lại, đi
ngược lại các quyền lợi đúng đắn của xã hội, thay vì dùng để phục vụ đúng nghĩa
xã hội, toàn thể xã hội đó cũng phải tạm thời đành chịu.
Đó
là tình trạng của xã hội nước ta thời Bắc thuộc hay xã hội nước ta thời Thập nhị
sứ quân chẳng hạn. Trước các tình hình đen tối như thế, tất phải có những lực
lượng yêu nước trong dân, phải có những nhân sự nổi trội hơn, gây dựng sức mạnh
và tạo nên thế lực chính đáng để đương đầu lại, cứu nguy cho đất nước, cho xã hội,
cho mọi người. Và ai cũng biết đó là các cuộc khởi nghĩa vẽ vang của hai bà
Trưng, bà Triệu, của Lý Nam Đế … cũng như cuộc dẹp loạn mười hai sứ quân cát cứ
mỗi vùng của Đinh Bộ Lĩnh. Họ đều là những lãnh tụ của nhân dân, tức những người
đi đầu, khởi xướng, vận động sức mạnh toàn dân, sức mạnh chung của toàn xã hội
để đương đầu lại với nạn cường quyền, giặc giả hoặc nạn ngoại xâm. Dĩ nhiên,
không phải cuộc khởi nghĩa nào cũng thành công, nhưng ý nghĩa việc làm của họ
là chính đáng, cần thiết, cao cả, chính nghĩa, nhưng nếu thất bại họ bị coi như
giặc, bị tàn sát, còn thành công thì họ có cơ hội, điều kiện chỉnh sửa, phát
triển đất nước, xã hội, đem hưng thịnh lại cho mọi người, đó là ý nghĩa của câu
tục ngữ được thì vua thua thì giặc mà mọi người ai ai cũng đều đã biết.
Trường
hợp thành công như Đinh Bộ Lĩnh đã lập nên được nhà nước độc lập, đã lập nên được
triều đại quân chủ thống nhất, ổn định đầu tiên của Việt Nam, nên công của Đinh
Tiên Hoàng rất lớn. Trường hợp thành công khác là Lê Lợi, khởi nghĩa ở Lam Sơn,
cũng chính là vị lãnh tụ từ nông thôn, vị lãnh tụ từ nông dân, đã lập nên triều
đại nhà Lê thống nhất và huy hoàng. Hay như Quang Trung Nguyễn Huệ, cũng chẳng
khác gì bình định vương Lê Lợi, tức một lãnh tụ nông dân, một người anh hùng áo
vải, vừa thống nhất được đất nước sau hàng trăm năm chia cắt, vừa tiêu diệt được
lực lượng địch quân hùng hậu của Bắc phương, hoàn thành cuộc giải phóng dân tộc
thật sự oai hung. Hoặc như Nguyễn Ánh Gia Long, tuy lúc đầu có nóng lòng phục
quốc, có sai lầm khi quan niệm cuộc khởi nghĩa nông dân của nhà Tây Sơn là giặc,
đến nổi phải qua Pháp, qua Xiêm cầu viện, mượn thế lực nước ngoài để tạm thời
giải quyết việc nước nhà, bị mang tiếng cõng rắn cắn gà nhà, tuy vậy sau khi đã
lên ngôi vua, thống nhất quốc gia, lập nên được triều đại nhà Nguyễn, vẫn là
triều đại ổn định, phát triển, nêu cao được tinh thần tự chủ, độc lập dân tộc
thật sự, mở mang, phát triển đất nước, giữ vững sự toàn vẹn lãnh thổ một cách mạnh
mẽ, vững vàng, đó cũng chính là công đầu của triều Nguyễn.
Thế
thì xét người, hay đánh giá ý nghĩa, vai trò của lãnh tụ, phải xét tự nguồn
cơn, giá trị khách quan, xét mục đích, ý chí chủ quan, cũng như xét cả mọi
thành quả đưa lại, cho dù họ thành công hay thất bại. Có những lãnh tụ không
thành công, nhưng sự thất bại của họ lại châm ngoài, tiếp nối cho các thành
công khác của những lãnh tụ về sau. Ngược lại, có những lãnh tụ thành công ban
đầu, nhưng về sau đứt gánh, đi đến thất bại, hay cho dù thành công có khi lại
chẳng mang lại điều gì to lớn hay huy hoàng cho đất nước, mà chỉ dừng lại ở các
lợi ích của pham vi cá nhân, giòng tộc một cách nhất thời. Điều này, lịch sử mọi
nơi, mọi nước trên thế giới đều vẫn thường xảy ra nhan nhãn, chẳng phải điều gì
cá biệt. Do đó, sự đánh giá mọi lãnh tụ luôn luôn cần đánh giá xuyên suốt cả bề
dày lịch sử, không thể chỉ đánh giá trong những giai đoạn ngắn hạn hoặc nhất thời.
Giống như khi chúng ta đi trên đường, đi ngang qua cái cây nào đó vẫn thường thấy
là cao, nhưng càng đi xa hơn, thấy nó càng thấp hơn, có khi lại còn gặp những
cây khác thật sự cao hơn. Đó chỉ là tính cách tương đối của mọi khía cạnh ở đời.
Cũng chẳng khác gì đánh giá người thợ mộc, dĩ nhiên phải đánh giá mọi sản phẩm
mà họ làm ra, đánh giá mọi cái gì còn để lại dấu ấn bàn tay của chính họ, các
ích lợi thiết thực của vật phẩm họ mang lại, không thể chỉ đánh giá những chuyện
đục đẽo, lắp ráp các món đồ gỗ của họ, hoặc kể cả có khi những sự phí phạm vật
liệu, mà đáng lẽ ra họ cần phải tiết kiệm.
Nói
như thế để thấy rằng ý nghĩa của quần chúng và lãnh tụ luôn luôn khắng khít và
đòi hỏi lẫn nhau. Đây là điều nói chung trên toàn thế giới, trong mọi lịch sử
xã hội, không nhằm riêng ám chỉ cá nhân nào, thời đại nào hay đất nước nào. Có
nghĩa lãnh tụ có là nhờ có quần chúng, và sự nghiệp của lãnh tụ thật ra cũng chỉ
là sự nghiệp hay công sức của quần chúng. Một cái bàn cộ được khiêng đi, tất
nhiên cái bàn cộ đó không thể tự đi, mà chính nhờ các tay chân của những con
người lực lưỡng cùng xoắn tay khiêng nó. Lãnh tụ xuất hiện ban đầu chính là nhờ
có quần chúng ủng hộ, rồi khi lực lượng đã mạnh, tự nó nuôi nó và phát triển rộng
lớn ra thêm hơn. Cứ thế, sự thành công của mọi lãnh tụ chỉ là kết quả công sức
của tất cả mọi cá nhân con người đã được cuốn hút vào đó mà không là gì khác. Tất
nhiên, không một lãnh tụ nào có thể tồn tại được một mình, mà dưới họ luôn luôn
có những kẻ đồng hành thân cận, nói theo ngôn ngữ ngày nay là phải có cả một ê
kíp cùng nhau làm việc, nhưng công đầu vẫn luôn luôn là công đầu của lãnh tụ, tuy
rằng thực chất, có khi đó chỉ là công sức của tất cả mọi người. Đó cũng chỉ là
thói quen hay quan điểm đặt tên sao cho tiện lợi của con người, tức nói sao cho
gọn từ một khía cạnh dễ thấy nào đó là được rồi, chẳng cần đi vào phân tích tỉ
mỉ sâu xa mà làm gì.
Vậy
thì lãnh tụ là gì ? Là người khởi xướng, tổ chức lực lượng, dẫn dắt lực lượng kể
từ đầu, cho đến khi thành công, kết quả. Còn quần chúng là gì ? Là mọi con người
hưởng ứng, ủng hộ, tham gia ngay từ đầu vào lực lượng, rồi được mở rộng, phát
triển ra không ngừng, làm cho lực lượng đó lớn mạnh không ngừng, cho đến khi đạt
được thành công hay kết quả, tức cho đến khi nắm được quyền hành, và trở thành
chủ nhân ông của toàn xã hội. Nó cũng chẳng khác gì một đám cháy, lúc đầu chỉ
có một tia lửa nhỏ rồi cháy lan ra, chẳng khác gì những hòn đá lăn hay tuyết
lăn từ trên núi cao, cứ càng ngày càng củng cố thêm nhờ vào thế lăn, tức nhờ
vào sức mạnh mù quáng của trọng lực, hay cũng giống như những dòng chảy lớn,
ban đầu chỉ là những mạch suối nhỏ trên ngàn, nhưng khi tụ họp được nhau lại,
trở thành các dòng thác mãnh liệt, cuốn phăng đi được tất cả. Có điều, các lực
lượng hay sức mạnh như thế, thường khi cũng cần có sự khởi điểm hay sự khơi nguồn.
Cái khởi điểm đó, có khi chỉ là nội lực tự có bên trong, có khi là sự du nhập từ
ngoài. Từ hai bà Trưng, bà Triệu, Lý Nam Đế, Đinh Tiên Hoàng, đến Lê Lợi, Nguyễn
Huệ … thật sự chỉ có nội lực bên trong. Ngay như Gia Long, tuy có chút đỉnh mượn
quân, mượn khí giới, mượn tư vấn xây thành trì hay tư vấn về vũ khí, đánh trận
từ nước ngoài, nhưng chủ yếu cũng chỉ là nội lực của ý chí nhà vua, suốt một cuộc
đời bôn ba chinh chiến để có được ngai vàng, thế thôi, không hề có sự du nhập ý
thức của bất kỳ đâu.
Nhưng
trên thế giới ở thời cận đại thì mọi chuyện đã hoàn toàn khác. Một khi bàn cờ
thế giới đã được sắp ra, không còn có những quốc gia nào hoàn toàn đơn lẻ, đặc
thù, mà đều trở thành như một sản phẩm lịch sử thế giới nói chung. Trong đó
không những có sự du nhập vũ khí, viện trợ từ nước ngoài, kể cả du nhập học
thuyết, tức là ý thức hệ cũng từ ngoài mà đến, hay nói nôm na là sự du nhập
cách mạng ở rất nhiều nơi trên thế giới mà mọi người đều rõ. Vậy nên, quần
chúng của thời cận đại, có khi cũng không phải là ý nghĩa quần chúng của khái
niệm xưa kia, mà đã trở thành quần chúng theo nghĩa quốc tế, đã được quốc tế
hóa, và lãnh tụ cũng thế, không còn phải lãnh tụ thuần túy nội địa, mà lãnh tụ
đã mang chiều hướng du nhập từ ngoài, quả là thời đại của quốc tế hóa, của lịch
sử toàn cầu mà lại. Cho nên, Phan Chu Trinh là lãnh tụ hoàn toàn thức thời và
sáng suốt, thấy rằng cần phải dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh
phúc, nên nhà đại cách mạng này mới chủ trương nâng cao dân trí, nâng cao dân
chí, nâng cao dân quyền, nâng cao dân khí, thì mới có thể tự cường dân tộc,
đánh đuổi được ách ngoại xâm. Trong khi đó, Phan Bội Châu cũng là một nhà yêu
nước, nhà cách mạng kiên cường, nhưng vì quá nóng vội, vì cả tin, đã vô tình
hay chủ quan đi theo xư hướng bành trướng của nước Nhật, chủ trương cầu viện
phía Đông để đánh đuổi phía Tây, nhưng biết đâu lại cũng chỉ có thể xua cọp ngã
trước, rước hùm ngã sau, mà nhà chí sĩ đáng kính đó có thể còn quá mơ hồ nên
không hề nhìn thấy trước.
Thế
nên, rõ ràng trước khi thế giới chiến tranh lần thứ hai ngã ngủ, người Nhật đã
tràn vào Đông nam Á, hất cẳng người Pháp ở Việt Nam, thay chính quyền thực dân
Pháp bằng chính quyền quân phiệt Nhật, cũng chỉ là chuyện tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa,
có chi là hơn kém. Cũng may là thế giới đại chiến lần thứ hai rồi cũng tàn cuộc,
phe đồng minh đã thắng, Nhật bản phải đầu hàng khi đã lãnh đủ hai trái bom
nguyên tử, một chính phủ Trần Trọng Kim được dựng lên, tuy là một chính phủ ngắn
ngày, không có thực lực, được người Nhật ủng hộ, hậu thuẫn ban đầu, nhưng theo
đúng nghĩa cũng đã làm được chút ít việc gì đó có lợi cho quốc gia, đất nước,
tuy rằng thật sự cũng chẳng đáng là bao. Tuy rằng lúc đó, về mặt danh nghĩa, chủ
quyền đất nước Việt Nam thống nhất cũng đã được thu hồi, mà đứng đầu là nhà vua
Bảo Đại, tức một đất nước quân chủ mới thoát khỏi được tay thực dân và quân phiệt
nước ngoài, dẫu là hãy còn trong trứng nước. Đây là chuyện khách quan tự nhiên
của lịch sử, ai cũng thấy, cũng hiểu mà đều không tiện nói ra, chỉ có thế thôi.
Cho nên lịch sử là mọi điều gì đã xảy ra trong quá khứ, vẫn cứ tiếp tục trong
hiện tại, nhưng mọi sự đánh giá đúng đắn nhất lại chỉ thuộc về tương lai, chính
là như thế. Bởi vì mọi quyền lợi của con người hiện tại và con người quá khứ vẫn
cứ luôn đan xen nhau, chỉ có con người tương lai càng đi xa hơn về sau mới càng
thoát khỏi. Và sử viết chính xác vẫn phải luôn là những bộ sử viết của các thế
hệ mai sau là như thế. Giống như thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh, bộ sử có giá
trị chính thức về sau phải là bộ sử của triều Nguyễn Gai Long, hay của những
nhà viết sử ngày nay, không thể là những kiểu sử ghi chép theo lối cung đình, tự
tán tụng lẫn nhau của của các chú Trịnh hay chúa Nguyễn vào ngay thời kỳ lúc
đó.
Đấy
yếu điểm của con người thường vẫn luôn vì quyền lợi mà không phải vì chân lý
hay công lý. Quyền lợi ở đây kể cả quyền lợi vật chất và tinh thần. Quyền lợi vật
chất là mình phải được sung sướng một đời. Quyền lợi tinh thần là mình phải được
tôn xưng, nể cả, được loan truyền danh giá, hay được để lại sự nghiệp thiên
thu. Cái bả vinh hoa phú quý đó, thực chất có mấy ai thoát khỏi, trừ các vĩ
nhân lịch sử mà người đời mệnh danh là vị thánh như Gandhi, hay như Washington,
Lincoln, Tôn Dật Tiên, họ đều quả thật là những con người vĩ đại, những lãnh tụ
đáng kính nhất của muôn đời, không phải chỉ của đất nước riêng họ, mà còn là sự
nêu gương cho toàn lịch sử nhân loại. Tất nhiên họ không hề có lăng tẩm như những
nhà vua phong kiến, và những đền đài kỹ niệm họ, chẳng qua chỉ là do nhân dân,
do xã hội về sau lập nên, không phải do chính quyền hay quyền lực thời đại của
họ làm ra chỉ cốt nhằm để tự vinh danh mình và vinh danh cá nhân của họ. Nên thật
sự nói cho cùng, người lãnh tụ chân chính không bao giờ chỉ nhằm mưu cầu lợi
ích cá nhân, mà chỉ nhằm mưu cầu lợi ích chung của toàn dân, cho nên thật sự họ
cũng không hề mưu cầu danh vọng, nhất là các thứ danh vọng hão, chỉ có tính
cách bề ngoài, hoàn toàn giả dối, chỉ do những người khác đánh bóng lên cho họ,
mà không hề là nhu cầu riêng của họ. Trong ý nghĩa đó, quần chúng của họ cũng
phải là những con người cao quý thật sự, những con người căm phẩn vì các bất
công xã hội, những con người có ý thức độc lập dân tộc, có lòng yêu nước,
thương dân thật sự, không phải chỉ là đám quần chúng ô hợp, chạy theo họ vì quyền
lợi riêng, vì bị tuyên truyền giả dối, hay chỉ vì điều kiện tình cờ hoặc bó buộc.
Đấy,
ý nghĩa sâu xa nhất trong mối quan hệ quần chúng và lãnh tụ quả thật nó sâu sắc
như thế. Lãnh tụ là người quy tụ được quần chúng ngay từ đầu, và xuyên suốt
trong quá trình đấu tranh, dẫn dắt và lãnh đạo họ. Quần chúng là những người
dân bình thường tụ lại, đó là đám đông, tất nhiên đầu tiên phải có những hạt
nhân, những người có ý thức, có mục đích đấu tranh, cùng chí hướng với lãnh tụ,
để giúp đỡ, giáo dục, tuyên truyền, quy tụ họ lại nhằm ủng hộ và hậu thuẫn cho
lãnh tụ. Vậy thì, khởi thủy phải có sự mâu thuẫn nào đó trong xã hội, như sự bạo
ngược, bất công trong xã hội hay nạn ngoại xâm. Và rõ ràng những người đi theo
lãnh tụ ngay từ đầu cũng chưa chắc có mục đích cao cả hết, mà có thể có rất nhiều
lý do khác nhau. Đó là chưa nói trong giai đoạn xã hội loài người thời cận đại,
tính cách nhập khẩu, xuất khẩu cách mạng, tức nhập khẩu và xuất khẩu lý thuyết
ý thức hệ, thì quả thật cuộc đời lại càng có lắm điều đa đoan hơn nữa. Bởi nó
không thuần túy chỉ là ý thức quốc gia, dân tộc như ngày xưa, nó còn là quan điểm
mang tính thế giới hay thế giới quen được chen lẫn vào, cho nên cũng thật khó để
nói rằng đó là chính nghĩa quốc gia hay là mục đích quốc tế thuần túy. Đó là
trường hợp của Liên bang Xô viết trước đây, nó đã phát tán ra thành toàn khối
Đông Âu và nhiều nơi khác nữa trên thế giới, trong đó có cả Bắc Triều Tiên và
Cuba ở Tây bán cầu vẫn còn tồn tại mãi cho tới ngày nay.
Đó
là ý nghĩa “cách mạng là ngày hội của nhân dân”, nó khác hẳn với mọi cuộc nổi dậy
nông dân ở mọi quốc gia trước khi có học thuyết Mác xuất hiện trên vũ đài thế
giới. Bởi vậy, những cuộc khởi nghĩa nông dân theo kiểu cổ điển, chỉ hoàn toàn
được hướng dẫn bởi lương tri, ý thức đạo đức, hoặc lý trí của con người. Nhưng
các cuộc nổi dậy mang tính ý thức hệ về sau này, lại được hướng dẫn, “soi đường
chỉ lối” bởi học thuyết, và nó cũng thường mang tính cách công nghệ hơn là tính
cách cày sâu cuốc bẫm thuần túy tự nhiên, tự phát, tự chủ, như các cuộc khởi
nghĩa thuần túy nông dân trước kia. Do đó, những cuộc khởi nghĩa theo cách cổ
điển trước kia, thường chỉ bắt đầu bằng những bài hịch, như bài hịch Cần vương,
bài hịch nghĩa sĩ Cần giuộc, hay những bài hịch chống Tây khác v.v… Còn khi
phong trào Cách mạng quốc tế được du nhập vào trong nước, nó thường đi kèm theo
với việc học tập, tuyên truyền lý thuyết, đi kèm theo sự tổ chức tinh vi, được
lồng vào trong các phong trào yêu nước và giải phóng dân tộc thuần túy, kể cả
ngoài tuyên truyền về mặt lý thuyết, nó còn đi kèm theo các biện pháp ức chế,
các phương thức dùng vũ lực để hỗ trợ, đó là quan điểm bạo lực cách mạng, quan
điểm chính quyền và nhà nước chuyên chính mà ai cũng biết.
Tuy
nhiên, cũng chính ý nghĩa chuyên chính đó mà nó đã trở thành nguồn gốc của mọi
sự suy tôn lãnh tụ, thần thánh hóa lãnh tụ về sau này. Điều này thực tế đã cho
thấy rõ ràng mà không phải chỉ là xuyên tạc hay nói vu thêm. Bởi vì, nếu không
có chế độ độc tài sắt máu của Stalin, hình ảnh Lênin cũng cũng chưa chắc đã được
tôn sùng và suy tôn đến độ quá mức như vậy. Bởi vì thật ra ông cũng chỉ là một
nhà cách mạng bình thường, và đồng chí cũng như những người công trạng gần như
ông lúc đó cũng có nhiều, không phải chỉ riêng một mình ông. Vả lẽ, ông là người
có lý tưởng, muốn thực hành theo lý thuyết Mác, muốn đưa nhà nước Liên xô vào
việc thực hành ý thức hệ của Mác, thế thôi. Tức không có Mác thì đã không có
Lênin. Nhưng Mác thì chỉ chôn cất bình thường sau khi chết, còn Lênin thì được
vẽ với ướp xác, phải chăng đó chỉ là một kịch bản mà người đạo diễn tối cao đó
không ai khác hơn là chính Stalin. Vì thật ra, nếu mục đích của Lênin làm cách
mạng là để được như vậy, thì quả ông là bất xứng, còn ý nghĩa gì để suy tôn qúa
mạng hay để ướp xác. Còn nếu ông không hề muốn như vậy, vì là người chỉ biết có
hi sinh và dấn thân cho đại nghĩa, tại sao cuộc đời lại thường vẽ rắn thêm
chân. Thế thì, phải chăng thói tôn thờ, sung bái, thần thánh hóa lãnh tụ, thực
chất chỉ là chiêu bài lợi dụng lãnh tụ, bán đứng lãnh tụ của chính những kẻ bày
vẽ ra hết mọi sự và bao nhiêu cách tôn sùng. Có nghĩa họ chỉ là những kẻ trục lợi,
và làm như vậy chỉ vì chính lợi ích của bản thân mình, tức chứng tỏ mình là người
thuần thành, kiên trung, để có công, có điểm, thăng tiến địa vị, và tất nhiên
có lợi.
Cho
nên, mọi sự tôn sùng lãnh tụ đều hoàn toàn kịch cỡm và thô lậu. Như thời kỳ cựu
Tổng thống Adam Hussein còn tại vị ở I-Rắc. Người ta bảo rằng cứ đi chừng mười
bước đường phố là có hình ảnh và khẩu hiệu tôn vinh ông ta. Còn tượng đài ông
ta thì nhan nhãn khắp nơi trong toàn đất nước. Điều này cũng hoàn toàn giống hệt
như trường hợp cha con của Kim Nhật Thành ở Bắc Hàn, giống như Mao Trạch Đông ở
Trung quốc, hay giống cả Fidel Castro ở Cuba. Có nghĩa, thực tế sự tôn thờ lãnh
tụ hầu hết chỉ có ở các nước độc tài. Đất nước nào càng độc tài thì sự suy tôn
lãnh tụ lại càng cao, kể cả có khi lãnh tụ đã chết đi đã tám hoánh tự khi nào.
Bởi vì đó chính là hình ảnh của thần tượng không đích thật. Vì nếu đích thật
thì cần gì phải tôn thờ một cách bó buộc và công khai. Người ta thường nói thiệt
vàng sợ chi lửa. Vàng thật ở đây có nghĩa nó đã kín đáo đi vào lòng dân, đã thật
sự sâu lắng trong lòng dân, không cần nói ra mà ai cũng tôn kính hay quý mến một
cách tự nhiên, thầm lặng, có cần gì phải công khai nói ra hay nhất nhất phải
trưng lên. Do đó, những thần tượng đưa ra công khai quả thật cũng giống như những
thứ vàng mạ, đó là điều hết sức đơn giản tại sao nhiều người lại không nghĩ đến.
Vì ngây thơ chăng, vì lợi dụng hình ảnh cho những mục đích nào đó hoàn toàn cụ
thể như thế nào chăng, vì trình độ nhận thức thấp kém, vì cuồng si mờ ám, hay
vì thiếu mọi thông tin chính xác, cần thiết chăng. Tất cả những điều đó đều
đúng, và chính chúng kết hợp lại với nhau tạo nên căn bệnh thời đại trầm kha ở
nhiều nước, đó là bệnh tôn thờ, thần thánh hóa lãnh tụ.
Nhưng
còn một điều hết sức hiển nhiên nhưng có thể nhiều người không nhận thấy, đó là
sự tôn thờ lãnh tụ chỉ xuất hiện rầm rộ từ khi có chủ thuyết Mác, từ khi có những
nhà nước cách mạng theo chủ thuyết Mác được lập ra ở nhiều nơi trên thế giới.
Trước kia, cho dầu những đế quốc hùng mạnh như đế chế La mã, hoặc đế quốc Mông
cổ mở rộng ra gần khắp cả thế giới, thì các hoàng đế La mã, các kha hãn của
Mông cổ, cũng chỉ được tôn thờ hoặc ngưỡng phục nơi chốn triều đình, không bao
giờ bó buộc ra khắp hết toàn dân, không bao giờ được khuếch trương ra toàn bộ
xã hội. Nhiều lắm tại các nơi cung đình, các quần thần hay quyền thần mới phải
khấu đầu tung hô đức vua vạn tuế, vạn vạn tuế, thế thôi, không hề có hiện tượng
các tượng đài, các khẩu hiệu, các sách vở vinh danh lãnh tụ tràn lan khắp nơi
trong đời sống cả nước, tới tận mọi hang cùng ngỏ hẻm, như vẫn có ở một số nước
trên thế giới cho mãi tận tới giờ. Có lẽ người ta nghĩ rằng lý thuyết Mác là
chân lý vĩ đại có một không hai của muôn đời, nên bất kỳ người nào thực hành được
lý thuyết đó trong một nước, cũng là công trạng số một, và cần được vinh danh vạn
thuở. Điều này có quả thật như thế chăng, hay quả có cùng đúng hay sai, xin để
mọi người thẩm định, đánh giá và xem xét. Thế nhưng, nếu chỉ bề ngoài như thế
thì cũng chưa phải hoàn toàn đầy đủ. Có nhiều nơi người ta còn đem vào cả học
đường để huấn luyện trẻ thơ, hay ngay cả có những nhà “nghệ sĩ”, “nhà thơ”
chuyên môn làm mỗi việc là ca ngợi, thần thánh hóa và đề cao lãnh tụ.
Thật
ra, học đường cần phải là nơi đào tạo, giáo dục khoa học, mang những ý nghĩa
chính trị nhất thời, mang những tính cách tôn thờ cá nhân vào cả học đường, làm
méo mó mọi trí tuệ nguyên sơ của trẻ thơ, đó là những việc làm phản khoa học,
phi nhân văn, nghịch xã hội, đi ngược lại ý nghĩa của con người và lịch sử
khách quan nói chung, vậy mà rất nhiều người không nhìn thấy. Ấy chính là vì
ông thủy tổ đầu tiên của lý thuyết đã phần nào hay hoàn toàn chủ quan, cho lý
thuyết mình là duy nhất đúng, hoàn toàn đúng, là quy luật tuyệt vời cua lịch sử,
nên những người nào hoàn thành được sứ mạng đó, quả thật được đề cao cũng hoàn
toàn xứng đáng. Chỉ tiếc rằng lý thuyết đó ngày nay đã tự chứng tỏ không còn sức
sống, không có lý do để phát triển nữa, hầu như đã bị đào thải, vì tất cả mọi
nước cách mạng mác xít cũ ngày nay đều thật sự đã đi vào kinh tế thị trường, tức
quay ngoắt lại hoàn toàn, còn hơn cả 180 độ, cho nên những công thần của nó trước
kia thật sự cũng không còn lý do gì để tiếp tục được suy tôn và vinh danh nữa(1). Vả chăng vinh danh, tôn thờ một người
nào đó khác, không phải tự nguyện, mà chỉ bắt chước theo, hay có phần kịch cỡm
và giả tạo, hoặc bị bó buộc, hay miễn cưỡng, thì cũng chẳng khác gì tự vắt kiệt
bản thân mình đi cho một người khác. Đây là điều hoàn toàn phi lý, bởi vì người
khác lớn chỉ vì ta quỳ xuống, thế thôi. Cho nên, nếu đó là sự ghi nhận, sự biết
ơn nào đó thật sự, thì đó phải là vấn đề tâm thức của mỗi cá nhân, nó không thể
trở thành những hiện tượng xã hội ồ ạt, giả tạo hay hình thức bề ngoài. Bởi vì
tục ngữ có nói không ai tự vẽ bùa cho mình đeo được. Do đó, mọi sự nghiệp xứng
đáng, mọi điều tốt sẽ được mọi người tự nhiên nhớ ơn, làm gì có việc chính triều
đại lại vinh danh lộ liễu lãnh tụ của mình. Vì lịch sử khi chưa ra khỏi tầm ảnh
hưởng của nó, mọi sự vinh danh, mọi sự thêu dệt chỉ có thể là sự chủ quan, áp đặt,
hoặc giả dối.
Đó
là ý nghĩa khách quan của lịch sử, không thể bất cứ người nào lại hoàn toàn
không biết. Do đó, lịch sử chính truyền của một thời đại, khi tầm ảnh hưởng, tức
thế lực của thời đại đó chưa quả, không bao giờ mang tính khách quan hay tuyệt
đối giá trị. Đó là lẽ tự nhiên. Do đó bộ Sử ký của Tư Mã Thiên mới hoàn toàn có
ý nghĩa, giá trị và tồn tại cả hàng ngàn năm, trong khi đó có bao nhiêu tài liệu,
sách vở hay những pho sử chính truyền của bao triều đại, khi nó qua đi, sụp đổ,
thì cũng xóa nhòa trong mọi ký ức của người đời, hoặc trở thành như một đống giấy
lộn, không hơn không kém. Bởi vậy, thời cận đại và hiện đại của xã hội con người
đúng là thời quái chiêu nhất của lịch sử nhân loại. Ai lại chẳng nhớ các hình ảnh
nổi bật của những nhà độc tài như Hitler, Moussolini, với chùm râu cứt mũi, với
cái mũ bê rê đặc trưng, hay hình ảnh của Mao Trạch Đông với bộ đồ đại cán, hình
ảnh của Fidel Castro với chiếc mũ képi và sắc phục quân nhân, những hình thức
bên ngoài đó thật sự chỉ nhằm đánh lừa xã hội, nhằm lòe mị quần chúng nhân dân,
để chứng tỏ ta đây là lãnh tụ, là người duy nhất có quyền ăn trên ngồi trốc
trên hết tất cả mọi người, cho dù mọi lời nói đường mật bao giờ cũng mị dân,
cũng đề cao vai trò và ý nghĩa của quần chúng, cũng bô bô khẩu hiệu ta đây là
người hòa đồng với quần chúng, là người giản dị hoặc khiêm tốn nhất nhân gian.
Đấy, ý nghĩa mối quan hệ giữa lãnh tụ giả hiệu và quần chúng thực chất nó là
như thế. Quần chúng thật sự bao giờ cũng chỉ là lớp bình dân ít học, dân ngu
khu đen, nhưng lại được các lãnh tụ giả hiệu kích lên để thủ lợi, thật là tội
nghiệp cho người dân, bởi vì giữa họ và lãnh tụ luôn luôn có một bộ máy khắt
nghiệt nhất làm vật che chắn, có bao giờ họ trực tiếp tiếp cận được, ngoài những
cơ hội hiếm hoi như những nhu cầu trình diễn bên ngoài, mà chính họ lại trở
thành vật bung xung, vật đánh bong cho danh nghĩa hay tên tuổi của các nhà lãnh
tụ. Điều này chắc giới báo chí trên khắp thế giới luôn luôn biết rõ hơn hết, có
dễ gì lại nói sai.
Cho
nên mọi ý nghĩa thật vẫn chỉ có thể là các giá trị thật của bản chất con người.
Phật Thích ca, người từng làm vua, nhưng lại từ bỏ ngai vàng vì lợi ích của
nhân gian. Jésus Christ dám xả thân chịu đóng đinh trên cây thập tự để nhằm đi
tìm tình yêu cho nhân loại. Trần Nhân Tông cũng là vị vua, nhưng từ bỏ ngai
vàng để đi tu thiền trên núi Yên Tử. Ngày xưa, trước Khổng tử cũng có những nhà
tị thế nổi danh như Tràng Thư, Kiệt Nịch, hay Nịnh Thích, quả là những tâm hồn
cao khiết tuyệt vời. Đến Khổng tử, suốt một đời lỏng gối chồn chân vì trật tự của
thế gian, nhưng rồi mọi chuyện thường tình của xã hội con người vẫn cứ mãi mãi
không thôi, như mây bay nước chảy. Rồi nào như Lão tử, Trang tử, là những con
người cao khiết, thánh thiện thật sự, nhằm chỉ sống để nói lên các ý nghĩa giản
dị mà rất nhẹ nhàng, sâu sắc, cũng như hết sức lắng đọng của cuộc đời. Thế thì từ bi, bác ái, vô vi,
siêu thoát, đó toàn là những giá trị bao la, cao cả nhất, mà chính loài người
đã nghĩ tới. Trong khi đó, nơi thế tục cuộc đời, biết bao người khi sống thì
tung hoành ngang dọc, làm bao chuyện núi lở non chùi, cốt sao hưởng được giàu
sang phú quý, quyền hành, đến khi chết chỉ muốn truyền lại di sản cho con, hoặc
muốn có cả sự nghiệp, danh tiếng để đời, quả thật lòng tham của con người là
hoàn toàn không đáy. Cho nên, cái thánh thiện trong đời bao giờ cũng chỉ là ý
nghĩa tinh thần cao khiết, mà không hề là ý nghĩa vật chất hay quyền lực thế
gian. Bởi vậy, nhiều khi có chắc gì những người đưa ra lý thuyết nọ lý thuyết
kia, tự bản thân họ đã hoàn toàn cao khiết, mà chỉ là những khía cạnh nào đó
trong tham vọng cuộc đời. Có chắc gì những lãnh tụ thế gian, những người muốn lập
thành một sự nghiệp nào đó thông qua việc dựa vào một chủ thuyết, luôn luôn họ
đều là những con người tuần khiết, vô tư và cao thượng. Cho nên lịch sử phải
luôn luôn là sự phán xét của mọi người, là sự đánh giá của muôn đời, không thể
nhất thời là sự đề cao của một vài người nào đó, thậm chí của vài thế hệ kế tiếp
nhau mà tính khách quan hay sự rèn luyện đã không còn tự nhiên, đã bị méo mó,
hay chỉ bị đóng khung theo những nhãn quan
dặc thù, riêng biệt nào đó.
Cho
nên tóm lại, ý nghĩa mối quan hệ giữa quần chúng và lãnh tụ trong nhân gian vẫn
chỉ là những chuyện thường tình. Thường bất kỳ trong các khu vực nào, tùy vào từng
thời điểm, hay điều kiện, hoàn cảnh nhất định, luôn luôn có người nào đó tương
đối nổi bật lên hơn so với những người khác. Họ trở thành một trưởng nhóm, người
đứng đầu, hay người có chức năng đại diện, tiêu biểu cho các người kia. Đó thường
là các nhóm nghề nghiệp, nhóm xã hội, nhóm sinh hoạt, hoạt động nào đó, như các
nhóm kinh tế, hoặc kể cả những nhóm chơi. Còn trong các mưu đồ hay hoạt động
chính trị, quyền lực, thời bình cũng như thời loạn, đó có thể là những nhóm có
tổ chức hoặc bột phát, chẳng hạn như mối quan hệ giữa quần chúng và thủ lĩnh,
hay nói một cách to tát, bất thường hơn, đó là mối quan hệ giữa lãnh tụ và quần
chúng, như trên kia mọi người đã thấy. Quần chúng nói cho cùng là mọi người
dân, ở đây là những người dân được vận động, uốn nắn, hay bị cuốn theo một
phong trào, một vận động xã hội hoặc chính trị nào đó. Dù sao, nói chung lại,
đây cũng chỉ là ý nghĩa của thời thế tạo anh hung, tức cho dù một đại tướng
cũng phải từ dân mà ra, qua thử thách trận mạc lâu năm, hay cứ sống lâu lên lão
mà thành, không ai có thể được gọi là thần thánh ban đầu để được vinh danh hay
tôn sùng như một hiện tượng hoàn toàn có tính cách phi tự nhiên cả.
Thật
ra mọi thần thánh cũng chỉ do bản thân con người tạo ra, giống như thần ông
táo, thần bình vôi, thần gốc cây đa, thần thổ địa, thần thành hoàng, hay bất kỳ
các vị thần miếu thiêng nào đó, đều cũng như thế. Phần lớn khi người ta quá mê
tín, sùng thượng, ảo giác, thế là đã nắn lên được một vị thần. Do vậy phần lớn
các tượng thần đều được làm bằng đất sét, hay bằng thân cây gỗ tạp. Đó là chưa
nói khi có cúng kiến thì cũng có các thành phần ăn theo, có vàng mã, nhan hương
đốt theo, có mọi sự lợi dụng, bán buôn thần thánh, đều là những điều không thể
nào tránh khỏi. Nhưng thần đều là những qui mô nhỏ, hoặc chỉ lu lấp trong hương
nguyện, xóm thôn, và nó cũng chỉ có như thế qua các thói quen, tập tục, hoặc cả
các lễ hội dân gian. Tuy nhiên, các tín ngưỡng dân gian, đôi khi đã tồn tại từ
nghìn đời, nhiều khi không phải không có lý, bởi vì đó thường là lòng biết ơn,
lòng ghi nhớ những công tích của những bậc tài giỏi nào đó ngày xưa. Nhưng nhất
thiết đó đều là những hoạt động thuần túy xã hội, hoàn toàn tự giác, tự phát,
không có bất kỳ sự can thiệp quyền lực hay bất kỳ một mục đích chính trị của bất
cứ những nhà nước nào xen vào, ở thời kỳ hay giai đoạn lịch sử nào cũng vậy.
Tín ngưỡng dân gian nó cũng trở thành như những niềm tin, những tôn giáo dân
gian, nó hoàn toàn tự nhiên, thành thật, vô hại cho xã hội, nếu không nói là có
phần gia tăng ý nghĩa tinh thần phần nào đó về mặt ý thức và văn hóa trong các
khía cạnh xã hội của đời sống con người.
Thế
nhưng các điều đó hoàn toàn khác hẳn với ý nghĩa tôn sùng lãnh tụ của một vài
xã hội loài người hiện nay trong thời hiện đại. Sự tôn sùng lãnh tụ không hề
mang tính chất xã hội, mà thực tế là những hoạt động có tính chất nhà nước cũng
như có tính cách các ý đồ chính trị. Có nghĩa sự tôn sùng đó chắc chắn chỉ dựa
trên ý nghĩa quyền lực, tức thường người ta sử dụng công cụ guồng máy hành
chánh quản lý và kể cả ngân sách quốc gia. Tất cả những điều đó thường như dùng
để đánh bóng một chế độ, lăng xê lãnh tụ cũng giống như lăng xê chính nghĩa của
một nhà nước, bởi vì lãnh tụ đã được thần thánh hóa, trở thành vị thần hộ mệnh,
hay vị thần đã khai sáng ra cả một nhà nước. Tất nhiên điều này phần lớn chỉ có
trong các chế độ nhà nước chuyên đoán, toàn trị, độc tài, mà phần lớn những
hình ảnh đó người ta thường hay thấy ở một vài nơi hiện nay trên thế giới. Duy
có một điều là nó thường tỏ ra phi dân chủ và phản nhân văn, nếu không nói nó
hoàn toàn đi ngược lại với các nhu cầu phát triển tự nhiên của xã hội, nhất là
đi ngược lại với mọi chiều hướng hiện đại. Bởi vì con người trong xã hội hiện đại
là con người của truyền thông đại chúng, của hệ thống mạng lưới thông tin. Có
nghĩa phần lớn đều là những cá nhân có nhận thức, có ý thức, có tự do trong mọi
hoạt động riêng của bản thân mình. Đó cũng có thể nói là con người của mọi
thông tin, các thông tin đầy đủ, khách quan, chính xác, phong phú, trung thực,
có khi đáng tin cậy nhất của các mạng toàn cầu. Trong xã hội như thế thì quả thật
các ý đồ đánh bóng lãnh tụ, tôn thờ, sùng bái, thần thánh hóa lãnh tụ một cách
trái khách quan, giả tạo hoặc không tự nhiên, quả thật chỉ lội ngược dòng đời,
vừa không hiệu quả, vô bổ mà còn phản tác dụng, cho dù nó xảy ra ở đâu và bất cứ
nước nào.
Thời
dân chủ, hiện đại, có nghĩa là thời bình đẳng tuyệt đối của tất cả mọi con người
về mặt xã hội. Mỗi người đều trở thành một nguyên tử trong một tổ hợp thế gian.
Thế thì tính dân chủ, tự do, tính hợp tác tự nguyện, có ý thức, đó là nét đặc
trưng và yêu cầu thời đại của mỗi con người. Trong ý nghĩa đó, khái niệm quần
chúng và lãnh tụ hay lãnh đạo đã trở thành xưa như trái đất. Bởi vì trong xã hội
tự do dân chủ, khoa học kỹ thuật và tri thức phổ biến đồng đều thì có cần gì ai
phải chịu sự lãnh đạo của ai. Đó là ý nghĩa của thời mất nước hay của thời
phong kiến xa xưa, toàn bộ khối quần chúng dân đen khổ ải và mù mờ mọi thứ, cho
nên cần những lớp người có học, có hiểu biết, có ý thức, những người tiên
phong, những bậc sĩ phu hiểu biết đứng ra dìu dắt, lãnh đạo, để mọi người được
soi sáng mà cùng tham gia đại nghĩa. Nhưng những thời kỳ ấy quả đã quá xưa hay
đã qua lâu rồi, khi mọi đất nước và xã hội đều tiến vào quỹ đạo trong tính chất
xã hội của thời hiện đại, thời công nghiệp và đại công nghiệp phổ biến đại trà.
Cho nên quyền bây giờ không thể là quyền tự nhiên hay đặc quyền của bất kỳ giai
cấp hoặc các nhóm xã hội thiểu số nào, mà là quyền bình đẳng của mọi người
ngang nhau trong xã hội, quyền của toàn dân trong một nước, không phải của chỉ
riêng nhóm đảng phái hay bất kỳ các tổ chức riêng biệt nào. Nói như thế, quyền
dân chủ chỉ có thể là quyền được ủy quyền, và quyền ủy quyền mà không thể là
quyền lãnh đạo và quyền được lãnh đạo. Mỗi thời đại và giai đoạn lịch sử đều có
tính chất riêng của nó. Đi ngược lịch sử, không theo kịp lịch sử chỉ có nghĩa
là sự tụt hậu, thậm chí là sự phản động và phản lại lịch sử.
Do
đó, quyền công dân chỉ có nghĩa là quyền bình đẳng. Không phải mọi người ai
cũng ham làm chính trị, cũng muốn tham gia quản lý nhà nước, nên sự ủy quyền của
mọi người cho những người có thể nắm quyền hành thường trực, thường xuyên một
cách chuyên môn để quản lý xã hội theo sự được ủy quyền là điều hoàn toàn chính
đáng, hợp lý, đồng thời cũng hữu hiệu và hợp pháp. Đó là tính chất bầu cử tự
do, ứng cử tự do để chọn Quốc hội, là những người thực sự đại diện sự ủy quyền
của dân, chọn người đứng đầu Hành pháp, qua phổ thông đầu phiếu, tức công khai
và minh bạch chọn Tổng thống hay Chủ tịch nước, là điều luôn luôn phải cần có(2). Do đó mọi sự tôn thờ, sùng bái, thần
thánh hóa lãnh tụ đều trở nên lố bịch, trẻ con, giả dối và ấu trĩ. Bởi vì trong
bất kỳ hoàn cảnh lịch sử nào, khi đất nước nhiễu nhương hoặc có nạn ngoại xâm,
mọi lãnh tụ xuất hiện ra để huy động quần chúng thật sự cứu nước, không hề có
mưu đồ lợi ích riêng tư, dù tài giỏi và khôn khéo đến đâu, dù tài đức vẹn toàn
đến mấy, thật sự họ cũng đều là những công dân như mọi người khác, có nghĩa vụ,
trách nhiệm phải thực hiện bổn phận con dân của mình, có gì đâu mà phải lạ lùng
để tôn thờ và thần thánh hóa. Điều này cũng có nghĩa càng tôn thờ, thần thánh
hóa lãnh tụ thực chất cũng là tầm thường hóa lãnh tụ, nó đi trái với quan niệm
dân gian tốt gỗ hơn tốt nước sơn, và đồng thời nó cũng còn có nghĩa là coi thường,
hạ thấp dân tộc, hạ thấp đất nước, bởi vì coi như không có lãnh tụ cũng không còn
gì cả, không có gì cả, toàn dân đều không đáng đồng xu sứt, cả quá khứ, cả hiện
tại và cả tương lai, bởi vì mọi người đều chỉ là con số không, bởi chỉ có bản
thân lãnh tụ là thần thánh, là giá trị tối thượng, duy nhất, cũng như là ý
nghĩa cao tột, bất khả xâm phạm, và cũng mãi duy nhất có tính tuyệt đối ở dưới
trần đời.
VÕ HƯNG THANH
(18/02/2011)
**
THẾ
NÀO LÀ NHỮNG CÔNG DÂN
Có
những khái niệm hay từ ngữ rất quen thuộc, thường ngày người ta hay đụng đến,
nhưng thật sự ít ai để ý tới nghĩa lý chính xác, hay chính ý nghĩa và giá trị của
nó. Chẳng hạn trong số có từ ngữ “công dân”. Theo định nghĩa rõ ràng trong từ
điển, công dân là những con người thành viên của một xã hội, một đất nước, và
có đầy đủ mọi quyền của mình trong xã hội, trong đất nước đó. Từ mệnh đề trên
suy ra, ý nghĩa quan trọng nhất của khái niệm “công dân” chính là mọi quyền đầy
đủ nhất. Chắc hẳn mọi quyền đầy đủ (full rights) của từng người này họp nên
“công quyền”, cho nên mới gọi mỗi thành phần đó là công dân, tức con người được
bảo vệ bởi công quyền, đương nhiên khi sinh ra, hay đã được phép nhập tịch vào
trong xã hội, quốc gia đó. Như một người Anh, người Mỹ chẳng hạn, khi sinh ra,
họ đã là công dân của các nước này, hoặc mọi người sau khi đã có quốc tịch các
nước đó.
Điều
đó có nghĩa mọi người sinh ra đều tự do, bình đẳng, đều được hưởng mọi sự che
chở của công quyền, đều là thành phần hay góp phần tạo nên công quyền, đều chia
sẻ và thụ hưởng mọi quyền pháp định của công quyền, bởi vì họ là những công
dân, vì mỗi người là một công dân. Do vậy, khi một đất nước lệ thuộc nước ngoài
thì mọi quyền công dân đều bị mất, họ chỉ còn được ban phát hay thừa nhận một số
quyền tự nhiên hay hạn chế nào đó trong xã hội, mà không còn được quyết định
hay tham gia vào quyền công dân, vì quyền công dân của tất cả mọi người đều thật
sự đã bị mất. Khi nước ta bị Bắc thuộc cả một ngàn năm chẳng hạn, không một ai
trong nước có quyền gì, mà quyền đó là quyền tối thượng của viên Thái thú, do
vua Tàu bổ dụng. Khi nước ta bị Pháp thuộc trong một trăm năm về sau này, quyền
tối thượng của quốc gia và quyền tự nhiên của mỗi công dân đều bị mất, cả nước
phải phụ thuộc vào quyền cai quản tối cao của một người nước ngoài, đó là viên
Thống sứ người Pháp cai trị, do chính quốc nước Pháp phái đến.
Thế
nhưng dưới các chế độ quân chủ phong kiến, mặc dầu quyền độc lập, tự do của quốc
gia, đất nước là có, nhưng quyền tối thượng chỉ là quyền của nhà vua, mọi người
dân chỉ là các thần dân, chịu mọi quyền sai khiến và quyết định của một người
duy nhất là nhà vua. Chính vì vậy, khi gặp một nhà vua biết lo cho dân, tức một
minh quân, và gặp một triều đình tốt, không hống hách, nhũng lạm, không hôn ám,
thì dân nhờ, còn nếu ngược lại thì dân khổ, ta thán, nhưng vẫn phải chịu đựng,
thế thôi. Bởi vì đụng tới cá nhân nhà vua là dụng tới quyền tối thượng, đụng đến
triều đình là đúng đến pháp luật, đụng đến “công quyền”, đụng đến guồng máy cai
trị, là đụng đến các quan sai, nha lại, thế thôi. Vua thì nhân danh thần quyền
(thay trời trị dân), triều đình, quan lại thì nhân dân “luật pháp”, chỉ có người
dân là không thể và cũng không biết nhân danh gì hết ngoài chính bản thân mình,
bởi vì họ hoàn toàn không có mọi quyền công dân theo nghĩa hiện đại. Vì vua
quan là cha truyền con nối, vua truyền ngôi qua huyết thống, còn quan thì được
tập ấm ngay từ lúc mới sinh ra, đó quả là một thứ tầng lớp thống trị vào những
thời đại xã hội nhiễu nhương mà ai cũng thấy.
Bởi
vậy, trong thời đại tiến bộ, phát triển ngày nay trên toàn thế giới, nền tảng
hay thể chế dân chủ coi như đã được thiết chế một cách vững chắc, rõ ràng. Đó
là nguyên lý hay nguyên tắc mà hầu hết mọi nước đều theo, bởi vì nó hoàn toàn tự
nhiên, hợp lý mà không hề miễn cưỡng hoặc giả tạo. Nếu có những nước còn có
“vua”, thật ra đó chỉ là những biểu tượng hoàn toàn tượng trưng, hình thức, vì
mọi quyền hạn đều thuộc về toàn dân, tức dân được quyền phổ thông đầu phiếu để
chọn lên một vị Thủ tướng thay mặt nhà “Vua” để điều khiển công quyền, như trường
hợp nước Anh, Nhật bản, Thái lan của các chế độ đại nghị. Hay như trường hợp của
Mỹ, toàn dân bầu cử trực tiếp Tổng thống, Phó tổng thống trong một liên danh, để
từ đó Tồng thống bổ nhiệm chính phủ. Hay như Pháp, cũng là chế độ tổng thống chế,
và sau khi Tổng thống được bầu thì bổ nhiệm Thủ tướng để trực tiếp điều hành
chính phủ. Có nghĩa ở các nước dân chủ, tự do, mọi quyền công dân của mọi người
đều không mất. Mọi người theo khả năng, tài bộ của mình có thể được quyền ra ứng
cử mọi nhiệm vụ công quyền một cách tự do, kể cả chức vụ cao nhất. Bởi vì
nguyên tắc mọi người đều hoàn toàn tự do, bình đẳng. Cho nên quyền tự do ứng cử,
tự do bầu cử, đó là quyền công dân cơ bản nhất, và cũng là ý nghĩa của sự tự
do, dân chủ tiêu biểu nhất, quan trọng nhất, mà không phải tự do, dân chủ chỉ
là sự được phép làm kinh tế, được quyền tự do làm ăn trong xã hội.
Ngược
lại với các mô hình khách quan trên, thời đất nước Liên xô và khối Đông Âu còn
tồn tại, tất cả mọi quyền chỉ tập trung vào trong tay đảng cộng sản, tức là đảng
theo học thuyết mác xít, đứng đầu là Tổng bí thư, mà thực chất cũng chẳng khác
gì nhà vua theo quan điểm thần quyền ngày xưa, dưới đó là triều đình quyết định
tất cả mọi việc của xã hội và đất nước, kể cả việc cho những ai ra ứng cử theo
kiểu hình thức, còn toàn dân chỉ còn được quyền đi bầu theo lệnh, nên thực chất
đó cũng hoàn toàn không còn mang ý nghĩa của phổ thông đầu phiếu theo nghĩa tự
do, dân chủ và thật sự khách quan, hữu lý, có ý nghĩa và giá trị nữa. Đó là cái
mà người ta tự mệnh daanh là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhưng thực chất nó
chỉ là một chiều, chuyên quyền, độc đoán của một nhóm thiểu số cầm quyền không
do ai bầu lên, tự họ có quyền như trên trời rơi xuống, như được Thượng đế hay
Chúa nào đó giao phó ý như những thời đại thần quyền hay giáo quyền, và kết quả
cuối cùng là dù có kéo dài non thế kỷ thì kết thúc là triều đại Liên xô và cả
khối Đông Âu cũng phải sụp đổ, tan rã một cách tự nhiên theo xu thế tất yếu của
thời hiện đại. Có nghĩa đó là những xã hội không còn những người công dân mà thật
sự chỉ là những người phó thường dân, bởi vì mọi quyền công dân cơ bản, tự
nhiên của họ đều đã bị tướt đoạt đi một cách tùy tiện, công khai, bất công, phi
lý, và thật tình chúng đều đã bị mất.
Cho
nên, trong thời hiện đại cần phân biệt xã hội tự nhiên và xã hội chính trị. Xã
hội tự nhiên mới là xã hội sinh học, xã hội dân sự, còn xã hội chính trị mới thật
sự là xã hội công dân, xã hội công quyền. Bởi mọi người sinh ra trên cõi đời
này, ai cũng phải lao động để sống, phải làm kinh tế theo một nghĩa nào đó, tức
xã hội chỉ biết có “làm và ăn”, hay xã hội làm ăn, xã hội kinh tế, đời sống dân
sự tự nhiên, rõ ràng chỉ mới là xã hội tồn tại khách quan, tức sự tồn tại sinh
học của mọi người, mà thật tình quyền chính trị, quyền công dân đều chưa được
nói đến. Tất nhiên kinh tế là cơ sở của đời sống, xã hội dân sự, xã hội tự
nhiên tự nó luôn luôn phát triển một cách khách quan, thì xã hội nói chung cúng
phải phát triển, đó chỉ là thực tế hay quy luật tự nhiên. Song đó chỉ mới là
nguồn gốc cơ bản, nguồn gốc vật chất, nguồn gốc xã hội khách quan của xã hội
công quyền mà thật sự vẫn chưa phải là chính bản thân của xã hội công quyền, tức
xã hội bao quát và cao hơn, như trên kia đã nói. Mỗi con người sinh ra, biết
làm ăn kinh tế, biết làm giàu để no đủ và phát triển, biết hoàn thành nghĩa vụ
đóng thuế để khỏi bị phiền hà, thì đó vẫn mới chỉ là sự tồn tại, hoạt động của
một con người nói chung, một ý nghĩa sinh học thuần túy, mà chưa phải là ý
nghĩa của người công dân, chưa phải là ý nghĩa của công quyền thật sự, chưa phải
là con người có đầy đủ mọi quyền hạn và được tôn trọng mọi quyền hạn như trên
kia đã thấy.
Thế
thì, các ý nghĩa về xã hội, kinh tế và chính trị, mọi người cũng cần phải nên
luôn luôn phân biệt, và chúng cũng cần phải được nhận thức đầy đủ. Xã hội là mối
tương quan tự nhiên giữa mọi con người cùng sống với nhau. Mối tương quan đó cơ
bản là sự thành thật với bản thân mình, với người khác, sau nữa là với cuộc đời
nói chung. Không thành thật với bản thân mình tức tự mình dối mình, tự dối lòng
hay sự ngụy tín cũng vậy. Như con cáo thấy chùm nho cao quá thì cho là chùm nho
chua thế thôi. Tự thành thật với mình là điều căn bản để thành thật với người
khác, và cũng là cơ sở để thành thật chung với mọi người. Trong xã hội, chỉ cần
hai người lừa dối nhau về những điều nào đó, tự khắc sẽ có hiện tượng dây chuyền,
như những quân bài đô mi nô xếp cạnh nhau, sự tương tác hàng loạt là điều dễ thấy.
Cho nên sự thành thật nơi cá nhân và sự thành thật nơi xã hội là ý nghĩa đạo đức,
là vấn đề đạo đức. Ngược lại, dù phương diện nào cũng vậy, là điều phi đạo đức
hay kém đạo đức. Chính mọi sự tự dối lòng, dối người khác, trở thành sự lừa đảo
ý thức chung trong toàn xã hội một cách dây chuyền, tạo thành một xã hội kém đạo
đức hay phản đạo đức. Thành thật có nghĩa là biết tôn trọng sự thật, biết nói
lên sự thật và không lừa dối người khác, Đó không những là tính cách đạo đức,
mà nhiều khi cũng còn là một bản lĩnh, tức dám thoát ra khỏi bản năng ích kỷ,
khỏi tính cách tầm thường, thấp kém, vô trách nhiệm, vô ý thức, để đạt đến ý
nghĩa nhân văn, ý nghĩa của sự tự chủ và cao cả về ý thức.
Điều
này không bất kỳ ai có thể giấu được. Bởi mọi quan hệ xã hội đều là quan hệ
công khai, ít nhất cũng là giữa hai người. Cho nên mọi sự dối trá, che đậy tự
khắc phải lộ liễu ra đối với người đối diện. Người xưa có nói danh chính ngôn
thuận, danh bất chính ngôn bất thuận là như thế. Tức lời thật thì trơn tru, lời
không thật thì trúc trắc, khúc mắc như thế nào đó hoàn toàn tự nhiên. Bởi vậy,
mọi kiểu nói theo khẩu hiệu, nói theo công thức, nói theo rập khuôn, nói theo lời
thiệu, nói chỉ để nói mà không có ý thức thành thật, không có nội dung khách
quan, xác đáng, đều biểu hiện ra trên khuôn mặt giả dối, lơ láo mà ai ai nhìn
vào cũng rõ. Bởi vậy, ngày nay là thời đại của thông tin đại chúng, mọi kẻ chức
sắc ở khắp mọi nơi, mọi người dân thường ở khắp mọi nơi, không thể nào tránh khỏi
hoặc có dịp hoặc thường xuyên xuất hiện trước ống kính, trên truyền hình, thì ý
nghĩ thật của mình như thế nào, lời nói bề ngoài che đậy, giả tạo của mình như
thế nào, quả thật không thể nào giấu được trước bàng dân thiên hạ. Bởi vì mọi ống
kính nghề nghiệp ngày nay rất hiện đại nên cũng thật sự vô cùng rõ nét. Nó luôn
luôn lạnh lùng, khách quan, chính xác, còn các phóng viên báo chí tuy chỉ làm
tác vụ nghề nghiệp của mình, nhưng không phải họ không có ý thức, có nhận xét
riêng, và tất cả mọi người trong mọi khán trường hay khi xem tivi cũng vậy, họ
luôn luôn có ý thức nhận xét, đánh giá ngầm ẩn, nhưng đều không nói ra. Đấy, mối
quan hệ xã hội chính là thế.
Còn
mối quan hệ kinh tế ư ? Tất nhiên tất cả mọi người ai cũng phải đi làm để kiếm
sống, đó là ý nghĩa kinh tế tự nhiên của xã hội. Hoặc làm thuê cho guồng máy
nhà nước, hoặc làm thuê cho các công ty, xí nghiệp tư nhân, hoặc làm nghề tự
do, hoặc giao dịch dịch vụ và bán buôn, tất cả mọi mối quan hệ chằng chịt ấy
chính là mối quan hệ kinh tế của tất cả mọi người. Tất nhiên trong tất cả các mối
quan hệ này, mọi sự phỉnh gạt nếu có, chỉ có thể xảy ra được duy chỉ một lần,
cho nên đức tính thành thật, trung thực vẫn là các giá trị, lợi ích lâu bền, cần
thiết và chính đáng nhất. Chính nền kinh tế vĩ mô bao quát hết, tổng gộp hết mọi
khía cạnh khác nhau trong quan hệ kinh tế vi mô, đó cũng là qui luật khách quan
tự nhiên của xã hội, nhưng đây lại cũng là điều tắt tị trong Mác khi ông đưa ra
quan điểm về sự bóc lột và quan điểm đấu tranh giai cấp, để cuối cùng ông ném
chung cả lịch sử xã hội vào chuyên chính vô sản một cách khốc liệt mà mọi người
đều biết. Cho nên, dầu kinh tế thị trường là bản chất khách quan đúng đắn của
xã hội, nhưng nếu mỗi người thiếu ý thức, không vượt lên được mọi quan điểm tầm
thường, ích kỷ, thì cũng chỉ làm nghèo nàn bản thân và gây nên những tì khuyết
cho xã hội. Chạy theo lợi nhuận là chính đáng, vì là nhu cầu để tồn tại và phát
triển trong hoạt động, nhưng nếu lợi nhuận trở thành động cơ duy nhất, suốt đời
chỉ thờ bò vàng, chỉ biết làm tiền và hưởng thụ vật chất, quả cũng mất hết ý
nghĩa tinh thần, ý thức cao cả của con người, mất hết mục đích và giá trị nhân
văn, và như vậy cũng chỉ còn là đời sống sinh học, một động cơ vật chất đang hoạt
động, mà còn có ý nghĩa gì.
Cuối
cùng mối quan hệ chính trị ư ? Đây chính là mối quan hệ về quyền công dân, về
công quyền một cách tự nhiên, như trên kia đã nói. Chính trị thật ra không gì
khác hơn là mối quan hệ công dân hay công quyền của tất cả mọi người trong một
quốc gia, trong một xã hội. Người Việt Nam ở nước ngoài chẳng hạn, họ là công
dân ở nước ngoài nếu quả đã nhập tịch nước ngoài. Còn đối với đất nước, họ là
người đồng bào, là người có mang cùng giòng máu Việt Nam. Cho nên, chỉ có những
người trong nước, những người có quốc tịch Việt Nam mới thật sự là những công
dân Việt Nam, tức những người có đầy đủ quyền công dân như trên kia đã nói.
Nhưng nếu trường hợp những quyền công dân như trên đã nói của họ không còn đầy
đủ, thật sự họ cũng chỉ là những bán công dân, những công dân thứ cấp, tức những
phó thường dân, mà thật sự họ không phải đầy đủ là những thường dân hay những
công dân hoàn toàn đúng nghĩa. Đấy, quyền chính trị là như thế đấy, nó hoàn
toàn đơn sơ, giản dị, tự nhiên, mà rất nhiều người không thấy, những người cầm
quyền cũng như những người bị cầm quyền. Đó chính là lý do tại sao những người
cầm quyền vẫn nghĩ rằng bản thân họ phải cầm quyền, vì họ tài giỏi hơn, hay
hơn, còn bản thân những người bị cầm quyền là được người khác cầm quyền, vì
mình thấp kém hơn, tệ hơn, tính chất công dân còn chưa tới hạn hay yếu kém hơn.
Từ đó họ suy diễn ra, đó là quyền “lãnh đạo” đối với mọi người, hay đối với
toàn dân “bị” lãnh đạo hay “được” lãnh đạo.
Đó
chính là ý nghĩa quan niệm của những nhà độc tài khét tiếng trước đây như
Stalin, Mao Trạch Đông, Moussolini, Hitler … vẫn coi chính trị là thống soái,
điều khiển mọi quyền và lợi khác nhau trong toàn xã hội. Vậy nên, chỉ những xã
hội dân chủ, tự do đích thực, mới là những xã hội có quyền công dân đích thực.
Bởi quyền công dân là quyền tự nhiên của mọi người trong xã hội dân sự của một
nhà nước, một quốc gia, một đất nước nhất định. Có nghĩa mọi người trong xã hội,
dù năng lực của họ thế nào, nhưng quyền công dân của họ nhất thiết phải được
tôn trọng và không hề bị mất, tức không bị ái tướt đoạt trái ý muốn của họ, hay
theo cách phi pháp. Một người nông dân chẳng hạn, hay một thương nhân hoặc một
công nhân, có khi trình độ nhận thức, hiểu biết về chính trị xã hội cũng như
các mặt của họ đều kém cõi, nhưng không thể vì thế mà người khác có quyền khinh
thường, coi thường họ, coi lá phiếu hoặc ý chí, nguyện vọng của họ như không
có, để có thể dẫm lên chính quyền công dân tự nhiên của họ. Giống như mọi người
có tiền bỏ trong túi, hay để dành đâu đó, nhưng không một ai được quyền nói rằng
họ chưa tiêu đến hay không biết cách tiêu tiền để cưỡng đoạt hoặc cướp giật được
của họ. Quyền công dân như vậy đúng là quyền thiêng liêng, là nhân quyền, quyền
làm người bình đẳng, tức cũng có nghĩa là quyền xã hội, kinh tế, chính trị, văn
hóa, tinh thần cua mọi người, mà không thể một ai có quyền xem thường, chà đạp
lên, hay đụng đến một cách bất công.
Bởi
vậy, nói cho cùng học thuyết Mác là học thuyết vô lý nhất trên cõi đời này tự cổ
chí kim(1). Bởi vì thực chất hay thực tế nó phủ
nhận tất cả mọi học thuyết truyền thống, có giá trị của nhân loại từ xưa đến
nay khi đều được bỏ chung vào một giỏ là học thuyết tư sản, trong đó có các học
thuyết về dân chủ, tự do và nhân quyền cổ điển(2).
Thay vào đó ông ta đưa ra một học thuyết hoàn toàn giả tạo, phi khoa học, phản
khoa học trong bản chất, nhưng lại có khả năng huyền hoặc, mơ hồ cả nhân loại,
nên đã từng có thời kỳ học thuyết của ông đã được áp dụng từ A đến Z tại rất
nhiều nơi trên thế giới nếu không nói cả gần trên một nửa nhân loại phải chịu
quy phục dưới lý thuyết của ông. Kết quả kinh tế đình đốn, xã hội đình đốn,
chính trị đình đốn, văn hóa đình đốn về tất cả các mặt. Con người trở nên lệ
thuộc vào chính con người, tức là một sự lệ thuộc lẫn nhau một cách giả tạo,
hay nói cho đúng một sự sợ hãi lẫn nhau một cách bất đắc dĩ nhưng bó buộc, khiến
mọi người đều trở thành giả dối, nghi kỵ lẫn nhau, không còn một ai thành thật,
khách quan hay có tinh thần xây dựng nhau một cách đứng đắn nữa. Đó là tất cả
những con người vong thân, đánh mất bản thân tự nhiên, đích thực của mình, và
ai cũng vậy, không trừ một ai, từ một thiểu số cầm quyền cho tới toàn dân, vì
xã hội đó trở thành như một quán tính chung, không còn ai có ý thức hay ý chí độc
lập, tự do, dân chủ nữa cả, bởi vì tất cả mọi người đều phải cần tự vệ, cần giả
dối, đóng kịch để tồn tại. Và cuối cùng cái kịch bản vĩ đại đó trên toàn thế giới
cũng đã phải hạ màn, đã gây ra cũng như đã để lại biết bao di hại trên thế giới,
chẳng khác gì một lớp trát giả tạo lâu ngày rồi cũng phải bong ra. Và nếu ngày
nay đã có nhiều người buộc phải nghĩ rằng chính bản thân Mác cũng chẳng khác gì
một kẻ tội đồ của nhân loại, thì điều đó quả chẳng phải không hoàn toàn có lý.
VÕ HƯNG THANH
(17/02/2011)
**
THẾ
NÀO LÀ MỘT NGƯỜI LÃNH ĐẠO ĐẤT NƯỚC
Từ
thuở ban sơ, khi xã hội được kết tập lại với nhau, yêu cầu về tổ chức và điều
hành đã trở thành như một sự kiện hiển nhiên. Điều này không phải đúng với con
người mà nhiều khi còn đúng cả với những loài vật, những loài vật sống thành quần
thể, thành bầy đàn. Tính cách đó người ta nhận thấy phổ biến nhất như ở loài
ong, loài kiến, loài mối, loài khỉ vượn, loài chim thiên di, loài đại móng guốc
cùng di chuyển thành bầy … nói chung là có rất nhiều, theo bản năng đàn bầy, hoặc
được tổ chức tinh vi, hoặc chỉ hành vi mù quáng theo mỗi con đầu đàn. Tất cả mọi
điều đó xảy ra là vì nhu cầu trật tự, nhu cầu ổn định và thống nhất đàn bầy, đó
cũng chính là nhu cầu tồn tại.
Nhưng
mọi giống vật đều là loài lý trí thấp, chúng phần lớn sống chỉ dựa trên bản
năng tự nhiên, chúng cũng không sử dụng sức mạnh nào khác ngoài sức mạnh chung
của bầy đàn và sức mạnh thân xác của từng cá thể, tức các yếu tố cơ bản tạo
thành sức mạnh đàn bầy. Điều này đối với con người lại hoàn toàn khác. Quần thể
xã hội con người là quần thể có trình độ phát triển và tiến hóa cao, tức mỗi cá
nhân đều có lý trí, có tình cảm, cảm xúc phong phú và cao quý rất nhiều hơn
loài vật, có nghĩa con người biết nhận thức, và sự tổ chức trong xã hội con người
không thuần túy bản năng mà còn là những sự tính toán có ý thức nơi mỗi cá nhân
theo các nhu cầu, hoàn cảnh, điều kiện, tình huống riêng, hay vì nhằm lợi ích
chung của toàn thể xã hội.
Như
vậy, rõ ràng ngoài sức mạnh của lý trí, của tình cảm, của cảm xúc, ngoài sức mạnh
cơ bắp của thân xác, con người còn có sức mạnh của các công cụ sát thương mà
ngày nay được gọi chung là vũ khí, sức mạnh của sự tổ chức xã hội mà ngày nay vẫn
được hiểu là các chế định hay luật pháp xã hội, mà nói chung lại là các quyền lực
nhà nước. Đó đều là những diễn tiến hoàn toàn dễ hiểu của thực tế xã hội. Bởi
khởi thủy của nó là các cách thức tổ chức, điều hành đơn giản nơi các bộ lạc,
phát triển hơn đó là các hình thức của những xã hội phong kiến, cao hơn nữa là
các xã hội quân chủ, và tiến bộ nhất ngày nay chính là các xã hội dân chủ, tự
do hiện đại. Sự tiến triển của tính chất quyền lực chung như vậy rõ ràng phụ
thuộc vào sự phát triển của toàn xã hội và mỗi cá nhân con người về tất cả mọi
mặt, tinh thần, vật chất, ý thức, cũng như bản thân phát triển chung của toàn
thể cộng đồng.
Ngày
xưa, vua hay hoàng đế thường là các bậc võ biền khởi nghiệp. Đó là những cá
nhân có sức mạnh, tài năng bản thân riêng do trời phú, và với tài trí xuất
chúng riêng đó, kết hợp với sức mạnh của những người đi theo phò tá, giúp đỡ mình,
kết hợp với hoàn cảnh xã hội nhiễu nhương trở thành có nhu cầu đòi hỏi về ổn định
cần thiết và sự trật tự chính đáng, thế là một triều đại được lập nên, và thường
thường người đứng đầu như thế là một đấng quân vương. Ý nghĩa của người lập nên
triều đại đầu tiên, thông thường vẫn là sự lợi ích chung cho toàn xã hội. Giống
như Đinh Bộ Lĩnh đã từng đánh dẹp, thống nhất tình trạng cát cứ của các sứ quân
và lập nên nhà Đinh. Đó cũng là tình trạng phổ biến chung trên toàn thế giới,
cho dầu đó là các Đế chế hùng mạnh như La mã hay Mông cổ … là tùy theo hoàn cảnh
lịch sử và điều kiện riêng của các dân tộc, các nước.
Thế
nhưng nói chung lại, “vua” hay “hoàng đế” cũng chỉ là một người đứng đầu cả một
cõi. Dưới tay họ là bộ máy triều đình, gồm mọi loại quan lại giúp việc, kể cả
các bộ hạ, tay chân thân tín nhất, và cuối cùng là bộ máy hành chánh rộng lớn,
hoạt động quản lý toàn xã hội, tức cai trị toàn dân. Cho nên gọi đó là bộ máy
thiết yếu của trật tự xã hội, là công cụ quản lý chung của toàn xã hội, hay bộ
máy chuyên chính của một triều đại gì đó cũng được, đó là tùy theo mức độ tốt đẹp
hay không tốt đẹp của ý nghĩa xã hội trong từng triều đại đó. Nhưng nói chung lại,
bởi xã hội con người là xã hội có lý trí, nên mỗi triều đại đều phải dựa vào một
chủ trương chung nào đó, dựa trên cơ sở lý thuyết có tính lý tưởng nào đó như
thần quyền, vua thay Trời trị dân, giáo quyền, vua là người lãnh nhiệm ý chí của
Chúa, của Thượng đế v.v… và v.v… Và khi toàn thể xã hội thấy được lý do của các
sứ mệnh đó chấm dứt, vua cũng hết quyền, quyền được chuyển giao cho người khác
nắm được chân lý hơn, hay triều đại đó bị lật nhào để thay bằng triều đại khác
hợp lòng dân, hợp với lợi ích chung của xã hội và mọi người hơn. Đó là lý do mà
nhà tư tưởng chính trị vĩ đại ngày xưa là Mạnh tử có nói nước chỡ thuyền mà
cũng chính nước làm lật thuyền là vậy.
Bởi
trong phần lớn mỗi con người đều có những thứ bản năng hạ đẳng, nên thông thường
chúng chỉ cần có các dịp tốt là dễ bùng ra. Chẳng hạn, trong các thời buổi nhiễu
nhương thì trật tự xã hội hổn loạn, giặc cướp hoành hành. Khi một chính quyền mới
tan rã, sụp đổ, chưa thay thế được cái mới, tình trạng lộn xộn trong trật tự xã
hội có thể vẫn diễn ra. Đặc biệt trong các tình trạng bạo loạn, bạo hành nhất
thời trong xã hội, hay tình trạng chiến tranh lộn xộn xảy ra, rất thường xảy ra
nạn hôi của, cướp giật, trấn lột nhau về nhiều mặt v.v… Hay trong thời quân chủ
ngày xưa, khi nhà vua sáng lập triều đại qua đời, tất nhiên ngôi báu chỉ truyền
lại cho con, cho cháu, có khi cho người trong hoàng tộc. Đó là lẽ đương nhiên,
bởi vì trình độ phát triển của xã hội khi đó về mọi mặt cũng chỉ đạt đến mức
như thế. Nhưng oái ăm nhất, có khi quyền lực lại rơi vào trong đám hoạn q uan, rơi vào tay một bạo chúa, hôn quân kế tiếp,
hay có trường hợp về mặt hình thức được chuyển vào tay một trẻ con, hoặc thậm
chí một tì thiếp nào đó của nhà vua quá cố, nói chung là quyền hành được chuyển
sang cho đám cận thần, đầy tớ gần gủi nhất, hay cho chính dòng máu trực hệ của
người làm vua.
Đó
là chuyện ngày xưa, đã từng nhiều trăm năm hay cả nhiều ngàn năm qua rồi. Nhưng
trong thời hiện đại, có khi những điều này vẫn hoàn toàn lặp lại. Ngày nay tuy
trong thời hiện đại, nhưng không thiếu trường hợp quyền lực xã hội vẫn được
chuyển lén lút, che giấu, ngầm ẩn, hay thậm chí công khai theo cách máu huyết
hoặc cận thần như thế. Điều này ở nhiều nơi, nhiều chỗ từng xảy ra, ai cũng biết,
chẳng cần nói tới làm gì. Song lộ liễu nhất mà toàn thế giới dè bỉu nhìn vào đó
là quyền lực sắp được truyền kế đến ba đời ở Triều Tiên, từ đời ông vua cách mạng
đầu tiên, tức ông nội, để sắp kết thúc vào đời thứ ba hay kéo dài nữa, ở ông
cháu nội mới 27 tuổi đã được phong làm đại tướng dù chưa đi lính lấy một ngày để
thụ nhận và duy trì quyền hành cách mạng từ gia đình mình truyền lại. Đấy tính
oái ăm hay tính hai mặt của quyền lực xã hội là như thế. Có nghĩa nó như con
dao hai lưỡi và rất dễ bị chiếm đoạt, bị nhân danh. Bản năng con người có rất
nhiều khía cạnh và tham vọng cá nhân con người thật cũng vô hạn, nên mọi sự bám
víu quyền lực một cách sai trái là điều không tránh khỏi khi quyền lực do các yếu
tố lịch sử bị rơi vào trong tay một cá nhân con người. Ngày nay không chỉ cá
nhân mà còn là tập thể, và để nắm vững quyền lực, người ta cũng có thể nhân
danh đủ thứ.
Trong
ý nghĩa đó, đúng ra quyền lực trong thời hiện đại không thể nào là kiểu chính
trị mù quáng, niềm tin mù quáng, hay kể cả mọi sự lợi dụng ích kỷ, mù quáng, mà
phải là quyền lực trên cơ sở khách quan, khoa học, trên cơ sở tự do dân chủ của
toàn toàn dân(1). Nói khác đi, quyền lực
của thời hiện đại phải chính là quyền lực do kết quả của phổ thông đầu phiếu,
mà không thể chỉ theo kiểu cha truyền con nối, kiểu cận thần vươn lên, kiểu sống
lâu lên lão, hoặc trên cơ sở giòng máu, cơ sở của lý thuyết ý thức hệ, hay chỉ
thuần túy là cơ sở của những tập thể đã và đang cầm quyền nào đó. Mọi sự truyền
thụ quyền lực xã hội như thế rõ ràng chỉ là sự tiếm đoạt, sự chiếm đoạt của
chung làm của riêng. Bởi quyền lực xã hội là quyền lực của toàn xã hội, của tất
cả mọi người, không thể của riêng ai, của cá nhân nào hay của nhóm cá nhân nào.
Trong ý nghĩa như thế thì quyền đầu phiếu phổ thông để ủy quyền, để toàn dân
giao quyền là cần thiết và chính đáng nhất. Không thể có loại quyền lực chỉ
chuyền tay nhau như kiểu chơi bóng, thực tế đó là kiểu phản xã hội, phi đạo đức,
thậm chí là phi pháp, bởi vì khi ấy luật pháp giống như chỉ do mỗi cá nhân hay
nhóm cá nhân chi phối, tự đặt ra, mà không phải của toàn dân.
Điều
này hoàn toàn minh bách, rõ ràng, khách quan và dễ hiểu. Bởi vì tất cả mọi con
người sinh ra trên thế gian này khởi thủy đều tự do, dân chủ và bình đẳng. Thế
thì để chọn một người tiêu biểu nhất đứng đầu xã hội, đứng đầu nhà nước, chỉ có
thể là bầu cử tự do, là phổ thông đầu phiếu, mà không thể nào là sự bầu cử gián
tiếp, chỉ do một số người nào đó hạn chế tuyển chọn hoặc công kênh nhau lên, bởi
vì không bất kỳ một nhóm cá nhân nào trong xã hội lại tự mình được thay quyền
toàn xã hội cho dầu bất kỳ lý do gì, kể cả những sự nhân danh không chính đáng.
Trao quyền kiểu cục bộ, theo cách gián tiếp, không quả phổ thông đầu phiếu, bị
khống chế bởi nhóm thiểu số, đó là tình trạng lạc hậu, tình trạng phản tự do,
dân chủ cần thiết và chính đáng của xã hội, nói chung là phi lý, kể cả bất hợp
pháp đối với người đứng đầu đất nước, là nguyên thủ quốc gia, mà không bất kỳ
những nhà nước tiên tiến, hiện đại, dân chủ tự do nào trên toàn thế giới ngày
nay còn bám vào hay thực hiện.
Cho
nên, chỉ khi nào người đứng đầu đất nước được toàn thể dân bầu một cách trực tiếp,
công khai, dân chủ, theo kiểu phổ thông đầu phiếu, khi ấy thật sự người đó mới
cảm thấy có tinh thần trách nhiệm, mới tiêu biểu được tinh hoa và tài năng của
toàn xã hội, mới có đủ khả năng, sức mạnh để lèo lái, phát triển, chỉ đạo được
lợi ích chung của toàn xã hội, của dân tộc, quốc gia và đất nước. Bởi tâm lý, ý
thức con người vẫn luôn luôn phần lớn có sự mang ơn. Giống như người nào trao
mình vật gì, mình tức khắc chịu ơn và muốn trả ơn người đó. Sự trao quyền xã hội
cũng vậy. Tuy là công quyền, tức quyền của toàn dân, của mọi người, nhưng được
một người hay một nhóm người khác nào đó khác trao riêng cho một người, tất
nhiên người đó sẽ phải mang ơn, và cũng nhằm có ý chan hòa chung cho những người
đó. Vả chăng công quyền, hay quyền lực công cộng là quyền chung của toàn xã hội,
quyền chung của mọi người, tại làm sao một cá nhân hay một tập thể nào lại lấy
lý do gì, lấy nguyên cớ hoặc mục đích ra sao để được nắm riêng và được trao
riêng cho các cá nhân hay cho những con người kế thừa nào đó. Đó hoàn toàn là sự
phi lý, sự phản dân chủ, mà bất cứ người dân bình thường nào đều cũng có thể nhận
thức và đánh giá ra được.
Do
đó, chỉ khi nào có quyền đầu phiếu phổ thông thật sự để lựa chọn người đứng đầu
nhà nước, đứng đầu chính phủ, đứng đầu quốc gia, khi đó người đứng đầu mới đúng
là người tiêu biểu nhất, có tài cán nhất, phù hợp nhất, và đồng thời cũng có
năng quyền và trách nhiệm nhất. Tất cả những điều đó chính là tiền đề cơ bản,
hay điều kiện tất yếu để chính người đó lập thành chính phủ lành mạnh, hiệu quả,
mang tính đại diện toàn dân và cũng tất yếu được toàn dân ủng hộ. Đó mới thật sự
là chính phủ hay chính quyền của dân, do dân, vì dân, mà không phải chỉ là lời
thiệu, hay một khẩu hiệu bề ngoài, không thực chất và hoàn toàn hình thức. Cho
nên, người đứng đầu, dầu tên gọi thế nào, cũng sẽ chính là người đầu tiên lập
nên chính phủ, thiết kế hệ thống công quyền hiệu quả, trong sạch, lành mạnh nhất
trong thực tế. Bởi công quyền thật sự chỉ là quyền lực cần thiết, phù hợp,
khách quan, hiệu lực và kết quả nhất cho xã hội trong từng lúc, từng hoàn cảnh,
từng thời gian và từng thời đại, không có loại công quyền như kiểu thiết kế một
lần, tiền chế chủ quan theo kiểu nào đó và chỉ có những người vì hoàn cảnh hay
điều kiện nào đó đã tạo ra nó và cứ thường xuyên hay muôn đời ôm mãi.
Bởi
thế, nếu công quyền là của toàn dân thì nền chính trị cũng phải là của toàn
dân, guồng máy hành chánh, quản lý cũng phải là của toàn dân, mà đứng đầu là
chính phủ của nó cũng phải là của toàn đân, đó mới thật sự là nền dân chủ chính
đáng, thực chất thật sự. Ai cũng biết chính trị hoàn toàn khác với hành chánh.
Hành chánh là bộ máy công quyền tính, nó là công cụ quản lý phổ biến toán xã hội,
nó phải tồn tại khách quan, không hoàn toàn lệ thuộc vào chính trị. Guồng máy
hành chánh như vậy phải là chuyên nghiệp, là khoa học, là hiệu quả, là khách quan,
đó là yêu cầu chung, thực tế của toàn xã hội, không thể để cho quyền hành chính
trị nhất thiết tác động hay can thiệp một cách phiến diện, tùy tiện hoặc méo mó
vào. Đó là nguyên tắc hay nguyên lý chung mà loài người từ xưa đến nay, xã hội
hay quốc gia nào cũng chấp nhận và đều tuân thủ như vậy. Có nghĩa hệ thống công
quyền phát triển chung theo phát triển của toàn xã hội, nó không nhất thời bị uốn
nắn, lạm dụng vì các quyền lực thường xuyên có thể đổi thay về mặt chính trị. Bởi
thế, người đứng đầu quốc gia, tức tổng thống, chủ tịch hay thủ tướng cũng như
hàng bộ trưởng có thể chuyển biến, thay đổi, nhưng guồng máy hành chánh công
quyền trước sau vẫn như một, đó chỉ là nền trật tự khách quan, tất yếu, ổn định
của một quốc gia, một xã hội. Cũng chính vì thế mà cái được gọi là lãnh đạo
toàn diện, tức cai quản mọi người, mọi nơi, mọi chốn, từ thân xác đến ý thức, từ
tổ chức bên ngoài đến ý nghĩ bên trong quả là phản dân chủ, phi nhân văn, bất hợp
lý, vì nó không còn hiểu được có sự tách biệt giữa quyền dân sự và quyền chính
trị, giữa xã hội và chính trị, giữa công quyền và ý thức cũng như chiều hướng
chính trị nhất thời, hay nói chung lại đó chẳng qua là khái niệm toàn trị một
cách sai trái, thậm chí phản xã hội.
Tất
nhiên, thức tế xã hội luôn luôn tự hình thành nên những nhóm xã hội. Kể cả mỗi
gia đình cũng có thể hiểu như một thứ nhóm xã hội cơ bản nhất. Cho nên những
nhóm xã hội chính là những nhóm dư luận, nhóm ý kiến, nhóm trí tuệ, nhóm cảm
xúc, hay đôi khi kể cả là những nhóm nghề nghiệp. Bởi vậy, dù được tổ chức lại
hay không, dù có lồng vào nhau hay liên kết lại hay không, các nhóm xã hội bao
giờ cũng là những thực tế có thật một cách tự nhiên và chuyển biến tùy theo mọi
tình huống khách quan của xã hội. Chính đó là những nhóm tiêu biểu, nhóm đại diện,
là các thành phần cơ bản hướng dẫn đầu phiếu phổ thông một cách rộng rãi, chính
xác và dân chủ nhất mà không thể ai phủ nhận. Đấy ý nghĩa của chính trị thực tế
là thế, tức là dư luận, là nguyện vọng chính đáng, hữu lý của toàn dân kết hợp
lại qua các nhóm xã hội, mà không chỉ tùy thuộc duy nhất vào cá nhân hay một
nhóm xã hội cứ mãi mãi tồn tại cứng nhắc, vĩnh viễn nào. Chính trị nói cho cùng
chỉ là sự tổ chức, sự định hướng các nhu cầu thực tiển, cần thiết, phù hợp theo
thực tế phát triển và tồn tại của từng xã hội, đất nước qua chuyển biến thời
gian, mà không thể là công thức cứng nhắc, tiền chế, hay vũ đoán nào. Đó chính
là ý nghĩa của chính trị gắn liền với giá trị và mục đích dân chủ, tự do đúng
nghĩa và cần thiết của toàn xã hội. Cũng chính thế mà yêu cầu của người đứng đầu,
người lãnh đạo đất nước, cũng phải là kết tinh của toàn những cái đó.
Trong
tính cách như thế thì người đứng đầu xã hội, đứng đầu đất nước luôn mang ý
nghĩa tiêu biểu, mang tính cống hiến, thậm chí hi sinh mọi hạnh phúc, quyền lợi
cá nhân cho chính hạnh phúc của mọi người và quyền lợi chung của toàn xã hội.
Đây là điều tự ý thức mà không cần ai dạy bảo, không cần ai khống chế. Bởi bất
kỳ một người đứng đầu chính phủ, chính quyền, đứng đầu nhà nước nào mà còn lo
cho quyền lợi riêng của bản thân mình, của gia đình, con cái, thân nhân mình,
thực chất đều cơ bản là người bất xứng trong chính nghĩa vụ đã được giao, tức
đã được toàn dân trao phó. Điều này trước hết là lương tâm, trách nhiệm của
chính người đó quản lý, giám sát, kế đến là cơ quan công quyền độc lập có chức
năng kiểm tra giám sát, và sau nữa là báo chí, dư luận, toàn dân, tức toàn thể
mọi nhóm xã hội đều có quyền giám sát. Trong ý nghĩa trên dưới một lòng thống
nhất như vậy, thật sự cũng làm sao có tham nhũng, hay tình trạng tham nhũng
trong guồng máy công quyền cũng chỉ là những yếu tố đặc thù, những hiện tượng
lén lút, những trường hợp cá biệt, làm gì có tình trạng phổ biến, công khai, bất
trị như mọi người vẫn rất rõ và vẫn thường nói đến. Như vậy nói cho cùng, trong
bất kỳ xã hội nào, chính cơ chế vận hành của nó là cái nền tảng và quyết định
nhất. Nếu cơ chế đó là cơ chế tự do, dân chủ thực sự, người đứng đầu nhà nước của
nó thật sự cũng là người tiêu biểu, từ đó cả chính phủ và nền công quyền cũng
hoàn toàn tiêu biểu, xã hội đó đương nhiên cũng phải là xã hội lành mạnh và hiệu
quả. Trong khi đó mọi điều ngược lại xảy ra, cũng chính là do bản thân của cơ
chế xã hội đó thực chất không dân chủ, không tự do theo đúng nghĩa, và tất yếu
những hệ quả đi theo của nó cũng chỉ là điều đương nhiên, không thể nào khác được.
**
RỒI
LỊCH SỬ VẪN CỨ LUÔN TRÔI ĐI
Khái
niệm lịch sử vẫn luôn luôn là khái niệm hết sức đơn giản. Lịch sử là diễn tiến
từ đầu đến cuối của một thực thể nào đó. Lịch sử một đất nước, một dân tộc chẳng
hạn, là kể từ thời lập quốc, thời kỳ xây dựng xã hội, nhà nước đó cho đến mãi
mãi về sau nếu dân tộc, đất nước, xã hội đó vẫn tồn tại. Cho nên có bao nhiêu
cuộc vật đổi sao dời trong từng dân tộc, từng xã hội, từng đất nước từ xưa đến
nay. Có những yếu tố cũ mai một, qua đi, có những yếu tố mới xuất hiện, phát
triển lên, rồi chịu chung số phận hay được kéo dài, đó chính là lịch sử của từng
quốc gia, đất nước khác nhau trên thế giới từ cổ chí kim mà không ai không biết.
Thế
thì lịch sử thật sự nó là cái gì ? Đó không gì ngoài là những cá nhân con người.
Bởi từng cá nhân họp thành nhóm cá nhân, từng gia đình họp thành làng xóm, từng
làng xóm họp thành đơn vị, thành xã hội, và cuối cùng thành quốc gia, đất nước.
Tức cái cụ thể là những con người đơn lẻ luôn luôn nối tiếp nhau qua các thế hệ,
tạo thành xã hội thực tế, còn quốc gia hay đất nước là nói về mặt lãnh thổ địa
lý, mặt không gian sinh tồn, không gian sống của toàn thể những con người, là
nói về mặt tổ chức, mặt pháp lý, mặt công quyền, hay nói cho cùng lại là các mặt
khái niệm hay ý niệm trừu tượng. Tất nhiên, trong ý những những con người cụ thể
đó luôn luôn có mặt kinh tế, mặt xã hội, mặt chính trị, mặt văn hóa, phát triển
hay biến chuyển nói chung, tất cả những điều đó kết hợp lại chính là bản thân của
lịch sử hay các yếu tố làm nên lịch sử.
Vậy
thì rõ ràng lịch sử không gì hơn trong thực tế vẫn là sự tương quan giữa con
người và con người. Có hai mảng lớn nhất của sự tương quan này, đó là mảng xã hội
và mảng công quyền. Mảng xã hội là toàn bộ đời sống kinh tế, sản xuất, văn hóa,
văn minh của xã hội nói chung. Mảng công quyền là toàn bộ các định chế, thể chế,
tức pháp lý và tổ chức nhà nước hay sự hoạt động như là tổng thể của việc điều
hành, dẫn dắt hay lãnh đạo xã hội. Bởi vậy khi xã hội Việt Nam cổ dưới thời Nam
Hán phải nằm trong sự đô hộ của nhà Hán, đó là xã hội của những người dân mất
nước, nhưng xã hội đó vẫn tồn tại và “phát triển”, cho đến khi hai bà Trưng nổi
lên giành lại chủ quyền cho dân tộc. Thời gian giành lại này tuy ngắn ngủi
nhưng thật sự rất cần thiết và quang vinh. Đó là cái mốc đầu tiên, rồi đến bà
Triệu, đến Lý Nam Đế, cho mãi về sau đến Đinh, Lê, Lý, Trần v.v… dã dần dần xây
dựng được những triều đại hoàn toàn cường thịnh, độc lập, phát triển thật sự
cho dân tộc.
Như
vậy, độc lập dân tộc chính là độc lập quan trọng và đầu tiên nhất mà bất cứ đất
nước, quốc gia riêng lẻ nào đều cần phải có. Bởi đó là chủ quyền quốc gia, sự
toàn vẹn lãnh thổ, quyền lợi thiết thực, và danh dự, uy tín đất nước, là điều
kiện của tự do và phát triển của riêng mình, đó chính là ý nghĩa cao cả cũng
như nhu cầu cần thiết nhất. Lãnh thổ là cương lĩnh cõi bờ vốn từ xưa đã có, đã
do tiền nhân và ông cha nhiều ngàn đời để lại. Cương vực nào vốn có của đất nước
khi những thế hệ mới sinh ra, đó là lãnh thổ, không thể để bị mất đi cho dầu chỉ
là một tất đất, đó là sự toàn vẹn lãnh thổ mà không là gì khác. Ý nghĩa của độc
lập dân tộc, của tự cường đất nước, cũng luôn đi đôi với sự toàn vẹn lãnh thổ
mà không là gì khác. Sự yếu kém hay khuyết tật về mặt này cũng tất sẽ dẫn đến sự
yếu kém hay khuyết tật ở mặt kia hay sự không toàn vẹn về các mặt, đó là điều
quan trọng đáng lưu ý nhất.
Thế
thì trở lại vấn đề, sự phát triển của xã hội cũng chính là sự phát triển của một
đất nước mà không là gì khác. Chính xã hội phát triển làm cho đất nước phát triển
mà không phải là điều ngược lại. Bởi xã hội là một thực thể, còn đất nước chỉ
là khái niệm trừu tượng làm tiêu biểu hay đại diện trên tên gọi, trên ngôn ngữ
của chính thực thể đó. Mà xã hội chính là những con người cụ thể như trên kia
đã nói, cho nên sự độc lập, tự do của một đất nước thực chất chính là sự độc lập,
tự do của mỗi cá nhân trong xã hội, là một điều mà phần lớn nhiều người không hề
nghĩ tới hay không hề quan tâm tới. Bởi vậy, tranh đấu cho độc lập dân tộc, cho
độc lập đất nước, thực chất cũng là tranh đấu cho sự độc lập của toàn dân, cho
độc lập và tự do của mỗi con người cùng mang going máu đó trong suốt tiến trình
đấu tranh lịch sử của mỗi quốc gia, dân tộc. Chính mối tương quan giữa con người
và con người vẫn luôn luôn là mối tương quan tất yếu. Ở đất nước độc lập, mối
tương quan đó là mối tương quan giữa những con người trong một đất nước với
nhau. Ở một đất nước không độc lập, mối quan hệ đó là mối quan hệ với người
ngoài, thuộc đất nước và chủng tộc khác, như nước ta trong thời Bắc thuộc hay
trong thời Pháp thuộc.
Và
mối tương quan đó như trên đã nói, nó thuộc hai mảng lớn, đó là mảng chính quyền
và mảng đời sống dân sự. Mảng chính quyền là mảng nhà nước, mảng định chế hay
thiết chế quốc gia. Mảng đời sống dân sự là mảng toàn dân, toàn xã hội. Mảng
trước thật sự chỉ là mảng công quyền, mảng chính trị, nhưng mảng sau mới là mảng
căn cơ, quyết định nhất, tức mảng kinh tế, văn hóa, đời sống xã hội nói chung.
Hơn thế, mảng sau là cái vú sữa, cái yếu tố nuôi sống mảng trước, mảng trước là
cái được nuôi mà không phải ngược lại. Ngay trong thời đại phong kiến, nhà vua
chỉ là cá nhân đứng đầu, tiêu biểu quyền hành và đạo đức cho cả nước. Triều
đình hay guồng máy công quyền là công cụ giúp nhà vua, giúp xã hội, nhằm để ổn
định và phát triển đời sống của toàn dân mà không là điều gì khác. Người ta nói
rằng một nước một ngày không thể không có vua, đó là ý nghĩa như thế. Tất
nhiên, vua đây phải là những đấng minh quân, còn khi xã hội, thời đại rơi vào
tay những kẻ hôn quân, bạo chúa lại là chuyện khác, lúc đó chính quyền hay guồng
máy công quyền, từ triều đình cho đến các cấp hạ tầng trở thành công cụ của bạo
chúa mà không còn công cụ của toàn dân, đó chẳng qua chỉ là những khúc ngoặt của
lịch sử, của xã hội trong những giai đoạn tạm thời nào đó, nhưng về lâu về dài
xã hội vẫn phải tìm được hướng ra, nếu không làm sao mà có hạnh phúc và phát
triển. Đó là ý nghĩa chung của bản thân lịch sử như ngay từ đầu chúng ta đã
nói.
Vậy
thì lịch sử của con người phải luôn luôn là lịch sử của sự độc lập và tự do, đó
là ý nghĩa về nguyên tắc. Còn khi nào tính độc lập và tự do này bị xâm hại, bị
vi phạm, bị tiêu hủy đi, đó là các bước rẽ đặc thù, tạm thời, mà không hề là
nguyên tắc. Cho nên nguyên lý chung, đúng đắn phải là cái chi phối thực tại.
Còn khi thực tại thoát ra khỏi nguyên lý chung đúng đắn, đó chỉ là các thực tại
tạm thời có tính sai trái, nhưng không nên tưởng lầm đó là nguyên lý. Bởi vậy,
nguyên lý trong thời phong kiến, quân chủ, cơ bản vẫn luôn luôn là nguyên lý
vương đạo, tức lo cho dân, cho nước, cho toàn thể xã hội, đó là mục đích của xã
hội thanh bình, an cư lạc nghiệp. Còn khi xã hội rơi vào trạng thái tiêu cực,
mang ý nghĩa ngược lại, đó không còn là triều đại của minh quân, mà là giai đoạn
của hôn quân mờ ám mà mọi người đều biết. Khi xã hội chưa phát triển về mặt
khoa học kỹ thuật, khi khái niệm dân chủ tự do theo ý nghĩa hiện đại chưa có, ý
nghĩa của các triều đại phong kiến, của các chế độ quân chủ là hoàn toàn khách
quan, tất yếu, đó là ý nghĩa tự nhiên phải có của lịch sử, bởi nó hình thành
nên một nền công quyền bắt buộc, đó là điều tích cực, điều cần thiết, điều tốt,
có gì đâu đáng nói. Chỉ tiếc có những người trong thời hiện đại lại ngoác mồm
chữi rủa phong kiến, hiểu phong kiến theo nhu cầu của thời hiện đại, hiểu phong
kiến theo kiểu xấu xa, đó quả thật là những kẻ bị ăn bả của tuyên truyền không
đứng đắn, của những đầu óc kém ý thức, nghèo tri thức, thật cũng chẳng có gì
đáng nói.
Thật
ra, tư tưởng dân chủ, tự do của phương Tây cũng chỉ mới xuất hiện và phát triển
vào cuối thế kỷ 18. Điều này tất cả mọi người đều biết. Đó là sự phát triển tự
nhiên của xã hội. Chính sự phát triển của tri thức, của nhận thức, dựa vào cơ sở
của sự phát triển khoa học kỹ thuật nói chung, đã đi đến các quan niệm về dân
chủ, tự do, nhân quyền mà không là gì khác. Đây không chỉ là sản phẩm riêng của
người phương Tây mà là sản phẩm chung của toàn thể nhân loại. Chỉ tiếc cái nôi
của triết học, của khoa học kỹ thuật đúng nghĩa nhất, hay ít ra cũng cụ thể nhất,
lại phát nguồn từ Hy lạp, sau đó lan ra khắp phương Tây mà không phải bắt nguồn
từ các quốc gia khác và lan ra ở những vùng khác vào thời kỳ bình minh của lịch
sử. Nhưng nói cho cùng, lịch sử vẫn là lịch sử chung của toàn nhân loại. Như
con đường tơ lụa vẫn là con đường đã có từ xa xưa. Và con đường tơ lụa trên bộ
có thể vẫn không phải là con đường giao lưu duy nhất trên thế gian này trong thời
quá khứ, cho nên lịch sử thật sự vẫn còn một cái nôi chung duy nhất nào đó của
tất cả loài người, đó là điều mà ngày nay lần lượt qua phát hiện của khảo cổ học,
con người cũng đã dần dần biết được. Vậy nên, ngày nay còn phân biệt cái gì của
người phương Tây, cái gì của người phương Đông trong thực tế là hoàn toàn vô
lý. Trong di sản chung của nhân loại, cái gì phù hợp chân lý khách quan, cái gì
phù hợp theo nguyên lý giá trị chung, cái đó mọi người đều phải nâng niu, quý mến
và đều phải cùng thực hiện, bởi đó chính là ý nghĩa, giá trị, nhu cầu khách
quan của cả nhân loại mà không phải chỉ của riêng ai.
Như
nguyên lý tự do chính đáng của cá nhân con người chẳng hạn, là nguyên lý chung
mà xã hội nào cũng cần phải tôn trọng, ngay cả trong thời phong kiến hay quân
chủ cũng vậy. Trong thời phong kiến, các lãnh chúa chỉ có thể bắt dân làm sai dịch,
đóng thuế, đi lính, nhưng không hề can thiệp vào đời sống cá nhân, ý thức cá
nhân của bất kỳ ai. Thời quân chủ cũng vậy. Đinh Bộ Lĩnh có thể đặt vạt dầu trước
điện để răn đe, nhằm thống nhất, ổn định nền quân chủ, nhưng không hề bắt buộc
dân phải tung hô mình, bắt buộc dân phải suy nghĩ theo mình, phải ngày ngày
xưng tụng và đề cao mình. Nói chung lại, trong các triều đại phong kiến, chỉ có
bọn quan lại hàng ngày mới phải quỳ lạy mỗi ngày trước điện, tung hô hoàng đế vạn
vạn tuế, hoàng đế anh minh thánh thiện, cho dầu có khi nhà vua chỉ là đứa con
nít, mụ đàn bà, hay là kẻ bất tài, suy đốn. Thế nhưng, trong dân, vẫn mãi là đời
sống tự do, lo làm ăn, tồn tại và phát triển, văn hóa không bị can dự vào, ý thức
không hề bị trấn lột, tức người ta chỉ phải lệ thuộc vào công quyền là lẽ đương
nhiên, nhưng tinh thần, ý thức là của họ, tuy rằng giai đoạn phát triển xã hội
còn thấp, tầm hiểu biết của nhiều người hãy còn lạc hậu. Đó chính là tính tự
do, dân chủ và nhân quyền trong thời phong kiến, thời quân chủ, hay mọi thời đại
lành mạnh nói chung của nhân loại, mà không thể ai phủ nhận.
Vậy
nên, ý nghĩa của mọi con người cá nhân nói riêng, hay xã hội nói chung vẫn là ý
nghĩa tự do, dân chủ, nhân quyền một cách chính đáng trong mọi thời đại chính
đáng. Âu châu cho đến thời Trung cổ, quyền này phần lớn đã bị chiếm đoạt bởi
vương quyền, thần quyền, giáo quyền cùng đan kết hay thống nhất với nhau, nên
những nhà khoa học, những con người có tư tưởng tự do mới phải luôn luôn tranh
đấu. Ai cũng biết câu chuyện về Gallileo, Bruno … và kết thúc huy hoàng đó phải
mãi đến cuối thể kỷ 18, đầu thế kỷ 19 mới hoàn toàn thực hiện. Thế nhưng sau
đó, Hegel xuất hiện, cho lịch sử là sự phát triển khách quan của Tinh thần tự tại,
Tinh thần phổ quát (der Geist), như một khái niệm siêu hình, hoàn toàn vượt lên
trên, vượt ra ngoài khỏi mọi cá nhân cụ thể con người. Hegel cho rằng quy luật
phát triển đó là quy luật “biện chứng” (Dialektik), tức ý nghĩa hoàn toàn duy
tâm, mơ hồ, không thể chứng minh được về mặt khoa học khách quan và cụ thể.
Song cái thô kệch nhất của Hegel chính là việc ông tự cho mình là đỉnh cao tuyệt
đối của hệ thống nhận thức loài người, cho Vua (der Keiser) nước Phổ (tức nước
Đức cũ) lúc đó là biểu hiện của Tinh thần nhập thế đó, có nghĩa Hegel đã vô
tình hay cố ý rơi vào chủ nghĩa bảo hoàng, theo nghĩa quân vương, đế chế của
nó, mà ngày nay mọi người có thể cho đó là một tư tưởng phản động.
Tiếp
theo sau Hegel, Mác cũng là một nhà tư tưởng người Đức như Hegel, cũng giữ
nguyên hệ thống Hegel, nhưng “lật ngược” lại. Tức Hegel chủ trương Tinh thần là
động lực ẩn ngầm của lịch sử, thì Mác lại cho đó chỉ là vật chất (die Materie),
và trên nguyên lý biện chứng duy vật đó, thì giai cấp vô sản chính là động lực
của lịch sử, để qua độc tài toàn trị hay nền chuyên chính của giai cấp vô sản,
mà loài người sẽ tiến tới chỗ thế giới đại đồng. Rõ ràng chỗ của nhà vua Phổ
trong học thuyết Hegel đã được thay thế bằng chỗ của giai cấp vô sản (das
Proletariat). Tuy nhiên, nếu cái nguyên lý tinh thần phổ quát của Hegel là cái
trừu tượng, vô hình, kết hợp với quy luật biện chứng, theo kiểu duy tâm, siêu
hình, còn khả dĩ mang tính lô-gích, tức còn hữu lý và hiểu được, thì nguyên lý
duy vật, tức hoàn toàn vật chất, lại kết hợp với quy luật biện chứng duy tâm của
Hegel, giống kiểu râu ông nọ cằm bà kia, quả thật phi lô-gích, nghịch lý, phản
hữu lý, và thực chất khó hiểu, hay không thể nào hiểu được. Vả lẽ giai cấp vô sản
là giai cấp lép vế trong xã hội trong thời kỳ nền sản xuất tức nền kinh tế tiền
tư bản chủ nghĩa, đáng lẽ họ phải được bảo vệ bằng mọi cách, chống mọi sự lũng
đoạn hoặc bóc lột đối với họ một cách hiệu quả nhất, đó là trách nhiệm của
chính quyền thời ấy, của lương tâm thời đại lúc ấy, của nghĩa vụ những người
trí thức lúc ấy. Mác thực sự đã không thực tế để thực hiện điều này, ông chỉ cốt
đưa ra một lý thuyết đề cao, huyền hoặc hóa giai cấp vô sản, theo kiểu giống
như cách làm của Hegel. Có nghĩa chẳng khác một tâm lý muốn chơi trội, muốn tỏ
mình như một vị giáo chủ mới. Và điều đó về sau này, chính thực tế lịch sử đã
trả lời tất cả mà mọi người đều biết.
Quả
thật, dân tộc Đức trước đây có vẻ như một dân tộc có tâm lý hơi hợm mình. Dân tộc
mà nhiều người trong đó tự cho mình có giòng máu thuần chủng của chủng tộc
Aryan. Tâm lý này dường như đã biểu hiện rõ ra ở Hegel cho hệ thống nhận thức của
mình là hệ thống của toàn bộ lịch sử nhân loại. Tức Hegel là đỉnh cao của trí
tuệ lịch sử loài người. Đến Mác, điều đó dường như cũng hoàn toàn lặp lại. Mác
không nói ra như dường như cũng tự cho nhận thức của mình là nhận thức của toàn
nhân loại, quy luật lý thuyết của mình đưa ra là quy luật của toàn lịch sử, là
chân lý tất yếu của mọi thời đại. Mác từng nói rằng tư tưởng của những người
khác ông, phản bác lại ông đều là tư tưởng của bọn tư sản, của giai cấp tư hữu,
của bọn phản động. Nói như vậy chẳng khác gì tự cho mình là độc tôn, là chân lý
duy nhất tuyệt đối đúng, nếu không nói thể hiện tính tiểu xảo, tính lắt léo, chẳng
khác gì bảo ai không phải ta đều là địch cả, đều là xấu cả. Đây cũng chính là một
điều nghịch lý quan trọng trong tư duy của Mác mà ít người đã nhìn thấy. Cho
nên học thuyết Mác đúng ra chỉ giống như một sự ức đoán, một sự ức đoán có phần
vỏ đoán, và điều ấy ngày nay mọi người đều thấy. Sau Mác, đến Hitler cũng là
người muốn bá chủ toàn cầu. Lý thuyết chủng tộc của Hitler thật sự cũng là lý
thuyết hết sức phản động. Việc giết chết bao triệu người Do thái bằng cách hết
sức dã man, việc gây ra thế chiến thứ hai với bao tan thương của loài người, đó
chính là tội ác của Hitler mà ai cũng rõ.
Thật
thì, mỗi cá nhân là một đơn vị chủ thể hoàn toàn độc lập, tự do, đó là điều
trên kia đã nói và ai cũng thấy. Nếu gia đình là đơn vị tổ hợp cơ bản của xã hội,
chẳng khác gì những phân tử, thì mỗi cá nhân chẳng khác gì những nguyên tử
thành viên hay nguyên tử độc lập trong xã hội. Tất nhiên mỗi người trong chúng
ta ai cũng tự nhận biết bản chất tinh thần, ý thức mình là gì, còn nguồn gốc của
loài người trong thực tế theo quan điểm tiến hóa thì ai cũng rõ và cũng không
ai phủ nhận. Cho nên trong mỗi cá nhân luôn luôn có hai hướng ngược chiều, hướng
đi lên và hướng đi xuống. Hướng đi lên là ý hướng hướng thượng một cách tự
nhiên, hướng đi xuống là hướng hướng hạ, thường khi cũng là cách tự nhiên. Tức
khuynh hướng xây dựng, tích cực, phát triển luôn là khuynh hướng tự nhiên trong
mỗi con người. Nhưng ngược lại, khuynh hướng phá hoại, tiêu cực, thụt lùi, tiêu
diệt, cũng là khuynh hướng không phải không có ở một số cá nhân. Đó chính là
khía cạnh bản năng luôn muốn quay về trở lại khởi điểm, giống như hòn đá lâu
ngày sẽ có khuynh hướng vỡ ra, tan thành bụi nhỏ, hay giống hòn đá luôn luôn có
khuynh hướng rơi xuống chỗ thấp nhất theo quán tính, theo trì lực, nếu không có
những vật đỡ hay vật cản tự nhiên. Cho nên, sự đấu tranh giữa hai chiều ngược
nhau, sự đấu tranh của những điều mâu thuẫn, trái ngược trong xã hội là luôn
luôn có. Thần thánh hóa ý nghĩa giai cấp, cho đó là quy luật phổ biến nhất, đó
là sự khái quát hóa quá đáng, phản khoa học, vô trách nhiệm, bất chấp ý nghĩa
nhận thức khách quan, mà chính Mác đã làm.
Cho
nên, nếu cá nhân là tự do, xã hội cũng phải là tự do, đó là ý nghĩa khách quan
cần thiết, không thể nào phủ nhận. Mọi người đều phải làm việc, tạo ra sản phẩm
mọi mặt, phải lao động cùng nhau để sống và phát triển, đó là ý nghĩa tự nhiên
của đời sống xã hội mọi thời, mọi nơi không đâu không có. Nguyên lý tự do và
nguyên lý hợp tác như vậy là hai nguyên lý nền tảng phải luôn đi đôi với nhau.
Không thể có nguyên lý này nếu không có nguyên lý kia, bởi không ai có thể sống
một mình để hoàn toàn và tuyệt đối tự do trong xã hội. Xã hội luôn luôn là sự
ràng buộc, luôn luôn là sự hợp tác, cho nên hai nguyên lý tự do và hợp tác cũng
phải kết hợp nhau sao cho cân bằng, phù hợp, cụ thể nhất. Do vậy, đề cao nguyên
lý hợp tác để phủ nhận nguyên lý tự do cũng hoàn toàn vô lý, phiến diện, ngốc
nghếch, mà ngược lại đề cao nguyên lý tự do quá đáng để chà đạp lên yêu cầu hợp
tác cũng là tính hoang dã, phi nhân văn. Chủ nghĩa kinh tế tập thể, sản xuất tập
thể trong thời đại Xô viết chính là theo cách đó, cách thứ nhất. Còn ý hướng xã
hội tư bản trong thời kỳ sơ khai chính là ý nghĩa thứ hai, là điều mà Mác từng
phê phán. Nhưng phê phán cái cực đoan thứ nhất để lại rơi vào trong cái cực
đoan thứ hai, chính là sự phiến diện, sự thiển cận, sự chủ quan hay tính sự mờ
mịt của Mác, mà chính ông không thể phủ nhận hay không cho mình không phải chịu
trách nhiệm.
Người
xưa có nói làm thầy thuốc sai lầm chỉ giết hại một người, làm thầy địa lý sai lầm
chỉ giết hại một dòng họ, làm giáo dục sai lầm chỉ gây hại cho một thế hệ,
nhưng làm tư tưởng sai lầm có thể hại muôn đời, chính là nghĩa đó, và đó cũng
là chân lý khách quan hết sức giá trị nên không ai có thể nói khác đi hay nghĩ
ngược lại. Bởi người vô sản hay giai cấp vô sản cũng chỉ là con người, nhưng
con người trong điều kiện thất thế trong xã hội là một sự thiệt thòi, cho nên
cũng kéo theo những mặt hạn chế nhất định nào đó. Trong khi đó, yêu cầu của lịch
sử xã hội luôn luôn là yêu cầu thực tế, tức luôn luôn phải cần những thành phần
tinh hoa hướng dẫn, dìu dắt, nói cụ thể là những người có năng lực, nhận thức,
hiểu biết đi đầu, lãnh đạo, đó là nguyên lý chung và thời nào, ở đâu cũng vậy.
Như ở Việt Nam ta ngày xưa, tuy Vua là người đứng đầu cả một nước, dưới đó là
triều đình và quan lại, nhưng thực chất giai cấp sĩ phu vẫn là nền tảng chung của
toàn xã hội. Đó là ý nghĩa của sĩ, nông, công, thương, hoàn toàn phù hợp với thực
tế khách quan xã hội như người xưa đã nhận thức. Đây là một quy tắc hay một nhận
thức rất thực tế, thông minh của xã hội nước ta ngày xưa, và không phải chỉ
trong một triều đại mà nó luôn luôn tồn tại và kéo dài suốt trong mọi thời đại
của thời kỳ phong kiến hoặc quân chủ Việt Nam. Ngày nay, trong thời hiện đại, tất
nhiên nguyên tắc này vẫn hoàn toàn đúng, nếu người ta hiểu nó theo nghĩa đúng đắn
nhất.
Có
nghĩa Việt Nam là xã hội cơ bản vẫn là nông nghiệp. Bởi vì đây là nền kinh tế
sinh sau đẻ muộn trong xu hướng công nghiệp hóa vốn đã có từ rất lâu trên toàn
thế giới. Nên sĩ ở đây phải được hiểu là nền kinh tế tri thức mà không phải sĩ
chỉ được hiểu như là giai cấp làm quan hay những người cốt học hành để được làm
quan. Tức sĩ là trình độ tri thức, là mặt bằng tri thức của toàn xã hội. Vì thực
chất người tri thức luôn không kể xuất thân hay nguồn gốc. Bất kỳ ai có trình độ
hiểu biết, năng lực hiểu biết, phẩm chất hiểu biết, đều có thể là trí thức, cho
dù trước đó họ thuộc về thành phần hay xuất thân từ thành phần thế nào. Bởi vậy
trong xã hội quân chủ xưa của Việt Nam, nhà vua luôn luôn được rèn luyện, học tập.
Các nhà vua triều Nguyễn từ Minh Mạng trở đi phần lớn đều cho thấy điều đó.
Minh Mạng đúng là nhà trí thức. Còn Gia Long, vị vua sáng lập triều đại, tất
nhiên lấy nghiệp võ là chính, nhưng không ai dám bảo Gia Long không phải là người
hiểu biết, và lại các cận thần của ông ta rõ ràng là những người tài năng, có học
vấn nói chung, nên triều đại mới được thiết lập và được kéo dài như thế, nếu
không phải bị nạn ngoại xâm. Chính sách của vua Gia Long đối với người Pháp đã
cho chúng ta thấy rõ điều đó. Chỉ tiếc về sau, khi xu hướng thế giới đã bắt đầu
thay đổi, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã bắt đầu phát triển toàn cầu, thế
nhưng phần lớn những người chủ chốt trong triều đình vào cuối nhà Nguyễn chỉ là
bọn ếch ngồi đáy giếng, nên hoàn cảnh mất nước là điều đáng tiếc nhưng dầu sao
cũng là tất yếu đối với điều kiện của nước Việt lúc bấy giờ. Bởi vì nếu bọn
quan lại cầm quyền lúc đó chỉ cần sáng suốt hơn một chút, thông minh hơn một
chút, biết nghe theo Nguyễn Trường Tộ và nhiều người khác nữa, vận nước hẳn phải
khác xa. Đó chính là trường hợp của Nhật bản và nhiều nơi khác nữa trên toàn thế
giới.
Thế
cho nên, giai cấp trí thức, hay các tầng lớp tinh hoa khác trong xã hội, phải
là những yếu tố, những người lãnh đạo đất nước, xã hội mới luôn luôn là điều hợp
lý. Lãnh đạo không chỉ có nghĩa cầm quyền, mà chính là sự đi đầu trong mọi lãnh
vực. Nhưng muốn vậy phải là xã hội có tinh thần, ý thức dân chủ, tự do thật sự
mới thực hiện hay hoàn thành được điều đó. Ngày xưa ai cũng biết Lê Lợi chỉ là
một người điền giả xuất thân, nhưng có ai phủ nhận một trong những cánh tay đắc
lực của ông chính là Nguyễn Trải, một nhà đại trí thức lúc bấy giờ. Rồi đến
hoàng đế trẻ Quang Trung, cũng là một người không khoa bảng, một người dân giả
từ vùng rừng núi trung du, nhưng thiên tài Nguyễn Huệ vẫn rất sáng suốt khi biết
tìm đến Nguyễn Thiếp, một nhà đại trí thức ẩn dật lúc bấy giờ. Rồi ai chẳng biết
Việt Nam có bia tiến sĩ từ đời Lê. Ai chẳng từng nghe câu nói của một nhà khoa
bảng danh tiếng rằng hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Ai chẳng từng biết
truyền thống hiếu học là thực tế có thật của người Việt Nam, cũng như khuynh hướng
tôn trọng kẻ sĩ ngày xưa v.v… và v.v… Tất cả những điều đó đã trở thành nguyên
lý, nguyên tắc xã hội, mà không phải chỉ là thực tế xã hội, như những người vẫn
còn lờ mờ sự khác nhau giữa tính chất nguyên tắc hay nguyên lý và thực tế. Như
dân gian có nói chó ngáp phải ruồi, đó là thực tế, không phải là nguyên tắc.
Còn bắn bách phát bách trúng, đó là nguyên lý của nhà thiện xạ, không còn phải
là thực tế của xác suất hay thồng kê gì nữa hết.
Bởi
vậy, sự sai lầm của đám triều thần vào cuối đời nhà Nguyễn để khiến cho mất nước,
đó là sự sai lầm về mặt nguyên lý, nguyên tắc lịch sử, xã hội, mà không phải chỉ
là sự sai lầm thực tế trong nhất thời, như nhiều người không rõ. Nhiều người
bây giờ còn lên án xã hội phong kiến và chủ nghĩa thực dân, đó chỉ là chuyện vuốc
đuôi quá khứ, thực chất không để làm gì. Bởi vì mọi chuyện xảy ra rồi là do
hoàn cảnh quá khứ của xã hội lúc đó, không sao sửa lại được. Cho nên lịch sử có
sự can thiệp của nguyện vọng, ý chí, tài năng con người một phần nào, nhưng có
khi phần lớn có yếu tố ngẫu nhiên hoặc hoàn cảnh bao quát khách quan. Như hoàn
cảnh của thời hiện đại Việt Nam ta ai không biết đó là kết quả phần nào của bối
cảnh toàn thế giới sau đệ nhị thế chiến. Đó là bàn cờ của toàn thế giới, là
giai đoạn lịch sử nhất định của toàn thế giới, mà đâu phải chỉ có riêng sự quyết
định chủ động hoặc tùy ý của chính đất nước và dân tộc chúng ta. Biết người biết
mình trăm trận trăm thắng, cái ý nghĩa đơn sơ mà người xưa đã nói như thế. Thật
ra, biết người biết mình cũng chưa chắc đã trăm trận trăm thắng, nhưng còn việc
không biết người, không biết mình, thực chất lại còn dở tệ. Bởi vậy, dạy lịch sử,
dạy khoa học trong nhà trường, mọi triều đại sáng suốt đều cốt yếu làm sao phải
dạy đúng sự thật khách quan, cho dù đó bất kỳ là sự thật gì, tức phải thật sự
rõ ràng, chính xác, khách quan, không thể bóp méo, không thể xuyên tạc, không
thể nhập nhằng hay đổi trắng thay đen, cho dù bất cứ công dụng, ý nghĩa, lợi
ích hoặc mục đích thế nào. Giáo dục không đúng cũng chẳng khác gì tướt đoạt ý
thức con người, xâm hại sự hiểu biết con người, bóc lột sự nhận thức của con
người, và cuối cùng là sự hủy diệt mọi giá trị và ý nghĩa chân chính của con
người.
Như
vậy trở lại vấn đề, con người độc lập tự do cũng phải là con người có khả năng
hay được quyền làm kinh tế, sản xuất tự do. Đó là ý nghĩa của nền kinh tế thị
trường hoàn toàn khách quan mà ngày nay ai cũng biết. Điều này không phải chỉ
là ý nghĩa thực tế mà chính là ý nghĩa về nguyên lý, như trên kia đã nói. Bởi mọi
người sinh ra đều tự do, bình đẳng, thì làm gì có ai có quyền bẩm sinh để điều
khiển, lãnh đạo ai một cách tự nhiên, tiên quyết. Vậy thị trường phải là nơi hợp
tác, kết hợp cần thiết, khách quan, tự nhiên của tất cả mọi người. Tất nhiên,
thị trường là thực tế tự nhiên, khách quan của xã hội, nhưng xã hội phải nằm
trong khuôn khổ pháp luật theo từng thời điểm của những đất nước, quốc gia nhất
định. Bởi vậy, việc quản lý nhà nước đối với thị trường, nguyên tắc pháp lý xã
hội đối với thị trường vẫn luôn luôn thiết yếu và chính đáng, miễn là nó không ức
chế, xâm phạm, hay xâm hại thị trường một cách tùy tiện, độc đoán, sai trái, hoặc
vô trách nhiệm. Đó chính là nhiệm vụ quản lý xã hội, quản lý thị trường một
cách thông minh, hiệu quả của tất cả mọi nhà nước mà không riêng nhà nước nào.
Và thực chất mà nói, nhiệm vụ chính yếu ở đây chính là nhiệm vụ của pháp luật,
của nhà nước, rồi mới đến nhiệm vụ của xã hội, cũng như cuối cùng mới đến ý
nghĩa của nhận thức và lương tâm từng con người cụ thể trong xã hội. Bởi vì nhà
tư bản hay người đầu tư sản xuất, ý nghĩa và mục đích chủ yếu của họ chỉ là làm
ra các dịch vụ, hàng hóa, và thu về lợi nhuận để tiếp tục như thế. Họ giống như
những con chuột bạch trong các lồng đu, cứ mãi mãi phải quay tròn không thể nào
đứng yên để ngắm được. Chức năng xã hội của họ là như thế, dù họ có tự biệt hay
không tự biết, họ bị thúc đẩy bởi bản năng phát triển của xã hội. Thực chất họ
cũng chỉ là công cụ của toàn xã hội, giống như mọi người lao động khác nhau. Đó
chỉ là ý nghĩa và nhu cầu của xã hội luôn luôn phải tự nuôi sống mình bằng
chính bản thân sự hoạt động của mình mà không là gì khác.
Thế
cho nên khái niệm “bóc lột” của Mác nếu đúng, cũng chỉ là một khái niệm mang ý
nghĩa phiến diện. Ý nghĩa công bằng xã hội là ý nghĩa của lương tâm và sự tự
giác của mỗi người, không có ai có thể can thiệp hữu hiệu được vào ngoại trừ
pháp luật và các chức năng nhà nước, tức là chức năng của các công cụ quản lý
xã hội. Vậy thì sự thiếu sót trách nhiệm về chức năng này cần phải quy trách vô
ai, vô nhà nước, vào giới cầm quyền hay nhà sản xuất và người làm kinh doanh
thương mại. Ngay như trong những khu chế xuất của xã hội ta hiện nay, nếu mặt bằng
lương hướng tối thiểu của người công nhân, sự bóc lột công nhân nếu có, sự đối
xử độc ác hay phản nhân phẩm của người công nhân nếu xảy ra trong vài trường hợp,
thì đó trách nhiệm chính của ai nếu không phải của pháp luật lao động chưa thật
sự hoàn chỉnh và đầy đủ, của các chức năng quản lý nhà nước hãy còn chưa hoàn
thiện, còn thiếu trách nhiệm hoặc chưa đầy đủ, hay chỉ nhằm trách các cá nhân
những chủ tư bản nước ngoài đầu tư vào các khu chế xuất đó ? Cho nên ý nghĩa của
con người, ý nghĩa của xã hội, ý nghĩa của sản xuất, vẫn luôn luôn là ý nghĩa
khách quan, phải nhìn vào đó một cách chính xác, không thể mơ hồ, hoặc thậm chí
hàm hồ. Có thể nào những nước nghèo đi cướp đoạt tư bản nước giàu hay không,
hay chỉ cần nên lập ra những khu chế xuất rồi khuyến khích và kêu gọi họ đầu tư
để hai bên cùng có lợi. Chính vì những quan niệm sai lầm về đấu tranh giai cấp,
về quyền sở hữu, mà trước kia đã từng bao nhiêu xã hội phạm vào tội ác đã chà đạp
lên cả nhân phẩm con người trong các sự kiện đấu tố, trại cải tạo, tại tập
trung, như thời Stalin, thời Mao Trạch Đông, và bao nhiêu nơi khác nữa không cần
phải nói.
Thật
ra, xã hội hay nhà nước chỉ cần dùng pháp luật để tự chỉnh đốn lại các điều
chưa ổn, các tệ nạn trong xã hội của mình. Điều này từ cổ chí kim, nhiều bộ phận
thông minh, nhiều nơi của nhân loại đã làm. Thời cổ xưa ở Trung quốc và nước ta
cũng đã từng có chế độ tĩnh điền. Nhiều biện pháp hợp lý hóa sở hữu đất đai như
thế cũng từng được thực hiện rất nhiều nơi trong lịch sử nhân loại, kể cả mỗi
quốc gia, không thể nói hết. Ngay cả khi nền sản xuất tư bản chủ nghĩa lần lần
phát triển, sự can thiệp bằng luật pháp của nhà nước vào các bất công trong sản
xuất, trong thị trường, trong xã hội, cũng là điều tất yếu và tự nhiên. Chính
nhờ vậy mà xã hội tư sản hay tư bản mới tồn tại và tiếp tục phát triển cho đến
ngày nay. Thế nhưng ý nghĩa của Mác là phủ nhận quyền tư hữu, cho tư hữu là nguồn
gốc của mọi sự bất công, tệ hại, kể cả của nguyên nhân đấu tranh giai cấp, bởi
vậy ông ta mới chủ trương xã hội vô sản, xóa bỏ quyền tư hữu, xóa bỏ thị trường,
xóa bỏ lao động làm thuê, nhằm tiến lên nền kinh tế vô sản chủ nghĩa, tức nền
kinh tế hoàn toàn tập thể, và điều đó chính lịch sử cận đại đã chứng tỏ như thế
nào rồi. Đỉnh cao trong quá khứ về nguyên tắc đó chính là các công nông trường
thời Stalin, công nông trường thời Mao Trạch Đông, cuối cùng là các mô thức Ăng
ca của Khmer đỏ cùng với sự tiêu diệt dã man gần ba triệu người, để trở thành tội
diệt chủng của nhân loại mà ngày nay mọi người đều biết. Bởi vì sao, vì các thực
tế đó đi trái lại với các nguyên lý tâm lý tự nhiên của con người và xã hội. Nó
triệt tiêu các động cơ kích thích phát triển tự nhiên nơi mọi chủ thể con người,
nên cuối cùng nó phải bị đào thải. Đây cũng là cách tốt nhất để phân biệt sự
khác nhau giữa nguyên lý và thực tế mà có thể có số người nào đó chưa rõ. Cũng
giống như nguyên lý khách quan, hiệu quả nhất là nguyên lý chuyển động tròn. Thế
rồi có người nghĩ chế ra các chiếc xe bánh vuông, cho là cách mạng lạ đời, để bắt
buộc mọi người cùng đẩy, cùng khiêng một cách khốn khổ để cho là nguyên lý tối
ưu, đó chính là sự khác nhau giữa chân lý khách quan và thực tại chủ quan.
Chính
vì vậy, xã hội muốn phát triển tự nhiên phải dựa vào tâm lý khách quan của con
người, đó là ý muốn về quyền sở hữu, là tâm lý thích hoạt động độc lập, tự do,
tâm lý muốn làm chủ, tâm lý muốn phát huy sáng kiến hay tâm lý sáng tạo, tâm lý
muốn thể hiện các cái tôi riêng chính đáng của mình, tâm lý muốn được thừa nhận,
và còn rất nhiều nữa, tựu trung lại, đó chính là các động lực, động cơ kích
thích tự nhiên cho mọi sự phát triển của cá nhân và xã hội, từ vật chất đến
tinh thần, từ ý thức đến văn hóa, nói chung là tất cả mọi mặt. Sự nông cạn, khiếm
khuyết hay sai lầm của Mác, chính là sự bỏ qua mọi ý nghĩa tâm lý khách quan,
thực tiển của con người. Mác nhìn xã hội chỉ còn như những phạm trù ý niệm khái
quát và trừu tượng, trong đó có phạm trù giai cấp và đấu tranh giai cấp. Nguồn
gốc chính của nó là đem ý niệm biện chứng của Hegel áp dụng vào xã hội. Quan điểm
của Mác chẳng khác gọt chân theo giầy, lý giải mọi yếu tố thực tiển của lịch sử
xã hội theo nguyên lý biện chứng. Tức thay cái cụ thể bằng sự suy diễn trừu tượng.
Nếu hệ thống Hegel là hệ thống tư biện thuần túy, hệ thống tư duy của Mác gần
như cũng là hệ thống tư biện thuần túy, cho nên nó mang tính chất lý tưởng,
nhưng thực chất đó là lý tưởng ảo, lý tưởng của tính toán theo kiểu lý luận
toán học đơn giản, trừu tượng. Nói cụ thể, sự phát triển của lịch sử xã hội cơ
bản là sự phát triển của các phát minh khoa học và kỹ thuật, không phải chỉ
hoàn toàn dựa vào các quan hệ giai cấp như Mác nhận định(1).
Chính
sự nhầm lẫn hay sự đánh đồng giữa mục đích và phương tiện trong quan điểm của
Mác là điều quan trọng nhất. Như quyền sở hữu tài sản luôn luôn chỉ là phương
tiện mà không phải là mục đích của con người. Phần lớn ai cũng hiểu như vậy, trừ
những kẻ thờ bò vàng, đó là thiểu số sai trái mà không phải toàn thể xã hội sai
trái. Mục đích của xã hội và cá nhân luôn luôn là sự phát triển. Còn các điều
kiện bị ức chế ra sao lại là chuyện khác. Cho nên sự tự thích nghi, sự tự điều
tiết hay điều chỉnh công cộng, vẫn luôn luôn là điều không thể thiếu, là các
phương tiện và công cụ cần thiết, không thể không có, nếu muốn tồn tại. Do đó,
nền kinh tế tự do hay nền kinh tế thị trường luôn luôn phát triển ngoạn mục hơn
nền kinh tế tập thể thông thường èo uột, khô cằn, không sức sống, chính là ý
nghĩa như thế. Nhưng cái quan trọng hơn cả và cũng nghịch lý hơn cả trong Mác
chính là chủ trương chuyên chính hay độc tài vô sản để đi đến xóa bỏ nhà nước
và trở thành nền kinh tế vô sản. Đây phải chăng cũng chính là quan điểm vô
chính phủ vốn vẫn đã luôn ngầm ẩn trong tư tưởng của Mác. Thực bụng mà nói,
giai cấp vô sản là giai cấp chịu thua thiệt nhiều mặt trong xã hội, như thế cũng
có nghĩa là chịu nhiều hạn chế. Vậy mà nắm mọi quyền sinh sát xã hội trong tay
theo Mác chủ trương, quả là thấy mẹ thiên hạ. Đó là chưa nói thực chất họ đã có
được quyền đó. Thiếu gì các cá nhân tham vọng, các tập thể nào đó sẽ nhân danh
lý thuyết của Mác, nhân danh giai cấp vô sản để nhằm củng cố quyền lực riêng
cho bản thân, phe nhóm của mình như Stalin, Mao Trạch Đông, Tito, Pôn Pốt, Iêng
Sari … mà nhiều người đã thấy. Cho nên, người làm triết học, người làm khoa học,
người làm tư tưởng, mà chỉ ngẫu hứng, chủ quan, hời hợt, vô trách nhiệm trong
chốc lát có thể để di hại muôn đời cho xã hội, và không khéo chỉ một bước có thể
trở thành tội đồ của cả lịch sử nhân loại, thì quả thật nếu điều đó xảy ra cũng
chẳng có gì để ta thán.
Đúng
ra, bản thân Mác có nguồn gốc là người Do thái, nhưng gia đình đã từ lâu nhập
quốc tịch Đức, sống trên quê hương Đức, nên bản chất của ông có thể coi như người
Đức. Nhưng trên thế giới, tâm lý phần lớn người Do thái, người Đức, cả người
Trung quốc có các đặc trưng tiêu biểu như thế nào, thì mọi người trên khắp thế
giới và cả bản thân các dân tộc này đều biết. Đó là câu chuyện dài của nước Đức
từ thế chiến lần thứ nhất, qua thế chiến lần thứ hai mà ai cũng rõ. Cho nên,
dùng phân tâm học để phân tích học thuyết của Mác một cách toàn diện, sâu xa và
cặn kẽ, có lẽ cũng nên dành cho các nhà phân tâm học, khi mọi sự kiện có liên
quan về học thuyết của ông ngày nay đã hết sức cụ thể, rõ ràng. Chẳng hạn,
trong thực tế cuộc đời, nếu sau khi Liên xô và khối Đông Âu trước đây đã quản
lý được gần như một nửa thế giới, rồi nếu Trung quốc không phá bĩnh, không theo
khuynh hướng bá quyền địa phương lúc đó, mà cùng thống nhất vào khối Liên xô,
chắc hầu hết hay toàn thể nhân loại đã đi vào quỹ đạo của học thuyết Mác, ông
đã trở thành như một Thiên Chúa thứ hai, và Tổng bí thư Liên xô biết đâu đã trở
thành một vị Giáo hoàng, ý như Thiên chúa giáo. Điều này không biết Mác có tiên
liệu không, có vô tình hay cố ý, là vô thức hay hữu thức, nhưng quả thật các
quan điểm lạ thường của ông, nhất là sự chủ trương độc tài chuyên chính vô sản
(Diktatur des Proletariates) đã là một bước thang hoàn toàn cần thiết để đưa đẩy
đến chính những thực tế đó.
Đây
cũng là điều nghịch lý trong Mác. Khởi thủy ông muốn mình là người đưa ra lý
thuyết nhằm giải phóng nhân loại. Nhưng kết thúc cũng chính quan niệm của ông
đã phản lại điều đó. Bởi khi đã chuyên chính rồi, giống như vòng tròn khép kín,
làm sao còn lối ra để quay về với sự giải phóng của xã hội vô giai cấp như Mác
quan niệm. Đây chẳng qua là niềm tin ngây thơ của Mác vào phép biện chứng của
Hegel, tức là quy tắc phủ định của phủ định (die Negation der Negation). Nhưng
thử hỏi trong vòng tròn khép kín thì cái gì là bước đột phá để tạo ra phép phủ
định của sự phủ định ấy. Rõ ràng từ trước đến sau Mác vẫn là người mê tin, tin
tưởng cuồng si, máy móc vào chính phép biện chứng chủ quan, độc chế của Hegel.
Đây cũng còn là điều chứng minh sự xa rời thực tế của Mác, tức ông quên đi hết
mọi ý nghĩa quy luật khách quan của tâm lý, ý thức con người như trên kia đã
nói. Mác nói rằng xã hội loài người từ trước đến nay chỉ là xã hội đấu tranh
giai cấp. Đến giai cấp cuối cùng là giai cấp vô sản sẽ xóa bỏ mọi giai cấp, thật
là lối lý luận ngụy biện và không có cơ sở lô-gích. Mác cũng nói xã hội có giai
cấp luôn luôn biểu hiện ra thành giai cấp thống trị và giai cấp bị trị. Ông còn
nói trên cơ sở đó, thượng tầng kiến trúc, tức văn hóa, tôn giáo, pháp luật, nghệ
thuật v.v… đều chỉ là sự phản ánh, là phụ phẩm của đấu tranh vật chất, đấu
tranh kinh tế, tức đấu tranh giai cấp. Đúng là kết luận mọi người đều cùng một
duột, đều là sự giành ăn với nhau trong lịch sử, chỉ có mình là thánh thiện mới
đứng ngoài mà thấy hết việc đời.
Bởi
nói như trên, quả thật Mác đã coi thường nền văn minh nhân loại, tầm thường
hóa, hạ thấp hóa mọi ý nghĩa nhân văn trong thực tế. Đó cũng còn là sự sổ toẹt
mọi thời kỳ vàng son về phát triển của nhân loại và trong mỗi đất nước. Đây giống
như một tội phỉ báng nhân loại mà từ xưa đến nay trên thế giới hình như chưa có
ai nhìn thấy. Nên rút cục, những gì mà Mác cho rằng là yêu cầu giải phóng nhân
loại do ông đưa ra lúc ban đầu, cuối cùng ý nghĩa của chuyên chính vô sản như
trên kia đã nói, đã trở thành như công cụ nô dịch nhân loại mà dưới thời
Stalin, dưới thời Mao Trạch Đông, và dưới thời Khmer đỏ, người ta đều nhận rõ.
Mọi người hãy tưởng tượng hình ảnh gần một tỉ dân Trung quốc dưới thời Chủ tịch
Mao, có thể nói là mặc quần xà lỏn, gục đầu, chổng mông để hô khan theo lãnh tụ
vĩ đại đả đảo Đế quốc Mỹ là con hổ giấy trong suốt nhiều thập niên, để cuối
cùng ngày nay chính Trung quốc lại bắt tay với Mỹ, thì bao thế hệ bị nô dịch, bị
đánh mất bản thân về mọi mặt đó ngày nay họ đã đi đâu ? Thế cho nên, lịch sử rồi
vẫn cứ luôn trôi đi, như tiêu đề đã nói. Chính chân lý khách quan mới tồn tại
đích thực, còn mọi tính chủ quan của con người, cho dù là những học thuyết kỳ dị
và quái chiêu nào rồi cũng phải qua đi. Đó chính là sự khác nhau giữa nguyên lý
và thực tế mà có thể nhiều người còn nhầm lẫn. Chỉ có nguyên lý khách quan,
mang ý nghĩa khoa học chân thực mới luôn luôn đúng, còn thực tế có thể đúng với
nó phần nào hoặc hoàn toàn không đúng với nó tức là sai. Điều đó cũng giống như
việc xã hội khách quan luôn luôn tự nó phát triển nếu không bị ức chế, ngăn cản,
còn nhà nước thực chất có làm cho nó phát triển hay không lại là chuyện khác.
Nên bài này đáng lẽ không viết, tuy nhiên thấy nhiều người ngày nay trong quan
niệm quản lý đất nước vẫn còn oang oang lên là nhân danh lý thuyết chủ nghĩa
Mác, nên mới phải viết ra, mặc dầu có người vẫn cho đó là điều dư thừa và nhàm
chán. Tuy nhiên, có phải chăng lịch sử vẫn luôn luôn lặp lại, cũng giống như
vào cuối thời nhà Nguyễn, cả một triều đình có bao giờ mở mắt để biết trời
trăng ất giáp của cả thế giới lúc đó đang rầm rộ chuyển vần nhanh chóng hay
sao.
VÕ
HƯNG THANH
(15/02/2011)
**
PHẦN DANH MỤC CÁC BÀI VIẾT NGẮN,
CHỚP NHOÁNG (II) – (15)
1.
LẠI NÓI VỀ XÃ HỘI, PHÁP LUẬT VÀ CHÍNH
TRỊ (11/03/2011)
2.
CÁI ĐỨC CỦA NHÀ CẦM QUYỀN (10/3/2011)
3.
VỀ VẤN ĐỀ CỜ XÍ VÀ CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ
(08/03/2011)
4.
THẾ NÀO LÀ NHỮNG THÀNH PHẦN ƯU TÚ CỦA
MỘT DÂN TỘC
(07/3/2011)
5.
CẦN NÓI THÊM VỀ SỰ GIÀU NGHÈO VÀ VẤN
ĐỀ GIAI CẤP XÃ
HỘI
(26/02/2011)
6.
VÀI CẢM NGHĨ NHÂN ĐỌC
“BÀI PHẬT GIÁO VIỆT NAM”
(25/02/2011)
7.
NÓI THÊM MỘT LẦN CHO DỨT KHOÁT VỀ KHÁ
NIỆM “CỘNG
SẢN” (24/02/2011)
8.
NÓI VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VÀ
CON NGƯỜI
TRONG
XÃ HỘI (23/02/2011)
9.
THẾ NÀO LÀ MỘT XÃ HỘI THAM NHŨNG
(21/02/2011)
10.
THẾ NÀO LÀ MỘT NỀN CHÍNH TRỊ TOÀN DÂN
(19/02/2011)
11.
THẾ NÀO LÀ QUẦN CHÚNG VÀ LÃNH TỤ
(18/02/2011)
12.
THẾ NÀO LÀ NHỮNG CÔNG DÂN
(17/02/2011)
13.
TRIẾT HỌC KHÔNG BAO GIỜ CHẾT (17/02/2011)
14.
THẾ NÀO LÀ MỘT NGƯỜI LÃNH ĐẠO ĐẤT NƯỚC
(16/02/2011)
15.
RỒI LỊCH SỬ VẪN CỨ LUÔN TRÔI ĐI
(15/02/2011)
**
(1)
Xem thêm cùng tác giả : “Nói về chủ nghĩa
xã hội và định hướng XHCN (25/01/2011)”, “Chủ nghĩa nhân văn và vấn đề giai cấp
xã hội (01/02/2011)”, “Thế nào lầ những chính phủ thông minh (10/02/2011)”,
“Chính trị như một khoa học và chính trị như một phạm trù đạo đức
(14/02/2011)”, “Thế nào là một nền chính trị toàn dân (19/02/2011)”, “Thế nào
là sự ổn định và phát triển (22/02/2011)”, “Nói về mối quan hệ giữa con người
và con người trong xã hội (23/02/2011)”, “Cần nói thêm về sự giàu nghèo và vấn
đề giai cấp xã hội (26/02/2011)”, “Thế nào là những thành phần ưu tú của một
dân tộc (07/03/2011)”, “Cái đức của nhà cầm quyền (10/3/2011)”.
(1)
Xem thêm cùng tác giả : Thế nào là những
thành phần ưu tú của một dân tộc (07/3/2011).
(1)
Xem thêm cùng tác giả : Điều cốt lõi của
chủ nghĩa Mác (16/01/2011), Bản chất sâu xa của chủ nghĩa quốc tế vô sản
(18/01/2011), Chủ nghĩa nhân văn (23/01/2011), Nói về một xã hội tự do, dân chủ
và nhân văn (30/01/2011), Thế nào là những chính phủ thông minh (10/02/2011),
Chính trị như một khoa học và chính trị như một phạm trù đạo đức (14/02/2011),
Thế nào là một nền chính trị toàn dân (19/02/2011), Thế nào là một xã hội tham
nhũng (21/02/2011), Thế nào là sự ổn định và phát triển (22/02/2011), Mối quan
hệ giữa con người và con người trong xã hội (23/02/2011), Nói thêm một lần cho
dứt khoát về khái niệm “cộng sản” (24/02/2011).
(1)
Xem thêm cùng tác giả : Điều cốt lõi của
chủ nghĩa Mác (16/01/2011), Chủ nghĩa nhân văn (23/01/2011), Thế nào là một nền
chính trị toàn dân (19/02/2011), Thế nào là sự ổn định và phát triển
(22/02/2011), Nói về mối quan hệ giữa con người và con người trong xã hội
(23/02/2011).
(1)
Xem thêm cùng tác giả : Chính trị như một
khoa học và như một phạm trù đạo đức (14/02/2011), Thế nào là một nền chính trị
toàn dân (19/02/2011).
(2)
Xem thêm cùng tác giả : Điều cốt lõi của
chủ nghĩa Mác (16/01/2011), Bản chất sâu xa của chủ nghĩa quốc tế vô sản
(18/01/2011), Nói về Chủ nghĩa xã hội và định hướng Xã hội chủ nghĩa
(25/01/2011), Tư sản – Vô sản – Cộng sản (27/01/2011).
(3) Xem
thêm cùng tác giả : Chủ nghĩa nhân văn (23/01/2011), Nói về một xã hội tự do,
dân chủ và nhân văn (30/01/2011), Thế nào là sự ổn định và sự phát triển
(22/02/2011).
(4) Xem
thêm cùng tác giả : Thế nào là những chính phủ thông minh (10/02/2011), Thế nào
là một người lãnh đạo đất nước (16/02/2011), Thế nào là một nền chính trị toàn
dân (19/02/2011).
(1) Xem
cùng tác già : Thế nào là một nền chính trị toàn dân (19/02/2011)
(1) Xem
thêm cùng tác giả : Nhìn lại lịch sử từ một xã hội nông dân (02/01/2011), Điều
cốt lõi của chủ nghĩa Mác (16/01/2011), Bản chất sâu xa của chủ nghĩa quốc tế
vô sản (18/01/2011), Bản chất xã hội dân chủ và nền chuyên chính độc tài
(22/01/2011), Nói về Chủ nghĩa xã hội và
định hướng XHCN (25/01/2011), Tư sản - Vô sản - Cộng sản (27/01/2011), Nói về một
xã hội tự do, dân chủ và nhân văn (30/01/2011), Chủ nghĩa nhân văn
(23/01/2011), Chủ nghĩa nhân văn và vấn đề giai cấp xã hội (01/02/2011), Đầu xuân nói sâu thêm về chủ nghĩa nhân văn
(04/02/2011), Mục đích sống của nhà doanh nghiệp và ý nghĩa của vấn đề giai cấp
xã hội (06/02/2011), Nói thêm về ý nghĩa kinh tế, văn hóa, xã hội, thực tiển đời
sống con người theo quan điểm chủ nghĩa nhân văn khoa học (08/02/2011), Thế nào
là những Chính phủ thông minh (10/02/1011), Người ta rút ra được điều gì từ việc
Tổng thống Ai Cập Mubarat từ chức (13/02/2011), Chính trị
như một khoa học và chính trị như một phạm trù đạo đức (14/02/2011), Rồi lịch sử
vẫn cứ luôn trôi đi (15/02/2011), Thế nào là một nhà lãnh đạo đất nước
(16/02/2011), Thế nào là quần chúng và lãnh tụ (18/02/2011).
(1)
Xem thêm cùng tác giả : Điều cốt
lõi của chủ nghĩa Mác (16/01/2011), Bản chất sâu xa của chủ nghĩa quốc tế vô sản
(18/01/2011).
(2)
Xem thêm cùng tác giả : Thế nào là
chủ nghĩa nhân văn (23/01/2011), Thế nào là một xã hội tự do, dân chủ và nhân
văn (30/01/2011), Thế nào là những chính phủ thông minh (10/02/2011), Chính trị
như một khoa học và như một phạm trù đạo đức (14/02/2011), Rồi lịch sử vẫn cứ
luôn trôi đi (15/02/2011), Thế nào là một người lãnh đạo đất nước (16/02/2011),
Thế nào là những công dân (17/02/2011).
(1) Xem
thêm cùng tác giả : Nhìn lại lịch sử tử một xã hội nông dân (02/01/2011), Điều
cốt lõi của chủ nghĩa Mác (16/01/2011), Bản chất sâu xa của chủ nghĩa quốc tế
vô sản (18/01/2011), Bản chất xã hội dân chủ và nền chuyên chính độc tài
(22/01/2011), Nói về chủ nghĩa xã hội và định hướng XHCN (25/01/2011), Tư sản -
vô sản - cộng sản (27/01/2011), Nói về một xã hội tự do, dân chủ và nhân văn
(30/01/2011).
(2) Xem
thêm cùng tác giả : Chủ nghĩa nhân văn (23/01/2011), Chủ nghĩa nhân văn và vấn
đề giai cấp xã hội (01/02/2011), Đầu xuân nói sâu thêm về chủ nghĩa nhân văn
(04/02/2011), Mục đích sống của nhà doanh nghiệp và ý nghĩa của vấn đề giai cấp
xã hội (06/02/2011), Nói thêm về ý nghĩa kinh tế, văn hóa, xã hội, thực tiển đời
sống con người của quan điểm chủ nghĩa
nhân văn khoa học (08/02/2011), Thế nào là những chính phủ thông minh
(10/02/1011), Người ta rút ra được điều gì từ việc Tổng thống
Ai Cập Mubarat từ chức (13/02/2011), Chính trị như một khoa học và chính
trị như một phạm trù đạo đức (14/02/2011), Rồi lịch sử vẫn cứ luôn trôi đi
(15/02/2011), Thế nào là một nhà lãnh đạo đất nước (16/02/2011).
(1) Xem
thêm cùng tác giả : Chủ nghĩa nhân văn (23/01/2011), Thế nào là những chính phủ
thông minh (08/02/2011), Chính trị như một khoa học và chính trị như một phạm
trù đạo đức (14/02/2011), Rồi lịch sử vẫn cứ luôn trôi đi (15/02/2011).
(1) Xem
them cùng tác già : Chủ nghĩa nhân văn
(23/01/2011), Thế nào là những chính phủ thông minh (10/02/2011), Chính trị như
một khoa học và chính trị như một phạm trù đạo đức (14/02/2011)
No comments:
Post a Comment