NHỮNG BÀI PHÓNG BÚT NGẮN, CHỚP NHOÁNG (TẬP II)
- (10)
**
NGÀN
KHƠI says:
TỪ CÁC MÁC ĐẾN CÁC MÁC
Các Mác đã đựa vào
quan niệm “vong thân” của Hegel mang tính duy tâm để phiên diễn thành quan điểm
vong thân duy vật mà Mác mệnh danh cho các xã hội tư sản. Vong thân theo Mác là
sự đánh mất bản thân của con người trong kinh tế, vật chất. Nguyên nhân của sự
vong thân này theo Mác là quyền tư hữu. Do vậy để xã hội thoát khỏi vong thân,
Mác cho rằng phải thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản hay độc tài vô sản để
đi lên xây dựng xã hội cộng sản không giai cấp, không còn vong thân. Nhưng kết
quả trong thực tế, mọi xã hội mác xít theo cách vô sản chuyên chính, đều tạo ra
sự sợ hãi dây chuyển lẫn nhau của bất cứ người nào, từ giới lãnh đạo, cầm quyền
cho tới giới vô sản bị trị. Sự sợ hãi mọi mặt đó thực chất cũng là sự vong thân
của cá nhân con người và xã hội về mọi mặt. Đó chính là tính cách gậy ông đập
lưng ông trong bản thân học thuyết của Mác. Mác đã phịa ra sự vong thân tưởng
tượng trong xã hội tư sản, để làm nó trở thành sự vong thân thực tế trong xã
hội vô sản do Mác quan niệm, chính là điều nghịch lý và thật sự tai quái kiểu
như thế. Con người sợ hãi, không dám đấu tranh cho lẽ phải về mọi mặt, trở
thành đầu hàng, suy thoái, ích kỷ, thụ động, cá nhân về mọi mặt một cách tầm
thường, thấp kém, đó chính là tính cách vong thân của con người và nhân loại
khi đi theo đương lối xã hội mác xít. Mác đã trở thành nạn nhân của chính mình
và nhân loại cũng thành nạn nhân của chính Mác, đó sự thật trần trụi nhất chính
là vậy.
NON
NGÀN
(08/6/12)
(08/6/12)
**
ĐẠI
NGÀN says:
DÂN TRÍ VÀ SỰ TỰ GIÁC
Người VN trong
nước và ngoài nước hiện nay đều ở trong tình trạng bát nháo. Nguyên nhân chính
là do dân trí và không có sự tự giác. Đó chính là hình ảnh của giỏ cua mà đã có
nhiều người ví von hoàn toàn chính xác. Dân trí thấp tạo nên dân trí thấp. Đó
là quy luật dây chuyền khép kín hay sự tự biến thái lòng vòng không lối thoát.
Tất nhiên nói như vậy không phải mọi người đều thấp. Cái thấp ở đây là cái thấp
của đa số. Cứ nhìn gần suốt một thế kỷ người ta có thể thấy được điều đó. Chính
lối tuyền truyền mị dân, ngu dân, sự giáo dục giáo điều, kịch kỡm, kẽm cõi cũng
là tác nhân chính làm cho dân trí thấp. Dân trí càng thấp lại lòng vòng trong
khuynh hướng ích kỷ, bảo thủ cá nhân, trong tinh thần thụ động, cầu an, chủ
nghĩa cá nhân, khuynh hướng trùm chăn, khuynh hướng cạnh tranh bất chính, ma
đầu, khôn lõi v.v… và v.v… Tất cả những cái đó là do ngày từ đầu bởi dân trí
thấp mà ra. Cái ngay từ đầu đó tạo nên các hệ lụy khác và cứ tiếp tục kéo theo
như vậy. Dân trí càng thấp chủ nghĩa cá nhân phát triển càng cao. Chủ nghĩa cá
nhân phát triển càng cao sự mệnh danh chủ nghĩa xã hội càng cao. Đó chỉ là
khuynh hướng giả hình về xã hội. Càng hô hào chủ nghĩa xã hội người ta càng
hướng về chủ nghĩa cá nhân, đó là thực chất. Chủ nghĩa xã hội trá hình, nhân
danh dỏm, giả trá còn tệ hại hơn nhiều so với chủ nghĩa cá nhân thơ ngây. Tất
cả điều đó là do thiếu ý thức tự giác. Bởi nếu ý thức tự giác của số đông càng
cao, sẽ kéo theo ý thức tự giác của thiểu số còn lại. Ngược lại, nếu ý thức tự
giác càng thấp, mọi khuynh hướng giả trá trở nên khống chế và khuynh loát tất
cả. Mọi sự giả tạo, giả dối dần dần lên ngôi và chiếm lĩnh thường xuyên mọi
sinh hoạt và nhiều khía cạnh của đời sống xã hội là như thế. Các cái gọi là chủ
nghĩa này chủ nghĩa nọ chính là những biến thái trong thực tế đời sống của
những tệ trạng và thực trạng khách quan đó. Từ đó cũng thấy rằng đường ra hiện
tại rất khó. Cũng giống như đã ở trong một bụi rậm dày, thật khó ra hơn là
khoảnh cây thưa. Tự giác không có là do dân trí thấp. Dân trí thấp là do mọi
hậu quả của sự không tự giác khác nhau. Điều này đã xảy ra từ lâu mà không phải
mới. Chính yếu tố từ lâu đó đã làm nên thực tế bụi rậm. Đó là tình trạng thả
nổi của cá nhân và xã hội. Xã hội thả nổi vì mọi cá nhân thả nổi. Mọi cá nhân
thả nổi là do toàn thể xã hội thả nổi. Cái tệ này cứ tiếp tục tạo nên cái tệ
khác mà dường như chưa có lối thoát. Có nghĩa lối thoát duy nhất phải là sự đột
khởi, sự xé rào, sự đột biến một cách tích cực. Nhưng điều này trong thực trạng
đó chưa phải là dễ. Như vậy chỉ còn cách duy nhất là tính tự giác lành mạnh của
một số cá nhân ít dần dần được nâng lên, mở rộng, tạo thành số đông, đa số. Rồi
chính bài toán đa số cũng giải quyết được các yếu tố hay khía cạnh thiểu số còn
lại. Đó cũng là tính cách của tự giác và giác tha như trong đạo Phật có nói.
Nói cách cụ thể,
sự phản tuyền truyền giả dối sẽ phải giải quyết tính tuyên truyền giả dối mới
có thể tái lập lại được sự hồn nhiên nguyên thủy của người VN ngày xưa. Sự giải
tỏa ý thức giả dối đó cũng là một trong những yếu tố tích cực để nhằm xây dựng
lại một xã hội VN lành mạnh từ nguyên khởi.
NON
NGÀN
(08/6/12)
(08/6/12)
**
Võ
Hưng Thanh says:
LUẬT PHÁP VÀ TÍNH NHÂN VĂN HAY TÍNH VĂN HÓA
Xã hội con người
là xã hội thực tế. Đó là xã hội sinh học, là điều hoàn toàn khách quan lẫn tự
nhiên. Như vậy sự lý tưởng hóa xã hội là một lịch sử phát triển, không bao giờ
là một giá trị hay công thức tiền chế. Tính nhân văn hay tính văn hóa, nói khác
luôn phát triển lên từ tính tự nhiên, tính khách quan mà không thể hay không
phải trên trời rơi xuống. Xã hội hướng về tính nhân văn, tính văn minh là
khuynh hướng tất yếu. Nhưng xã hội vẫn cột chặt vào tính tự nhiên, tính sinh
học, vẫn là thực tế khách quan không lúc nào gở bỏ được. Nói như vậy để thấy
rằng luật pháp là ranh giới phân cách giữa tính thiên nhiên và tính văn minh,
văn hóa. Biên giới phân cách này luôn luôn phát triển, đó là khuynh hướng phát
triển tự nhiên của pháp luật. Nói pháp luật có kẻ hở cũng chỉ là cách nói cảm
tính. Pháp luật chỉ có tính cách phát triển và mức độ hoàn thiện là tùy vào xã
hội phát triển. Nói chung lại pháp luật là yêu cầu khách quan, tự nhiên của xã
hội. Pháp luật là vách ngăn hạn chế sự kéo về tự nhiên của xã hội. Pháp luật là
nền tảng để xã hội tạo cơ sở đi lên văn minh và phát triển. Yêu cầu khách quan
của luật pháp chính là như thế. Luật pháp chỉ là phương tiện tự nhiên, thiết
yếu của xã hội, chẳng có gì thần thánh, chẳng có gì thấp kém. Các Mác chỉ là
tay gàn bướng cho pháp luật là pháp luật của giai cấp, mà cụ thể là giai cấp
thống trị. Mác cho rằng lịch sử của loài người chỉ là sự liên tục của giai cấp
thống trị này sang giai cấp thống trị khác. Bởi vậy Mác chủ trương thực hiện
chuyên chính vô sản để đi tới xã hội không còn giai cấp, không còn pháp luật.
Một xã hội không giai cấp là một quan niệm ngây thơ, ngu dốt của Mác. Một xã
hội không còn pháp luật là một quan điểm u mê, hạn hẹp của Mác. Một kẻ kém
thông minh, phi thực tế, phản thực chất như vậy mà từng có một số trí thức ô
hợp tôn lên là đỉnh cao của trí tuệ loài người. Quả thật là nhảm nhí và tầm
thường một cách tai hại. Nên nói tóm lại, ý nghĩa tự do dân chủ phải đi đôi với
pháp luật. Pháp luật phản tự do dân chủ là pháp luật độc đoán, pháp luật phản
động. Đó cũng là thứ pháp luật phi nhân văn, phản nhân văn, hoặc cũng ngang
hàng như loại pháp luật bị lợi dụng, bị lạm dụng cho thiểu số. Pháp luật tự do
dân chủ là pháp luật khách quan. Pháp luật càng khách quan càng phục vụ được
cho đa số và càng văn minh, phát triển, tiến bộ. Ngược lại pháp luật chỉ cho
thiểu số, đó là pháp luật phản xã hội, phản nhân bản, phản lịch sử, phản phát triển,
phản tiến hóa. Các Mác thực chất là kẻ dở hơi. Nhiều điều ông ta nói hoàn toàn
phi lý, nghịch lý, trẻ con, điên loạn. Trong tất cả các khía cạnh đó, có khía
cạnh quan niệm về pháp luật, về xã hội, về chính trị, về kinh tế trong tư tưởng
của Các Mác. Quan điểm chuyên chính vô sản để tiến tới một xã hội tự do gấp
triệu lần, đó là quan điểm ngây thơ và hoàn toàn dốt nát của Mác. Điều ấy chẳng
khác gì bảo rằng cần đúc một miếng chắn bê tông cốt thép, cần xây một đập bê
tông cốt théo để điều chỉnh dòng chảy của lịch sử loài người, rồi cuối cùng tự
tấm chắn bê tông đó, cái đập ngăn tai hại đó cũng tự tan chảy ra nước và hòa
thành chung vào trong dòng nước. Chỉ có bọn khờ khạo và trẻ con mới tin chắc
một điều hoàn toàn phi lý, ngu muội như thế.
ĐẠI
NGÀN
(08/6/12)
(08/6/12)
**
THƯỢNG
NGÀN says:
DÂN TRÍ VÀ SỰ TỰ DO DÂN CHỦ
Dân trí vừa là
điều kiện, vừa là bản chất, vừa là mục đích của mọi sự tiến bộ xã hội và con
người. Xã hội tạo nên bởi mọi cá nhân độc lập và tự do. Mỗi cá nhân đó có thể
thuộc về bất kỳ giai cấp nào. Xã hội là một thực thể cấu trúc, giai cấp luôn
luôn chỉ là hình thức cấu trúc nhất thời của chính mọi thực tại xã hội. Chủ
trương một xã hội không giai cấp là một chủ trương dốt nát của chính Các Mác.
Một xã hội không giai cấp chẳng khác gì một thực tại phi cấu trúc, trên thế
gian này không có thực tại nào như thế cả. Vậy thì tính cách của giai cấp tốt
là tính cách tương thích. Tính cách của giai cấp xấu là tính cách bất tương
thích. Xã hội đạo đức, văn hóa là xã hội có giai cấp tương thích. Xã hội phi
nhân, tai ác, phản động là xã hội có giai câp không tương thích, đối kháng, mâu
thuẫn nhau. Sự mâu thuẫn trong xã hội là sự mâu thuẫn mọi quyền lợi, nhận thức
nói chung của ý thức con người. Điều đó vẫn luôn luôn có và thường xuyên có.
Nhưng nếu sự mâu thuẫn chỉ xảy ra tạm thời và luôn có hướng giải quyết, đó là ý
nghĩa khách quan. Muốn tạo một xã hội không còn mâu thuẫn chỉ là sự ảo tưởng,
sự dốt nát mà Các Mác đã phạm phải. Chinh sự ảo tưởng của Mác mà Mác đã phong
thánh giai cấp vô sản. Đó là sự phong thánh mê muội, u mê, mê tín, phản khoa
học, không có cơ sở khoa học khách quan. Bởi mọi con người tự do là bình đắng
cho dù họ thuộc giai cấp nào. Không cứ là người thuộc giai cấp nào mới thật sự
là tốt hay xấu một cách tuyệt đối. Con người văn hóa, văn minh là con người
hướng tới xã hội, hướng tới nhân loại, không phải hướng tới giai cấp hay chỉ
hướng tới lợi ích ích kỷ của bản thân. Quan điểm đấu tranh giai cấp của Mác là
một quan điểm phi thực tế, cuồng bạo, võ đoán, phi lý, khờ khạo và u mê của Các
Mác chỉ vì cuồng tín vào cái gọi là quy luật biện chứng của Hegel. Sự thánh hóa
và trao quyền tuyệt đối vào giai cấp vô sản chỉ là sự giả tạo, vì thực chất
giai cấp vô sản không bao giờ nắm được quyền đó, mà chỉ là những thành phần cá
nhân lợi dụng chính giai cấp đó nắm quyền đó. Cho nên bản chất chung của con
người là ích kỷ, bản năng, chỉ có văn hóa, đạo đức và trí thức mới tạo nên các
con người lý tưởng của xã hội. Dân trí và tự do dân chủ chính là việc đặt nền
tảng khách quan như thế. Dân trí cao có nghĩa là mọi người hay phần lớn đều
được giáo dục tốt đẹp, đúng đắn, hiểu biết. Đó chính là cơ sở của tự do và dân
chủ trong toàn xã hội. Một xã hội dân trí thấp, quyền bạo hành rất dễ dàng lọt
trong tay một thiểu số, cho dù thiểu số đó là ai, không cứ thuộc thành phần
giai cấp nào một cách nhất thiết hay tuyệt đối. Sự giáo dục ý thức hệ một cách
chuyên đoán, đó không phải vì giai cấp mà là phản xã hội. Muốn vì xã hội phải
có sự giáo dục khai mở, nhắm đến tất cả mọi người mà không cứ ưu tiên giai cấp
nào. Ưu tiên cho bất kỳ giai cấp nào thực chất chỉ là sự mị dân, sự gạt dân.
Chống giặc dốt giặc đói là một điều hay. Nhưng nếu giáo dục theo cách mù quáng
khống thể gọi là chống giặc dốt. Cũng vậy nếu làm cho kinh tế không phát triển,
đó không phải là chống giặc đói, mà thực chất chỉ công cụ chính trị mang tính
chất riêng tư, hình thức nhất thời. Nói chung lại dân trí, dân chủ và tự do
phải là sự khách quan, thành thật mà không thể là sự chủ quan. Bởi mọi sự chủ
quan đều mê lầm, mọi sự không thành thật đều là dối trá. Sự mê lầm và sự dối
trá đều là mặt tiêu cực của cá nhân và xã hội. Nên nói tóm lại muốn thực hiện
dân chủ, tự do thì phải phát triển dân trí là điều tiên quyết nhất. Phát triển
dân trí trước hết phải có nền giáo dục tự do, phi ý thức hệ đặc thù. Giáo dục
một chiều nào đó là võ đoán, phản tự do, phản dân trí, cũng có nghĩa là phản
dân chủ tự do đích thực. Thế nên nói và làm phải đi đối với nhau, đó là tính
khách quan, tính thành thật, tính đúng đắn. Không có các yếu tố đó thì thực
chất chỉ là hành động ngược lại. Nên nói chung lại, dân trí, dân chủ, tự do,
tính đúng đắn hay tính thành thật luôn luôn không thể tách rời nhau. Mọi sự
tách rời những yếu tố trên chỉ là giả dối, sự mị dân hay phản xã hội. Quan điểm
giai cấp vô sản như là đầu tàu của lịch sử do Mác đưa ra chỉ là quan điểm u mê,
phản văn hóa, phản khoa học, phản lịch sử, phản tiến hóa, hay nói chung là phản
thực chất hay phản động. Bởi vì đó là quan điểm bản thể luận lịch sử một cách
hồ đồ, mờ tối, mê tín, huyền hoặc. Mỗi con người luôn là một thực thể sinh học
khách quan, chính nhiều người trong những hoàn cảnh hay điều kiện nào đó hình
thành nên giai cấp một cách tạm bợ. Giai cấp không hề mang ý nghĩa vĩnh cửu,
tối ưu hay thiêng liêng nào hết. Quan niệm giai cấp nào đó là tối ưu về mặt
lịch sử xã hội, thực chất là phi thực tế, phi khoa học, đó chính là một quan
điểm u mê, mê tín, giả dối, và hoàn toàn cường điệu, ngụy tạo nơi chính bản
thân tư duy và nhận thức của Các Mác.
ĐẠI
NGÀN
(07/6/12)
(07/6/12)
**
ĐẠI
NGÀN says:
THAN ÔI, THỰC CHẤT “THƠ” VIỆT NAM NGÀY NAY
Thơ văn là ngôn
ngữ cảm xúc, tình cảm. Cái đẹp ở đây không phải chỉ ở ngôn từ mà còn là cái đẹp
của sự nhận thức, của sự biểu cảm. Có nghĩa thơ văn nói chung, nhất là thơ nói
riêng, phải có cái mỹ ngoại hình và cái trí trong nghệ thuật và trong tâm hồn.
Sự dốt nát trong nhận thức và trong biểu đạt không thể gọi được là thơ mà chỉ
có thể gọi là thợ thơ, học đòi thơ. Thơ như vậy cũng có nghĩa phải có giá trị
thật. Giá trị thật có nghĩa là tự nhiên, khồng giả dối, không làm điệu hay
cường điệu. Người làm thơ nói khác không phải để cho người mà để cho mình. Tức
không nhằm chứng tỏ ta đây cũng là nhà thơ, người biết làm thơ, được người khác
hay mọi người khen lao về thơ làm ra, nhưng thơ chỉ là một yêu cầu nhằm nói lên
điều gì, không phải bằng ngôn ngữ thường, mà bằng ngôn lời của nghệ thuật ngôn
ngữ thơ, nghệ thuật ngôn ngữ trong thơ. Cái mỹ hình thức của thơ như vậy bó
buộc phải là vần điệu và nhạc điệu. Vần điệu là nhạc điệu cụ thể hay nhạc điệu
theo nghĩa hẹp. Trái lại nhạc điệu là vần điều theo nghĩa rộng, là nhạc tính
của âm sắc và tâm hồn trong thơ. Đó là ý nghĩa của thơ tự do hay thơ không vần
nhưng thực chất vẫn là thơ đúng nghĩa vì nó có nhạc điệu. Ngược lại, nếu thơ
không vần điệu, không nhạc điệu, mà không thực chất là thơ, lại chỉ là cách học
đòi ngô nghê, nhạt nhẽo, kém cõi, vô duyên. Như thế, đọc thơ, đọc văn, người ta
thấy được ngay ý nghĩa về nghệ thuật và về trình độ nhận thức, hiểu biết nói
chung nơi tác giả của nó. Thơ là phương tiện của ý thức biểu đạt, thơ là mục
đích của ý thức biểu đạt. Thơ mà chỉ nhằm để nói vu vơ, vô nghĩa, nhảm nhí, đó
không phải thực chất của thơ mà chỉ là phi nghệ thuật, phản nghệ thuật, chỉ là
những gì ngô nghê, tầm thường của những kẻ bất xứng.
Đọc bài viết nói
trên của ông Trần Mạnh Hảo cho thấy sự bất mãn của ông ta đối với giải thường
“thơ” đã có của Hội Nhà văn Việt Nam hiện tại. Các lập luận của ông Hảo trong
nhận xét, phê phán của ông ta không phải không có lý. Điều đó nói lên hiện
trạng thơ VN ngày nay là quá tệ, phần nào đó những người làm thơ là quá tệ,
nhất là những cái được gọi là giả thưởng thật sự càng quá tệ và càng chứng tỏ sự
vô tài, bất tướng của những người làm công tác quản lý nghệ thuật, hay những
người quản lý hoặc có quyền hành trong văn nghệ. Đại để tập thơ “Bầu trời không
mái che” của tác giả Mai Văn Phấn và tập thơ “Hoan ca” của tác giả Đỗ Doãn
Phương mà được giải thưởng kể cũng lạ. Bởi như thế chứng tỏ giới sáng tác thi
ca hiện tại chẳng là gì cả, ban giám khảo chấm thơ cũng chẳng là gì cả. Ý niệm
bầu trời không mái che chỉ là ý niệm dốt nát, cường điệu, khờ khạo. Có bầu trời
nào mà có mái che ? Điều đó chứng tỏ trình độ nhận thưc, trình độ ý thức non
kém, làm dáng kiểu trẻ nít của người được giải thơ. Còn thế nào là “Hoan ca”,
hoan ca phải chăng là hoan lạc thật hay chỉ là sự cụp lạc một cách giả dối, giả
tạo, làm dáng dỏm ? Chỉ cái tựa của tập thơ đã nghe không ổn, chưa nói đến các
nội dung những bài thơ trong đó như thế nào. Đặt tựa mà còn bôi bát, không xong
thì còn nói đến ý nghĩa nội dung, nghệ thuật như thế nào nữa. Quả thật thơ hay
thẩn, thơ hay là tơ lơ mơ, ngu ngơ, khù khờ chính là như thế.
Rồi ông Trần Mạnh Hảo
lại phê phán về “cách tân thơ” một cách mang tính khoe chữ nghĩa không cần
thiết, phần nào đó ngô nghê. Bởi vì cách tân thơ là gì, là nhu cầu nào đó nhằm
phát triển thơ về hình thức một cách cao hơn, đẹp hơn, đắc dụng hơn. Cách tân
không phải là cố ý nói bậy bạ nhằm để khác lạ với cái cũ. Thơ và nhạc luôn luôn
đã có những giá trị kinh điển, cổ điển, định hình, mẫu mực tự ngàn xưa rồi.
Cách tân phải là sự đóng góp về mặt hình thức nghệ thuật một cách tốt hơn, cao
hơn, điều này rất khó. Cách tân không phải là lập dị một cách dị hợm và dốt
nát. Sự hiểu lầm về cách tân thơ chỉ nói lên tính lố bịch, phi lý, giả tạo, non
kém của những ý thức liều lĩnh, ngây dại về thơ. Cách tân theo kiểu phá bĩnh,
phá hỏng về thơ, thật sự chỉ là làm trò cười, người cách tân nhảm nhí và những
kẻ vỗ tay tán thưởng sự cách tân nhảm nhí nói chung cũng chỉ là một giuộc những
trò nhảm nhí.
Ôi, nghệ thuật thơ VN ngày nay và những tác phẩm gọi là thi ca, những giải thưởng gọi là thi ca chung quy lại cũng giống như chuyện điếu đóm với nhau, mẹ hát con khen hay, hay con hát mẹ khen hay chính là như vậy. Đó là sự lợi dụng, lạm dụng, bôi bát, nhũng nhiễu và hạ cấp hóa nghệ thuật chính là như thế.
Ôi, nghệ thuật thơ VN ngày nay và những tác phẩm gọi là thi ca, những giải thưởng gọi là thi ca chung quy lại cũng giống như chuyện điếu đóm với nhau, mẹ hát con khen hay, hay con hát mẹ khen hay chính là như vậy. Đó là sự lợi dụng, lạm dụng, bôi bát, nhũng nhiễu và hạ cấp hóa nghệ thuật chính là như thế.
Rồi ông Trần Mạnh
Hảo với tính cách là nhà thơ, trích dẫn lên một loạt những bài thơ mà ông khen
đáo khen để : như bài “Người đẹp” của LNS, bài “Thít chặt”, “Vô đề” của CD, các
bài “Những vàm sông đêm”, “Buổi chiều không có hôm qua”, “Con chim thời gian”
của NTAH. Đọc qua những bài thơ này, người thơ thấy được các mức độ nghèo nàn,
nhảm nhí, khờ khạo, trẻ nít của những cái được gọi là thi phẩm, là nhà thơ như
thế nào mà chính TMH đã khen lên tận mây. Ôi quả thật ông TMH cũng nên xem xét
lại ý nghĩa thơ, giá trị thơ, tâm hồn thơ của ông ta trong tính cách là một nhà
thơ hôm nay như thế nào mà lại viết bình thơ kiểu đó. Không tin ông TMH với
tính cách là nhà thơ hãy tranh luận và bày tỏ.
Cuối cùng lại, ông
Hảo cũng đã trích dẫn một số bài thơ trong hai cuốn thơ đoạt giải, của Đỗ Doãn
Phương và Mai Văn Phấn mà chính ông Hảo bảo cỡ ông chỉ ngồi “ngoáy” một tí cũng
có được cả trăm bài. Tôi cho rằng điều này không Hảo không hề cường điệu. Ông
ta nói điều đó hoàn toàn chính xác. Bởi vì thơ không có hồn, không có nội dung,
không có nghệ thuật, không có tư tưởng riêng gì mới, không có ngôn từ chỉnh
đốn, mà chỉ như nói tầm phào tào lao cho qua tang lề sự việc như thế thì cỡ ông
Hảo thực chất cũng có thể “ngoáy” không chỉ có một trăm mà cả ngàn bài, còn
những người có thể làm thơ khác, thì chẳng những cũng không thèm “ngoáy” kiểu
ấy làm gì, mà thực sự họ không thèm để mắt tới. Ôi đúng là hiện trạng sân chơi
“thơ” VN, hay nói chính xác là của miền Bắc ngày nay, chính là như thế đó.
NON
NGÀN
(07/6/12)
(07/6/12)
**
ĐẠI
NGÀN says:
VÀI SUY NGHĨ VỀ NGƯỜI VIỆT NAM VÀ NGƯỜI
CỘNG SẢN VN NGÀY NAY
Bài viết của ông
Trần Diệu Chân, Ph. D, tôi không biết ông ta còn trẻ hay già, học vị có khách
quan hay không, nhưng bằng lòng tin hồn nhiên, tôi cho ông ta là một người trẻ,
tất nhiên là người có học thức, có hiểu biết, có ý thức, có mục tiêu tích cực.
Rõ ràng tôi cũng không phê phán những quan điểm riêng của ông Chân, bởi vì đó là
quyền phát biểu công khai riêng của mỗi người, còn điều đó đúng hay sai ở chỗ
nào, mức độ nào, cái ấy còn có nhận định của mỗi người, của mọi người.
Ở đây tôi chỉ muốn
mở rộng vấn đề hơn, khái quát hay bao quát vấn đề hơn, cũng mang tính thực tế,
tích cực và hiệu quả hơn, đó là ý niệm người VN và người CSVN. Cũng trong tính
cách đó thì sự đoàn kết và yêu cầu dân chủ lại càng lại càng mở rộng, thiết
thực và còn triển vọng hơn cả.
Thế thì sự khác biệt giữa người VN và người CSVN là như thế nào ? Nói cách lô-gíc, người CS ở đây cũng là người VN, nhưng người VN chưa hẳn đã là người CS. Song nói một cách tát cạn vấn đề hơn, người CS mà không còn kể mình là người VN nữa thì đó mới thật sự là điều tồi tệ nhất. Có nghĩa người CS nào mà chỉ đặt mục đích CS cao hơn mục đích VN, tình cảm CS cao hơn tình cảm VN, yêu cầu CS cao hơn yêu cầu VN, chân lý CS cao hơn chân lý VN, quả là loại người tồi tệ, phi VN, phi dân tộc và phi Tổ quốc nhất. Từ trên cơ sở đó, rõ ràng không thể có người CS nào thuần túy mà không còn chút tính cách người VN nào. Còn nếu vẫn có loại người nào như thế, thì ro ràng chỉ là loại đáng bỏ đi, không cần ngó tới hay đếm xỉa tới nữa. Nói cách khác đi, người VN thì không bị phụ thuộc vào bất kỳ giá trị nào khác ngoài chính giá trị VN. Ngược lại, người CS lại chỉ phụ thuộc vào một ý nghĩa duy nhất, đó là chủ nghĩa CS thực chất là sai hay đúng, học thuyết Mác xít là học thuyết khoa học hay học thuyết phi khoa học, phản khoa học. Điều này ngay nay mọi người đều rõ. Ít ra trước kia những người CS hoàn toàn sống theo cảm tính, nhưng thời đại ngày nay có thể nói ít nhiều người ta đã có được chút đỉnh lý tính, tức có phần nào đó kinh nghiệm, sự hiểu biết và nhận thức đúng đắn theo lý trí khách quan. Đấy ý nghĩa của người CS và người VN ngày nay nó là như thế. Có nghĩa nếu người CS nào mà vẫn còn chất VN thì sự đoàn kết và dân chủ giữa người CS với người VN ngày nay là yếu tố thiết yếu đối với quốc gia, dân tộc. Nó còn hơn cả sự đoàn kết hay sự dân chủ giữa người VN và người VN. Đấy yếu tố thiết yếu nhưng cũng thật sự phức tạp là như thế. Ngược lại mọi người VN thiển cận, hẹp hòi, cũng chẳng khác gì những người CS mù quáng, vị kỷ, tầm thường, hạn hẹp, không bao giờ có được sự đoàn kết hay sự dân chủ giữa cả hai loại này. Nhưng nếu đẩy vấn đề đến cùng, thì chính loại người nào tạo nên loại người nào ? Người CS tầm thường, dốt nát, cuồng tín tạo nên loại người VN hạn hẹp, cực đoan, ngoan cố hay cũng hoàn toàn ngược lại ? Có thể cả hai điều này đều đúng mà không thể đều sai. Thế cho nên tâm hồn hay tâm tình của người VN ngày nay nói chung, bất kể đó là người CS hay không phải là người CS, mới chính là yếu tố quyết định nhất cho sự đoàn kết và yêu cầu dân chủ mà không phải loại người VN ích kỷ, máy móc, cực đoan cũng như loại người CS tầm thường, hạ cấp, dốt nát, cuồng tín, hay tự mệnh danh là CS và giả đò như là CS. Quá khứ của người VN, dân tộc VN, đất nước VN không hiển nhiên là do chính người VN quyết định, bởi vì nó là sản phẩm phần lớn hay phần nào của ý thức hệ quốc tế và tranh chấp quốc tế về ý hệ mà ai cũng biết. Nhưng chính hiện tại và tương lai của đất nước, dân tộc VN lại chính do người VN nói chung ngày nay quyết định, bởi vì ngày nay mọi việc đều đã hạ màn, không còn mù mờ theo mọi kiểu tuyên truyền lộng ngôn, đầy mọi sự lừa gạt cùng với mọi sự tầm thường, thiển cận và đầy chất cảm tính như trong quá khứ. Nên nói chung lại, dân chủ và đoàn kết là yêu cầu cao nhất, quan trọng nhất, và cần thiết nhất của xã hội. Nhưng đây lại không phải là yêu cầu phi điều kiện mà là yêu cầu với điều kiện tiên quyết. Điều kiện tiên quyết đó luôn luôn và tất yếu không ngoài sự hiểu biết, yếu tố ý thức lành mạnh, hay nói chung là tính chất trong sáng, tính chất lành mạnh của chính trị nếu có, cũng như trình độ dân trí cao và có tính chất tự chủ nhất đúng nghĩa nhất của tất cả mọi người như trên kia đã được phân tích và lý giải.
Thế thì sự khác biệt giữa người VN và người CSVN là như thế nào ? Nói cách lô-gíc, người CS ở đây cũng là người VN, nhưng người VN chưa hẳn đã là người CS. Song nói một cách tát cạn vấn đề hơn, người CS mà không còn kể mình là người VN nữa thì đó mới thật sự là điều tồi tệ nhất. Có nghĩa người CS nào mà chỉ đặt mục đích CS cao hơn mục đích VN, tình cảm CS cao hơn tình cảm VN, yêu cầu CS cao hơn yêu cầu VN, chân lý CS cao hơn chân lý VN, quả là loại người tồi tệ, phi VN, phi dân tộc và phi Tổ quốc nhất. Từ trên cơ sở đó, rõ ràng không thể có người CS nào thuần túy mà không còn chút tính cách người VN nào. Còn nếu vẫn có loại người nào như thế, thì ro ràng chỉ là loại đáng bỏ đi, không cần ngó tới hay đếm xỉa tới nữa. Nói cách khác đi, người VN thì không bị phụ thuộc vào bất kỳ giá trị nào khác ngoài chính giá trị VN. Ngược lại, người CS lại chỉ phụ thuộc vào một ý nghĩa duy nhất, đó là chủ nghĩa CS thực chất là sai hay đúng, học thuyết Mác xít là học thuyết khoa học hay học thuyết phi khoa học, phản khoa học. Điều này ngay nay mọi người đều rõ. Ít ra trước kia những người CS hoàn toàn sống theo cảm tính, nhưng thời đại ngày nay có thể nói ít nhiều người ta đã có được chút đỉnh lý tính, tức có phần nào đó kinh nghiệm, sự hiểu biết và nhận thức đúng đắn theo lý trí khách quan. Đấy ý nghĩa của người CS và người VN ngày nay nó là như thế. Có nghĩa nếu người CS nào mà vẫn còn chất VN thì sự đoàn kết và dân chủ giữa người CS với người VN ngày nay là yếu tố thiết yếu đối với quốc gia, dân tộc. Nó còn hơn cả sự đoàn kết hay sự dân chủ giữa người VN và người VN. Đấy yếu tố thiết yếu nhưng cũng thật sự phức tạp là như thế. Ngược lại mọi người VN thiển cận, hẹp hòi, cũng chẳng khác gì những người CS mù quáng, vị kỷ, tầm thường, hạn hẹp, không bao giờ có được sự đoàn kết hay sự dân chủ giữa cả hai loại này. Nhưng nếu đẩy vấn đề đến cùng, thì chính loại người nào tạo nên loại người nào ? Người CS tầm thường, dốt nát, cuồng tín tạo nên loại người VN hạn hẹp, cực đoan, ngoan cố hay cũng hoàn toàn ngược lại ? Có thể cả hai điều này đều đúng mà không thể đều sai. Thế cho nên tâm hồn hay tâm tình của người VN ngày nay nói chung, bất kể đó là người CS hay không phải là người CS, mới chính là yếu tố quyết định nhất cho sự đoàn kết và yêu cầu dân chủ mà không phải loại người VN ích kỷ, máy móc, cực đoan cũng như loại người CS tầm thường, hạ cấp, dốt nát, cuồng tín, hay tự mệnh danh là CS và giả đò như là CS. Quá khứ của người VN, dân tộc VN, đất nước VN không hiển nhiên là do chính người VN quyết định, bởi vì nó là sản phẩm phần lớn hay phần nào của ý thức hệ quốc tế và tranh chấp quốc tế về ý hệ mà ai cũng biết. Nhưng chính hiện tại và tương lai của đất nước, dân tộc VN lại chính do người VN nói chung ngày nay quyết định, bởi vì ngày nay mọi việc đều đã hạ màn, không còn mù mờ theo mọi kiểu tuyên truyền lộng ngôn, đầy mọi sự lừa gạt cùng với mọi sự tầm thường, thiển cận và đầy chất cảm tính như trong quá khứ. Nên nói chung lại, dân chủ và đoàn kết là yêu cầu cao nhất, quan trọng nhất, và cần thiết nhất của xã hội. Nhưng đây lại không phải là yêu cầu phi điều kiện mà là yêu cầu với điều kiện tiên quyết. Điều kiện tiên quyết đó luôn luôn và tất yếu không ngoài sự hiểu biết, yếu tố ý thức lành mạnh, hay nói chung là tính chất trong sáng, tính chất lành mạnh của chính trị nếu có, cũng như trình độ dân trí cao và có tính chất tự chủ nhất đúng nghĩa nhất của tất cả mọi người như trên kia đã được phân tích và lý giải.
NON
NGÀN
(07/6/12)
(07/6/12)
**
NGÀN
KHƠI says:
QUYỀN LỰC VÀ SỰ CHÍNH NGHĨA
Nói đến quyền lực
là nói đến chủ thể của quyền lực, tức ai cầm quyền lực, lý do hay nguyên nhân
của quyền lực, và cuối cùng là mục đích của quyền lực. Quyền lực ở đây là quyền
lực xã hội, tức quyền lực của quốc gia hay đất nước. Chủ thể của quyền lực là
ai nắm quyền trực tiếp hiện có, cá nhân hay tập thể, nhóm hoặc đảng phái, tính
cách của họ tức của mỗi chủ thể đó như thế nào. Lý do hay nguyên nhân của quyền
lực là ai giao quyền cho họ, vì đâu họ nắm được quyền, lý do của sự nắm quyền
đó là như thế nào. Mục đích của quyền lực là sự nắm quyền để làm gì, vì quyền
lợi riêng của cá nhân, của tập thể nào đó, hay vì quyền lợi chung của mọi
người, của đất nước, của dân tộc.
Như vậy rõ ràng
nguyên nhân của quyền lực cũng quyết định được cả ý nghĩa chủ thể của quyền lực
và ý nghĩa mục đích của quyền lực. Có nghĩa, nếu nguyên nhân của quyền lực là
hữu lý, chính đáng, chủ thể của quyền lực cũng phù hợp, thích đáng, và mục đích
của quyền lực cũng tương thích, đúng ý nghĩa. Nhưng nếu ngược lại, có nguyên
nhân không thích đáng như thế nào đó, hệ lụy hay hệ quả kéo theo cũng xảy ra
như thế. Nói cách khác, nếu nguồn gốc của quyền lực là dân chủ và chính đáng
thật sự, tức đích thực do nhân dân giao phó, ủy quyền hoàn toàn tự do, tự chủ
đúng nghĩa, quyền lực đó cũng mới hoàn toàn chân chính, đúng nghĩa, hiệu quả và
hiệu lực thật sự. Ngược lại, nếu quyền được trao phó do ngẫu nhiên, chủ quan,
riêng tư, cục bộ nào đó, tất yếu mọi hiệu quả kéo theo cũng tất yếu phản tác
dụng hay không phù hợp.
Từ đó cũng thấy
được rằng, quyền lực chính đáng luôn đi theo với chính nghĩa. Chính nghĩa ở đây
là chân lý, là mục tiêu đúng đắn, là sự thật hay nghĩa lý khách quan. Chính
nghĩa cũng có nghĩa là sự phù hợp với lợi ích chung mà không phải lợi ích
riêng, sự giả tạo hay sự nhân danh nào đó không chính đáng.
Có nghĩa chính
nghĩa sau cùng của quyền lực chính là quyền lợi của toàn dân, toàn xã hội mà
không thể nhân danh lợi ích riêng của giai cấp hay tập thể, đảng phái nào đó
một cách giả tạo. Có nghĩa mọi ý thức hệ cho dù chính trị hay tôn giáo v.v… đều
chỉ là tương đối mà không tuyệt đối. Lấy cái gì đó còn chủ quan, còn biệt phái,
còn cục bộ, còn chưa chín chắn, chưa toàn diện để làm cái toàn diện là sự áp
đặt ảo tưởng, phản chân lý và tai hại. Bởi vậy chỉ có quyền lực do toàn dân
trao, toàn dân bầu một cách hoàn toan khách quan, đúng đắn, mới là loại quyền
lực cần thiết và chính đáng nhất. Ngược lại mọi quyền lực do sự tự biên tự
diễn, do hoàn cảnh đặc thù nào đó tạo nên, rất dễ bị chủ quan, bảo thủ, thiên
lệch, trở thành cá nhân hay mang tính lợi ích riêng tư, ích kỷ. Đấy cái khác
biệt hay liên quan giữa quyền lực và chính nghĩa tựu trung đơn giản chỉ là như
thế.
Bài của ông Nguyễn
Thanh Giang viết nói ở đâu cũng có kẻ thù. Đó có thể là kẻ thù thật hay kẻ thù
tưởng tượng. Nhưng kẻ thù đó là ai, có chính đáng hay không, thực chất cũng
không thể đi ra ngoài chính tính chất sự chính đáng và chính nghĩa của chính
quyền lực được nêu trên. Quyền lực nói tóm lại là quyền của toàn dân mà không
thể là quyền của cá nhân, tập thể hạn chế hay của nhóm. Khi quyền lực của toàn
dân, của xã hội được minh nhiên và công khai trao cho cá nhân nào đó đại diện
một cách chính đáng, đó là quyền lực chính đáng. Ngược lại nếu không như thế,
quyền lực không còn là quyền lực chung của xã hội, của toàn dân nữa mà nó bị
biến dạng thành quyền lực đặc thù, độc đoán riêng của cá nhân hay nhóm, đó là
quyền lực cũng bị mất đi tính cách chính nghĩa, hay chính sự chính đáng, khách
quan và cần thiết của nó.
ĐẠI
NGÀN
(05/6/12)
(05/6/12)
**
NON
NGÀN says:
THỰC CHẤT NGƯỜI VIỆT NAM ĐÃ CHƯA BAO GIỜ
THÀNH THẬT VỚI NHAU
Ít ra điều này
cũng phần nào xác đáng trong thời kỳ lịch sử cận đại. Có nghĩa ở VN trước kia
có thể nói người VN bị chia ra làm ba nhóm tiêu biểu về mặt chính trị. Nhóm
những người say mê chủ thuyết và mục đích của xã hội cộng sản. Nhóm những người
bằng mọi cách muốn chống lại khuynh hướng cộng sản này. Hai nhóm này thực tế có
thể chỉ là những thành phần nào đó, chưa hẳn đã là đa số. Nhóm thứ ba là nhóm
còn lại, là mọi người không xu hướng hay đa số bình dân nói chung. Nhóm này tuy
đông đảo nhưng lại chịu sự chi phối, tác động, bó buộc, lôi kéo, điều khiển bởi
chính hai nhóm kia. Ngoài ra cuộc diện còn chịu sự can thiệp, chi phối của hai
lực lượng quốc tế kình chống nhau khi đó là phe thế giới không cộng sản và phe
thế giới cộng sản, chủ yếu là phe Mỹ và phe Liên Xô, Trung Quốc. Chiến tranh sở
dĩ kéo dài trong gần ba mười năm chủ yếu chính là như thế. Đó chính là thế chân
vạc của cả ba lực lượng xã hội trong thực tế. Tuy vậy có điều quái quỉ là những
người bên khuynh hướng cộng sản không bao giờ tự nhận là cộng sản từ trước ra
sau mà chỉ kêu gọi lòng yêu nước và ý nghĩa chống Mỹ cứu nước. Ngược lại người
không cộng sản hay chống cộng sản cũng không hề nêu hiđược ý nghĩa dân tộc
trước toàn dân mà hầu như chỉ thụ động phần lớn chỉ biết dựa vào Mỹ là chính.
Cuối cùng ý nghĩa thất bại của miền Nam không cộng sản trước ý chí của miền Bắc
cộng sản vào cuối tháng tư năm bảy lăm cũng chính là như thế. Song thời điểm
năm bày lăm chính là thời điểm của tấn tuồng được giải quyết trên sân khấu
chính trị khi màn đã hạ. Có nghĩa sau khi thống nhất, cả miền Bắc và miền Nam khi
ấy đều cùng hè nhau làm kinh tế xã hội bao cấp, kiểu hợp tác xã hóa, kiểu nhà
nước hóa, kiểu kinh tế tập thể, và thành lọc giai cấp, giống như phương sách
của Liên Xô và Trung Quốc lúc đó, có nghĩa là mục đích cộng sản đã hiện hình mà
không phải chỉ là chống Mỹ, cứu nước một cách khơi khơi và mơ hồ, như trước kia
người ta thường công khai nói đến. Đấy cái không thành thật, hay cái giả dối
lẫn nhau của người VN chính là như thế. Nói một đường nhưng làm một nẽo, cả
phía cộng sản, cũng như cả phía không cộng sản, hay chống cộng sản. Điều đó
cũng có nghĩa, nếu người ta đã đưa ra chủ trương cộng sản ngay từ đầu, thì
không thể chiến thắng. Nhưng dù có đưa ra mục đích cộng sản mãi về sau, cuối
cùng cũng đã phải thay đổi. Nền kinh tế thị trường và hội nhập sau thời kỳ đổi
mới, chứng tỏ đã có sự xét lại nào đó, chứng tỏ đã có sự thú nhận thất bại nào
đó, nhưng vẫn không bao giờ thú nhận hoàn toàn công khai và tuyệt đối. Chính
các điều cơ bản trong Hiến pháp và cả chương trình giáo dục ý thức hệ mác xít,
tư tưởng cộng sản cho toàn nền giáo dục quốc gia, cũng cho thấy điều đó. Cho
nên, ngày nay tuy kinh tế thị trường, kinh tế hội nhập, nhưng những tập đoàn
kinh tế nhà nước tuy thất bại, vẫn luôn được hỗ trợ và nhiệt tình đầu tư tài
chánh vào, điều đó cũng nói lên cái mộng tưởng ý thức hệ vẫn chưa khi nào được
hoàn toàn buông bỏ. Ngược lại, những người chạy ra nước ngoài, lại cũng chỉ chủ
yếu quay trở về làm kinh tế sao cho có lợi, hoặc cũng như vẫn còn một số khác
luôn theo lối mòn chống cộng một cách hoàn toàn cảm tính, cá nhân, mà không hẳn
là cốt vì chân lý khách quan, hay yêu cầu đời sống xã hội cần thiết về mọi mặt
một cách thật sự.
Có nghĩa, tình
trạng ba thành phần trước kia khi chiến tranh chia cắt, ngày nay vẫn còn lặp
lại trong hòa bình và trong thực tại kinh tế xã hội luôn đang khủng hoảng. Điều
đó cũng có nghĩa mọi người VN vẫn đều vẫn chưa muốn thú nhận ra tất cả những
điều gì mà mình đã cảm nhận được. Tự dối lòng mình, dối người khác, không thành
thật, thẳng thắn với nhau, hay tình trạng nói hươu nói vượn như một điều phi
thực chất và phi thực tế, như vẫn hoàn toàn cứ luôn còn nằm đó một cách lì lươm
nhất. Khoa học, có nghĩa là sự thành thật, sự khách quan để nhằm giải quyết
chung một cách hiệu quả về mọi vấn đề đặt ra trong thực tế. Cả trong khoa học
lý thuyết lẫn thực tiển đời sống, đều buộc phải luôn luôn như vậy. Thế nhưng,
cho đến nay mọi người VN vẫn chưa thành thật với mình, chưa thành thật với
người khác giống như mình, thì chắc hẳn tình trạng xã hội vẫn còn chưa có lối
ra trong thực tế về nhiều mặt, đích thật cũng chính là lý do như thế.
NGÀN
KHƠI
(04/6/12)
(04/6/12)
**
ĐẠI
NGÀN says:
“CON
ĐƯỜNG VIỆT NAM” VÀ CON ĐƯỜNG CỘNG SẢN
MÁC
XÍT TRONG HOÀN CẢNH HIỆN TẠI
Trước
hết hãy nói thế nào là con đường mác xít. Mác là nhà học thuật đã phê phán kịch
liệt những tệ nạn hay mặt trái buổi ban đầu của xã hội công nghiệp tư bản chủ
nghĩa phương Tây. Đây là nét tích cực của bản thân Mác và kể cả một khía cạnh tốt
nhất định trong lý thuyết của Mác. Đây chính là điều hấp dẫn tự nhiên của lý
thuyết Mác, và đó cũng là lý do để người ta bằng mọi cách nhằm đem học thuyết
Mác áp dụng vào thực tế xã hội. Song cái cốt lõi vẫn đề lại không phải chỉ nằm ở
đó. Học thuyết Mác có tham vọng như một hệ thống tư tưởng toàn diện, gồm cả triết
học, khoa học, xã hội, chính trị, kinh tế để nhằm xây dựng một xã hội lý tưởng,
hoàn toàn tốt đẹp theo như ý kiến và suy nghĩ của Mác. Thế nhưng cái lộn xộn, lẫn
lộn hay hổ lốn của lý thuyết Mác chỉ là chủ trương thực tiển và lý thuyết của
nó. Mác đã mù quáng, hoang tưởng lấy biện chứng luận của Hegel làm cơ sở, từ đó
đã giải thích lịch sử phát triển của xã hội loài người một cách chủ quan, trừu
tượng, mang tính tư biện thuần túy. Đó là quan điểm về hạ tầng cơ sở và thượng
tầng kiến trúc, quan điểm về đấu tranh giai cấp và quan niệm về các hình thái
xã hội. Đại loại Mác chủ trương lý thuyết duy vật và vô thần, và muốn áp đặt điều
đó như một công thức gắt gao cũng như sắt máu vào cho xã hội. Những ý tưởng phải
thực hiện triết học, tôn giáo là thuốc phiện ru ngủ quần chúng, phải đấu tranh
giai cấp để làm vận động lịch sử theo đúng năm hình thái xã hội nhằm xây dựng
xã hội cộng sản khoa học. Lý tưởng xã hội đó theo Mác quan niệm là một xã hội
có nền kinh tế tập thể, không còn giai cấp, không còn phân công lao động, không
còn tiền tệ, không còn nhà nước v.v… và v.v… tức không còn pháp luật theo hình
thức truyền thống. Bởi Mác coi xã hội cũ đều là xã hội tư sản. Mác chỉ quan niệm
một xã hội vô sản, do giai cấp vô sản lãnh đạo mới có thể đi đến tiêu diệt tư sản,
và lập ra nhà nước chuyên chính để đi tới nhà nước không có giai cấp và cuối
cùng cũng xóa bỏ luôn nhà nước. Đây thật sự là những tư tưởng càn dở, không thực
tế, điên loạn, phản khoa học, phản triết học, phản con người tự nhiên, phản xã
hội khách quan mà mọi người nào nếu có nghiên cứu và có năng lực nhận thức độc
lập đều có thể thấy mọi điều phi lý và nông cạn của nó. Chẳng hạn cái đích điểm
tối hậu của xã hội được gọi là cộng sản khoa học mà Mác đưa ra là làm theo năng
lực hưởng theo nhu cầu. Đây là một điều hoàn toàn ấu trĩ, phi quan điểm kinh tế,
phản khoa học xã hội, hoàn toàn ảo tưởng và trẻ con. Chỉ có những đầu óc xu nịnh,
kém ý thức, vô trách nhiệm mới coi đó là đỉnh cao của trí tuệ loài người. Cho
nên không thể trách Lênin, bởi Lênin làm đúng theo bài bản của Mác, cũng kinh tế
tập thể, cũng đấu tranh giai cấp, cũng chuyên chính vô sản v.v… Nhưng kết cục,
kinh tế theo cách nào cũng thất bại, dầu cưỡng chế, dầu bao cấp, bởi vì nó trái
với các nguyên lý kinh tế khách quan tự nhiên của xã hội. Không phải xã hội
Liên xô cũ mà mọi nước áp dụng học thuyết mác xít lêninnít cũng đều bị phá sản
và ngày nay đều quay về kinh tế thị trường một cách tự nhiên và bình thường để
tìm lại con đường phát triển đi lên lại. Đó là con đường mác xít cần phải vạch
ra, bởi vì cho tới ngày nay còn rất nhiều người không hiểu đầy đủ ý nghĩa của
chủ nghĩa mác xít cộng sản là gì. Thật sự, khuynh hướng cộng sản là khuynh hướng
không thực tế. Bởi vì tương lai của xã hội loài người là do tự nó quyết định, bằng
phát triển khoa học, bằng phát triển văn hóa, không phải theo công thức và quan
điểm ngô nghê về đấu tranh giai cấp và quy luật biện chứng lịch sử xã hội mà
chính bản thân Mác đã nghĩ tưởng một cách lập dị, điên đảo, khiến gây ra biết
bao nhiêu điều tệ hại và hoang phí nhiều mặt trong quá khứ của xã hội. Nói
chung lại, điều hấp dẫn và tạo niềm tin nơi nhiều người trong quá khứ đối với học
thuyết Mác về chủ nghĩa cộng sản khoa học, ấy là do Mác tự nhận học thuyết của
ông ta là học thuyết khoa học, trên cơ sở ông ta tin tưởng tuyệt đối vào quan
điểm biện chứng luận của Hegel như là nguyên lý khoa học, quy luật khoa học.
Cái hời hợt của Mác là tin bừa mà không biết hay không chịu phân tích phê phán
khách quan liệu cái gọi là “quy luật biện chứng” của chính triết học Hegel có
cơ sở đúng đắn hay không. Cả Lênin và mọi người sau Lênin thực chất cũng chỉ có
duy nhất một niềm tin ngây thơ hay cuồng tín như vậy. Còn về con đường VN hiện
nay tôi đã nói nhiều rồi qua các bài viết ngắn đã có. Tức con đường VN là con
đường hòa hợp, giải phóng của mọi người VN, giải phóng quá khứ, đoạn tuyệt quá
khứ, quên đi quá khứ, cho dầu quá khứ đó nơi mỗi người có mang tính chất hay ý
nghĩa ra sao cũng đều cần vượt qua, vượt lên để đi đến Con đường hoàn toàn tự
do dân chủ, thống nhất nhau trong truyền thống ngàn đời chung của dân tộc từ khởi
thủy đến nay, và cái gì của Xêda hãy trả lại cho Xêda, cái gì của các ý thức hệ
chủ quan, giả tạo, chia rẽ, đầy tính hệ lụy tai hại về mọi mặt của chúng đều
nên trả lại về cho chúng, để cùng ngồi lại với nhau nhằm tìm ra ý nghĩa thực tế
mới, triển vọng mới cùng mọi giải pháp hiệu quả và kết quả mới trong đời sống thực
tế hữu lý của mỗi người công dân và của toàn thể dân tộc và đất nước ngày nay
nói chung. Đó cũng là phương thức để nhằm hóa giải mọi thủ đoạn chính trị nếu
có hay đối sách chiến lược cần thiết, hữu lý, mà mỗi người có đều quyền hoài
nghi, tin cậy, hoặc tự tìm cách nhằm giải quyết.
Võ Hưng Thanh
(04/6/12)
(04/6/12)
**
ĐẠI
NGÀN says:
THẾ NÀO LÀ ĐẠO ĐỨC CÁ NHÂN VÀ ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI ?
Đạo đức cá nhân là
những tính chất hay hành vi nào có lợi cho mục đích và giá trị của các cá nhân.
Đạo đức xã hội là những tính chất hay hành vi nào có lợi chung cho xã hội. Đạo
đức cá nhân như vậy không thể vượt lên hay bao trùm đạo đức xã hội. Có nghĩa
điều gì tốt đối với cá nhân chưa hẳn đã là tốt đối với xã hội. Cúng vậy, ngược
lại điều gì tốt đối với xã hội chưa hẳn đã là tốt đối với cá nhân.
Vậy thì đạo đức cá
nhân và đạo đức xã hội là một sự tương hòa. Có nghĩa điều gì tốt đối với cá
nhân đồng thời cũng tốt đối với xã hội, đó mới thật là ý nghĩa đạo đức lành
mạnh và trọn vẹn. Ngược lại điều gì tốt đối với cá nhân mà không tốt đối với xã
hội hay tốt đối với xã hội mà không tốt đối với cá nhân, không thể xem như tiêu
chuẩn đạo đức toàn vẹn hoặc lý tưởng. Không đặt cá nhân cao hơn xã hội, hay đặt
xã hội cao hơn cá nhân, đó chính là đạo đức xã hội. Ngược lại nếu đặt cá nhân
cao hơn xã hội, đó là phi đạo đức, vì đó không phải là đạo đức cá nhân cũng như
càng không phải là đạo đức xã hội. Tương tự như vậy, nếu đặt xã hội cao hơn cá
nhân, khiến yêu cầu xã hội chà đạp lên các nguyện vọng, ý nghĩa, giá trị chính
đáng của cá nhân, thực chất là phi đạo đức xã hội lẫn phản đạo đức cá nhân, vì
như thế chỉ là sự hình thức, sự giả tạo, phản lại cả thực chất cá nhân cũng như
thực chất xã hội, hay nói khác là phản lại chính bản thân và thực chất của
chính con người.
Vậy thì cá nhân và
xã hội chỉ là hai mặt của cùng một vấn đề. Không thể có cá nhân nếu không có xã
hội, cũng như không thể có xã hội nếu không có cá nhân. Cho nên suy tôn cá nhân
mà quên xã hội cũng là phản xã hội. Ngược lại suy tôn xã hội mà quên cá nhân
cũng là phản lại bản chất tự nhiên, xác đáng, cần thiết của chính bản thân con
người nói chung.
Những điều trên
đây cũng áp dụng cho cả đạo đức cá nhân và đạo đức tập thể. Bởi mọi tập thể chỉ
là xã hội thu nhỏ, và mọi xã hội thu nhỏ cũng chính là tập thể.
Từ đó cũng thấy
rằng chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa xã hội hay quan niệm về mục đích cá nhân và
quan niệm về mục đích xã hội thực chất cũng không đi ra ngoài tất cả mọi điều
tương quan cơ bản như thế.
Có người lấy chủ
nghĩa hay quan điểm xã hội để bài xích chủ nghĩa hay quan điểm cá nhân, đó chỉ
là sự cường điều, dại khờ, giả tạo, giả dối. Ngược lại những người lấy chủ
nghĩa hay quan điểm cá nhân để xem nhẹ lợi ích chung của xã hội cũng là thái độ
thiển cận, ích kỷ, hẹp hòi, tầm thường, thấp kém.
Nên nói một cách
trung thực ra, mọi sự dung hòa các ý nghĩa cá nhân và xã hội luôn luôn hợp lý,
cần thiết, chính đáng cũng như hoàn toàn hữu lý và thực tế.
Cái được gọi là
chủ nghĩa xã hội đúng nghĩa đó là tinh thần, thái độ của những người nào hướng
về xã hội là chính.
Cái được gọi là
chủ nghĩa cá nhân trái lại chính là tinh thần, thái độ của những người nào
hướng về bản thân, hướng về lợi ích riêng là chính. Như vậy có nghĩa chủ nghĩa
hay quan điểm, quan niệm xã hội, vì lợi ích chung đúng nghĩa, luôn luôn cao cả
và chính đáng hơn chủ nghĩa hay quan điểm cá nhân, vị kỷ, lợi ích riêng tư rất
nhiều.
Điều đó cũng hoàn
toàn phân biết với cái gọi là xã hội chủ nghĩa, hay chủ nghĩa xã hội theo hướng
học thuyết Mác xít.
Thực chất học
thuyết Mác không đặt nặng gì đạo đức cá nhân hay đạo đức xã hội.
Thực chất học
thuyết Mác chỉ đặt năng mô thức tổ chức xã hội như là một công thức do chính
Mác sáng nghĩ ra.
Mác dựa vào khái
niệm biện chứng suy biện mơ hồ, huyền hoặc của Hegel để cho rằng lịch sử xã hội
loài người cũng “biện chứng” khách quan để đi từ xã hội cộng sản nguyên thủy,
đến xã hội tư bản chủ nghĩa và cuối cùng là xã hội cộng sản khoa học.
Chính trên cơ sở
đó mà Mác cho rằng đạo đức cách mạng là ý nghĩa hành động phù hợp với quy luật
mà Mác cho là khách quan đó, mà không phải là đạo đức kiểu giá trị nhân văn
truyền thống mà Mác tự ý gom chung vô một phạm trù khái quát được Mác gọi là
đạo đức tư sản.
Rõ ràng học thuyết
Mác chỉ là học thuyết gà mờ. Bởi vì nếu ý niệm “biện chứng” của Hegel là sai
lầm, cũng kéo theo toàn bộ lý thuyết Mác là sai lầm, không còn một ý nghĩa khoa
học hay nhân bản gì cả.
Đó chính là điều
mà tôi gọi là sự mê tín, sự mù quáng của Mác vào ý nghĩa “phép biện chứng” của
Hegel. Về ý nghĩa vấn đề quy luật biện chứng của Hegel có dịp tôi sẽ phân tích
và phê phán sau. Ở đây chỉ nói riêng cái kéo theo với nó là quan điểm biện
chứng duy vật hay duy vật biện chứng, và cái được gọi là biện chứng lịch sử hay
duy vật lịch sử hay duy vật sử quan của Mác thực chất đều chỉ là những ức đoán
võ đoán, mơ hồ, phi khoa học, không có gì chứng minh cụ thể và thực tế về mặt
khoa học, nên trong thực tế nó hoàn toàn phi lý, thất bại vì thực chất là hoang
đường và nghịch lý như nhiều lần tôi đã nói. Từ đó cũng kéo theo cái được gọi
là chủ nghĩa cộng sản khoa học hay xã hội cộng sản khoa học chỉ là điều tào
lao, không thực tế, phản thực tế mà nhiều người hẳn nhiên vẫn thấy hay vẫn tiên
đoán ra được. Cái gọi là xã hội cộng sản nguyên thủy cũng chỉ là khái niệm
ngược ngạo của Mác, bởi vì thực tế đó chỉ là xã hội con người nguyên thủy,
không có cái suy diễn kèm theo là “cộng sản” gì cả. Cộng sản chỉ là khái niệm
được suy luận ra sau này, không hề là thực chất của đời sống nguyên thủy lúc
ban đầu của loài người, vì thực tế xã hội đó là ý nghĩa nguyên thủy của xã hội,
không phải là ý nghĩa của các khái niệm được gắn cái đuôi đó vào về sau này.
Cho nên cái được
gọi là đạo đức cách mạng trong học thuyết Mác không hề được hiểu như một loại
đạo đức truyền thống nào cả mà Mác đã dè bỉu là đạo đức tư sản. Bởi vì chủ
trương của Mác là chủ trương vô sản, nên đối với Mác chỉ có đạo đức gọi là đạo
đức cách mạng, tức là sống và suy nghĩ phù hợp với nguyên tắc hay nguyên lý
công thức do Mác đề ra là từ xã hội chủ nghĩa tiến lên cộng sản chủ nghĩa bằng
cách hủy diệt xã hội tư sản hay xã hội tư bản.
Hiểu đạo đức Mác
xít thực chất là cách hiểu lệch lạc. Bởi vì Mác chỉ đồng hóa đạo đức Mác xít
với khoa học Mác xít, là điều mà Mác cho là quy luật khách quan, duy nhất đúng,
là dựa vào niềm tin nơi quan điểm biện chứng của Hegel mà chính Mác đã phiên
dịch ra từ học thuyết tư biện trừu tượng và chủ quan của Hegel. Khía cạnh này ở
đây tôi chỉ phân tích sơ qua. Cũng mong có dịp và có thì giờ cũng cần đi sâu
sát về chi tiết thêm nhiều hơn.
Nói chung lại,
quan niệm của Mác là quan niệm dựa trên ý niệm “bản thể” của lịch sử xã hội một
cách mơ hồ, phi lý, bởi vì nền tảng của nó theo Mác là thuần túy duy vật.
Trong khi đó, thực
thể con người và thực thể xã hội đúng nghĩa là thực thể sinh học cụ thể.
Vì đã đã thực thể
sinh học cụ thể, nó phải có các quy luật khách quan của nó, như quy luật lịch
sử thực tế, quy luật môi trường tự nhiên và xã hội, quy luật tâm lý ý thức, quy
luật phát triển cụ thể đời sống cá nhân và xã hội nói chung khách quan v.v…
Toàn bộ những thứ đó Mác hầu như không đếm xỉa đến mà chỉ có mê muội vào nguyên
tắc “biện chứng” cứng nhắc, mơ hồ, trừu tượng, tư biện của Hegel nên thực chất
đó đích thực là sự u mê, sự gàn bướng, sự phi thực tế và sự phản khoa học một
cách khách quan của lý thuyết Mác. Có nghĩa nền tảng của đạo đức khách quan và
khoa học khách quan không hề được Mác quan tâm hoặc đặt nặng hay nhấn mạnh đến.
Trên đây là sự
phân tích sơ bộ một số khía cạnh về chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa xã hội, đạo
đức cá nhân, đạo đức xã hội, cũng như cái được gọi là đạo đức cách mạng và quy
luật cách mạng như trên đã nói. Nói rõ hơn, đối với Mác nguyên lý đấu tranh
giai cấp mới chính là ý nghĩa “đạo đức” cách mạng mà ông ta mong muốn. Có nghĩa
đối với Mác không hề có ý nghĩa đạo đức truyền thống dù Đông phương, dù Tây
phương, mà ông ta chỉ gom chung vào cái được gọi là “đạo đức tư sản”. Đạo đức
của ông ta thực chất chỉ là “đạo đức” vô sản hay “đạo đức” cộng sản, có nghĩa
là phù hợp theo quy luật “cách mạng” xã hội mà ông ta theo đuổi hay quan niệm.
Cũng có nghĩa đây là một thứ “đạo đức” kiểu “chuyên chính” mà chính Mác đã từ
chủ trương hay hô hào trong ý nghĩa của “duy vật lịch sử” và “đấu tranh giai
cấp”.
Ngày nay ở Việt
Nam người ta nói đến đạo đức HCM, thực chất cũng không ngoài ý nghĩa đạo đức
Mác xít như trên kia chúng ta đã phân tích.
NGÀN
KHƠI
(02/6/12)
(02/6/12)
**
NGÀN
KHƠI says:
VỀ BẢN CHẤT THẬT CỦA KINH TẾ
VÀ CHÍNH TRỊ ĐÚNG NGHĨA
Mục đích của kinh
tế là tất cả mọi loại hoạt động tạo ra các thứ của cải cần thiết để nhằm nuôi
sống và phát triển xã hội. Mục đích của chính trị là mọi hoạt động nhằm tạo ra
sự ổn định và quản lý xã hội hiệu quả nhằm đẩy mạnh sự phát triển. Chính trị và
kinh tế như vậy cần có sự phân công và cần đi đôi với nhau. Tuy vậy, khi có sự
dẫm đạp lên nhau giữa kinh tế và chính trị, cả hai đều bị đui què và ngán ngại
cũng như hủy hoại lẫn nhau. Đó là lý do tại sao người ta không nên chính trị
hóa kinh tế hoặc cũng không nên kinh tế hóa chính trị. Chính trị hóa kinh tế có
nghĩa chỉ làm nghèo nàn, làm bất lực kinh tế thật sự. Kinh tế hóa chính trị có
nghĩa làm chính trị bị tha hóa, kinh tế bị lạm dụng khiến thiệt hại chung cho
toàn dân cũng như toàn xã hội. Điều đó cũng có nghĩa kinh tế phải do những
người có năng lực kinh tế đảm nhận và chính trị cũng vậy, cũng phải do những
người có năng lực chính trị đảm nhận. Có nghĩa hiện tượng sống lâu lên lão, sắp
hàng dọc trong hệ thống quyền lực toàn trị để tiến lên, vừa phi kinh tế lẫn vừa
phi chính trị. Bởi người có tài đồng thời phải là người có học. Người kém học,
ít chuyên môn không thể gọi được là người có tài. Tài đây có nghĩa lả năng lực
bẩm sinh, là có tầm nhìn chiến lược to rộng, sâu xa, mà chỉ người có năng lực
học vấn mới có thể bổ sung được. Làm lãnh đạo có nghĩa phải chủ động và sáng
tạo. Làm lãnh đạo không thể kiểu làm nhân viên theo lệnh hoặc người tập hợp
hoặc điều hành thuần túy hệ quản lý. Sự lựa chọn người lãnh đạo tất nhiên phải
là hệ thống toàn dân, không thể chỉ là hệ thống một nhóm nhỏ hay mang tính chất
tự biên tự diễn một cách tùy ý hoặc tùy thích.
Như thế cũng có
nghĩa chính trị và kinh tế đều phải thực tế.
Thực tế có nghĩa theo yêu cầu của đời sống thực tế đặt ra, và đáp ứng được cho mọi nhu cầu thực tế và cụ thể đó.
Thực tế có nghĩa theo yêu cầu của đời sống thực tế đặt ra, và đáp ứng được cho mọi nhu cầu thực tế và cụ thể đó.
Như vậy cũng có
nghĩa kinh tế và chính trị không thể noi theo các vết mòn học thuyết hay ý thức
hệ mơ hồ nào đó. Bời vì mọi học thuyết đều có thể chủ quan, mọi ý thức hệ đều
có thể mơ hồ, biệt phái, vu vơ hoặc tối tăm, cuồng tín.
Điều này cũng có nghĩa một nền kinh tế đúng nghĩa và một nền chính trị đúng nghĩa của xã hội luôn luôn phải là một nền kinh tế và một nền chính trị thực sự tự do, dân chủ đúng nghĩa.
Điều này cũng có nghĩa một nền kinh tế đúng nghĩa và một nền chính trị đúng nghĩa của xã hội luôn luôn phải là một nền kinh tế và một nền chính trị thực sự tự do, dân chủ đúng nghĩa.
Bởi về nguyên tắc,
không bất kỳ một cá nhân, một tập thể, một đảng phải nào có thể tự cho mình cái
quyền được đứng trên, đứng trước tất cả mọi người, đứng trên đứng trước toàn
thể xã hội. Quan niệm điều đó tức là chủ quan, ngược ngạo, độc đoán, phản xã
hội vì phản lại sự tự do và dân chủ.
Quyền lực của xã hội bao giờ cũng chỉ là sự ủy quyền, không thể là sự làm quyền hay sự tiếm quyền.
Quyền lực của xã hội bao giờ cũng chỉ là sự ủy quyền, không thể là sự làm quyền hay sự tiếm quyền.
Không bầu cử thật
sự tự do dân chủ mà nắm quyền, thật sự chỉ là sự lạm quyền, sự tiếm quyền, cho
dầu bất kỳ thời nào hay ở bất kỳ đâu cũng vậy.
Vả chăng, dân chỉ
ủy quyền chính trị, không bao giờ ủy quyền kinh tế.
Bởi nguyên lý kinh
tế tự nhiên, khách quan, là nguyên lý kinh tế của toàn xã hội, nguyên lý kinh
tế trong xã hội thật sự dân sự.
Nguyên lý chính
trị tự nhiên, cũng là nguyên lý chính trị qua mọi sự bầu cử tự do, không thể là
sự toàn trị hay sự chiếm quyền độc đoán.
Bởi vậy quyền
chính trị thật sự chỉ là quyền quản lý. Quản lý xã hội và quản lý kinh tế mà
không bao giờ là làm xã hội hay làm kinh tế theo đúng nghĩa. Bởi làm xã hội và
làm kinh tế theo đúng nghĩa đó chính là lực lượng tư nhân, lực lượng toàn dân
hay toàn xã hội.
Quản lý trong
chính trị có nghĩa là đề ra chính sách chung và quản lý chính sách chung đó về
các mặt hành chánh, quản trị, điều hành nhằm mang lại hiệu quả và kết quả.
Ý nghĩa của quản
lý đó cũng có nghĩa là quản lý khoa học và quản lý dân chủ.
Quản lý khoa học
có nghĩa là quản lý theo yêu cầu khoa học của toàn xã hội.
Chính toàn thể xã
hội là nền tảng chung nhất của khoa học mà không phải bất kỳ học thuyết, cá
nhân, tập thể hay đảng phái nào. Bởi không bất kỳ một thực thể nào bao quát và
trường cửu hơn toàn xã hội, nên ngoài xã hội, tức tất cả mọi người hoặc toàn
dân ra, mọi cá nhân hay tập hợp khác đều chỉ là hạn hẹp và yếu tố thành phần.
Nói như vậy để
thấy rằng một nền kinh tế mạnh là nền kinh tế thực chất, đa dạng, đa diện, được
xã hội hóa tối đa và hoàn toàn có thực lực, thực chất.
Một nền chính trị
mạnh không phải là nền chính trị độc tài mà là nền chính trị tự do dân chủ đúng
nghĩa thật sự. Bởi độc tài, độc đoán nhiều lắm chỉ là quyền lực của thiểu số.
Trong khi đó tự do
dân chủ đúng nghĩa mới chính là quyền lực của toàn dân thật sự.
Như vậy cũng có
nghĩa không bất kỳ nhà nước nào được phép chuyên quyền mà phải hỏi qua toàn
dân, toàn xã hội để lấy ý kiến quyết định chung về mọi mặt đối với mọi vấn đề
quyết định và quan trọng. Chỉ có hình thức phổ thông đầu phiếu thật sự dân chủ,
chỉ có lấy ý kiến toàn dân trong trưng cầu dân ý đúng nghĩa về các vấn đề trọng
đại mới thực chất là một xã hội công bằng, văn minh, dân chủ và tự do thật sự.
Có nghĩa nhà nước
không thể tự mình lập ra những tập đoàn kinh tế mà không cần hỏi qua ý kiến toàn
dân. Bởi nhà nước nào cũng vậy, chỉ được quyền làm chính trị trong ý nghĩa quản
lý tổng quát chung toàn xã hội mà không được làm chính trị độc đoán theo ý
riêng của mình. Tương tự thế, mọi nhà nước cũng chỉ được làm kinh tế như một
chính sách chính trị do toàn dân ủy thác mà không thể tự tiện làm kinh tế theo
ý riêng với những tập đoàn kinh tế do mình tự dựng lên một cách trái nguyên tắc
và phi hiệu quả. Điều đó chỉ cho thấy sự chuyên quyền của nhà nước đó mà không
phải là nhu cầu thực chất hay ý chí của toàn dân.
Bởi nguyên lý kinh
tế là nguyên tắc lợi lộc về vật chất, tài chánh. Trong khi đó nguyên lý chính
trị là nguyên lý lợi lộc về tinh thần và về xã hội. Điều đó cũng có nghĩa chính
trị hóa kinh tế là một sự trái khoáy, một sự sai lầm, một sự nghịch lý. Bởi
chính trị hóa kinh tế chỉ tạo nên những sự lạm dụng kinh tế, tạo nên những sự
phi kinh tế, phản kinh tế, sự rút rụt kinh tế lẫn xã hội, hay các điều kiện cho
tệ trạng về tham nhũng nói chung.
Bởi vậy bất kỳ nhà
nước nào quản lý trái khoáy hay sai lầm về chính trị lẫn về kinh tế đều là phản
chính trị chân chính, phản kinh tế chân chính, tức đi ngược lại mọi yêu cầu
phát triển, tiến bộ, hiệu quả cũng như kết quả như trên đây đã nói.
ĐẠI
NGÀN
(02/6/12)
(02/6/12)
**
THƯỢNG
NGÀN says:
NÓI
VỀ CHÍNH Ý NGHĨA CỦA QUY LUẬT KHÁCH QUAN
Quy
luật khách quan là quy luật nằm ngoài mọi sự hiểu biết và nhận định chủ quan của
ý thức con người. Quy luật khách quan không những chi phối mọi khía cạnh của thế
giới vật chất, tự nhiên mà cũng chi phối mọi khía cạnh của tâm lý cá nhân, đời
sống nhân văn cũng như lịch sử xã hội. Chính bởi thế, khi theo đúng quy luật
khách quan thì con người và xã hội phát triển, khi đi ngược lại quy luật khách
quan thì con người và xã hội đều bị phản tác dụng, suy thoái và thất bại.
Quy
luật khách quan như vậy vượt lên trên và vượt ra ngoài mọi nhận định chủ quan của
con người.
Quy
luật khách quan của tâm lý cá nhân là sự tự do, tự chủ, có các mục đích phù hợp
và hữu ích riêng.
Quy
luật khách quan của xã hội là sự vận động tự do, có sự bổ sung lẫn nhau giữa
các cá nhân và được sự hỗ trợ cũng như kiểm soát của lý trí.
Quy
luật khách quan của cá nhân và xã hội như vậy chốt lại không thể ra ngoài ý
nghĩa của sự tự do và dân chủ. Dân chủ và tự do là hai yếu tố cốt lõi, luôn
luôn đòi hỏi lẫn nhau và cùng bổ sung song hành với nhau.
Mỗi
cá nhân là một thực thể độc lập, xã hội là tập hợp tự nhiên, khách quan của mọi
cá nhân đang tồn tại, đó cũng chính là quy luật khách quan trong mối quan hệ giữa
cá nhân và xã hội không thể không được biết đến.
Các
Mác là người mù quáng theo quan điểm biện chứng duy tâm siêu hình và mơ hồ của
Hegel để đưa ra một học thuyết duy vật hoàn toàn phi khách quan, phản khách
quan về tâm lý ý thức tự nhiên của con người cũng như xã hội. Nhưng để bảo vệ
cho cái phi lý của mình, Mác đã xướng lên chủ thuyết độc tài độc đoán gọi là độc
tài hay chuyên chính vô sản. Khái niệm vô sản đã là khái niệm phản khách quan,
phản tâm lý khách quan tự nhiên của cá nhân và xã hội, và độc tài vô sản hay
chuyên chính vô sản lại là quan niệm phản khách quan về mặt phát triển của cá
nhân và xã hội một cách hết sức nghiệt ngã và toàn diện.
Di
hại của một học thuyết sai lầm như thế chỉ có thể mang lại sự què quặt của cá
nhân và xã hội về nhiều phương diện, từ kinh tế, văn hóa, xã hội, lịch sử, cũng
như đời sống nói chung. Đó là sự trả lời trong thực tế của lý thuyết Mác và chủ
trương độc tài độc đoán do học thuyết Mác đưa ra.
Chỉ nói một cách đơn giản và khách quan như thế để thấy rằng nguyên lý khách quan thật sự bao quát và cơ bản như thế nào.
Chỉ nói một cách đơn giản và khách quan như thế để thấy rằng nguyên lý khách quan thật sự bao quát và cơ bản như thế nào.
Đưa
ra một nguyên lý phi khách quan để tự cho là khách quan, là khoa học, là chân
lý duy nhất đúng, đó là sự sai lầm, sự hợm mình, sự vô trách nhiệm và càn dở của
chính quan điểm phi lý trong tư duy của Mác.
Ngay
cả quan niệm cộng sản cũng là quan niệm phản tự nhiên, phi khách quan của Mác.
Bởi
mọi sự vật đều luôn đi từ cái chung, cái bao quát, đến cái riêng, cái đặc thù,
cái cụ thể, mà không bao giờ là quy trình ngược lại. Sự phát triển, phát tán của
các loài thực vật, động vật, sự nhân ra của các tế bào, các cơ thể động, thực vật
đều cho thấy nguyên lý phân chia đó. Ngay trong gia đình, sự phát triển và sự
phân chia các cá thể cũng như tài sản sau mỗi thế hệ cũng đều cho thấy chính
quy luật khách quan của sự chia ra mà không phải sự cộng lại. Hạt tiến hóa
thành cây. Cây cho ra hạt mà không phải cây được gom lại thành hạt. Sự ngây
thơ, ấu trĩ trong quan điểm của Mác về tâm lý con người, tâm lý xã hội chính là
như thế. Mác dựa vào khái niệm biện chứng mơ hồ của Hegel để tự cho mình là học
thuyết cộng sản khoa học vì theo Mác đó là sự phát triển biện chứng khách quan
của xã hội, thực chất chỉ là sự đoán mò, sự cường điệu, hoàn toàn không có cơ sở
cụ thể, khoa học, tự nhiên, khách quan nào cả. Nói khác đó là quan điểm hoàn
toàn phi thực tế, phản tự nhiên như trên kia đã nói. Nên nói chung lại không thể
có cái được gọi là xã hội cộng sản khoa học mà Các Mác đã phịa đặt ra một cách
quái đản, vô ý thức, ngụy biện, giả dối, phi trách nhiệm.
Do
vậy, cần phải từ giả mọi cái gì phi khách quan, phản khách quan để đi lên phát
triển và đạt được mọi thành quả cụ thể thực tế của cá nhân và xã hội chính là
điều đáng nói nhất. Bởi vì nếu chỉ quyết tâm hay mù quáng bám vào cái phi khách
quan, cái phản tự nhiên, phản thực tế, lại càng kéo dài sự sái lầm, càng sa lầy
trong cái vô lý mà một học thuyết hoàn toàn ngụy biện, phản tự nhiên như học
thuyết Mác đã từng nếu ra.
Quan
điểm đấu tranh giai cấp của Mác cũng là quan niệm cực kỳ tai hại trong thực tế
mà mọi người đã biết. Bởi vì lý thuyết đấu tranh giai cấp là lý thuyết mang
tính mê tín, siêu hình do Mác đặt cơ sở trên khái niệm biện chứng phi giá trị
và ý nghĩa cụ thể do chính Hegel đưa ra. Có nghĩa sự mù quáng, mê tín của Mác
vào Hegel tạo nên chính học thuyết Mác chỉ là một học thuyết mê tín, mù quáng,
trở thành phản thực tế, phản khách quan, phản con người tự nhiên và phản xã hội.
Từ
giả Hegel, từ giả Các Mác đó chính là mệnh lệnh khoa học và thực tiển của nhân
loại ngày nay.
Triết
học của Hegel thực chất là triết học tư biện đầy tính phản động.
Triết
học của Mác thực chất là triết học tư biện duy vật đầy tính phản nhân văn và
tính phản lịch sử, cũng có nghĩa là đầy tính phản động, tức phản khoa học trong
cách tự nhiên và phản lịch sử, phản sự phát triển khách quan của lịch sử.
Bởi
triết học chỉ thuộc lãnh vực tư duy cần để tham khảo và phát triển, mà không phải
để thực hành theo kiểu nhếch nhác, mờ tối, thiển cận, ẩu tả như Mác đã quan niệm.
Ngày
nay, ý nghĩa của văn minh tiến bộ chính là một khoa học khách quan tự nhiên, một
triết học nhân văn, cùng dựa trên chính nền tảng giáo dục, phát triển ý thức,
mà không thể dựa trên nền tảng ý thức hệ mang tính mê tín, hoang đường, hay
mang tính lạc hậu và phản động, phi giáo dục, phi tự nhiên như chính Các Mác đã
từng quan niệm.
ĐẠI NGÀN
(01/6/12)
(01/6/12)
**
ĐẠI
NGÀN says:
DÂN TỘC TÍNH VÀ HOÀN CẢNH XÃ HỘI
Dân tộc tính là
bản chất khách quan, tự nhiên của một dân tộc. Dân tộc tính tất nhiên không thể
không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi hoàn cảnh xã hội cũng như ngược lại. Dân tộc
tính là tính chất của từng cá nhân trong xã hội hợp lại. Tính chất từng cá nhân
trong xã hội trái lại cũng bị chính bản chất của dân tộc tính đó chi phối. Có
nghĩa hoàn cảnh cụ thể, khách quan cùng với dân tộc tính luôn tác động quan lại
cũng như làm điều kiện cho nhau. Nên nói đến các tính chất tiêu biểu hay nổi
bật hoặc đặc trưng của người VN, xã hội VN, đồng thời cũng là nói các kết quả
vốn có và tất yếu bị cả hoàn cảnh cụ thể, khách quan, cũng như bản chất của dân
tộc tính chi phối. Đó chính là ý nghĩa không phải người Mỹ mà bất cứ ai hoặc kể
cả chính người VN đều có thể nhận xét, đúc kết một cách tương đối như thế nào
đó về các đặc điểm tiêu biểu hay nổi trội nhất của người VN.
Nói cách khác đi,
có thể có nhiều cách nhận xét, kết luận khác nhau, và kể cả sau đây cũng là một
cách đúc kết đáng nói như thế.
Đó là vấn đề số
đông và số ít, vấn đề tính chất nhiều hay tính chất ít.
Chẳng hạn phần đông người VN là thụ động, ít sáng tạo
Phần đông người VN có tính hay bắt chước mà ít chủ động
Phần đông người VN là tiêu cực hơn là tích cực
Phần đông người VN là cầu an hơn là tranh đấu
Phần đông người VN là mù quáng hơn là tự tín
Phần đông người VN là cảm tính hơn là lý tính
Phần đông người VN là thiển cận hơn là nhìn xa thấy rộng
Phần đông người VN có tính viễn mơ hơn là thực tế
Phần đông người VN chăm chỉ hơn là lười biếng
Phần đông người VN bị hoàn cảnh chi phối hơn là vượt lên hoàn cảnh
Phần đông người VN là nhút nhát hơn là quả cảm
Phần đông người VN là vị kỷ hơn là vị tha
Phần đông người VN là thực tế hơn là lý tưởng
Phần đông người VN bị tự ái vặt hơn là tự ái chính đáng
Phần đông người VN là cơ hội, biến báo hơn là khách quan và thẳng thắn
Phần đông người VN ranh vặt, khôn lõi hơn là khôn ngoan thực chất đúng nghĩa.
Phần đông người VN có tính hay bắt chước mà ít chủ động
Phần đông người VN là tiêu cực hơn là tích cực
Phần đông người VN là cầu an hơn là tranh đấu
Phần đông người VN là mù quáng hơn là tự tín
Phần đông người VN là cảm tính hơn là lý tính
Phần đông người VN là thiển cận hơn là nhìn xa thấy rộng
Phần đông người VN có tính viễn mơ hơn là thực tế
Phần đông người VN chăm chỉ hơn là lười biếng
Phần đông người VN bị hoàn cảnh chi phối hơn là vượt lên hoàn cảnh
Phần đông người VN là nhút nhát hơn là quả cảm
Phần đông người VN là vị kỷ hơn là vị tha
Phần đông người VN là thực tế hơn là lý tưởng
Phần đông người VN bị tự ái vặt hơn là tự ái chính đáng
Phần đông người VN là cơ hội, biến báo hơn là khách quan và thẳng thắn
Phần đông người VN ranh vặt, khôn lõi hơn là khôn ngoan thực chất đúng nghĩa.
Phần đông người VN
hình thức, giả tạo hơn là thực chất và tự tín
Phần đông người VN ưa sống phô trương, giả tạo hơn là thích sống thực chất và đúng nghĩa
…………………………………………………………………………………………..
Phần đông người VN ưa sống phô trương, giả tạo hơn là thích sống thực chất và đúng nghĩa
…………………………………………………………………………………………..
Đấy ý nghĩa của
phần đông và tính chất nhiều hay tính chất ít của người VN chính là như thế.
Đây không phải
chuyện vạch áo cho người xem lưng, mà là ý nghĩa tự đánh giá, xem xét thẳng
thắn, khách quan để mà tự khắc phục hay để biết người biết mình một cách đúng
mức và chủ động, sáng suốt, chính là như vậy.
NGÀN
KHƠI
(29/5/12)
(29/5/12)
**
ĐẠI
NGÀN says:
SỰ
KHÁC NHAU GIỮA Ý NGHĨA CỦA HIẾN PHÁP DÂN CHỦ
VÀ
Ý NGHĨA CỦA HIẾN PHÁP PHI DÂN CHỦ
Dân
Chủ có nghĩa chỉ có toàn dân cao hơn hết, không bất kỳ ai, cá nhân, tập thể, thực
thể nào lại đứng được trên toàn dân. Điều này cũng có nghĩa ý nguyện toàn dân
là cao hơn cả. Toàn dân muốn là trời muốn. Cái muốn đó đúng hay sai chính toàn
dân tự chịu trách nhiệm trước lịch sử nói chung mà không có ai được quyền xen
vào, xía vào, quyết định thay vào. Nguyên tắc dân chủ như vậy cũng có nghĩa phải
có bầu cử dân chủ. Nhân dân được quyền ùy thác cho các đại biểu do mình tự chọn
lựa theo nguyên tắc tự do, không bị ai chi phối, áp đặt. Từ nguyên tắc bầu cử
dân chủ mới có Quốc hội dân chủ, cũng từ đó mới có nhà nước dân chủ, có pháp luật
dân chủ. Vậy thì ý niệm hay nguyên lý dân chủ là ý niệm bao quát từ gốc đến ngọn,
không thể cắt xén, không thể ngụy tạo, không thể bất kỳ ai đạo diễn hoặc bất kỳ
ai phải chịu trách nhiệm hay được quyền chịu trách nhiệm gì ngoài toàn thể nhân
dân.
Ngược
lại với thể chế dân chủ khách quan là sự độc tài, độc đoán chủ quan. Tức có
nghĩa có những cá nhân nào đó, những tập thể nào đó cho rằng mình có mục đích
hay lý tưởng nào đó được tự coi là tốt đẹp và muốn, bắt ép, hay ức chế toàn dân
phải đi theo các ý muốn hay mong ước chủ quan hoặc ước mơ hão huyền nào đó. Từ
ý nghĩa đó, không thể có bầu cử tự do, nhà nước tự do, pháp luật tự do, xã hội
tự do, bởi vì tất cả đều được huy động, áp đặt, khung theo các chủ trương, ý
chí, mong muốn mà một thiểu số nào đó thấy cần phải áp đặt lên toàn thể xã hội.
Nói
như thế để thấy rằng nguyên lý xã hội dân chủ tự do là nguyên lý khách quan,
đúng đắn, cần thiết, thiết yếu, chính đáng, bởi vì không thể có thực thể nào đứng
trên toàn dân, chỉ có toàn dân là quyền hạn và ý nghĩa cao nhất, bởi mọi người
đều nhất thiết là tự do và bình đẳng.
Trong
khi đó cái phi lý của mọi xã hội độc tài là sự chủ quan, lệch lạc, giả tạo, o
ép một cách sai trái. Bởi vì một cá nhân, một nhóm, một tập thể nào đó lại tự đặt
mình lên trên toàn dân vì nhân danh một lý tưởng, một mơ ước hão huyền phi cơ sở
thực tế khách quan nào đó. Bởi thế chỉ có dân chủ mới phát sinh thêm dân chủ,
còn độc tài chỉ phát sinh thêm sự độc tài. Có nghĩa ban đầu người ta có thể
nhân danh một lý tưởng nào đó trong tính cách chủ quan, sai trái. Song dần dần
quyền lực sẽ phát sinh ra quyền lực, cuối cùng ngay cả lý tưởng lúc đầu cũng
không còn nữa cho dù nó phi lý đến đâu, nhưng chỉ còn một thực tế xã hội của
quán tính, thụ động, bị áp đặt một cách máy móc, mang tính cách vô danh, bởi vì
tất cả mọi cá nhân đều kết quả của sự dẫn xuất lẫn nhau một cách không còn tự
chủ nữa, mà chỉ còn là quy tắc mù quáng, tùy tiện, chủ quan, và nhất thiết hoàn
toàn mang tính riêng tư, cá nhân, cũng như đầy tính vụ lợi riêng, và cơ bản
cũng chính là các lợi ích hay quyền lợi riêng tư, ích kỷ, đã trở thành như một
hệ thống khó xâm phạm tới được.
NON NGÀN
(29/5/12)
(29/5/12)
**
THƯỢNG
NGÀN says:
NGHỆ THUẬT THI CA TRONG THƠ TỐ HỮU
Thơ trước hết là
ngôn ngữ của nghệ thuật. Không có ngôn ngữ mang tính nghệ thuật thơ chẳng ra
thơ mà chỉ là vè. Lúc ấy thà là đọc một đoạn văn xuôi lại càng hay hơn kiểu thơ
loại đó.
Thơ như vậy nói
chung có hai yếu tố đặc trưng : yếu tố nội dung và yếu tố hình thức.
Yếu tố nội dung là
cảm xúc, tình cảm, ý tưởng hay tư tưởng của thơ. Trong yếu tố nội dung này tất
nhiên cảm xúc phải thật, tình cảm phải mang tính nhân văn, trong sáng. Ý tưởng
của thơ phải mang tính sáng tạo cao, và tư tưởng của thơ dĩ nhiên phải sâu
lắng, độc đáo, tức mang tính riêng tư và độc lập.
Yếu tố hình thức
tức mọi cái gì dễ nhận thấy bên ngoài nhất của thơ : ngôn từ, âm điệu, nhạc điệu,
bút pháp, thể loại thơ, nghệ thuật diễn tả, tạo tác hay sáng tạo về mặt ngôn
từ, ý tưởng trong thơ. Một bài thơ hoàn chỉnh như vậy đòi hỏi phải hoàn chình
từ ngôn từ, ngữ điệu, phong cách, từ câu thơ cho đến toàn bài thơ. Trong tính
cách người làm thơ không thể để có sạn trong thơ. Một câu thơ chỉ cần một ý
vụng, một từ ngô nghệ, một cách diễn đạt non yếu, đã là làm hỏng cả câu thơ đó.
Một bài thơ chỉ cần có một câu thơ xoàng xỉnh, kém cỏi, không không thể còn là
một bài thơ hay hoặc có giá trị. Chính nghệ thuật thơ hay thẩm mỹ thi ca luôn
luôn đòi hỏi cao như vậy nên làm thơ là khó, không phải là dễ. Bởi làm thơ khó
nên người làm thơ hay trở nên một nhà thơ, một thi sĩ, thậm chí một thi hào.
Tác phẩm toàn bích, hoàn hảo như vậy có thể vượt thời gian, không gian, không
còn hạn hẹp trong bất kỳ khung cảnh nhỏ hẹp, riêng biệt nào nữa. Trái lại người
làm thơ dở, đọc thơ phán chán, thực chất chỉ là anh thợ thơ, người bắt chước
chơi thơ, làm thơ, không phải nhà thơ từ bản chất, từ cốt tủy. Chính nội dung
lẫn hình thức như nói trên luôn quyết định về giá trị của thơ và giá trị của
nhà thơ chính là như thế.
Trong toàn bộ cái
nhìn và đánh giá như vậy, thơ có thể làm chơi hay làm thật. Thơ làm chơi đó là
thơ của nhà thơ thật. Làm chơi bởi vì coi thơ như một chỗ chơi đùa mang tính
nghệ thuật. Có nghĩa làm thơ như kiểu lấy đồ trong túi. Trái lại làm thơ thật,
là những người sính làm thơ để mong ước mình cũng được gọi là nhà thơ, mình
cũng thành được một nhà thơ. Kiểu làm thơ thật này chính là kiểu mày mò, tìm
vần lựa chữ, chọn ý một cách lao tâm khổ tứ mà luôn luôn không đạt được chất
thơ tự nhiên, giá trị, bên trong nội dung cũng như hình thức bên ngoài. Đó
chính là những kẻ cố tình làm thơ, rị mọ hay cố rặn ra thơ. Thơ làm thật như
vậy lại trở thành thơ không có thực chất, kém cỏi hay không có ý nghĩa và giá
trị.
Tất nhiên, nhà thơ
thật sự cũng rất nhiều khi làm thơ thật. Thơ thật đây là thơ có ý hướng, có mục
đích, có ý nghĩa nhằm thể hiện hay sáng tạo về một chủ để, một đề tài, một cảm
xúc, một mục tiêu nào đó mà nhà thơ cần thực hiện. Những đối tượng đó thật sự
luôn luôn cần thiết, tự nhiên và phong phú vô cùng.
Nên thơ có thể là
thơ tình cảm thương yêu, tình cảm nhân văn, tình cảm xã hội, nhưng cảm xúc
ngoại cảnh hay thiên nhiên nào đó. Nói chung lại, nhà thơ làm thơ cốt yếu để
giải tỏa cho mình, để sáng tạo cho mình, không phải để mua danh hảo hay chuốc
tiếng khen chê của những người khác ở đời. Nói khác đi thơ chủ yếu là một nhu
cầu cá nhân nhưng có lợi cho xã hội, không bao giờ là một nhu cầu xã hội nhằm
có lợi cho cá nhân. Loai thơ thứ nhất là thơ theo cách sáng tạo thật, còn loại
thứ hai là thơ nhằm biểu hiện cái tôi tầm thường, xoàng xỉnh nào đó tất nhiên
chủ yếu là về mặt nghệ thuật, vì mục tiêu nghệ thuật. Nên cũng có thể nói thơ
chính yếu là nghệ thuật vị nghệ thuật. Đó là nền tảng không thể thiếu hay yêu
cầu thiết yếu nhất để thơ phục vụ nhân sinh mà không khi nào ngược lại. Bởi
không có thực chất ý nghĩa hay giá trị, mọi sự hay cái gọi là phục vụ cũng
chẳng có công dụng, tác dụng bất cứ thế nào.
Từ những nền tảng
chung như thế, mọi người có ý thức thơ ca thật sự đúng nghĩa và những đánh giá
tầm cao cũng như hiểu biết, đều thấy thơ Tố Hữu không có gì đặc biệt, hay thậm
chí còn gọi được là nhiều mặt rất non yếu và thậm chí còn khá nhiều tệ lậu nữa.
Nói khác đi, người ta có thể thấy được mười bài thơ của Tố Hữu chỉ có thể gọi
là hay được vài bài. Một bài thơ được gọi là hay của Tố Hữu có thể nói đúng chỉ
hay được vài câu. Một câu thơ hay của Tố Hữu, nhiều khi chỉ hay có một vài từ.
Nên nhìn chung thơ của Tố Hữu rất nhiều khi gượng gạo, giả tạo, không tự nhiên,
kém phong phú về nhiều mặt, nội dung cũng như hình thức. Cách suy nghĩ trong
thơ của Tố Hữu nói chung là theo vết mòn, theo công thức, nhiều khi giống thợ
thơ, kiểu công nhân thơ, gắng gượng sáng tác mà rất ít biểu lộ như một nhà thơ
thật sự phong phú về mặt nghệ thuật sáng tạo cũng như nội dung tư duy sáng tạo.
Nói cho đúng ra năng khiếu thơ của Tố Hữu chẳng có gì xuất sắc mấy, trình độ
nhận thức của nhà thơ về mọi mặt cũng không phải cao, nên chất lượng kiến thức
hay văn hóa nói chung như thế rất ảnh hưởng, quy định, hoặc quyết định phần lớn
giá trị nghệ thuật cũng như tư tưởng, tình cảm của thơ Tố Hữu.
Nên có thể nói
ngắn gọn, Tố Hữu không hề hay không bao giờ là nhà thơ lớn đúng nghĩa. Nhiều
người thổi phồng thơ Tố Hữu vì đó là mục đích chính trị thường tình mà không hề
đó là ý thức văn học nghệ thuật đúng nghĩa cần thiết cho con người và xã hội.
Bởi lẽ nghệ thuật thơ và ý thơ của Tố Hữu phần lớn chỉ bình thường, thậm chí
tầm thường, nhiều bài gần như nôm na, rất kém bút pháp nghệ thuật về thơ kể cả
tâm hồn sáng tạo. Tố Hữu thật sự gần giống với một anh lính nghệ thuật, một cán
bộ thi ca, không giống với nhà thơ đúng nghĩa có tinh thần và ý thức thơ hoàn
toàn độc lập hay sáng tạo như một nhu cầu không cưỡng lại được của một cá nhân
nhà thơ thật sự.
Cụ thể, không cần khảo sát hết toàn bộ sự nghiệp thơ của Tố Hữu. Cũng không cần phải phân tích hết mọi bài thơ của Tố Hữu. Chỉ cần xem hai bài được giới thiệu như trên, bài thơ “Người Về” và bài thơ về “Cải cách ruộng đất” hay “Đấu tố” được viện dẫn ở trên, cũng thấy hết mọi cái xoàng xỉnh, thậm chí khát máu và nịnh bợ, kém cỏi trong cái được gọi là sự nghiệp thơ ca cách mạng của nhà thơ “danh tiếng” Tố Hữu như thế nào rồi.
Cụ thể, không cần khảo sát hết toàn bộ sự nghiệp thơ của Tố Hữu. Cũng không cần phải phân tích hết mọi bài thơ của Tố Hữu. Chỉ cần xem hai bài được giới thiệu như trên, bài thơ “Người Về” và bài thơ về “Cải cách ruộng đất” hay “Đấu tố” được viện dẫn ở trên, cũng thấy hết mọi cái xoàng xỉnh, thậm chí khát máu và nịnh bợ, kém cỏi trong cái được gọi là sự nghiệp thơ ca cách mạng của nhà thơ “danh tiếng” Tố Hữu như thế nào rồi.
Võ
Hưng Thanh
(17/5/2012)
(17/5/2012)
**
ĐẠI
NGÀN says:
TRIẾT HỌC KHÔNG BAO GIỜ CHẾT
Lâm Vũ bảo hiện
nay triết học đã chết mà chưa đem chôn, thật sự đã lầm rồi. Nói như vậy thật sự
tai hại, cũng giống như bảo triết học không làm ra được bát cơm, hạt gạo nào.
Nói như thế là duy vật quá đáng đễn độ tầm thường nữa. Chính Mác quá duy vật
nên đã trở thành một người hoàn toàn lạc lõng trong lịch sử xã hội, và cũng
thật tình đã gây ra nhiều tai hại cho xã hội. Ngay cả toán học hay vật lý học
cũng chẳng làm ra được bát cơm hạt gạo nào. Nhưng toán học và vật lý học lại
tạo ra các công cụ gián tiếp khác là sự tiến bộ của khoa học và kỹ thuật để
giải quyết toàn bộ nhiều vấn đề kinh tế sản xuất khác nhau. Triết học cũng thế,
ý nghĩa của triết học là nâng cao nhận thức mọi mặt của con người, và ý nghĩa
toàn diện đó của triết học là nền tảng, phương tiện, kể cả mục đích phục vụ cho
mọi tiến bộ khác nhau của văn hóa xã hội hay khoa học xã hội và nhân văn nói
chung. Cái nhận xét sai của Lâm Vũ về triết học có thể làm nguy hại đến sự suy
nghĩ của nhiều người và đến ý nghĩa của văn minh văn hóa. Câu nói của Mác không
cần giải thích xã hội mà phải cải tạo xã hội, không cần giải thích sự vật bằng
nhiếu cách khác nhau mà cần phải thực hiện triết học đó. Thực chất đó chỉ là
câu nói huênh hoang nhưng rỗng tuếch và nhảm nhí. Đó là kiểu nói khoa trương,
tầm thương và sáo rỗng giống như tay Phạm Công Thiện ở miền Nam ngày nào trước
năm 1975. Thật ra triết học là đỉnh cao của nhận thức nhân loại không phải chỉ
là kết quả của các tri thức nhân loại. Có hiểu được điều này mới hiểu ra được
triết học là gì. Cái gần cả thế kỷ nay được gọi là “triết học Mác Lênin” được
đem giảng dạy trong hầu hết các trường ốc của VN, thật sự đó không hề là một
triết học đúng nghĩa hay phương pháp luận triết học khoa học gì cả, mà thực
chất đó chỉ là kiểu nhồi sọ tư tưởng duy vật độc đoán và một chiều cũng như tư
duy kinh tế học giả tạo, nghèo nàn, phản tự nhiên và rất nhiều người còn chưa
thấy ra được. Cái oái ăm của lịch sử đất nước chính là như thế. Cái oái ăm của
bao thế hệ trí thức được mệnh danh là trí thức XHCN cũng chính là như thế. Sự
làm cho cùn mằn văn hóa VN, trí tuệ VN và nhất là tư duy khoa học, triết học VN
nói chung cũng chính là như thế.
NGÀN
KHƠI
(17/5/12)
(17/5/12)
**
NGÀN
KHƠI says:
CHỈ CÓ BỌN TRẺ CON
Chỉ có bọn trẻ con
mới tranh nhau chuyện hơn thua. Cho rằng mình hơn người khác, chính mình mới
hiểu Mác hơn người khác. Thật ra đó là tính ấu trĩ và tầm thường. Vấn đề quan
trọng nhất không phải tôi và anh, ai là người hiểu Mác hơn, mà đó chính là vấn
đề Mác là đúng hay sai về mặt khoa học, triết học, kinh tế xã hội nói chung,
khi ông đưa ra học thuyết của mình. Có nghĩa chỉ có bọn trẻ con mới nhìn nhau
mà cãi nhau, mà hơn thua nhau. Người hiểu biết chỉ nhìn cùng về một hướng
chung, một ích lợi chung. Học thuyết Mác phi lô-gic về mặt lý luận, phi thực
tiển khách quan về mặt thực tế, phi khoa học về mặt nhận thức. Đó là điều mà ít
người thấy ra hay nghĩ tới. Chí ít đó cũng là hiện tượng thường thấy tại nước
ta từ trước tới nay. Xu thế con người là sợ bạo lực và ham cái lợi cá nhân
trước mắt, đó là lý do bạo lực thắng thế và lợi ích khoa học ít được theo đuổi.
Nhiều người học Mác, dạy về Mác, nghiên cứu Mác kiểu con vẹt là như thế. Kiểu
cá mè một lứa thì làm gì còn khoa học và triết học chân chính. Mác là người hợm
mình nên những người tâng bốc Mác cũng là những thứ hợm mình thế thôi. Đó cũng
là hiện tượng những kẻ nhân danh Mác hay theo Mác phần lớn cũng chỉ vì bản
thân, vì trào lưu, khong hẳn đã vì tinh thần, mục đích xã hội hay khoa học đúng
nghĩa. Bởi không thấy ra được những nghịch lý trong học thuyết Mác thì còn gì
là ý nghĩa khách quan của tinh thần khoa học và tinh thần xã hội đúng đắn nữa.
NON
NGÀN
(15/5/12)
(15/5/12)
**
NGÀN
KHƠI says:
KHOA HỌC VÀ SỰ TỰ DO
Khoa học là cái
đúng hay là chân lý khách quan. Con người sở dĩ sai điều này điều nọ là do
không khách quan. Không khách quan là vì cảm tính, vì quyền lợi tư riêng nhỏ
hẹp, không vì sự thật, vì chân lý. Bởi vậy khoa học luôn luôn đi theo với sự tự
do. Con người có tự do làm khoa học, nghiên cứu sự vật khách quan, khi đó mới
có thể có khoa học đúng nghĩa, có lợi ích chung đúng nghĩa. Có nghĩa khoa học
thì không thể độc tài, độc đoán, vì độc tài, chuyên đoán, toàn trị bất kỳ dưới
hình thức nào cũng đều là phản khoa học, phản thực tế, phản khách quan. Chủ
nghĩa Mác nếu là khoa học thì không bao giờ sợ thực tế, sợ khách quan. Cái vô
duyên của Mác là vừa tự cho mình là học thuyết khoa học, lại vừa chủ trương
chuyên chính (tức chuyên chính vô sản). Đây là sự tầm vơ, nghịch lý, tự mâu
thuẫn hay gàn bướng, phi lý của Mác. Chủ trương chuyên chính đã là sai mà chủ
trương chuyên chính vô sản lại càng nguy hại và sai không biết bao nhiều mà kể.
Bởi vì Mác mù quáng vào học thuyết biện chứng của Hegel một cách sai trái như
tôi đã nhiều lần nói tới, cho nên ý niệm chuyên chính vô sản là ý niệm phản trí
thức, phản khoa học, phản thực tế. Chỉ có khoa học và trí thức mới làm nên được
sự tiến bộ và phát triển của lịch sử nhân loại. Đàng này Mác tin vào “sứ mệnh” lịch
sử nào đó của giai cấp vô sản thế giới một cách ảo tưởng, huyền bí, mê tín. Chỉ
có điều ấu trĩ cơ bản như thế thôi của Mác mà rất nhiều người không thấy ra, kể
cả những người vỗ ngực tự xứng ta đây mới hiểu thuyết Mác. Sự vỗ ngực đó thật
sự trẻ con, dốt nát, bởi vì khoa học không phải là niềm tin thụ động, ngu ngơ,
mà phải có sự phê phán chân xác, đúng đắn. Tại sao không nói ta nhận xét, phê
phán lý thuyết Mác thế nào mà chỉ nói là là người “hiểu” được Mác nhất. Đó
chính là thái độ thấp kém, hèn mọn, và siêu hóa, thần thánh hóa học thuyết Mác
một cách mù quáng, thơ ngây, dại khờ và ấu trĩ nhất. Trần Đức Thảo cũng bảo
mình mới là người hiểu Mác, rồi đến anh chàng cán bộ khoa giáo Lữ Phương, một
người hoàn toàn phi triết học trường ốc, chính quy, hàn lâm, cũng tự cho mình
mới là người hiểu Mác. Thật là tầm thường kiểu đó thì còn gì là ý thức xã hội
chân chính, còn gì là ý thức và mục đích khoa học khách quan và chân chính nữa.
ĐẠI
NGÀN
(15/5/12)
(15/5/12)
**
THƯỢNG
NGÀN says:
TRIẾT
HỌC LUÔN MANG TÍNH TRUNG CHUYỂN
GIỮA VĂN HÓA VÀ KHOA HỌC
Tính cách của
triết học là tính giao thoa giữa văn hóa và khoa học. Văn hóa là sự nhận thức
bao quát, còn khoa học là sự nhận thức chuyên môn, chuyên sâu. Triết học là cái
móc nối giữa hai cái đó. Do đó không có văn hóa cũng không thể có triết học.
Không có khoa học thì thực chất triết học mới chỉ nói lung tung, mơ hổ, trừu
tượng. Cái hay của triết học là vừa yếu tố giao thoa lại vừa vượt lên trên cả
văn hóa và khoa học. Bởi nếu triết học mà chỉ là khoa học thì triết học không
cần phải tồn tại. Còn triết học mà chỉ là văn hóa thì cũng cùng một lý do hay ý
nghĩa như thế. Bởi nói cho cùng, triết học phải là một tài năng. Vì không có
tài năng triết học cũng chỉ đồng hóa với văn hóa. Khoa học, nghệ thuật và triết
học đều cần đến tài năng là như thế. Đó là lý do tại sao một triết gia thì khác
hẳn với nhà nghiên cứu triết học. Vì triết gia có thể đưa ra khám phá mới về
chân lý, trong khi người nghiên cứu triết học chỉ mày mò về các khía cạnh chân
lý cũ mà các triết gia đi trước đã từng khám phá.
Thế nhưng Mác đã
nói một câu vô nghĩa : “Những nhà triết học từ trước đến nay chỉ ngồi giải
thích thể giới, nhưng vấn đề chính là biến đổi thế giới”. Những kẻ lơ tơ mơ đọc
câu này hoàn toàn sững sốt, nghĩ rằng Mác là bực thánh. Hóa ra Mác chỉ nói một
điều phi thực tế, giống như khái niệm xã hội cộng sản khoa học của ông ta. Cái
bệnh ảo giác, phi thực tế quả thật là cái bệnh thâm căn, cốt tủy của Mác. Bởi
triết học là thuộc phạm vi nhận thức chân lý, làm thế nào mà thực hiện triết
học được. Người ta chỉ có thể làm được những cái cụ thể ở đời, triết học là
năng lực nhận thức trừu tượng về chân lý, vậy mà thực hiện về điều này quả
không điên cũng thành loạn. Bởi thế Mác nói một câu tiếp cũng vô nghĩa không
kém : muốn thực hiện triết học thì phải thủ tiêu triết học. Đây quả thật là đầu
nguồn của quan điểm triệt hạ trí thức mà nhiều người đã biết. Ý tưởng trên của
Mác hoàn toàn là một ý thức phản triết học, phản văn hóa. Bởi vì trong thâm tâm
Mác tin rằng chỉ có chủ thuyết mình là đúng, nên thực hiện chủ thuyết Mác là
thực hiện triết học. Quả đúng là ý niệm duy vật một cách điên khùng, ngốc
nghếch. Đó cũng là lý do tại sao Mác chủ trương chuyên chính vô sản. Bởi không
chuyên chính thì không ai theo học thuyết Mác, làm học thuyết Mác, tức chuyên
chính để triệt tiêu trí thức, triệt tiêu triết học nói chung và để chỉ “thực
hiện” duy nhất triết học Mác, chủ nghĩa Mác.
Từ gần một thế kỷ,
trong khắp nước người ta chỉ biết dạy cho học sinh, sinh viên về triết học Mác
leenin. Thật ra đây không phải là triết học đúng nghĩa mà chỉ là học thuyết hay
lý thuyết cách mạng vô sản toàn thế giới.
Mác là người muốn
thủ tiêu triết học nhưng cuối cùng không thể thủ tiêu được, nên ngược lại cuối
cùng triết học đích thực lại thủ tiêu Mác. Bởi triết học là việc đi tìm chân lý
khách quan khoa học, triết học cũng như khoa học tự nhiên hay toán học, là một
năng lực vốn khách quan của nhân loại, tiến lên không ngừng, cho dù có những
thời kỳ thụt lùi thế nào, nên làm sao mà thực hiện hay thủ tiêu triết học như
Mác muốn được. Chỉ nói riêng hai điều nhỏ nhặt này thôi, cũng thấy được cái gọi
là triết học Mác nó nhập nhằng, củn cỡn, linh tinh, non yếu, lẩm cẩm và thật sự
hết sức nghèo nàn, ngoan cố, chủ quan, độc đoán và trịch thượng như thế nào.
VÕ
HƯNG THANH
(15/5/12)
(15/5/12)
**
ĐẠI
NGÀN says:
CÁI NGỚ NGẨN CỦA ÔNG LỮ PHƯƠNG
VỀ HỌC THUYẾT CÁC MÁC
Ông Lữ phướng luôn
luôn tỏ ra bảo vệ học thuyết của Mác nhưng đồng thời hiện nay ông cũng giương
cao ngọn cờ chống độc tài toàn trị. Ông tỏ vẻ mình là người hiểu biết học
thuyết Mác hơn nhiều người khác, nhưng ông lại bất mãn với chế độ, với thể chế
của nhà nước VN hiện tại. Tôi quả thật không có nhiều thời giờ để viết một bài
tạm đủ để nhận định về chủ thuyết Mác và về thái độ cũng như sự hiểu biết vể
chủ thuyết Mác của ông ta. Thế nên, thôi cứ tạm mượn tiện ích về phản hồi này
của ĐCV để nói lên chỉ một vài ý ngắn nhưng cốt lõi để rộng đường bình luận về
những điều liên quan như trên đã nói.
Trước hết, ông Lữ
phương luôn lớn tiếng bảo vệ chủ thuyết Mác, chứng tỏ ông quả thật là một người
“mác xít” thuần thành, nhiệt tình, đắm đuối, đó cũng chính là lý do tại sao ông
LP đã nhảy vào khu theo cách mạng vào thập niên 60-70 của thế kỷ trước. Có
nghĩa lý do đi theo MTDTGPMNVN lúc đó của ông là nhằm “mác xít hóa” cả nước VN,
hay chí ít cũng là miền Nam VN khi ấy, nên ông đã được đề bạt làm chức thứ
trưởng trong khu lúc đó là như thế. Lý tưởng của ông Phương là lý tưởng chủ
nghĩa Mác mà không phải là lý tưởng dân tộc hay quốc gia thuần tùy, nên ông đi
theo khái niệm giải phóng là như vậy. Giải phóng là giải phóng xã hội khỏi xã
hội tư sản hay tư bản. Thế cho nên bây giờ ông Phương lại thấy xã hội kinh tế
thị trường nên ông thành hụt hẫng, bất mãn, chống đối lại một cách cay cú.
Chỉ tiếc rằng ông
Phương đã viết về một lần ông đã trao đổi cùng ông Sáu Dân tức Võ Văn Kiệt :
“Anh Sáu biết tại sao tôi quan tâm đến chủ nghĩa Mác như vậy không? Đó là do
tôi nghe lời ông Đồng và ông Duẩn, hai ông này luôn khuyên nhủ cán bộ phải học
tập chủ nghĩa Mác vì không hiểu chủ nghĩa Mác thì không thể xây dựng thành công
chủ nghĩa xã hội. Nghe lời hai ông đó, tôi đã quay mặt vào tường trong suốt 10
năm để tìm hiểu; anh có biết sau đó tôi đã kết luận như thế nào không?”. Ông
nhướng mắt lên và hỏi: “Sao?” Tôi nhớ đã trả lời ông một cách tỉnh queo câu sau
đây: Tôi nói hai cha nội đó chẳng biết Mác là con mẹ gì hết! Không tưởng tượng
được! Sau khi nghe câu nói báng bổ đó của tôi, ông đã cười phá lên, thoải mái
như chưa bao giờ thoải mái đến như vậy! Không biết có đúng hay không, nhưng cái
bí mật về chủ nghĩa Mác-Lênin mà ông không khi nào nói đến mỗi khi gặp tôi,
dường như đã bộc lộ qua những tiếng cười của ông hôm đó”. Đọc lời tự thú này
của ông LP quả thật người ta phải ngã ngữa. Tức ông Phương nghiên cứu chủ nghĩa
Mác là vì ông nghe theo lời hai ông Đồng và Duẩn. Bởi ông muốn xây dựng thành
công CNXH. Ông đã quay mặt vào tường suốt 10 năm để tìm hiểu CNM. Cuối cùng
chính ông nhận thấy cả ông Phạm Văn Đồng, ông Lê Duẩn, lẫn ông Sáu Dân đều chả
biết CNML là cái gì cả. Như thế chỉ có nghĩa có mỗi mình ông Lữ Phương là biết
rõ chủ nghĩa Mác lênin là cái gì ! Đó là kết quả 10 diện bích hay 10 năm đèn
sách của ông. Và ông làm điều đó chẳng qua là nghe lời theo hai bậc đàng anh
khuyến khích và sau này ông đã vỡ lẽ, mà cũng chẳng phải do yêu cầu độc lập, sự
tâm niệm khoa học hay ý thức, ý chí gì riêng của ông ta.
Bởi thế, ông ta đã
viết : “Tôi thấy, Chủ nghĩa Mác chẳng dính dấp gì đến thực tại Việt Nam cả. Thứ
nhất, những người nhân danh chủ nghĩa Mác để họ quản lý, lãnh đạo xã hội, họ
cho rằng “tiến lên chủ nghĩa xã hội”, nói một cách văn vẻ, thì họ ngộ nhận, họ
hiểu lầm, họ không hiểu gì cả … họ lợi dụng, họ bóp méo hoàn toàn chủ nghĩa
Mác, không dính dấp gì ở đây, nó là một chủ nghĩa Lenin, Stalin hóa, và nó là
của Mao Trạch Đông. Cho nên những người nhân danh cái này để gọi là lãnh đạo
Việt Nam, thì hoàn toàn không có cơ sở thực tế”. Ông Lữ Phương nói như thế,
thật cũng chẳng khác gì ông ta chê cả ông Hồ Chí Minh. Bởi nếu không có ông Hồ
đưa chủ nghĩa Mác lênin về VN, làm gì có các ông Duẩn, ông Đồng, và làm gì có
cả những người hậu duệ ngày nay trong nước của họ mà ông Lữ Phương đang lên
tiếng bài xích. Ý ông LP muốn nói chủ nghĩa Mác phải làm như kiểu ông ta hiểu
thì mới đúng, đằng này từ ông Hồ đến xã hội VN hiện nay người ta đều làm “trật
chìa” CNM hết cả ! Ông LP cho thấy trước kia ông chỉ là một tinh thần, phong
cách cán bộ chạy theo, bây giờ ông lại tỏ ra ta đây mới là thầy đời lãnh đạo
cho tất cả những người mà ông đã từng dưới cơ và đi theo một cách ngoan cường
đó.
Ông Phương xác quyết : “Vấn đề đặt ra về mặt thực hành, theo tôi, do đó không phải là “vận dụng” chủ nghĩa Mác như một khoa học – nhất là cột Mác vào Lênin tạo thành một thứ chủ nghĩa Mác-Lênin – mà là hãy đối xử với chủ nghĩa Mác như một thứ triết học, được đối xử như vậy thì những các mặt tích cực lẫn tiêu cực trong lập luận của Mác cũng đều bổ ích cho đời sống. Trung tâm vấn đề ở đây là sự phân biệt cổ điển giữa triết học và khoa học, giữa tư tưởng suy lý và tư tưởng thực tiễn”. Rõ thật là ngớ ngẩn. Ông Lữ phương muốn người ta đối xử với học thuyết Mác như là một thứ “triết học”, thay vì đối xừ với nó như là một thứ thực tế phiền tạp mà ông không bao giờ muốn. Ông lại còn muốn phân biệt rành rẽ giữa triết học và khoa học, giữa lý thuyết và thực tiển. Ông Phương không biết rằng Mác cho rằng học thuyết của mình là một thứ praxis, tức hoàn toàn thực tiển, còn lý thuyết ông đưa ra cho dù hoàn toàn tư biện lại là chuyện khác. Tức ông Phương muốn quay trở lại “lý thuyết hóa” học thuyết Mác thay vì chỉ “hiện thực hóa” hay “thực tiển hóa” lý thuyết Mác như từ trước đến nay mọi người CS vẫn đã từng làm. Ông Phương quả là chuyện trứng khôn hơn vịt là như thế đó.
Ông Phương xác quyết : “Vấn đề đặt ra về mặt thực hành, theo tôi, do đó không phải là “vận dụng” chủ nghĩa Mác như một khoa học – nhất là cột Mác vào Lênin tạo thành một thứ chủ nghĩa Mác-Lênin – mà là hãy đối xử với chủ nghĩa Mác như một thứ triết học, được đối xử như vậy thì những các mặt tích cực lẫn tiêu cực trong lập luận của Mác cũng đều bổ ích cho đời sống. Trung tâm vấn đề ở đây là sự phân biệt cổ điển giữa triết học và khoa học, giữa tư tưởng suy lý và tư tưởng thực tiễn”. Rõ thật là ngớ ngẩn. Ông Lữ phương muốn người ta đối xử với học thuyết Mác như là một thứ “triết học”, thay vì đối xừ với nó như là một thứ thực tế phiền tạp mà ông không bao giờ muốn. Ông lại còn muốn phân biệt rành rẽ giữa triết học và khoa học, giữa lý thuyết và thực tiển. Ông Phương không biết rằng Mác cho rằng học thuyết của mình là một thứ praxis, tức hoàn toàn thực tiển, còn lý thuyết ông đưa ra cho dù hoàn toàn tư biện lại là chuyện khác. Tức ông Phương muốn quay trở lại “lý thuyết hóa” học thuyết Mác thay vì chỉ “hiện thực hóa” hay “thực tiển hóa” lý thuyết Mác như từ trước đến nay mọi người CS vẫn đã từng làm. Ông Phương quả là chuyện trứng khôn hơn vịt là như thế đó.
Nói cách cụ thể
hơn, ông Phương viết : “Sự đóng góp của Mác vào đời sống tư tưởng của nhân loại
là điều không thể phủ nhận được, sự đóng góp ấy bao giờ cũng đứng bên ngoài
hình thức chính trị hoá triết học kiểu Lênin, và do đó chủ nghĩa Mác của Mác
cần phải tiếp tục được thanh lọc khỏi những “vấy bẩn” của chủ nghĩa Lênin. Chủ
nghĩa Lênin đó, thực chất chỉ là một thứ chủ nghĩa Mác bị xét lại theo phương
hướng xuyên tạc triệt để nhất trong lịch sử triết học Mác : nhân danh cho một
thứ ý thức hệ gọi là “khoa học”, nó đã tạo ra mô hình nhà nước toàn trị ý thức
hệ đưa đời sống tinh thần xã hội trở về thời kỳ Trung cổ. Đích thực, không thể
có một “phản ánh luận mácxít-lêninnít” nghiêm chỉnh theo tinh thần học thuyết
Mác. Cá ngớ ngẩn hay vớ vẩn của ông LP là hai nếp đã nấu thành một xôi rồi, nay
ông lại muốn tách riêng ra. Ông coi chủ thuyết Lênin chỉ là sự vấy bẩn của CNM,
còn học thuyết Mác thì hoàn toàn trong sáng, hiệu quả. Chẳng biết ông LP là
khuynh hướng dân túy, hay khuynh hướng đệ tam hoặc đệ tứ CS. Ông ta quả thật
ngây thơ không biết rằng không có Mác cũng chẳng có Lênin, không có Mác Lênin
cũng chẳng thể có được phong trào CS quốc tế hay thực tiển chủ nghĩa vô sản
quốc tế. Có nghĩa ông Phương muốn tái lập lại cuộc cách mạng mác xít để loại ra
khỏi nó yếu tố lêninít. Đúng là lẩm cẩm và bé cái lầm hay nói trắng ra là ngây
thơ và lầm lạc. Đó phải chăng là thứ ngây thơ cụ hay lầm lạc non. Ồng ta muốn
mình phải là người duy nhất thực hiện CNM, vì chỉ ông mới hiểu CNM. Quả nhiên
ông ta đã bỏ quên hết mọi cái gốc của học thuyết Mác để chỉ mong giữ cho bên
được cái ngọn. Không biết ông LP mười năm “đọc Mác” có hiểu ra rằng Mác chủ
trương cách mạng vô sản, chuyên chính vô sản, kinh tế tập thể, thử hỏi ông
Phương điều đó có gì khác với chủ nghĩa Lênin về thực chất hay không. Một là
ông muốn vứt thì hãy vứt hết đi, trọn gói, nếu ông giác ngộ nó hoàn toàn sai
lầm ngay từ gốc. Còn nếu ông muốn giữ lại thì phải giữ cả hai. Ồng muốn tách
muối ra khỏi nước chỉ bằng cách thổi hơi vào thì quả thật đúng ông là Lữ Phương
chẳng khác.
Ông LP còn viết :
“Triết học của Mác chứa đầy tham vọng giải phóng trần gian. Từ sự mâu thuẫn
giữa tư bản và công nhân, giữa chủ và thợ trong phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa vào thế kỷ 19 ở phương Tây, Mác đã khái quát thành những mâu thuẫn xâu xé
lịch sử loài người từ khởi thuỷ cho đến ngày nay: mâu thuẫn giữa những người
nghèo và người giàu, giữa những người bị áp bức và đi áp bức, giữa dã man lạc
hậu và văn minh tiến bộ, giữa ý thức hư huyễn và ý thức chân thực… – từ những
mâu thuẫn ấy đưa ra triết lý về lao động và lao động bị tha hoá để giải quyết
một lần cho xong tất cả. Dấu ấn của tinh thần lạc quan của thế kỷ 18, 19 đã
biểu hiện trong học thuyết Mác khá rõ rệt: đó là niềm tin mạnh mẽ về sự tất
thắng của Lý trí, Khoa học và Tiến bộ trong việc tạo dựng tương lai. Để thể
hiện niềm tin đó, và với ý hướng muốn thoát khỏi phương pháp tư biện trong các
triết học duy tâm, Mác đã kêu gọi người ta trở về với cái hiện thực thời ông
đang sống và dấn thân thay đổi nó”. Viết kiểu này đúng là anh rỗng chữ hay dại
chữ. Đúng là anh bạch diện thư sinh, trường ốc vô bổ về học thuyết Mác. Tham
vọng giải phóng nhân loại là một chuyện, nhưng tham vọng đó có khách quan hay
không, có thực tế hay không, có chính xác hay có đúng đắn hay không lại là
chuyện khác. Người nằm mơ hay mơ ước chế ra đôi cánh để bay lên cung trăng chỉ
có thể là giấc mơ của chú cuội. Đó là điều mà ông LP hay còn quá ấu trĩ.
Tiếp đến ông LP
còn nại ra cả Engels lẫn Hegel để bênh vực học thuyết Mác. Ông Phương ông hề
nhận ra Engels và Mác chỉ là cánh tay áo trái và cánh tay áo phải của cùng một
chiếc áo. Chính Engels còn duy vật và còn bạo lực còn hơn cả Mác. Thế nhưng cái
sai của Mác hay cái ngụy biện cơ bản nhất của Mác chính là ý niệm “lật ngược
Hegel lại” mà Mác đã tuyên bố. Ông Lữ Phương tự hào mình là người hiểu Mác
nhất, ít ra cũng hơn những ông lãnh đạo Trung ương CS, nhưng ông Phương không
thấy nổi ra cái sai lầm then chốt, nguyên khởi, hay cơ bản nhất đó của Mác thì
thật tệ. Ồng giống như anh học trò, anh cán bộ tuyên giáo nói suông, nhai bài,
trả bài, mà không có tinh thần, tính cách gì của một nhà nghiên cứu chuyên sâu
như ông đã ảo tưởng. Biện chứng luận của Hegel là biện chứng duy tâm. Mác lại
chuyện biện chứng luận đó sang thành biện chứng luận duy vật, rồi từ đó đẻ ra
duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, đúng là chuyện cả vú lấp miệng em không
hơn không kém. Bởi vì mang một bản chất này áp dụng cho một bản chất khác là
hoàn toàn phi khoa học, phản khoa học, phi lôgíc,phản lôgíc mà chỉ có những tay
ngốc nhất mới không thấy ra được. Chẳng hạn có ai lấy nguyên tắc của kim loại
để áp dụng được vào cho các chất liệu phi kim loại được không. Có ai ứng dụng
nguyên lý của nước để áp dụng vào lửa hay ngược lại được không. Quan niệm biện
chứng của Hegel chỉ có ý nghĩa và giá trị trong hệ thống duy tâm của Hegel,
đằng này Mác lại phiên ra thành biện chững của duy vật. Đúng là quỷ biện hay
ngụy biện. Như vậy mà Mác tự cho mình là hệ thống lý thuyết khoa học, thật sự
chỉ là sự gàn bướng, nhập nhèm, phi tri thức, phản khách quan và thực tế, nếu
không nói là tính cách lừa dối hay ngụy tín của chính bản thân Mác. Ồng Lữ
Phương xưng mình là người mười năm quay mặt vào tường để học tập Mác, vậy mà
một điều cơ bản, đơn giản như thế lại không hiểu ra, thì cho dầu có đến một
trăm năm đọc Mác Lữ Phương cũng chỉ là anh học trò hàm thụ như thế thôi. Triết
học không phải như văn học, chỉ đọc tài liệu không mà đủ. Thực chất của triết
học vẫn cần có tài năng tự nhiên như toán học hay thi ca, âm nhạc, nghệ thuật
nói chung. Các Mác đúng ra không nặng về tinh thần triết học đúng nghĩa. Ông ta
là người dấn thân xã hội, một người chiến sĩ cộng sản trong thực hành. Lữ
Phương muốn thống thiết kêu gọi đến triết học của Mác, ông nên đi làm người
soạn thảo các bài giảng chủ nghĩa Mác theo kiểu một chiều, giáo điều như từ cả
thế kỷ nay người ta vẫn làm trong cả nước thì tốt hơn. Còn chủ nghĩa Lênin ? Đó
là cái cốt lõi chủ thuyết duy vật của Mác, và quan niệm kinh tế kế hoạch hóa,
tập trung, tập thể, bao cấp đúng với ý đồ ban đầu của Mác, chỉ có thế thôi. Ông
Lữ Phương thử chứng minh được điều ngược lại xem sao.
Nên nói chung lại,
trên đây chỉ là sự nhận định về một vài nét chính cơ bản đối với những điều gì
quan trọng nhất mà ông Lữ Phương đã viết ra trước bàn dân thiên hạ để chứng tỏ
ông là người hiểu biết Mác nhất cũng như nhất quyết bảo hoàng hơn vua về chính
học thuyết này. Còn những điều gì khác mà ông Lữ Phương nói tiếp thì thật sự ra
cũng chẳng có gì đáng nói hay quan trọng. Bởi vì nói chung lại, phần lớn hay
hầu hết mọi người CS có khi không cần rành rẽ gì học thuyết Mác về mặt lý thuyết
căn cơ khoa học hay có tính chuyên sâu hoặc hàn lâm cả. Bởi họ chỉ chủ yếu là
người thực tiển, hưởng ứng theo, làm theo sự chỉ đạo qua từng thời kỳ hoặc các
phong trào cộng sản quốc tế và quốc nội nói chung bằng các hình thức và khẩu
hiệu tuyên truyền trong thực tế thế thôi. Cho dầu ông Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng
hay Trường Chinh cũng vậy. Cái ta thán và miệt thị họ của ông Lữ Phương về
phương diện lý thuyết Mác theo kiểu lý luận sâu xa thuần túy là hoàn toàn không
cần thiết và không chính đáng. Mác đã làm cái việc đem râu ông nọ cắm cằm bà
kia đối với triết học Hegel rồi, thì nay nếu ông Lữ Phương cũng muốn chơi lại
cái trò đó đối với những người cộng sản trong thực tế thì thật sự cũng bằng
thừa. Tôi chỉ muốn viết một vài dòng giản đơn như vậy để dư luận mọi người cùng
nhận xét.
Võ
Hưng Thanh
(14/5/12)
(14/5/12)
**
NON
NGÀN says:
HIẾN PHÁP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG QUANH CỦA NÓ
Đọc bài viết của
ông Đỗ Thái Nhiên về việc ông Lê Hiếu Đằng góp ý sửa đổi Hiến pháp 1992, rồi cả
lời bình của ông Tập Làm Văn về các ý nghĩa liên quan, tôi xin lỗi nghĩ rằng
quý vị trên đây chỉ có nói hươu nói vượn mà không sâu sát hay chỉ tránh né vấn
đề mà chẳng giải quyết được các ý nghĩa gì cốt lõi hay quan trọng quyết định
cả.
Thật sự hiến pháp
một nước nào đó chỉ liên quan đến vấn đề nước đó độc đảng hay đa đảng.
Hiến pháp của một
nước nào đó cũng liên quan đến vấn đề quan điểm của người làm ra hiến pháp.
Hiến pháp thuộc
toàn dân là hiến pháp dân chủ. Hiến pháp không thuộc toàn dân là hiến pháp của
bộ phận nắm quyền và là hiến pháp không dân chủ hay không phải là hiến pháp dân
chủ, thế thôi.
1/ Nếu là thể chế
nhà nước độc đảng, tất nhiên hiến pháp thực chất không ra ngoài quyền và lợi
của đảng cầm quyền duy nhất đó. Cho dù đó là quyền gì hay lợi gì. Bởi độc đảng
có nghĩa chỉ một đảng cầm quyền liên tục, vậy rõ ràng hiến pháp chỉ là công cụ
của đảng cầm quyền duy nhất và liên tục đó, nó tất phải phục vụ cho đảng cầm
quyền duy nhất đó là chủ yếu mà không là gì khác. Trong khi đó, đối với nước có
thể chế đa đảng, vì không có đảng nào cầm quyền duy nhất, liên tục, nên hiến
pháp mới là hiến pháp của toàn dân, vì nó không thuộc đảng nào duy nhất độc
quyền và độc tôn cả.
2/ Người làm ra
hiến pháp không phải ban soạn thảo hiến pháp, vì họ chỉ là người chấp bút, kẻ
công cụ. Người làm ra hiến pháp là người lãnh đạo, lèo lái đất nước, hay đang
cầm quyền đất nước đó. Bởi thế chính quan điểm của người làm ra hiến pháp này
quyết định ý nghĩa và giá trị của hiến pháp. Nếu thật sự họ có tinh thần dân
chủ, tinh thần yêu nước, hiến phấp đó sẽ thể hiện ra là hiến pháp dân chủ, hiến
pháp toàn dân. Ngược lại họ không có quan điểm dân chủ, nhưng chỉ là quan điểm
vị kỷ cá nhân hay mù quáng về một ý thức hệ riêng tư nào đó, hiến pháp đó thực
chất là hiến pháp của ý thức hệ, của các quan điểm riêng tư hay chủ quan cá
nhân mà không phải ý chí toàn dân khách quan nào cả.
3/ Hiến pháp toàn
dân phải thể hiện ý chí toàn dân. Có nghĩa Quốc hội lập hiến phải là do toàn
dân bầu theo nguyện vọng và ý chí khách quan của mọi thành phần dân chúng thật
sự. Có nghĩa là mọi sự bầu cử tự do, không bị lèo lái, không bị lũng đoạn.
Ngược lại nếu hiến pháp lại chỉ do một thiểu số cá nhân nắm quyền nào đó lèo
lái, cho dù họ có nhân danh bất cứ thực thể nào khác dưới bầu trời này, thực
chất vẫn chỉ là ước muốn, ước mơ, nguyện vọng, ý chí của riêng họ mà không bao
giờ là nguyện vọng hay ý chí toàn dân.
4/ Ông Lê Hiếu
Đằng viết “Đề nghị (4): “Hiến pháp sửa đổi cần tăng cường quyền lực của chủ
tịch nước, không thể vai trò tượng trưng như hiện nay. Muốn vậy cần hợp nhất
vai trò tổng bí thư đảng Cộng Sản với chủ tịch nước là một. Hay nói cách khác
tổng bí thư đảng Cộng Sản nên là chủ tịch nước. Hiện nay vấn đề này đã chín
mùi, không nên vì việc “chia ghế” mà ảnh hưởng đến sự nghiệp chung”. Viết như
vậy ông LHĐ đang đứng về quan điểm nhà nước hiện tại, hay quan điểm phe ta,
không phải quan điểm nhân dân hay toàn dân mà mọi người mong đợi trong giai
đoạn lịch sử đất nước hiện tại. Ông Đằng lại viết : “Đề nghị (3):
“Nếu chúng ta chưa
chấp nhận đa nguyên, đa đảng thì phải nâng cao vai trò MTTQVN trong vai trò
giám sát phản biện xã hội với những điều khoản cụ thể, trong đó có những qui
định về quyền hạn thực sự của một tổ chức độc lập như một kiểu thượng nghị viện
như ở một số nước. Hiện nay MTTQVN và các đoàn thể còn rất hình thức, chẳng có
quyền hạn gì, hoạt động không hiệu quả, dân mất lòng tin. Thậm chí cả quốc hội
cũng vậy. Cần có một chương riêng về vai trò MTTQVN”. Ồng Đằng dùng chữ “chúng
ta”, tức sự độc quyền dân chủ, cây che rừng, đúng là cách nói của người làm
“Mặt Trận” như ông LHĐ từ xưa đến nay. Ông Đằng cũng viết : “Đề nghị (5):
“Nếu chưa chấp
nhận nguyên tắc “Tam quyền phân lập” (Thực ra đây là thành quả đấu tranh của
con người trong việc thực hiện quyền dân chủ của người dân chứ chẳng phải là
sản phẩm của dân chủ tư sản như đảng Cộng Sản quan niệm) thì cũng cần những
điều khoản qui định vai trò độc lập của lập pháp, hành pháp và tư pháp. Không
thể để nhập nhằng như hiện nay. Nên cần có một chương riêng với những điều
khoản cụ thể”. Thì thật sự cũng chẳng bao giờ đi ra khỏi được ý niệm chủ quan
“chúng ta” và ý nghĩa của chữ “nếu”. Cuối cùng và quan trọng nhất, ông Đằng
viết : “Thực chất là Việt Nam chúng ta chưa có chủ nghĩa xã hội. Vừa qua chúng
ta mới hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc còn nhiệm vụ dân chủ thì chưa
thực hiện được bao nhiêu do chiến tranh liên miên và khi hết chiến tranh thì do
những sai lầm trong chính sách cải tạo và một số chính sách khác đã không tạo
được những nền tảng cơ bản để đi lên chủ nghĩa xã hội. Do đó hiện nay thực chất
chúng ta đang làm nhiệm vụ dân chủ trong cách mạng DTDC mà chúng ta chưa thực hiện
được”. Có nghĩa ông Lê Hiếu Đằng vẫn chưa bao giờ rời khỏi được cái ý niệm “ý
thức hệ” vốn có, ý niệm “chúng ta” vốn có, và ý niệm phe ta vốn có, tức chỉ có
phe ta là duy nhất mà không phải toàn dân hay ý chí toàn dân.
Nên nói chung,
lại, bàn về thành lập hiến pháp hay sửa đổi hiến pháp, nếu không giài quyết
được tự cơ bản ba ý nghĩa vấn đề như được nêu trên, mà chỉ lặp đi lặp lại những
cái râu ria, những nội dung chỉ mang tính hệ luận hay hệ lụy từ những điều cơ
bản, thì đúng ra là “ghế” mà chẳng bao giờ là “bàn” cả.
Vả chẳng ý thức hệ
cộng sản thực chất chỉ là học thuyết riêng của ông Các Mác đề ra, được ông
Lênin đầu tiên thực hiện. Chưa hề có ai chứng minh khoa học, kể cả chính bản
thân ông Các Mác. Nói khác đi ông Mác chỉ dựa vào lòng tin của mình, ông Lênin
dựa vào lòng tin của ông Mác, các ông khác tiếp theo thì dựa vào lòng tin nơi
cả hai ông kia. Ông Đằng cũng có lòng tin đó, còn toàn dân liên quan tới hiến
pháp có lòng tin đó hay không không thấy ông Lê Hiếu Đằng nghĩ tới hoặc nói
tới.
Thôi vài lời quê
như vậy, xin được đường đột nói ra để mọi người hay cả toàn dân suy gẫm.
ĐẠI
NGÀN
(12/5/12)
(12/5/12)
**
NGÀN
KHƠI says:
ĐIỀU GÌ LÀ QUAN TRỌNG NHẤT
Ông Bùi Tín viết
bài về việc sửa đổi hiến pháp thì điều gì là quan trọng nhất. Theo tôi điều
quan trọng nhất đó chính là quan điểm, ý chí, tình cảm của người sửa đổi hiến
pháp. Người sửa đổi hiến pháp ở đây tất nhiên không phải Ban sửa đổi hiến pháp,
bời họ thuần túy chỉ là kẻ chấp bút, kẻ thiên lôi, kẻ thừa hành, những điều gì
có liên quan về họ đều không đáng nói. Người sửa đổi hiến pháp đích thực nhất
chính là người cẩm quyền tối cao hay người lãnh đạo nhà nước hiện tại. Nếu ý
chí của họ thật sự là ý chí dân chủ, hiến pháp sửa đổi tất nhiên là hiến pháp
dân chủ. Nếu quan điểm và nhận thức của họ là quan điểm khoa học, khách quan,
tiến bộ, tất nhiên hiến pháp sửa đổi cũng sẽ là hiến pháp có tính hiện đại,
khoa học, khách quan, tiến bộ. Còn nếu không phải như vậy, vấn đề cũng chỉ là
ngược lại. Nếu tình cảm của họ là tình cảm yêu nước thật sự, họ sẽ lèo lái để
cho hiến pháp thể hiện được ý chí toàn dân, tức thể hiện nguyện vọng nhân dân
qua các đại biểu quốc hội có tiếng nói tự do thật sự. Ngược lại, không có tình
cảm yêu dân, nhưng chỉ có tình cảm yêu riêng mình, nhóm của mình, hiến pháp sửa
chữa đó cũng không thể nào là hiến pháp toàn dân. Cho nên ý nghĩa của mọi người
chỉ vẫn luôn luôn là việc làm mà không phải chỉ ở lời nói. Không phải chỉ nói
vì dân, do dân, từ dân mà đủ, vì đó có thể vẫn chỉ là lời nói suông. Chính các
việc làm thực tế mới thể hiện ra thật sự và thực chất của những điều đó. Vả
chăng con người sống trong xã hội là sống với hiện tại, không phải sống với quá
khứ hay sống với tương lai. Vì chính quá khứ đã làm nên hiện tại cuộc sống,
hiện tại cuộc sống làm nên tương lai cuộc sống mà không thể là gì khác. Các Mác
là người có vấn đề trong suy nghĩ của ông ta. Ồng mong muốn xây dựng một xã hội
tương lai do chính các công thức tự ông ta đưa ra, thực chất là điều gàn bướng,
không tưởng, mà nói trắng ra là nhảm nhì. Bởi vì không bất cứ cá nhân, tập thể,
hay dân tôc, đất nước nào, kể cả nhân loại có thể tự quyết đinh tương lai của
mình một cách chủ quan. Chính hiện tại làm nền tảng cho tương lai mà không phải
tương lai trở thành tiền đề, thành nền tảng cho hiện tại. Mác quả thật giống
một người ăn chưa no lo chưa tới nên đề ra một học thuyêt hết sức hoang đường,
không tưởng, vô lý, điên gàn chính là như thế. Bởi nguyên tắc xác xuất trong
cuộc sống, nguyên tắc khách quan khoa học đều cho mọi người nhận ra được các cơ
sở phi khách quan của Mác. Bởi vậy, nếu một hiến pháp nào đó chỉ cốt bảo thủ,
chỉ cốt gò vào ý thức hệ hay học thuyết của Mác, đều rõ ràng không bao giờ là
hiến pháp khách quan khoa học thực tiển hay hiến pháp toàn dân, mà đúng nghĩa
chỉ là hiến pháp của những người say mê hướng theo học thuyết Mác như một điều
tâm niêm riêng tư hay một lợi ích biệt phái riêng tư nào đó của chính họ mà
thôi. Không bất kỳ cá nhân nào là toàn dân, không bất kỳ tập thể nào là toàn
dân, chính là như thế. Dân chủ chỉ đi đôi với toàn dân, không thể đi đôi với cá
nhân hay tập thể hữu hạn nào, đó cũng chính là như thế. Ý thức hệ hay học
thuyết cũng chỉ liên quan đến sự đúng sai của người đó, không liên quan đến sự
đúng sai của tất cả mọi người, của toàn thể nhân loại, của toàn bộ lịch sử cũng
chính là như thế. Người ta có thể hi sinh quyền lợi riêng cho quyền lợi chung,
hi sinh cá nhân cho toàn cục, nhưng không thể nào ngược lại. Không thể chỉ vì
cá nhân ông Mác, không thể chỉ vì học thuyết ông Mác mà coi đó như là thánh
phán, là chân lý vĩnh cửu của dân tộc hay của loài người là điều tối ư u tối và
mù quáng. Những kẻ nào nói Các Mác là thiên tài thực chất cũng chỉ là những kẻ
nịnh bợ và dốt nát cũng chính là như thế. Một dân tộc Việt Nam thông minh,
những con người Việt Nam thông minh không bao giờ lại ngây thơ, ấu trĩ hay kém
tri thức khoa học và triết học giống kiểu như thế.
ĐẠI
NGÀN
(12/5/12)
(12/5/12)
**
NON
NGÀN says:
TẠI SAO PHẢI CHẠY TRỐN HAY KHÔNG CHẠY TRỐN
Nếu Cách mạng là
điều tốt đẹp, tại sao người ta lại chạy trốn. Hồi xưa trong kháng chiến người
ta quay về thành như một sự bỏ cuộc. Năm 54, cả triệu người bỏ miền Bắc vô Nam.
Năm 75, nhiều triệu người lại vượt bao hiểm nghèo để đào thoát ra nước ngoài.
Điều đó có thể người đưa ra học thuyết lạc quan không biết. Nhưng điều đó những
người thực hành học thuyết không thể không biết. Biết mà vẫn khiến người ta
phải nhiều lần chạy trốn kể cũng là một việc lạ. Điều đó có nghĩa giữa học
thuyết và cách mạng có sự dị biệt. Điều đó có nghĩa giữa cách mạng và thực tế
hay thực chất con người có sự khác biệt. Vậy cái gì không ổn hay sai trong các
trường hợp này ? Hoc thuyết, thực tế cách mạng, con người làm cách mạng, hay
những người chạy trốn cách mạng. Tất nhiên sự chạy trốn có thể chỉ là chạy trốn
kinh tế, chạy trốn xã hội, chạy trốn chính trị, chạy trốn vì sách động, bắt
chước, vì quyền lợi riêng của bản thân, vì sợ trả thù, khủng bố. Có thể có cả
trăm ngàn lý do khác nhau, nhưng tựu trung lại là lỗi kỹ thuật, lỗi nguyên tắc,
lỗi học thuyết hoặc là lỗi thực hành. Không có lửa không có khói. Nếu lý thuyết
không có vấn đề, thực tế sẽ không có vấn đề, thực tế không có vấn đề, mọi con
người liên quan cũng không có vấn đề. Như vậy có vấn đề tức là vấn đề phải có
hay không thể không có. Vấn đề đó do cái gốc là chính mà chỉ cái ngọn là phụ.
Một thực tế khiến nhiều người phải chạy trốn thì không thể chỉ quy trách con
người duy nhất, mà phải quy trách nguyên nhân tạo nên hậu quả, tức phải quy
trách về mặt lý thuyết hay học thuyết. Cái nhân bản tất nhiên không thể mang
lại cái phi nhân bản hay kết quả phản nhân bản. Đó chính là một lý luận sơ đẳng
nhất mà rất tiếc rất nhiều người vốn thật sự đã thấy mà không chịu sửa chữa. Không
chịu sửa chữa hay không thể sửa chữa được, một lần nữa không hoàn toàn do con
người chủ động, mà chính là một sự cố kết xã hội như thế nào đó khiến con người
không thể thoát ra, hay không thể chủ động. Sự không thoát ra hay không thể chủ
động còn nói lên kết quả mang tính cách đối nghịch lại con người trong thực tế,
đối nghịch lại với xã hội và cuộc sống khách quan thực tế mà chính chủ thể của
lý thuyết đó mang lại. Nước chỉ chảy xuôi xuống chỗ trũng mà không chảy ngược
lên chỗ cao. Tâm lý con người cũng vậy, luôn luôn ưa tự do, thoải mái, ưa sự
đúng đắn, sự thật hay khách quan mà không ưa điều ngược lại. Đó chính là lý do
của mọi sự chạy trốn từng xảy ra trong nhiều xã hội. Con người với con người
thường khi không tốt đẹp gì, nhưng đó là các trường hợp rời rạc, cá lẽ, hiệu
quả kinh hoàng của nó không thật sự lớn lắm. Thế nhưng khi mọi con người như
thế lại kết thành một hệ thống xã hội cứng nhắc, chặt chẽ, quả thật lại làm cho
nhiều người trở nên không lối thoát. Đây chính là nguyên do lớn nhất của mọi sự
chạy trốn và kể cả của mọi sự bất trị, mọi sự khó chạy chữa được trong các căn
bệnh nguy hiểm của cá nhân và xã hội mà mọi người phải luôn luôn cần biết.
NGÀN
KHƠI
(05/5/12)
(05/5/12)
**
NGÀN
KHƠI says:
CÓ MỘT ĐIỀU TINH TẾ CẦN PHẢI BIẾT CỦA
MỌI NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY
Do điều bất hạnh
của lịch sử cận đại, nhiều người VN cho đến nay như vẫn có vẻ hãy còn chút mơ
hồ về ý niệm quốc gia hay đất nước. Phần lớn người miền Bắc cho miền Nam trước
kia là Mỹ Ngụy. Phần lớn người miền Nam cho miền Bắc là cộng sản. Thế thì ý
nghĩa thực chất ra sao, và nguyên nhân nào dẫn tới ý nghĩa của sự mơ hồ như
thế. Bởi không biết điều cần biết, đó là một thiệt thòi và sai lệch nói chung
của mọi người dân. Còn biết điều gì không đúng sự thật, cũng coi như không
biết, và đó cũng là điều bất hạnh trước thực tế khách quan nói chung. Cho nên
luận về điều tinh tế đó quả thật dường như là việc không đâu, nhưng nếu không
bàn tới, nó hầu như vẫn là một điểm vướng, khiến khó thể nào có sự hòa giải
đúng nghĩa, nên thành ra lại trở nên một việc cần bàn một cách nghiêm túc khách
quan thật sự. Ai cũng biết từ cuối thời nhà Nguyễn cho đến khi nhà Nguyễn kết
thúc, thật sự VN bị lệ thuộc vào quyền lực của nước Pháp. Nói nôm na đó là sự
lệ thuộc vào chính quyền thực dân Pháp tại VN một cách rõ ràng và cụ thể. Từ đó
cũng thấy rằng cái mốc lịch sử năm 1945 là một cái mốc thật sự cốt yếu và cũng
đầy ý nghĩa. Năm 1945 là năm kết thúc Thế chiến lần thứ hai, năm khối trục Đức
Ý Nhật đầu hàng Đồng Minh, cũng là năm hình thành nên hai lực lượng VN trái
ngược nhau và chống đối, chia rẽ nhau. Đó là Quốc gia Việt Nam được Pháp trao
trả lại nền độc lập cho chính phủ Bảo Đại, nhưng được yêu cầu là phải ở lại
trong khối Liên Hiệp Pháp. Trong khi đó, chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa
được lập nên chủ yếu do đảng CSVN đứng đầu bởi ông Hồ Chí Minh, vốn là khuynh hướng
cộng sản quốc tế, nhưng khẩu hiệu chính trị từng giai đoạn luôn luôn lồng trong
mục đích giải phóng đất nước và độc lập dân tộc. Đấy sự tế nhị giữa hai bên
chính là như vậy, sự đối kháng, chia rẽ, chiến tranh giữa hai bên chính là như
vậy, cuối cùng sự lôi kéo toàn dân của cả hai bên cho các mục tiêu cụ thể riêng
của mình cũng chính là như vậy. Cũng trong ý nghĩa đó, miền Nam về sau đã đồng
minh cùng với Mỹ, còn miền Bắc đã đồng minh cùng với Liên Xô, Trung Quốc, khối
CS quốc tế nói chung, cùng phát động chiến tranh theo hướng một cuộc chiến mang
tính chất và tầm vóc quốc tế cũng chính là lẽ đó. Nói rằng cả hai bên đều cùng
liên kết đồng minh, hay nói các thế lực quốc tế đã thật sự chơi lá bài sử dụng
hai bên, cũng đều không phải nhận định sai hoặc không đúng sự thật. Vả chăng,
một quốc gia hay một đất nước không thể không có chính phủ và quân đội. Chính
phủ và quân đội của miền Nam là chính phủ VNCH nói chung từ Bảo Đại cho đến
nhân vật cuối cùng là Dương Văn Minh. Chính phủ và quân đội của miền Bắc là nước
VNDCCH và quân đội nhân dân VN, mà xuyên suốt là từ Hồ Chí Minh cho đến nhân
vật cuối cùng khi đó ở miền Bắc là Lê Duẩn và nhân vật cuối cùng khi ở MTGPMN
tại miền Nam chính là Nguyễn Hữu Thọ. Và sau khi miền Bắc chiến thắng miền Nam,
VN thống nhất, rõ ràng chủ nghĩa cộng sản đã được duy nhất hóa và công khai
hóa, đó là nhà nước CHXHCNVN từ sau 1975 đến nay mà ai cũng biết. Sự bỏ ngỏ
Saigòn của ông Dương Văn Minh, cũng là sự tàn cục của miền Nam nói chung, hay
cũng là sự thống nhất VN nói riêng chính là như thế. Đó cũng là việc kết thúc
cuộc chiến tranh trường kỳ 30 năm từ khi ông Hồ Chí Minh lên nắm chính quyền
1945 tại miền Bắc cho đến khi ông Dương Văn Minh “đầu hàng” hay “bàn giao chính
quyền” tại miền Nam vào 30/4/1975. Nói như thế cũng là để ôn lại một giai đoạn
lịch sử phức tạp, đau thương vì chiến tranh và chia cắt, vì đấu tranh ý thức hệ
một cách bất đắc dĩ và không đâu, nhưng thật sự phải cho đến tận ngày nay thì
hầu hết mọi người VN mới dần dần thấy hết ra được. Ông Hồ Chí Minh là người của
CS quốc tế, nhưng không bao giờ ông công khai nhân danh CS quốc tế. Đó là cái
chìa khóa diệu kỳ khiến cho bao điều phức tạp đã xảy ra ở VN mà ai cũng rõ.
Ngày nay thì chủ nghĩa Mác đã không thành vấn đề nữa, vì từ khi Mác xướng xuất
ra, cho tới khi Lênin đầu tiên đưa vào áp dụng, rồi sau 70 năm Liên Xô cũng đã
xóa sổ đi và không còn nữa, thì ngày nay cũng chẳng còn điều gì để nói nữa.
Nhưng thực chất cuộc chiến từ 1945 đến 1975 của người VN với nhau, có sự tham
dự của các phía nước ngoài của cả hai bên, đều không ngoài một cuộc chiến tranh
ý thức hệ quốc tế mà không phải tất cả mọi người của cả hai miền đều nhận thức
được hay am tường hết. Bởi vậy mục đích chống Mỹ Ngụy của ông Hồ đã thật sự thu
hút được khá nhiều người của miền Bắc lẫn miền Nam. Đánh cho Mỹ cút đánh cho
Ngụy nhào đó là ý nghĩa của cuộc chiến đấu mà ông Hồ lèo lái (giống như trong
thời kỳ 9 năm kháng chiến chống Pháp, vẫn cho Bảo Đại là tay sai của thực dân
Pháp). Đó cũng chính là hướng chống Pháp để làm cách mạng vô sản vốn được nối
dài thêm về sau mà ông Hồ đã quyết chí. Không có gì quý hơn độc lập tự do, mà
ông Hồ từng tuyên bố thu hút được sức mạnh toàn dân, cũng không đi ra ngoài
chính mục đích chung đó. Nhưng đó không phải độc lập kiểu nhà nước tư sản, mà
là độc lập theo kiểu nhà nước vô sản, khiến cho nhiều người đã nhầm lẫn, phải
hoặc giả đò lẫn lộn. Mặt Trận Giải phóng Miền Nam VN, và cả thành phần thứ ba
vào giờ cuối ở miền Nam nói chung, cũng không ngoài ý nghĩa xuyên suốt đó.
Nhưng sau chiến thắng 1975 của miền Bắc, những gì xảy ra ở miền Nam về chính
trị và kinh tế đều cho thấy mục đích đầu tiên của ông Hồ trong những ngày đầu
hoạt động trong lòng Đệ tam Quốc tế cho đến cả thời điểm hiện nay, đều không
thay đổi. Nên rất cần phải luận về lịch sử VN cận đại như vậy mới cho thấy rõ
được là người VN chân chính và có ý thức thật sự. Nếu không thì chuyện trong đỏ
ngoài xanh của lịch sử lại trở thành một trò rối mà bao người vấp phải, cho
thấy ý thức bị rút ruột một cách xót xa mà tự mình không hề biết hay cứ giả đò
không biết và chính điều đó lại cứ tiếp tục làm cho lịch sử đất nước cứ mãi
phải bị ngụy tín và cứ mãi bị rối tung lên mà hầu như chưa có cơ may gì giải
quyết thật rạch ròi, hiệu quả cũng như thật sự có kết quả khả quan được.
ĐẠI
NGÀN
(05/5/12)
(05/5/12)
**
NON NGÀN says:
CÓ MÁC VÀ KHÔNG CÓ MÁC
Chủ
chốt của học thuyết Mác có thể quy vào hai điểm : Xã hội hay nhà nước vô sản,
Đảng công nhân cách mạng lãnh đạo xã hội để làm cách mạng vô sản. Không có hai
điểm chủ yếu này cũng không còn học thuyết Mác, không còn đấu tranh giai cấp,
không còn mục tiêu xã hội đại đồng không giai cấp như Mác quan niệm. Chính
Lênin hay quan điểm của ông ta cũng không đi ra ngoài nguyên lý cơ bản này. Bởi
vậy nói hiến pháp một nước cộng sản mà không bảo lưu hai điều này, tức sở hữu
toàn dân (có nghĩa không có tư hữu, chỉ có vô sản) và Đảng lãnh đạo (hay đảng
CS) thì cũng không còn là hiến pháp cộng sản, không còn nhà nước cộng sản,
không còn xã hội cộng sản, không còn mục đích cộng sản. Cho nên không cần bàn
hiến pháp là công cụ hay không công cụ, có nhân quyền hay không có nhân quyền,
vì hiến pháp là luật mẹ, mà mẹ đỏ thì con mới đỏ, nếu không thì phá vỡ quy luật
chính thống hay di truyền, có nghĩa là điều hoàn toàn tối kỵ. Vì thế, gút chung
lại vấn đề chỉ là, liệu học thuyết Mác tới ngày nay, hay ngay từ đầu có đúng
hay không đúng, thực tế đã chứng minh được gì, toàn bộ thế giới loài người ngày
nay đã nhìn vào nó ra sao, nên bỏ đi hay nên tiếp tục theo nó. Ai là người có
thẩm quyền, khả năng, hiểu biết để quyết định được những vẫn đề cùng các ý
nghĩa này. Liệu đảng lãnh đạo thì đảng đó có phản ảnh được ý chí của toàn dân
hay không. Phương thức nào hợp lý, hữu hiệu, chính xác và khách quan nhất để đo
đạc, chứng minh được nguyện vọng hoặc ý chí toàn dân đó. Liệu đảng đó có phải
là ý chí của giai cấp công dân hay không. Liệu đảng đó có bị nhóm cá nhân, cá
nhân nào đó khuynh loát, nắm quyền mà vẫn nhân danh là đảng hay không. Đó đều
là những vấn nạn, những vấn đề, những câu hỏi hắc búa mà chưa dễ có ai đó hay
có nhiều người nào đó có thể trả lời được một cách minh bạch, trong sáng, khách
quan, thẳng thắn, vô tư hay hoàn toàn thực tế và xác đáng được. Đấy cái sứ mệnh
của những người làm hiến pháp, sửa đổi hiến pháp ngày nay chính là như thế. Nếu
chỉ như những người làm công ăn lương thì không nói. Nếu chỉ như những cán bộ
thừa hành, thiên lôi, sai đâu đánh đó, chỉ đâu làm đó thì không nói. Nếu chỉ
như những người không biết gì mà tỏ ra ta đây biết chuyện, cũng soạn hiến pháp,
cũng sửa hiến pháp, kiểu trí thức, chuyên gia nửa mùa thì không cần nói. Trong
đất nước ngày nay, ai là người công tâm, có trí thức, có cương trực, có tấm
lòng, có ý thức yêu người, yêu đất nước, yêu xã hội, yêu công lý, yêu chân lý,
đó mới là điều đáng nói nhất. Chỉ những điều đáng nói nhất mới là điều quan
trọng và điều có triển vọng mở khóa được hay giải quyết được mọi yêu cầu cần
thiết hay thiết yếu nhất của dân tộc và đất nước VN hiện nay.
ĐẠI NGÀN
(05/5/12)
(05/5/12)
**
NGÀN
KHƠI says:
NGUYÊN
LÝ DUY NHẤT ĐÚNG ĐẮN VÀ VĨNH CỬU CỦA XÃ HỘI
LÀ
NGUYÊN LÝ TỰ DO VÀ DÂN CHỦ :
CHÍNH
ĐÂY MỚI THẬT SỰ LÀ NGUYÊN LÝ,
HAY
CHÂN LÝ KHÁCH QUAN VÀ ĐÚNG NHẤT
Bài
viết mang nguồn tin như trên cho rằng sắp tới đây những người lãnh đạo TQ sẽ
công khai tuyên bố từ bỏ thể chế độc đảng CS nhằm quay về lại với xã hội tự do,
dân chủ thật sự theo cách truyền thống và chính đáng không biết có cơ sở hay
không, nhưng đây là điều chắc chắn phải xảy ra trong tương lai cho dầu hiện tại
và quá khứ có như thế nào hoặc sắp tới cho như thế nào ở một số nước liên quan
cũng như ở Trung Quốc.
Điều
này do chính là ở nguồn gốc của nó là học thuyết Mác. Học thuyết Mác thực chất
là một học thuyết lập dị, ảo tưởng, điên loạn hoặc gàn bướng. Nhưng Mác lại chủ
trương độc tài chuyên chính để thực hiện được mục tiêu cuối cùng học thuyết của
mình. Đó vừa là cơ sở vừa là ý nghĩa trong việc lập nên hay đưa vào áp dụng của
học thuyết Mác.
Chính
mục đích ảo tưởng lại được làm nền cho ý nghĩa chuyên chính, nên đây là một nghịch
lý hay một thực tế đầy chất mâu thuẫn. Bởi ảo tưởng nên chắc chắn không thực hiện
được, song càng lâu càng dài nó càng bộc lộ sự vô lý hay nghịch lý của sự
chuyên chính, khiến cho sự chuyên chính càng trở nên phản ý nghĩa và vô ý
nghĩa. Điều đó lý giải sự tự mâu thuẫn trong học thuyết Mác cuối cùng cũng tự
triệt tiêu chính học thuyết hoàn toàn phi lý đó.
Như vậy, sự chuyên chính làm cho học thuyết Mác được xây dựng nên thành các thể chế liên quan trong thực tế, và cũng chính những sự nghịch lý trong thực tế cuối cùng sẽ phủ nhận và làm triệt tiêu đi chính bản thân của nó.
Như vậy, sự chuyên chính làm cho học thuyết Mác được xây dựng nên thành các thể chế liên quan trong thực tế, và cũng chính những sự nghịch lý trong thực tế cuối cùng sẽ phủ nhận và làm triệt tiêu đi chính bản thân của nó.
Lý
luận về giai cấp công nhân làm đầu tàu lịch sử và ý niệm chuyên chính vô sản bảo
đảm sự tiến hóa xã hội, thực chất chỉ là một lý luận ảo tưởng, phi thực tế, nên
cuối cùng tự nó cũng phá bỏ và từ chối học thuyết Mác, để quay trở lại với nền
dân chủ, tự do theo kiểu truyền thống và cổ điển của nhân loại, có trước Mác và
tiếp tục bảo tồn, phát huy sau thời kỳ học thuyết của Các Mác.
Bởi
sự độc tài độc đoán và duy nhất một đảng chỉ có thể tạo ra việc lợi dụng, lạm dụng,
chủ quan, cá nhân chủ nghĩa, thực tế phản xã hội cho dầu cứ tự do, nhân danh
hay mệnh danh là chủ nghĩa xã hội.
Không
bất kỳ một cá nhân, một tập thể, một đảng phái nào lại hội đủ tất cả tinh hoa của
toàn xã hội. Do đó độc tài chuyên chính là phi cơ sở, là phản xã hội, cho dù mọi
luận cứ và khẩu hiệu của nó ra sao thực chất chỉ là chủ quan, giả tạo, ngụy biện.
Đó là lý do tại sao nền dân chủ, tự do đúng nghĩa, là nguyên lý tự nhiên, khách
quan, hữu lý, có giá trị của mọi xã hội cũng như của toàn thể lịch sử nhân loại
tức loài người nói chung.
Nguyên
tắc mọi người đều bình đẳng, như vậy không có cá nhân, nhóm người nào, giai cấp
nào sinh ra để nhằm nắm quyền, đó là kiểu quân chủ và phong kiến. Học thuyết của
Mác cho giai cấp công nhân nắm quyền để làm đầu tàu lịch sử là sự ngông cuồng,
ngụy biện, phi thực tế, phản khách quan xã hội. Chính quan điểm học thuyết sai
tự nó phủ nhận và đào thải nó mà không bất kỳ ai khác. Bởi vì chỉ có sự tự do,
dân chủ đích thực mới phát huy, tập hợp, huy động được mọi nguồn lực, mọi tinh
hoa của xã hội, nhờ đó mà xã hội được phát triển hiệu quả, hữu lý cũng như
nhanh chóng.
Nói
tóm lại, học thuyết Mác sở dĩ phi dân chủ, tự do, vì bản chất và mục đích của
nó không khách quan, không xác thực, phi khoa học, tạo mọi điều kiện cho mọi sự
lợi dụng, lạm dụng, nên nó chỉ có thể tồn tại một cách ảo tưởng, giả tạo, phi
thực chất, nên cuối cùng thế nào nó cũng phải tự xóa bỏ, bị xóa bỏ, để nhường
bước cho một xã hội loài người tiến bộ, khách quan, có giá trị và có ý nghĩa thực
chất cũng như hiệu quả và tiết kiệm mọi mặt nhất, có sự thoải mái cá nhân và hạnh
phúc xã hội chung nhất và toàn diện nhất.
Khi
học thuyết Mác hay học thuyết cộng sản mác xít đã tự chứng minh không còn mục
tiêu khách quan, đúng đắn nữa, điều phủ nhận hay trút bỏ nó là hoàn toàn cần
thiết, khách quan, đúng đắn, tự nhiên của xã hội. Có thể điều này đang dần dần
lộ ra và hình thành nên các khuynh hướng dân chủ hóa triết để xã hội trong tính
cách là nhu cầu khách quan ở Trung Quốc như như ngay từ đầu trên kia đã nói.
Không còn mục đích độc tài, toàn trị, vì như vậy phi lý, nhảm nhí, và tai hại.
Đó chính là lý do đúng đắn của sự quay trở về cùng bản chất tự do, dân chủ, cần
thiết và khách quan của cá nhân con người và xã hội, mà không thể là một điều
gì đó khác. Hiện tượng Mao Trạch Đông, cùng các đồng chí và đội ngũ của ông, thật
cũng chẳng khác gì hiện tượng Lênin và tổ chức của mình, đó chỉ là sự phiêu lưu
thành công và náo nhiệt cùng với nhiều hy sinh xã hội to lớn hoặc nghiêm trọng
khác nhau của một nhóm người, nhóm cá nhân trong lịch sử ở nhiều nơi trên thế
giới, chỉ như một ý chí bồng bột, thiếu ý thức nhất thời, của một giai đoạn,
hoàn cảnh lịch sử dài ngày không hơn không kém về rất nhiều mặt khác nhau,
trong cuộc đời có nhiều thực tế phiền tạp của toàn thể xã hội nhân loại.
ĐẠI NGÀN
(04/5/12)
(04/5/12)
**
NGÀN
KHƠI says:
SỢI CHỈ ĐỎ XUYÊN SUỐT
Nhân đọc bài phỏng
vấn của nhà báo Phạm Hồng Sơn đối với hai ông Huỳnh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tấn,
tôi thấy cần phải đề cập thêm về sợi chỉ đỏ xuyên suốt như sau. Sợi chỉ đó đó
có cái đầu bắt nguồn từ học thuyết Các Mác. Nói ngắn gọn đây là học thuyết cách
mạng vô sản toàn thế giới. Nguyên lý đặc trưng của nó là chủ trương ý niệm vô
sản và chuyên chính để xây dựng xã hội không còn giai cấp sau khi giai cấp công
nhân hoàn thành xong giai đoạn chuyển tiếp là nắm quyền lực xã hội để làm cuộc
cách mạng vô sản. Tất nhiên có những cái ngất ngứ trong học thuyết này. Chẳng
hạn ý niệm giai cấp công nhân nắm quyền hành xã hội là ý niệm hoàn toàn không
có thực chất hay thực tế. Bởi những người nắm quyền chính trị không bao giờ còn
là công nhân, sự nhân danh giai cấp như vậy là vô lý ngay từ đầu, cả về mặt ý
nghĩa lịch sử, xã hội, thực chất, cũng như thực tế. Tức Mác đã thật sự hoang
tưởng hay huyễn hoặc về giai cấp công nhân. Chủ trương chuyên chính cũng là chủ
trương phản tự do dân chủ một cách hoàn toàn tai hại mà Mác đã đưa ra, mang
tính phản lịch sử phát triển, phản trí thức và phản xã hội. Cho rằng giai cấp
công nhân là động lực phát triển, là đầu tàu của cách mạng lịch sử thế giới là
điều mê tín, huyền bí do Mác đã quá mù quáng vào học thuyết tư biện về tính
biện chứng lịch sử xã hội và ý thức của Hegel. Quan điểm biện chứng duy vật của
Các Mác là điều ngốc nghếch, bởi hiểu vật chất trì lực mà lại biện chứng theo
kiểu duy tâm siêu hình là hoàn toàn ngược ngạo, khiển cưỡng hoặc giả dối. Một
xã hội phi giai cấp cũng là điều nhảm nhí, bởi hiểu sai tính chất của giai cấp.
Giai cấp như một cấu trúc tự nhiên của tồn tại, lại chỉ hiểu giai cấp là nền
tảng hay cơ sở của duy nhất việc đấu tranh kinh tế. Ý niệm hạ tầng cơ sở,
thượng tầng kiến trúc của Mác cũng chỉ là sự ức đoán vu vơ, ngụy biện, vì không
hề chứng minh được gì về mặt khoa học. Ý niệm xã hội cộng sản làm theo năng lực
hưởng theo nhu cầu cũng hoàn toàn phủ nhận mọi quy luật tâm lý khách quan của con
người cũng như của các quy luật kinh tế học nền tảng, khách quan, tự nhiên, mà
bất cứ nhà nghiên cứu kinh tế xã hội nào cũng đều rõ. Nói tóm lại, học thuyết
Mác hoàn toàn phi khoa học, ảo tưởng, ngụy biện, phản thực tế nên là điều tai
hại rất đáng tiếc. Thế nhưng Lênin có thể không nắm được hết học thuyết Mác về
căn cơ, hoặc chỉ nhằm lợi dụng học thuyết Mác như bao người khác, nên đã hình
thành nên nhà nước Xô Viết đầu tiên nhờ kỹ thuật tinh vi của việc tuyên truyền
và tổ chức. Tài năng của Lênin chính là ở chỗ đó. Từ khi Lênin thành lập xong
xã hội Nga Xô Viết, sợi chỉ đỏ xuyên suốt đó đã kéo dài thêm một đoạn quan
trọng, đó là cơ sở và đầu mối cho tất cả mọi việc về sau. Cho nên phần lớn các
cuộc chiến tranh giải phóng sau này theo khuynh hướng mác xít lêninnít không
phải là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đúng nghĩa mà chính là cuộc chiến
đấu nhằm giải phóng khỏi xã hội tư bản, tư sản để đi tới xã hội cộng sản như
nguyên tắc đã định. Do đó cái lỗi của những người trí thức đúng nghĩa là đã
không quan tâm nghiên cứu đúng đắn học thuyết Mác. Chính sự không quan tâm
nghiên cứu đó mà xảy ra hiện tượng mù mờ, chạy theo hoặc ảo tưởng. Đó là đời
sống cảm tính, cảm xúc thuần túy theo kiểu người bình dân mà không phải kiểu
người hiểu biết, học thức hay trí thức đúng nghĩa. Chính sự nhân danh giải
phóng theo kiểu lưỡng diện, tức mập mờ đã thuyết phục và thu hút, lôi kéo được
rất nhiều người. Lý tưởng giải phóng dân tộc đã hình thành nên được một tầng
lớp những người có tinh thần, ý thức cách mạng một cách đúng nghĩa. Đó chính là
cơ sở thành công bước đầu của học thuyết Mác. Nhưng khi học thuyết Mác được áp
dụng vào thực tế cuối cùng, nó lộ ra hết các bản chất phi khoa học, phản thực
tế của nó khiến mọi người đều ngã ngữa trừ những người không thật sự khách quan
trong nhận thức vì các lý do cá nhân riêng biệt nào đó. Nói chung lại, chính
thành phần hiểu biết và yêu nước chỉ dừng lại ở khái niệm giải phóng dân tộc mà
không hiểu ra sợi chỉ đỏ xuyên suốt của nó là giải phóng xã hội khỏi xã hội tư
sản là điều Mác chủ trương hoàn toàn quyết tâm, khốc liệt như một mục tiêu sau
cùng của cách mạng cộng sản. Chính từ ngữ giải phóng được hiểu theo hai nghĩa
khác nhau đó mà đã tạo được cơ sở cho một thể chế chuyên chính về sau khi nhà
nước hay chính quyền liên quan được thành lập. Nói cách dễ hiểu không thể là
người cộng sản nếu đó không phải là người chấp nhận và theo đuổi mục tiêu của
học thuyết Mác hay học thuyết mác xít Lêninnít. Người cộng sản cũng không thể
chỉ dừng lại ở giai đoạn giải phóng dân tộc, vì như thế cũng đã không còn là
người cộng sản mác xít. Có nghĩa giải phóng dân tộc theo lối tư sản chỉ là ảo
tưởng trong hàng ngũ cách mạng mác xít. Điều này hoàn toàn không thể chấp nhận
được. Mọi sự bé cái lầm chính là như thế. Vậy chỉ có nghĩa hoặc là người cộng
sản sáng suốt hoặc là người cách mạng tư sản kiểu mù mờ. Bởi Mác chủ trương vô
sản không bao giờ công nhận tư hữu, tư sản. Cho nên nếu học thuyết Mác không
sáng suốt, cũng không thể nào có được người cộng sản sáng suốt. Không có được
người cộng sản sáng suốt cũng không thể có được người đồng minh với người cộng
sản mà sáng suốt. Ý nghĩa của sợi chỉ đỏ xuyên suốt chính là như vậy. Nên vấn
đề còn lại cuối cùng, không phải là cách mạng hay cách mạng thế nào theo cách
của Mác, mà phải nghiên cứu, phân tích liệu học thuyết Mác có khoa học hoặc kết
quả thực tế hay không. Cái tồn đọng của lịch sử khách quan và thực tế chính là
như thế. Mọi chuyện đầu voi đuôi chuột cũng là như thế. Mọi chuyện mười voi
không được bát xáo cũng là như thế. Câu chuyện giải phóng hay không giải phóng
hoặc ngược lại về mọi mặt cũng tất yếu chỉ là như thế. Cho nên chính những danh
từ hào nhoáng làm con người, xã hội cũng như lịch sử điển đảo theo nhiều cách
cũng là như vậy. Nói chung đó chính là cái lỗi của người trí thức. Người trí
thức đề ra học thuyết không thực tế, người trí thức kém nhận thức để đi theo
một học thuyết không thực tế, cuối cùng người trí thức làm đầu tàu để nêu
gương, thuyết phục mọi người đi theo một học thuyết không thực tế để làm nên
một thực lực xã hội chính trị phản thực tế hay phi thực tế theo nghĩa thực chất
của nó, dưới danh nghĩa chuyên chính nhằm bảo vệ những ảo tưởng phi thực tế hay
những quyền lợi thực tế riêng tư nào đó như một bản năng tự nhiên của tất cả
mọi con người thường tính khác nhau trong xã hội thực tại. Vậy thì nói chung
giai cấp công nhân đúng nghĩa không phải chịu trách nhiệm gì hết, mà chính là
các thành phần trí thức nửa mùa, trí thức xa lông, trí thức khoe mẽ mới thật sự
hoàn toàn phải chịu trách nhiệm mọi điều trước lịch sử do ở chỗ chỉ có danh hảo
mà không có thực chất của chính mình qua mọi thực tế lịch sử xã hội và con
người như đã rõ.
ĐẠI
NGÀN
(01/5/12)
(01/5/12)
**
Ngàn
Khơi says:
SỰ LẾU LÁO HAY TẾU TÁO CỦA LỊCH SỬ
Lịch sử trong dài
hạn thì không thể lếu láo hay tếu táo. Nhưng lịch sử trong ngắn hạn, trong
những sự cố nào đó, đều thường mang nhiều chất lếu láo hay tếu táo trong thực
tế hay thực chất. Tuyên truyền chính trị chẳng hạn, đó là một sự lếu láo hay
một khía cạnh tếu tếu của lịch sử tranh quyền nói chung. Bởi sự thật khách quan
thì không phải ai cũng biết. Nhưng những sự kiện được phiên diễn ra theo cách
ngụy tạo, nói cho trệch đi, có khi trước mắt, được rất nhiều người, hay mọi
người đều biết đến như thế, còn việc đó thực chất đúng hay sai, và có những ai
tin hay không tin, lại chỉ là chuyện khác. Thường vì mục đích chiến thắng, nhằm
giành được kết quả, với kiểu suy nghĩa mục đích biện minh cho phương tiện, con
người ta có thể làm bất kỳ điều gì, miễn trước mắt có lợi cho mình, đó chính là
tính cách lếu láo hay tếu táo của lịch sử nói chung. Nhưng rồi, qua thời gian,
khi các lý tưởng có tính ảo tưởng, nhất thời, mất đi rồi, khi đó, lịch sử cũng
phải quay trở lại với điều thường tình, chỉ khi ấy, những lếu láo hay tếu táo
của lịch sử rồi cũng phải trở về với quá khứ, không còn ai nhớ ra được nữa. Vậy
thì, trong sự lếu láo hay tếu táo đó của lịch sử, sự đầu hàng hay không đầu
hàng ngày vào ngày 30/4/75 của Saigon cũ trước đây 37 năm, quả có đúng nghĩa
hay có thực chất hay không, thực sự cũng chỉ là một điều tếu táo, hay một sự
lếu láo của lịch sử đã có. Bởi, tới gần ngày đó, thực chất cả miền Nam trước
kia đều không còn nữa, vì tất cả khi ấy toàn bộ đầu não đều nằm ở Saigon. Nên
cái gọi là chính phủ hay chính quyền của ông Dương Văn Minh khi ấy, thực tế
cũng không còn thực chất. Nên đây đúng là một sự bỏ ngỏ, hơn là một sự đầu hàng
đúng nghĩa. Bởi đầu hàng, có nghĩa là phải còn thực lực, còn trách nhiệm, còn ý
chí chiến đấu, mà phải xếp giáo quy hàng, đó mới gọi được là sự đầu hàng thực
sự. Trong khi đó, toàn thể chính phủ miền Nam khi ấy coi như không còn trong
thực chất nữa, mà sự thật chỉ còn lại một số người cũng được gọi là chính phủ,
mà trong đó đã có nhiều người ngầm ẩn thuộc phe bên kia rồi, với danh nghĩa nắm
còn trong tay quyền lực, mà quyền lực đó, thực chất khi ấy cũng hoàn toàn không
còn nữa, thế làm sao gọi được là sự đầu hàng. Nên danh từ “đầu hàng” mà các cán
bộ vào tiếp quản thực tế khi ấy phần còn lại của chính quyền miền Nam, muốn nói
lên lúc ấy, thực chất chỉ muốn nói lên cho oai, nhằm vào mục đích tuyên truyền
chính trị, hơn là sự đầu hàng thực tế của người trong cuộc. Miền Nam lúc ấy coi
như đã hoàn toàn bỏ trống, lực lượng miền Bắc khi đó vào nhằm để tiếp nhận thực
tế, mà không hề có sự đầu hàng chính thức nào của miền Nam, hay của một nhân
vật, hoặc chính phủ cầm quyền nào đó hoàn toàn đúng nghĩa thật sự của miền Nam
khi ấy cả. Điều ấy chẳng khác gì một cái ao cạn, mọi nhân vật còn lại chỉ giống
như cá bị mắc cạn còn lại, thế thôi. Sự đầu hàng như được tuyên bố là thực chất
không có, mà chỉ là sự rời bỏ phần quyền hành ít oi còn lại tại chỗ của những
người ấy thôi, mà tiêu biểu chính là ông Dương Văn Minh, coi như nhân vật chính
trị hay quân sự nửa nạc nửa mở và đội cận thần chung quanh ông ta lúc ấy, bên
cạnh là một đội ngũ không nhỏ, tuy không ra mặt, nhưng đã hoàn toàn thống nhất
với miền Bắc ngay từ đầu một cách không kèn không trống. Mặt trận GPMN là cánh
tay nối dài của miền Bắc, và thành phần thứ ba là cánh tay nối đài cùa MTGPMN
chính là những màn lưới như vậy, còn chính phủ Dương Văn Minh chẳng qua cũng
chỉ là những cá nhân rời rạc hoặc một tập thể nhỏ được chuyển quyền một cách
không chính thức hay chỉ là sự tiếp nhận không chính thức một quyền hành èo uột
còn sót lại trong thực tế đó thôi.
NON
NGÀN
(30/4/12)
(30/4/12)
**
NGÀN
KHƠI says:
HÃY NÊN CÙNG TRỞ VỀ VỚI BẢN CHẤT CỦA
NGƯỜI VIỆT NAM BẢN LAI DIỆN MỤC
Cho tới ngày nay
người VN vẫn chia ra hai tuyến chính : tuyến người VN cộng sản và tuyến người
VN chống CS. Điều này có thể âm thầm trong nước, nhưng ở hải ngoại thì sự dị
biệt này đã trở nên sắc nét và đầy những mối đố kỵ, căm tức, hận thù. Ở trong
nước, chưa chắc những người đảng viên CS đã là những người CS. Chưa chắc mọi người
dân đều có tư tưởng hay ý thức chủ nghĩa CS. Vậy thì, chủ thuyết CS thực chất
chỉ là một hiện tượng thời sự hay như một yếu tố thời đại hoàn toàn khách quan
nhưng bất đắc dĩ. Nhưng tất cả những người như nói trên thực chất cũng đều chỉ
là dân chúng hay quần chúng, tức những người bình thường chẳng có ý nghĩa hay
quyền hành gì. Quyền hành cả nước hiện nay tất nhiên nằm trong tay những người
cầm quyền hay lãnh đạo cao cấp, trong đảng hay trong nhà nước cũng vậy. Ngoài
những người này, mọi tầng lớp khác thực chất chỉ là quần chúng hay nhân dân nói
chung. Nhưng những người CS hay đảng viên cao cấp tất yếu không bao giờ họ công
khai phủ nhận học thuyết hay chủ nghĩa mác xít Lêninnít nói chung, vì phủ nhận
như vậy họ sẽ không còn là họ nữa, họ không còn quyền hành hay lý do gì về
quyền hành nữa. Điều này đúng trong mọi nước CS ngày nay mà không riêng cho một
nước CS nào. Đó là ý nghĩa chung ngay từ đầu của cuộc cách mạng mùa thu tháng 8
năm 1945. Từ ngày đầu tiên chinh này cho tới ngày 30/4/75 thật sự cũng chỉ là
một khúc dạo đầu cho tới khi bản nhạc kết thúc. Bản trường ca đó có bất tử hay
không, chỉ lịch sử lâu dài sau này mới kết luận. Song ngay từ đầu, chủ nghĩa
mác xít Lêninnít không hề ra mặt công khai ở VN mà nó luôn luôn dựa vào chủ
nghĩa dân tộc hay chủ nghĩa yêu nước. Ý nghĩa chống Mỹ, cứu nước là như thế.
Người chống cộng thì mơ tưởng ý niệm quốc gia nhưng chỉ là một ý nghĩa ý thức
hệ truyền thống, mơ hồ, tuy dù là bản chất dân tộc thật sự. Người cộng sản thì
chỉ tâm niệm chủ nghĩa mác xít lêninnít như là mục đích của giải phóng dân tộc
khỏi chế độ kinh tế chính trị tư sản và tư bản. Thế nhưng ý thức hệ này thì
hoàn toàn rõ nét và có sự hậu thuẫn của phong trào cộng sản quốc tế như mọi
người đều biết. Ý thức hệ quốc gia dân tộc đã thua ý thức hệ vô sản quốc tế
chính là như thế. Sự thua này là sự thua ý niệm giải phóng. Trong chiều sâu nó
là sự giải phóng khỏi chế độ kinh tế tự do, tư bản, tư sản, để thiết lập nhà
nước vô sản chuyên chính tức nhà nước cộng sản mác xít lêninnít, nhưng bên
ngoài nó là danh nghĩa của sự giải phóng đất nước khỏi tay thực dân pháp, đế
quốc Mỹ, hay Mỹ ngụy nói chung. Nói như thế để thấy rằng từ Bảo Đại, qua Ngô
Đình Diệm, đến Nguyễn Văn Thiệu, đến Dương Văn Minh rồi cũng phải thua hay đầu
hàng miền Bắc VN kể từ Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, cho
đến Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát là hoàn toàn tất yếu như một kết quả khách
quan. Lá cờ vàng ba sọc đỏ phải nhường bước cho lá cờ nửa đỏ nửa xanh có ngôi
sao vàng ở giữa rồi lá cờ đỏ sao vàng hoàn toàn, chính là ý nghĩa xuyên suốt và
nhất quán chỉ là như thế. Ông Dương Văn Minh của miền Nam thật sự chỉ như một
vai diễn, một diễn viên cuối cùng của ý thức hệ không cộng sản ở miền Nam, kế
thừa vai diễn của ông Trần Văn Hương cận kề trước đó. Để cuối cùng người diễn
viên phải tới chính là Nguyễn Hữu Thọ rồi sau vẫn phải quay lại của chính vai
diễn ngay từ đầu là Lê Duẩn, Trường Chinh, như những vai phụ tiếp lớp của vai
chính yếu của lịch sử đất nước trong thời đại chủ nghĩa vô sản quốc tế đã có
mặt chính là Hồ Chí Minh. Như vậy phê phán Dương Văn Minh trong ý nghĩa vai
diễn cuối cùng của lịch sử đất nước tại miền nam VN trước cận kề năm 1975, cũng
chỉ là nhận định một tiết mục ngắn trong một vỡ diễn dài của bi kịch dân tộc.
Sự hào nhoáng của năm 1975 ngày nay cũng dần dần bớt khi khi qua suốt thời kỳ
dài bao cấp nghiệt cả chụp phủ lên cả nước, rồi thời kỳ đổi mới sau chiến
tranh, và hiện thời là thời đại hội nhập và gia nhập chung vào thị trường tự do
quốc tế. Điều đó có nghĩa học thuyết mác xít lêninnít thực chất cũng đã dần dân
lui bước. Mọi vai diễn của quá khứ lịch sử rồi cũng đều lui vào hậu trường,
xuống sân khấu, hay cũng đã qua đi. Ngày nay thực tế chỉ còn lại hai tuyến là
những người tiếp tục tuyên truyền, hô hào cộng sản, và những người phản tuyên
truyền hay hô hào chống cộng. Họ là những quần chúng thầm lặng hay công khai
trong nước, hoặc thực tế công nhiên và náo động của giới Việt kiều tại khắp các
nước ngoài. Lịch sử bên ngoài nay quả thật đã sang trang, song lịch sử bên
trong thì mọi di chứng của ý thức hệ, của chủ nghĩa, của hận thù và của ý thức
hệ thực chất phần nào đó cứ vẫn còn. Điều đó cũng giống như một người sau thời
kỳ dài bệnh tật hiểm nghèo, khi qua được bệnh rồi, vẫn cần thời gian để hồi
phục, để lại sức, để trở lại con người bình thường. Con người đó như từ đầu đã
nói tức là con người Việt Nam bản lai diện mục. Đó là con người VN nguyên khởi,
trước khi có ách đô hộ của thực dân Pháp, trước khi có ý thức hệ cộng sản hay
chủ thuyết mác xít lêninnít, trước khi có chiến tranh Nam Bắc kéo dài trong ba
thập kỷ đầy khốc liệt, trước khi có chiến tranh lạnh giữa hai phe tư bản và
cộng sản trên toàn thế giới, trước khi phong trào cộng sản quốc tế thực chất đã
sụp đổ và tan rã, trước khi có thực tế hội nhập và thị trường toàn cầu ngày nay
v.v… và v.v… Nói chung là trước khi có Hồ Chí Minh và sau khi Dương Văn Minh
chấm dứt ý nghĩa cũng như vai trò ở miền Nam. Khi mọi người đều trở lại con
người VN bản lai diện mục, thì xem lại lịch sử mới không còn những cảm tính,
những tình cảm giả tạo đối nghịch tạm thời cũng như sắt máu nữa, mà trở lại với
tâm tư tình cảm an tịnh, cảm thông, hòa hợp, giống như xem một đoạn phim cổ
trang sôi động đã vừa hết tập, hết tuồng, mọi việc đều lại trở lại bình thường
trong cuộc sống tự nhiên, không còn ai gồng mình, không còn ai điêu đứng, điêu
linh, hay bi thương và thất vọng. Tục ngữ ta có nói thức khuya mới biết đêm
dài, sống lâu mới biết con người thủy chung. Ở đây đêm dài của lịch sử qua diễn
tiến của các đấu tranh mọi loại về tranh chấp ý thức hệ giả tạo bề ngoài từng
một thời chính là như thế. Nhưng một đêm lịch sử đầy ác mộng rồi cũng đã kinh
qua. Tất cả lớp trước rồi cũng lụi đi. Bây giờ chỉ toàn là lớp sau thừa kế lịch
sử vẫn hãy còn nhiều người vẫn đang ngái ngủ thế thôi. Nên phải sống lâu mới
biết được những ai quả là người thủy chung với dân tộc, với lịch sử đất nước
hay nước nhà, hay quốc gia Việt Nam chính là như thế.
ĐẠI
NGÀN
(26/4/12)
(26/4/12)
**
Ngàn
Khơi says:
NHẬN DIỆN VỀ MỘT CON NGƯỜI NGHỆ SĨ
Nhạc sĩ danh tiếng
Phạm Duy là con của nhà văn được nhiều người biết đến Phạm Duy Tốn, điều đó cho
thấy đây cũng là trường hợp gà nòi. Phạm Duy từ 13 tuổi đã lang bạt đây đó
ngoài đời, điều đó đã cho thấy tính chất nghệ sĩ có hơi bạt mạng của ông, và
cũng cho thấy ông không phải là người ưa khuôn khổ, ưa học hành theo cách bình
thường. Song với sở học có thể nói chưa có gì gọi là đạt, các dòng nhạc và ca
từ Phạm Duy viết ra đều mang tính chất là người hiểu biết, trí thức, điều ấy
cho thấy người nhạc sĩ là người có tri thức và có tài năng văn hóa thật sự. Tài
là cái gì không phải hoàn toàn rèn luyện mà có được, cái bản chất bẩm sinh đó ở
Phạm Duy chính là một điều quý như thế. Có thể nói tính cách của Phạm Duy là
người nhạc sĩ, người nghệ sĩ của nhân dân, của quần chúng. Các nhạc phẩm của
ông luôn có tính dân ca, tính trữ tình dân dã hoàn toàn phản ảnh điều ấy. Ông
là người có tài thật sự, một bài nhạc có thể làm trong năm mười phút chỉ là
chuyện bình thường, cũng chẳng khác gì những nhà thơ, những họa sĩ có tài cũng
như thế. Tức đặt bút là thành nhạc, đặc bút là thành thơ, đặt bút là thành tác
phẩm hội họa mà chẳng phải mất công hoặc bận tâm gì nhiều. Sự nghiệp cả ngàn
bài nhạc với lời ca của Phạm Duy chứng minh điều đó. Nhạc của ông rất phổ biến
vì nó đi vào lòng người một cách hoàn toàn tự nhiên, thoải mái. Có nghĩa Phạm
Duy sống với nhạc, với tâm hồn, tình cảm, ý thức, hiểu biết, khát vọng, tính
nghệ sĩ của mình trong sáng tác âm nhạc mà không phải coi sáng tác âm nhạc như
một công việc nghệ thuật thuần tùy bề ngoài hoặc làm dáng, khoa trương thân
thế. Chính kiểu sống thực với cuộc đời, với nghệ thuật như vậy mà Phạm Duy trở
thành người rất nổi tiếng và người cũng rất mang tiếng. Ông nổi tiếng vì đã từ
đầu đi theo kháng chiến chống Pháp. Song ông cũng lại nổi tiếng khi quay về
thành kiểu “di tề” như khi ấy người ta thường bảo. Có nghĩa khi đi kháng chiến,
Phạm Duy đã sống thực với tâm hồn mình, và khi di tề, ông cũng đã sống thực với
tâm hồn mình. Có nghĩa chính kháng chiến đã có những góc cạnh nào đó khiến cho
người nghệ sĩ khiến chán, nên ông có di tề thật sự theo ông có thể không phải
là sự phản bội, sự đầu hàng, mà là một điều ông đã nghĩ là chính đáng. Đó có
thể là tâm trạng của hàng hà sa số bao nhân vật nhiệt tình, tài năng khi đó mà
không cứ chỉ riêng Phạm Duy. Cho nên, nếu những ca khúc hay tác phẩm âm nhạc
của ông thời kháng chiến trong khu, thời về thành, thời miền Nam cũ, thời vượt
biên ra hải ngoại, kể cả thời sau này khi quay về đất nước đối với ông cũng đều
chính đáng theo từng tình huống, theo từng hoàn cảnh, theo từng thời khắc cả.
Có nghĩa ông thấy cái gì cần nói, cần thể hiện lên là cứ cho phát ra thành âm
nhạc, bất kể đó là cái gì, từ nhạc nhập thế, nhạc xuất thế, nhạc chiến đấu,
nhạc mơ mang, nhạc vàng hay nhạc đen, nhạc tím, tục ca v.v… cũng đều chỉ vậy.
Ông đã sống thật với lòng mình mà không giả tạo, hình thức. Thậm chí nếu cần
ông cũng sử dụng cả khả năng hay tài năng như một công cụ, một phương tiện tài
chánh kiếm sống bình thường tạm thời như những người làm nghề khác, khiến cho
nhiều người khó chịu vì đã lỡ có tâm lý hơi lý tưởng hóa, thần tượng hóa về
ông. Nói cách khác Phạm Duy là người sống vì mình, cho mình trước trong khi
sống vì đời, nên những yêu cầu của những người chỉ sống vì đời một cách giả tạo
không nhất thiết phù hợp hoặc có giá trị với ông. Bởi vậy sự phê phán kiểu
Nguyễn Trọng Văn đối với Phạm Duy cũng chẳng khác sự phê phán kiểu Vũ Hạnh đối
với các nhà văn, các văn nghệ sĩ nói chung. Đó là kiểu phê phán theo phe ta,
theo đơn đặt hàng, theo lệnh lạc mà không chắc đã là sự phê phán trực tâm hoàn
toàn tự phát hoặc tự do tự giác của riêng bản thân, ý thức, tinh thần, hoặc ý
nghĩa sống của chính mình. Có nghĩa mọi sự phê phán giả tạo đều không có ý
nghĩa thật, không có giá trị thật đối với Phạm Duy. Nói chung, Phạm Duy là một
nhạc sĩ tài năng hiếm thấy tại VN từ trước đến nay về năng lực sáng tác kiểu
như chơi của ông. Tức Phạm Duy sống với nghệ thuật, nghệ sĩ tính là chính mà
không phải sống theo đời và vì đời một cách hình thức hay giả tạo. Trên cơ sở
đó người ta hoàn toàn có đủ mọi lý do chủ quan để nhận định, đánh giá, phê phán
Phạm Duy qua các thời kỳ, hoàn cảnh sáng tác. Song điều đó thật sự đối với Phạm
Duy không có nghĩa gì cả. Ồng chỉ sống cho bản thân mình và tự chịu trách nhiệm
về cách sống đó mà không vì các lý do nào khác. Cho nên nhạc Phạm Duy không hẳn
là đỏ, vàng, xanh, tím, đen, trắng gì hết, vì ông chủ yếu không nhằm mục tiêu
thể hiện những điều đó, mà chỉ là biểu hiện nó ra tùy theo cảm xúc thật ở mỗi
hoàn cảnh khác nhau. Khi theo kháng chiến ông sống nhiệt tình với tâm hồn kháng
chiến. Khi quay về thành, ông có lý do để sống khách quan theo nhận thức hoặc
quan điểm của mình. Khi ở miền Nam, khi di tản ra nước ngoài, rồi khi quay về
cố thổ, đó là do hoàn cảnh dẫn dắt Phạm Duy, khiến Phạm Duy phải sống thực như
vậy, mà không hề cần gì phải giả tạo hay làm dáng. Điều này hoàn toàn khác với
Trịnh Công Sơn. Bởi Trịnh Công Sơn phải sống khung hay khum với với cảnh, còn
Phạm Duy không phải như thế. So với họ Trịnh, họ Phạm quả hiên ngang hơn nhiều.
Không sợ người đời, không sợ cuộc đời, đó là nét nổi bật, xuất sắc nhất và cũng
dễ cảm thông với Phạm Duy. Ông không phải người tùy thời, xu thời như nhiều
người khác, mà ông độc lập và chủ động với đời tùy theo hoàn cảnh và thời đại
mà ông phải sống. Thế nên cái quý của nhạc sĩ họ Phạm là tâm hồn thật, tài năng
thật, sống thật, một cách can đảm, lập dị, thậm chí có khi sống sượng mà hoàn
toàn không để hoàn cảnh chà đạp hay xu theo hoàn cảnh. Con người chỉ cần sống
đúng với ý thức của mình mà bất chấp thế gian, đớ cũng là điều đáng nói. Dù sao
chăng nữa phải thấy Phạm Duy là một nhạc sĩ lớn có nhiều tình tự dân tộc thật
sự. Nhạc của ông do vậy sống thực mà hoàn toàn không giả tạo, bất kỳ theo chiều
hướng nào. Ông sống vượt lện hoàn cảnh, độc lập với hoàn cảnh bằng cách thích
nghi với hoàn cảnh đó chính là cá tính và nhân cách của ông. Nhạc của ông là
tâm hồn ông, nó vượt lên mọi tình huống của thời đại, nó quay đi rồi lại quay
về cũng không ngoài tâm tình hoặc ý thức dân tộc mà không phải chỉ vì màu cờ
sắc áo hay tâm tình giả tạo nào ở ngoài ông giống như một số người khác hoặc
giống như có nhiều người khắt khe lên án. Con tim Phạm Duy là con tim âm nhạc
một cách tự nhiên, tài năng của ông không thể phủ nhận, bởi vì tài năng đó hoàn
toàn hoàn toàn dễ dàng, thoải mái mà không có gì là gồng mình hay làm dáng cả.
Có thể nói ông là một nhạc sĩ bình dân, một nhạc sĩ dân ca, một nhạc sĩ dân
tộc, cho dù hoàn cảnh bên ngoài và bề ngoài như thế nào cũng không thể hoàn
toàn nhận chìm ông được. Sống thật với lòng mình và sống thật với nghệ thuật
cũng như sống thật với tâm tình yêu nước, yêu ngươi, yêu đời mà tự ông vốn có
một cách riêng biệt, không do ai mớm cho, đó chính là ý nghĩa và cũng là sắc
thái riêng đặc biệt của nhà nghệ sĩ âm nhạc đại chúng suốt đời đầy tài năng và
cá tính như nhà nhạc sĩ tên tuổi và đáng mến Phạm Duy.
ĐẠI
NGÀN
(25/4/12)
(25/4/12)
**
ĐẠI
NGÀN says:
PHÂN TÍCH CÁC Ý NIỆM “TỔ QUỐC” VÀ “NHÂN DÂN”
CHỈ Ở TRONG VÀI ĐÔI DÒNG CỰC NGẮN
Tổ quốc có thể
hiểu là quốc gia hay đất nước mình sinh ra, nơi chôn nhau cắt rốn, nơi ông bà
cha mẹ mình đã ra đời và sinh sống, nơi đồng bào mình cùng có mặt nơi quê cha
đất tổ. Tổ quốc chính là cái nôi của dân tộc. Không dân tộc nào không có tổ
quốc. Đó là quốc gia đã được tổ chức nên, hay là đất nước của họ đã được thành
lập ngay từ đầu trên mảnh đất quê hương đó. Thế còn nhân dân là gì, là mọi
người cùng sinh sống trên quốc gia, tổ quốc hay đất nước đó. Nhân dân là mọi
người dân nói chung, là tất cả người dân trong toàn lãnh thổ của đất nước. Nhân
dân cũng còn chính là một khái niệm để phân biệt với nhà cầm quyền, người nắm
quyền. Ngày xưa trong chế độ quân chủ, người dân hay nhân dân được gọi là thần
dân, đối lại với người chủ tể duy nhất, cao nhất, đó là vua, có thể là một minh
quan hay một hôn quân, bạo chúa. Trong các chế độ cộng hòa dân chủ hiện đại,
mọi người trong nước được gọi là công dân hay người dân, cũng có khi gọi là
nhân dân, mà thường gọi là toàn dân. Trong những thể chế cộng sản, thường danh
gọi nhân dân hay được dùng nhất. Nhân dân là mọi con người bình thường, quần
chúng nói chung, tuân hành theo đảng CS lãnh đạo mà chắc chắn không phải thành
phần đảng lãnh đạo, cầm chính quyền, hay không phải đảng viên cộng sản. Nhân
dân thường được hiểu là quần chúng, trước kia được hiểu là quần chúng vô sản,
còn ngày nay được hiểu là quần chúng gồm nhiều thành phần. Có nghĩa đối với
nước cộng hòa dân chủ, chính quyền là người trong nhân dân được bầu ra, là
những người nắm guồng máy hành chánh, chính trị, được bổ nhiệm theo chức năng
của chính quyền do người dân lựa chọn tự do. Nhưng đối với những đất nước theo
thể chế cộng sản, nhân dân là những người tuân theo hay đi theo những người làm
cách mạng cộng sản vốn đã đi theo học thuyết mác xít lêninnít một cách tự phát
và tự nguyện, cũng như đã và phải tuân thủ theo hệ thống quốc tế cộng sản đó
ngay từ đầu một cách nhất định. Có nghĩa nếu không có chủ thuyết Các Mác, không
có hệ thống quốc tế cộng sản, cũng không có các đảng cộng sản, không có những
đảng viên cộng sản, cũng không có chính quyền cộng sản, cũng không có nhân dân
được hiểu theo ý nghĩa quần chúng được lãnh đạo hay phải chấp hành của những
người làm cách mạng cộng sản, tức là những người lãnh đạo theo lý thuyết cộng
sản. Chủ nghĩa cộng sản chính yếu là chủ nghĩa quốc tế vô sản, song trong thực
tế ý niệm tổ quốc và ý niệm nhân dân được dùng tới thường xuyên và nhiều nhất.
Đây tất yếu có thể chỉ là vấn đề chiến lược chính trị mà không là gì khác. Bởi
vì nếu cứ theo đúng nghĩa tổ quốc và nhân dân theo cách bình thường, mà thực
tâm như thế, lại có thể bị chệch đi theo hướng bình thường, tức hướng tư sản,
sẽ không còn ý nghĩa của quốc tế vô sản đúng như học thuyết hay ý thức hệ mác
xít nguyên khởi được nữa. Tuy nhiên, nói như vậy cũng chẳng qua để nhằm phân
tích rộng một cách chi tiết thêm mà thôi. Còn ý nghĩa lịch sử của quá khứ, hiện
tại, và cả tương lai ngày nay cũng đã, đang và sẽ dần dần đổi khác. Ngày nay hệ
thống cộng sản quốc tế trước kia đã không còn nữa, hiện chỉ còn có bốn nước
chính yếu trên thế giới mà ai cũng biết. Tương lai cũng không biết sẽ đi về
đâu. Bởi tình hình quốc tế từ lâu nay đã chuyển sang hội nhập, chuyển sang kinh
tế thị trường, không còn ý nghĩa chuyên chính vô sản hoàn toàn tuyệt đối như
trong quá khứ trước đây nữa. Đây là một thực tế, và trong thực tế này mọi thực
thể càng ngày cứ càng tách xa với tên gọi hoặc các ý nghĩa hay mục đích ban
đầu. Tức thay vì mục tiêu, bây giờ chủ nghĩa cộng sản không còn thấy nói đến
nữa, chỉ còn là một tên gọi, hay đúng ra chỉ còn như một định hướng, một định
hướng XHCN mặc dầu vẫn chưa có được những định nghĩa hoàn toàn chặt chẽ hay rõ
ràng, cụ thể ở những nước liên quan đó. Nên nói chung lại, từ trước đến nay
trên thế giới nói chung và ở các nước theo thể chế cộng sản hay mác xít
lêninnít nói riêng, toàn dân hay nhân dân từ trước và sau chỉ có bốn khuynh
hướng chính yếu. Thứ nhất, khuynh hướng của những người có lý tưởng cộng sản
hay lý tưởng mác xít thật, và thực tâm muốn thực hành ý hướng, mục tiêu ấy. Thứ
hai khuynh hướng của những người hoàn toàn chống lại, bởi họ không chấp nhận
hay không thấy phù hợp hoặc hữu lý về ý hướng đó. Đó là những người chống cộng
thuộc mọi loại. Thứ ba, khuynh hướng của những kẻ ăn theo, cơ hội, thấy phe nào
mạnh thì theo để ăn có, có khi là cộng sản, có khi là chống cộng. Thành phần
này cũng rất đa dạng, kể từ khi có cuộc cách mạng cộng sản và sau khi có cuộc
thoái trào hiện nay của phong trào cộng sản quốc tế. Thứ tư, khuynh hướng những
người ngoại hạng, tức họ không mang đến chính trị, không theo ai cả, không chủ
động gì cả, mà họ hoàn toàn luôn luôn bị động như một sản phẩm tự nhiên của
lịch sử. Thành phần này có thể gọi được là đa số thầm lặng, hay thành phần đích
thực của “nhân dân”, tức mọi người dân bình thường, họ có thể yêu tổ quốc nhưng
không bao giờ nói ra, không bao giờ hô hào, lớn tiếng về “tổ quốc”, giống như
những câu thơ hay lời ca tiếng hát của bọn văn nghệ sĩ công cụ ở các phe, luôn
luôn lớn tiếng kêu gào “Tổ quốc” và “nhân dân”, mà thực chất trong thật bụng họ
không bao giờ mặn mà hay thực tâm với những ý niệm bị cho là hoàn toàn “khẩu
hiệu” kiểu giả tạo, hoặc thuần túy bề ngoài như vậy. Than ôi, tổ quốc chỉ có
thật khi có nhân dân thật cũng như ngược lại. Còn nếu tổ quốc chỉ là khẩu hiệu
bề ngoài thì điều đó cũng chỉ dùng được cho các loại nhân dân mãi mãi theo cung
cách bề ngoài. Tình cảm thật và ý chí thật, tình cảm giả và ý chí giả chính là
như vậy. Và chân lý thật cũng như chân lý giả cũng chính là như vậy.
NON
NGÀN
(24/4/12)
(24/4/12)
**
Võ
Hưng Thanh says:
DỊCH HAY CHUYỂN NGỮ CÁC TÁC PHẨM
Dịch có nghĩa là
chuyển một bản văn từ tiếng nước này sang tiếng nước khác. Trong ý nghĩa dịch
đã có ý nghĩa chuyển. Thế nhưng dịch hay chuyển, cũng hàm một ý cơ bản là làm làm
biến đổi, thay đổi, ngoài điều làm cho đổi chỗ. Nói như thế, dịch cũng hàm ý
lung tung, lộn xộn, mắc dịch, tam sao thất bản, sự biến đổi do dốt, sự biến đổi
do chủ quan, sự biến đổi do ẩu tả, sự biến đổi do thiếu trách nhiệm, sự biến
đổi do bế tắt, kể cả sự không biết biến đổi cho có nghệ thuật mà chỉ giữ nguyên
trạng một cách ngô nghê, thấp kém. Nói như thế cũng để thấy ý niệm chuyển ngữ
có vẻ vừa khách quan, nghiêm túc, chủ động, linh hoạt, sáng tạo, hơn là ý niệm
dịch có thể chỉ mang tính hạn hẹp, thụ động, gò bó, vụng về, tùy tiện, hoặc ẩu
tả vì vô số các lý do nào đó. Tất nhiên hai nếp cũng chỉ vô một xôi, nhưng xôi
ngon hay dỡ cũng còn là cách nấu, cách thực hiện nồi xôi hay mâm xôi ấy.
Vậy thì, dịch hay
chuyển ngữ là một nhu cầu thực tế rất thiết thực, cần thiết, quan trọng giữa
các ngôn ngữ, giữa các tác phẩm hoặc thành quả ngôn ngữ. Dịch hay chuyển ngữ từ
tiếng nước này sang tiếng nước khác là nhân đôi công dụng, lợi ích từ một thành
hai hay thành nhiều thứ tiếng. Đó là nhu cầu phổ biến văn hóa, mở rộng và phát
triển văn hóa, văn học về mọi mặt, không phải của một dân tộc mà nhiều dân tộc
hay cả loài người hoặc toàn thế giới nói chung. Tất nhiên có nhiều đối tượng
của dịch thuật. Nhưng tựu trung lại mảng dịch thuật quan trọng nhất chính là
mảng văn hóa, khoa học kỹ thuật và văn học nghệ thuật. Dầu sao mảng văn hóa,
khoa học kỹ thuật bởi lẽ chuyên môn nên hơi kén chủ thể hoặc người làm công tác
dịch thuật. Dịch toán học hay các tài liệu khoa học kỹ thuật nói chung, phải
chỉ những người có chuyên môn mới có thể thông thạo và tuyệt đối đạt yêu cầu
được. Ngoài ra, dịch mảng văn hóa, nếu không phải là người có kiến thức văn hóa
sâu rộng, việc dịch thật sự cũng chỉ mang ý nghĩa hết sức tương đối và nhất
thiết không đạt. Nhưng ngược lại, đối với các tác phẩm văn học nghệ thuật, nếu
người dịch thật sự không có sở thích, năng khiếu, hay nói chung là tài thi văn,
thử hỏi làm sao mà chuyển ngữ những tác phẩm đã trở thành những danh tác của cả
loài người. Cho nên, dịch hay chuyển ngữ, ở trình độ nào cũng có thể làm được,
nhưng đối với các tác phẩm chuyên môn, hay các danh tác, không phải ai ai cũng
đều làm được. Tác phẩm dịch, như vậy vừa kén người dịch, vừa kén người đọc,
chính là như thế. Kén người dịch thì như trên đã nói. Còn kén người đọc, có
nghĩa người đọc có hiểu được chính xác thì mới ích lợi, người đọc có cảm thấy
được hết các ý nghĩa văn học của tác phẩm dịch, khi ấy mới thật sự nói được là
việc dịch đã đạt được yêu cầu, mục đích. Nói chung như thế, cũng để thấy rằng
không phải ai biết rành một ngoại ngữ nào đó đều cũng có thể dịch được. Ở đây
có sự khác biệt tinh tế giữa ý niệm dịch và ý niệm chuyển ngữ đúng là như vậy.
Dịch có nghĩa là phiên diễn qua loa để cho đọc được, chẳng có điều gì quan
trọng đáng nói. Song chuyển ngữ hiểu trên mức độ cao có nghĩa tạo nên một phiên
bản tiếng nước khác hoàn toàn ngang tầm giá trị và ý nghĩa. Một tác phẩm được
chuyển ngữ trong ý nghĩa như vậy tức là nhân đôi hay đa trùng bản ngữ tác phẩm
đó thành vô số tác phẩm nước ngoài cùng tính chất và giá trị như nhau. Chẳng hạn,
một tác phẩm văn học của Nguyễn Du hay Đoàn Thị Điểm mà chuyển ngữ sang tiếng
nước ngoài cũng hoàn toàn có giá tri nghệ thuật cao ngang bằng với nguyên tác
trong bản ngữ thì đó mới là điều đáng nói nhất. Tất nhiên văn học, triết học
phương Tây như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, thì có vô số các danh tác
chẳng cần phải nói. Nhưng dịch các sách đó sang tiếng Việt cho người ta hiểu
hoặc hiểu đại khái chỉ là một lẽ, còn chuyển ngữ được các danh tác đó sang
tiếng Việt để trở thành một danh tác trong tiếng Việt đó mới chính là điều đáng
nói nhất. Trong tính cách như vậy, việc dịch một số sách phương Tây như nói
trên sang tiếng Việt, từ xưa đến nay nhiều người đã làm rồi. Nhưng chuyển ngữ
những danh tác như thế sang tiếng Việt cũng như những danh tác tiếng Việt màn
tính thượng đẳng, thì đếm lại từ xưa đến nay rất hiếm hoặc hầu như chưa có. Đấy
việc dịch sách hay chuyển ngữ tác phẩm văn hóa, văn chương nghệ thuật, tư tưởng
triết học từ những ngôn ngữ này sang những ngôn ngữ khác thật sự hết sức quan
trọng, đầy ý nghĩa, giá trị và cũng vô cùng khó khăn, đặc biệt như vậy. Nhưng
không cứ các tác phẩm phương Tây, ngay cả các tác phẩm phương Đông như Trung
Hoa, Ấn Độ, từ trước đến nay được chuyển sang tiếng Việt trở thành như những
danh tác thật sự, cũng hoàn toàn hay hầu như hiếm thấy. Như vậy có nghĩa dịch
thuật hay chuyển ngữ không chỉ là việc làm thường tình, tầm thường, nhưng đúng
ý nghĩa và đích danh nhất của nó lại thật sự là một kỹ thuật lẫn một nghệ
thuật, mà nhất là một nghệ thuật, vì khái niệm nghệ thuật vốn đã bao quát nội
hàm kỹ thuật trong đó mà hoàn toàn không thể ngược lại. Ngày xưa thời VNCH ở
miền Nam, giai đoạn chính phủ của Tổng thống Thiệu, ban Dịch thuật và giải
thưởng của phủ Tổng thống quả nhiên đã làm nên được một số thành tích rất đáng
lưu ý, nhất là về mảng cổ văn, còn mảng kim văn cũng hãy còn khá hạn chế. Hiện
tại trong cả nước, chỉ mới thấy nhà xuât bản Trí thức là chỉnh đốn và tầm cao
nhất, mặc dầu dường như chiến lược, chính sách thực hiện hãy còn lỏng lẽo, vá
víu hay những hạn chế, nghèo nàn nhất định nào đó. Nói như vậy cũng để thấy
rằng nhu cầu dịch thuật hay chuyển ngữ một cách nghiêm túc, đúng đắn, giá trị
cũng hoàn toàn quan trọng không khác gì những tác phẩm sáng tác. Bởi đối với
đối tượng người đọc, ý nghĩa cuối cùng vẫn là tác phẩm mà không phải xuất xứ
hay tác giả của nó. Tác giả người nước nào không quan trọng, quan trọng chính
là tác phẩm đó xuất hiện trong ngôn ngữ dịch có giá trị nội dung và nghệ thuật
tầm cao cũng sánh ngang hay ít nhất chẳng thua gì tác phẩm của bản ngữ. Nên nói
chung, dịch hay chuyển ngữ, ý nghĩa là một nhiệm vụ, một công tác văn hóa quan
trọng, chính yếu trong mọi đất nước. Chỉ khi đặt ra ý nghĩa và nhu cầu quan
trọng như thế, mới có thể hình thành nên đội ngũ dịch thuật thật sự có uy tín,
tài năng và giá trị để làm được điều đó. Bởi nếu không có cái nhìn chiến lược,
không có tầm cao của tâm huyết và thiện chí, không có tài năng thật sự trong
nhiệm vụ công tác hoặc quản lý, rất khó mà chiêu tập được những yếu tố giá trị
dích thật, vì những yếu tố này không phải dễ kiếm nên nhiều người cứ tưởng tầm
thường hoặc tưởng là hoàn toàn không có. Nói khác đi, tác phẩm viết và tác phẩm
dịch hay chuyển ngữ đúng nghĩa hoàn toàn có giá trị và ý nghĩa không khác nhau.
Tức dịch giả đúng nghĩa cũng chính là một tư cách tác giả trong tác phẩm dịch
chẳng khác gì tác giả của tác phẩm viết. Người dịch thuật đúng nghĩa giá trị
chính là như thế. Còn dịch bứa bừa để có người biên tập lại thì quả thật đó
không phải là tác giả hay dịch giả mà chỉ là những loại thợ chẳng khác gì những
loại thợ thủ công khác nhau trong mọi loại. Đó cũng chính là lý do trong thực
tế hiện thời tại VN, sách dịch quả hàng hà sa số, nhưng nếu đúng nghĩa là tác
phẩm dịch theo các yêu cầu cao về chất lượng và ý nghĩa như nói trên thì hoàn
toàn hay hầu như chưa có, cả những tác phẩm dịch đã nổi tiếng của nhà xuất bản
Trí thức hiện nay thực chất cũng phần lớn đều như vậy. Vài dòng qua loa như vậy
để mọi người nào có ưu tư đến nghệ thuật viết cũng như nghệ thuật dịch về mảng
văn hóa và văn chương nghệ thuật của Việt Nam cũng như của các nước khác trên
thế giới hiện tại ra sao.
ĐẠI
NGÀN
(23/4/12)
(23/4/12)
**
NGÀN
KHƠI says:
VỀ
Ý NGHĨA SỰ SÒNG PHẲNG TRÊN CHÍNH TRƯỜNG
CỦA CỦA ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM THỜI HIỆN ĐẠI
CỦA CỦA ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM THỜI HIỆN ĐẠI
Đây là nói về
chính trường quốc tế lẫn chính trường quốc nội, và điều này cũng gắn với chiến
lược quân sự của quốc gia hay đất nước nói chung. Việt Nam trong triều đại nhà
Nguyễn, là đất nước độc lập, cường thịnh, sự có mặt trên biển đông của VN khi
ấy dường như còn sớm hơn rất nhiều nước, kể cả Trung quốc. Kể từ khi Pháp đô hộ
được VN, chủ quyền đất nước mất về tay người Pháp, song đối với TQ, Việt Nam
cũng chẳng chịu tác động gì. Pháp nắm chủ quyền, song những hiệp ước giữa Pháp
và Trung quốc có liên quan tới VN hầu như VN đều không bị thiệt hại mấy. Đó là
ý nghĩa của một quốc gia trong tương quan chính trị truyền thống mà bất kỳ nước
nào trong hoàn cảnh tương tự như thế cũng đều phải như vậy trong quá khứ.
Song từ khi chủ nghĩa Mác và ý thức hệ cộng sản quốc tế du nhập vào VN, tình hình đã biến đổi khác. Sau cuộc chiến tranh khốc liệt kéo dài liên tiếp trên ba mươi năm, cuối cùng VN được thống nhất trong chủ thuyết ý thức hệ quốc tế, mối quan hệ giữa TQ và VN càng ngày như càng đi vào một cục diện hoàn toàn mới. Trừ trường hợp đặc thù của cuộc chiến tranh biên giới Tây nam và cuộc chiến tranh ngắn ngày tại biên giới phía Bắc với TQ, sau ngày đất nước thống nhất, mối liên kết giữa VN và TQ như càng ngày càng khiến VN có vẻ lép vế hơn trước kia rất nhiều. Các cuộc chiến vừa nói trên khi đó còn sự tồn tại của Liên xô và khối Đông Âu. Nhưng sau khi hai thực tế này bị sụp đổ và tan rã, ảnh hưởng của TQ đối với VN dường như có vẻ hoàn toàn đơn phương và độc đạo. Khi VN mất Hoàng Sa và một phần Trường Sa do bị TQ ngang ngược xâm lấn và chiếm đóng, tư thế của VN hầu như đang bị khuất phục mà cũng chưa khôi phục lại được các phần lãnh thổ bị mất như đã nói. Tính cách chiến lược của VN nơi biển đông coi như đã hoàn toàn lu mờ, không còn thực chất gì nhiều so với thời đại triều Nguyễn cách đây hai thế kỷ. Việt Nam cho tới hiện giờ hầu như vẫn còn nặng về ý thức hệ như sau thời kỳ thế giới chiến tranh lần thứ hai của thế kỷ trước. Chính ý thức hệ cộng sản quốc tế kiểu di chứng của thời đại đã qua đó mà VN ngày nay chưa bỏ hẳn, như thể không làm rõ ràng và minh bạch sự sòng phẳng chính trị trên chính trường của VN về mặt quốc nội và quốc tế mấy. Có nghĩa ý thức hệ quốc tế như là điều gì đó vẫn luôn còn nặng nề với nhân dân trong nước mà nhà cầm quyền vẫn muốn áp dụng, và cũng ý thức hệ cộng sản quốc tế đó khiến VN như phải gắn chặt hay phụ thuộc nhiều mặt vào TQ mà nhà cầm quyền khó có tư thế nào để xoay trở một cách tự do và hiệu quả khác. Có nghĩa khi sự sòng phẳng trên chính trường quốc nội và quốc tế chưa có, chiến lược quốc phòng hay quân sự của một đất nước dường như vẫn chưa có đường ra hay lối thoát. Nhìn về quá khứ, ngó qua hiện tượng, và hướng tới tương lai, rõ ràng ngày nay tư thế chiến lược về quốc phòng và quân sự VN trên chính trường quốc tế ngày nay thật sự tỏ ra yếu kém và hầu như giống đang bất lực, buông trôi hoặc bỏ ngỏ. Điều này hoàn toàn trái lại với một thời kỳ trước đây VN giống như đang phát động một lòng tự hào dân tộc mang đầy màu sắc chủ nghĩa kiểu tuyên truyền hào nhoáng, khoa trương rầm rộ mà ai cũng biết. Đó là thời điểm của sát trước 1975 và sát sau 1975 mà ai cũng rõ. Nhưng danh vang hư hư thực thực trong quá khứ đó quả nhiên ngày nay đã qua lâu rồi. Ý nghĩa ngày nay là mối quan hệ thực tế giữa VN và TQ trong thế chiến lược quốc phòng có phần lép vế của VN mà ai cũng thấy hết. Hoàng Sa và Trường Sa dù thế nào chăng nữa vẫn là một phần lãnh thổ chính thực và đích thực của VN nên không thể nào bỏ được. Ý nghĩa chiến lược trên biển của hai quần đảo này rõ ràng hết sức quan trọng về mặt thực tế quốc phòng, kinh tế cũng như mặt thể diện và uy tín quốc gia. Từ đó cũng thấy rằng chừng nào VN chưa thu hồi được Hoàng Sa, chưa giữ vững được Trường Sa, có nghĩa sự yếu thế và sự lép vế của VN trước TQ trong vấn đề biển đông là một sự khuất phục đáng tiếc và nhất thiết hoàn toàn không được phép. Nói như thế để thấy rằng sự sòng phẳng trên chính trường quốc nội cũng như quốc tế của VN ngày nay là một ý nghĩa vấn đề vô cùng quan trọng. Có nghĩa một nền chính trị hoàn toàn tự chủ, hợp thời, sáng suốt chính là sự sòng phẳng chính trị đó trong phương điện quốc nội và quốc tế trước thời đại. Tính cách này quan trọng cũng vì sự sòng phẳng, tức là sự chính danh, sự dứt khoát, sự quyết đoán hữu lý, hợp thời đại, là điều hoàn toàn có liên quan đến sách lược quốc phòng hay quân sự thiết yếu về mặt đất nước, quốc gia của VN ngày nay nói chung. Ý nghĩa đó không những liên quan tới toàn dân mà cũng liên quan tới cầm quyền hay lãnh đạo. Bởi vì hai yếu tố này hoàn toàn quyết định lẫn nhau, yếu tố trước quyết định yếu tố sau cũng như có một sự tác động hai chiều trong cả hai tính cách. Hoặc lãnh đạo sáng suốt và có tư thế, hoặc toàn dân có tư thế và sáng suốt, đó là mối quan hệ có tính bản chất của vấn đề, của lối ra chung, cũng như là yếu tố giải quyết ý nghĩa chiến lược quốc phòng và quân sự xứng đáng và hiệu quả của toàn thể dân tộc và đất nước nói đại thể trong bối cảnh thời đại hiện nay. Nói khác đi, sự phòng thủ và chiến lược quốc phòng bao giờ cũng có và cũng quan trọng số một đối với một dân tộc. Nhưng riêng với VN ngày nay, không những nó gắn với biển đông mà còn gắn với các di chứng của ý thức hệ từ một thời đã qua của quá khứ như trên kia đã nói. Và nói một cách sâu xa hơn nữa, thời đại vũ khí mới, phương tiện công cụ quân sự mới ngày nay, quốc phòng trên biển của VN cũng quan trọng và còn quan trọng hơn cả quốc phòng trên đất liền, vì biển cả đối với VN không những là lối ra vào mà còn là bản chất chiến lược của sự tồn tại và phát triển. Những kẻ nào đánh giá tầm chiến lược của Hoàng Sa và Trường Sa thấp đều là kẻ thiển cận, u mê hay khiếp nhược. Điều đó quả tệ hại hơn rất nhiều so với các thời kỳ triều đại phong kiến của nhà nước dân tộc VN thời quân chủ trước đây nhiều trăm năm.
Song từ khi chủ nghĩa Mác và ý thức hệ cộng sản quốc tế du nhập vào VN, tình hình đã biến đổi khác. Sau cuộc chiến tranh khốc liệt kéo dài liên tiếp trên ba mươi năm, cuối cùng VN được thống nhất trong chủ thuyết ý thức hệ quốc tế, mối quan hệ giữa TQ và VN càng ngày như càng đi vào một cục diện hoàn toàn mới. Trừ trường hợp đặc thù của cuộc chiến tranh biên giới Tây nam và cuộc chiến tranh ngắn ngày tại biên giới phía Bắc với TQ, sau ngày đất nước thống nhất, mối liên kết giữa VN và TQ như càng ngày càng khiến VN có vẻ lép vế hơn trước kia rất nhiều. Các cuộc chiến vừa nói trên khi đó còn sự tồn tại của Liên xô và khối Đông Âu. Nhưng sau khi hai thực tế này bị sụp đổ và tan rã, ảnh hưởng của TQ đối với VN dường như có vẻ hoàn toàn đơn phương và độc đạo. Khi VN mất Hoàng Sa và một phần Trường Sa do bị TQ ngang ngược xâm lấn và chiếm đóng, tư thế của VN hầu như đang bị khuất phục mà cũng chưa khôi phục lại được các phần lãnh thổ bị mất như đã nói. Tính cách chiến lược của VN nơi biển đông coi như đã hoàn toàn lu mờ, không còn thực chất gì nhiều so với thời đại triều Nguyễn cách đây hai thế kỷ. Việt Nam cho tới hiện giờ hầu như vẫn còn nặng về ý thức hệ như sau thời kỳ thế giới chiến tranh lần thứ hai của thế kỷ trước. Chính ý thức hệ cộng sản quốc tế kiểu di chứng của thời đại đã qua đó mà VN ngày nay chưa bỏ hẳn, như thể không làm rõ ràng và minh bạch sự sòng phẳng chính trị trên chính trường của VN về mặt quốc nội và quốc tế mấy. Có nghĩa ý thức hệ quốc tế như là điều gì đó vẫn luôn còn nặng nề với nhân dân trong nước mà nhà cầm quyền vẫn muốn áp dụng, và cũng ý thức hệ cộng sản quốc tế đó khiến VN như phải gắn chặt hay phụ thuộc nhiều mặt vào TQ mà nhà cầm quyền khó có tư thế nào để xoay trở một cách tự do và hiệu quả khác. Có nghĩa khi sự sòng phẳng trên chính trường quốc nội và quốc tế chưa có, chiến lược quốc phòng hay quân sự của một đất nước dường như vẫn chưa có đường ra hay lối thoát. Nhìn về quá khứ, ngó qua hiện tượng, và hướng tới tương lai, rõ ràng ngày nay tư thế chiến lược về quốc phòng và quân sự VN trên chính trường quốc tế ngày nay thật sự tỏ ra yếu kém và hầu như giống đang bất lực, buông trôi hoặc bỏ ngỏ. Điều này hoàn toàn trái lại với một thời kỳ trước đây VN giống như đang phát động một lòng tự hào dân tộc mang đầy màu sắc chủ nghĩa kiểu tuyên truyền hào nhoáng, khoa trương rầm rộ mà ai cũng biết. Đó là thời điểm của sát trước 1975 và sát sau 1975 mà ai cũng rõ. Nhưng danh vang hư hư thực thực trong quá khứ đó quả nhiên ngày nay đã qua lâu rồi. Ý nghĩa ngày nay là mối quan hệ thực tế giữa VN và TQ trong thế chiến lược quốc phòng có phần lép vế của VN mà ai cũng thấy hết. Hoàng Sa và Trường Sa dù thế nào chăng nữa vẫn là một phần lãnh thổ chính thực và đích thực của VN nên không thể nào bỏ được. Ý nghĩa chiến lược trên biển của hai quần đảo này rõ ràng hết sức quan trọng về mặt thực tế quốc phòng, kinh tế cũng như mặt thể diện và uy tín quốc gia. Từ đó cũng thấy rằng chừng nào VN chưa thu hồi được Hoàng Sa, chưa giữ vững được Trường Sa, có nghĩa sự yếu thế và sự lép vế của VN trước TQ trong vấn đề biển đông là một sự khuất phục đáng tiếc và nhất thiết hoàn toàn không được phép. Nói như thế để thấy rằng sự sòng phẳng trên chính trường quốc nội cũng như quốc tế của VN ngày nay là một ý nghĩa vấn đề vô cùng quan trọng. Có nghĩa một nền chính trị hoàn toàn tự chủ, hợp thời, sáng suốt chính là sự sòng phẳng chính trị đó trong phương điện quốc nội và quốc tế trước thời đại. Tính cách này quan trọng cũng vì sự sòng phẳng, tức là sự chính danh, sự dứt khoát, sự quyết đoán hữu lý, hợp thời đại, là điều hoàn toàn có liên quan đến sách lược quốc phòng hay quân sự thiết yếu về mặt đất nước, quốc gia của VN ngày nay nói chung. Ý nghĩa đó không những liên quan tới toàn dân mà cũng liên quan tới cầm quyền hay lãnh đạo. Bởi vì hai yếu tố này hoàn toàn quyết định lẫn nhau, yếu tố trước quyết định yếu tố sau cũng như có một sự tác động hai chiều trong cả hai tính cách. Hoặc lãnh đạo sáng suốt và có tư thế, hoặc toàn dân có tư thế và sáng suốt, đó là mối quan hệ có tính bản chất của vấn đề, của lối ra chung, cũng như là yếu tố giải quyết ý nghĩa chiến lược quốc phòng và quân sự xứng đáng và hiệu quả của toàn thể dân tộc và đất nước nói đại thể trong bối cảnh thời đại hiện nay. Nói khác đi, sự phòng thủ và chiến lược quốc phòng bao giờ cũng có và cũng quan trọng số một đối với một dân tộc. Nhưng riêng với VN ngày nay, không những nó gắn với biển đông mà còn gắn với các di chứng của ý thức hệ từ một thời đã qua của quá khứ như trên kia đã nói. Và nói một cách sâu xa hơn nữa, thời đại vũ khí mới, phương tiện công cụ quân sự mới ngày nay, quốc phòng trên biển của VN cũng quan trọng và còn quan trọng hơn cả quốc phòng trên đất liền, vì biển cả đối với VN không những là lối ra vào mà còn là bản chất chiến lược của sự tồn tại và phát triển. Những kẻ nào đánh giá tầm chiến lược của Hoàng Sa và Trường Sa thấp đều là kẻ thiển cận, u mê hay khiếp nhược. Điều đó quả tệ hại hơn rất nhiều so với các thời kỳ triều đại phong kiến của nhà nước dân tộc VN thời quân chủ trước đây nhiều trăm năm.
ĐẠI
NGÀN
(23/4/12)
(23/4/12)
**
Non
Ngàn says:
SỰ TẬP HỢP QUẦN CHÚNG KIỂU PHI NHÂN
Với quyền lực và
phương tiện trong tay, nhóm cầm quyền Bắc Triều Tiên luôn sẵn sàng huy động dân
chúng bắc Hàn đi biểu dương lực lượng cho bất kỳ mục đích chính trị xảo quyệt
nào mà họ muốn. Người dân quả thật chỉ như những con rối trong tay giới cầm
quyền. Việc huy động hàng vạn, hàng triệu người vào những mục đích chính trị
kiểu hạ đẳng như thế, thật là phi nhân, mà hầu như phần lớn các nước trên thế
giới ngày nay không ai làm vậy. Chỉ nhìn đám quần chúng đó như cả một bầy kiến,
bầy mối, trước khán đài của các “lãnh tụ”, thật là một trò hề phi nhân. Thật sự
quả là nhảm nhí, nhục nhã cho chính thân phận mỗi con người trong một xã hội
của kiểu vô nhân, tồi tệ như vậy. Tính chất phản nhân bản, phi lý đến độ ngu
dốt và trơ trẽn của con người trên thế gian, quả thật là hết sức rõ ràng như
vậy. Lỗi kỹ thuật hay hệ lụy phi nhân này, nguyên khởi chính là do ý niệm
chuyên chính vô sản mà Các Mác đã đề ra một cách điên khùng trước kia, để nó
liền trở thành một phương tiện hạ đẳng nhất, luôn bị lạm dụng, lợi dụng của một
thiểu số gian tà nào đó trong các chế độ toàn trị độc đảng, độc tài, nhằm chống
lại cả loài người vốn dĩ vẫn sống một cách tự do và hồn nhiên trên trái đất.
Ngàn
Khơi
(22/4/12)
(22/4/12)
**
NGÀN
KHƠI says:
CÁC MÁC VÀ CHÍNH TRỊ
Các Mác lý luận xã
hội loài người từ trước đến nay chỉ có đấu tranh giai cấp. Tức chỉ có hai giai
cấp đối nghịch nhau thay nhau tồn tại : giai cấp thống trị và giai cấp bị trị.
Trong ý nghĩa đấu tranh giai cấp đó, thời đại mới là thời đại giai cấp công nhân
đấu tranh diệt xã hội tư bản, trở thành giai cấp thống trị và tiến tới xóa bỏ
giai cấp, thực hiện xã hội không giai cấp. Chuyên chính của giai cấp vô sản là
điều kiện nhằm xóa bỏ giai cấp, khiến xã hội không còn giai cấp nữa. Đây là
cách suy nghĩ vừa khiên cưỡng vừa mê tín, vừa dốt nát của Các Mác. Bởi nếu đấu
tranh giai cấp là suy luật khách quan triền miên của lịch sử, tại sao tới thời
kỳ vô sản chuyên chính, đấu tranh giai cấp lại sẽ biến mất, một chuyện hoàn
toàn ngoại lệ, không bình thường của lịch sử. Đó chỉ có thể là sự ngụy biện, sự
suy diễn hoàn toàn phi lô-gích, phản lô-gích của Các Mác. Đó là điều mà những
kẻ mù quáng, nịnh bợ đã mê muội cho là đỉnh cao của trí tuệ loài người, là
thiên tài của nhân loại. Có nghĩa, nếu đấu tranh giai cấp là một ý tưởng ngụy
tạo, đặt điều, giả tạo, huyễn hoặc do Mác đưa ra sai trái, phản thực tế, không
khách quan, việc Mác chủ trương chuyên chính vô sản hay chuyên chính của giai
cấp công nhân thế giới quả là một sự phịa đặt tai hại, phản lại nguyên tắc tự
do dân chủ khách quan của xã hội loài người. Ngược lại, nếu đấu tranh giai cấp
hay đấu tranh giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị là sự thay đổi liên
tiếp, thường xuyên, tất yếu, tất nhiên nó sẽ không bao giờ dừng lại ở giai cấp
nào cuối cùng nào được, và như thế cũng không thể nào có được xã hội không giai
cấp, xóa hết giai cấp như một sự mơ mộng hão huyền. Chỉ điều đó thôi, cũng đã
cho thấy được sự dốt nát trong lý luận, hay sự lễu lự trong lập luận, hoặc sự
ngụy biện trong lập luận của Mác. Vả chăng lấy cơ sở nào để nói được giai cấp
vô sản quốc tế, hay giai cấp công nhân quốc tế, sẽ lãnh đạo thế giới. Nếu những
cá nhân, những tập thể, những nhóm người nào đó chỉ nhân danh giai cấp công
nhân, mà đó không phải thực chất như thế, thì sự việc sẽ thế nào ? Điều đó cũng
lại cho thấy sự rẻ tiền, nông cạn, non nớt, trong hiểu biết về mặt lý luận của
Mác. Nên nói chung lại, Mác quả thật giống như một người ăn chưa no lo chưa
tới, một anh chàng gàn bường, si mê, quá mê tín vào học thuyết biện chứng luận
của Hegel, để tưởng tượng ra giai cấp đấu tranh như là động lực phát triển của
lịch sử, khiến thành ngây thơ chủ trương việc dùng giai cấp đấu tranh đề xóa bỏ
đấu tranh giai cấp, cốt nhằm tiêu diệt mọi giai cấp. Đó là kiểu lý luận mà
người bình dân gọi là mang tơi chữa lửa, hay dùng lửa để chữa lửa, khiến hoặc
tơi bị cháy, hoặc lửa càng được bốc cao hơn. Chính trong cách lý luận ngược
đời, dốt nát như vậy, mà vô hình chung quan điểm đấu tranh giai cấp, quan điểm
chuyên chính giai cấp của Mác, đã trở thành một quan điểm bệnh hoạn, điên dại,
chỉ đưa nhân loại và các dân tộc vào ngỏ cụt của sự chiến tranh, sắt máu, và sự
độc tài độc đoán, một cách phản thực tế, phản khách quan, phản nhân bản, hay
thật sự vô cùng tai hại, mà bất kỳ người nào có nhận thức tỉnh táo, sáng suốt,
đều cũng thấy ra được. Bởi vậy, cũng có thể nói chính trị của Các Mác là một
thứ chính trị ngụy biện, phản chính trị, hay một loại chính trị đầu độc, nhũng
nhiểu, nhiễu loạn. Thật sự nó hoàn toàn khác xa với cả ngay trong thời cổ đại,
chính nhà hiền triết phương Đông vĩ đại là Khổng tử, đã từng định nghĩa về
chính trị một cách ngắn gọn, tinh tế, đúng đắn, súc tích, hữu ích, và trong
sáng, trong quan niệm vững chắc : “Chính giả, chính dã” (政者正也, tức chính trị là điều thực hiện sự ngay
chính, công bằng, không thể tà vạy, quả đúng là như thế đó).
ĐẠI
NGÀN
(22/4/12)
(22/4/12)
**
XÃ
HỘI CON NGƯỜI VÀ CHỦ NGHĨA
Con
người sinh ra là để sống như con người, không phải để thực hiện "chủ
nghĩa" này, chủ nghĩa khác. Xã hội là môi trường sống tự nhiên, khách quan
của con người, xã hội không phải sản phẩm của cá nhân nhằm thực hiện "chủ
nghĩa" này chủ nghĩa nọ. Nói dễ hiểu, xã hội như rừng cây tự nhiên, cá
nhân như một đơn vị tồn tại riêng của rừng cây khách quan, tự nhiên đó. Pháp luật
là đặc điểm của con người dùng nâng yêu cầu sống khách quan, tự nhiên của chủng
loại mình xứng đáng là loài có lý trí, có khoa học, có văn hóa, không giống mọi
loài sinh học bình thường khác. Có nghĩa con người vừa có chiều cao lẫn chiều
thấp, chiều rộng lẫn chiều sâu. Chiều thấp là bản năng, chiều cao là lý tính,
chiều rộng là xã hội, chiều sâu là quan điểm sống, nhân sinh quan, tâm thức cá
nhân riêng. Nói như thế, chủ nghĩa chỉ là một quan điểm sống, một ý hướng theo
đuổi của mỗi cá nhân trong tính cá biệt, tự do của mình, chủ nghĩa không thể biến
thành một thứ "tổ chức" hay "công thức" xã hội, bắt mọi người
phải theo. Chủ nghĩa kiểu đó chẳng qua là sự cuồng điên của những cá nhân hay tập
thể nào đó muốn chơi trò xã hội, muốn biến xã hội phù hợp theo thị hiếu, tham vọng,
hay những mưu đồ riêng của mình. Điều này cũng chẳng khác những kẻ muốn chơi
bonsai, nhưng thay vì chơi cây cỏ, lại chơi nguyên cả xã hội.
Do
vậy, từ trước đến nay, trong lịch sử nhân loại chỉ có hai thử nghiệm đều đã thật
bại về "chủ nghĩa", đó là chủ nghĩa phát xít của Hitler và chủ nghĩa
cộng sản của Karl Marx. Cả hai nhân vật nổi tiếng toàn cầu này đều là người Đức.
Nên quả thật nếu có người gọi diễu là tinh thần Đức trị, kể cũng không phải
hoàn toàn nói dóc. Hitler đã ảo tưởng về chủ nghĩa quốc xã, đề cao tinh hoa của
giống dân Aryan thượng thừa mà hậu duệ được phong thánh là dòng máu Đức theo kiểu
chủ quan, điên khùng. Cuối cùng đã gây nên tấn thảm kịch của đệ nhị thế chiến,
và Hitler quả đã thành một tên tội đồ của bao dân tộc khác nhau. Bên cạnh đó,
Karl Marx lại cũng chủ trương phong thánh cho giai cấp công nhân một cách hoàn
toàn tưởng tượng. Và trong mục đích đó, Marx lại tưởng tượng ra thứ gọi là
"chủ nghĩa cộng sản khoa học" một cách không tưởng, dựa vào cơ sở lý
luận mang đầy tính viễn mơ, ngụy biện. Kết quan, Marx chủ trương chuyên chính
vô sản hay độc tài cộng sản để nhằm thực hiện tham vọng lý tưởng xã hội của
mình. Nhưng đó là một quan điểm lập luận đầy tính lập dị, tưởng tượng, thiếu cơ
sở khoa học thực tế, kết quả cũng thất bại, vì người đưa vào thực hiện được nhà
nước Liên Xô và khối XHCN trước đây trong thời gian ngắn ngủi già hơn nửa thế kỷ
nhưng cuối cùng cũng đã tan rã, không còn tồn tại. Như vậy tóm lại, chủ nghĩa
áp dụng trên xã hội chỉ là một thứ trò chơi xã hội mang đầy tính chủ quan, hợm
hĩnh, rồ dại và điên khùng. Mỗi thứ "chủ nghĩa" đều phải kèm theo một
"học thuyết" vớ vẩn nào đó, cũng như một "đội ngũ hành động"
mang tính chất cuồng tín, điên loạn nào đó. Đó là hai yếu tố cấu kết hay hỗ trợ,
làm cơ sở và điều kiện cho nhau. Chính đội ngũ hành động kém năng lực lý luận mới
tin vào lý thuyết hay học thuyết của chủ nghĩa. Chủ nghĩa cũng nhờ vào lực lượng
hay sức mạnh bản năng, cảm tính của đội ngũ hành động, với mọi loại tham vọng,
ý hướng, mục tiêu cá nhân mà làm nên sức mạnh của chủ nghĩa. Thế nhưng, trời đất
sinh con người luôn có bản năng tự nhiên, luôn có tham vọng tự nhiên, luôn muốn
có điều kiện sống hoàn toàn tự do, do vậy "chủ nghĩa" thực chất cũng
chỉ giống như những đợt cường triều nhất thời, tuy có gây ra bao cảnh tàn phá,
oán than, tiếc rẻ nào đó, nhưng cuối cùng rồi mọi sự khách quan vẫn trở về với
mọi sự khách quan. Chủ nghĩa do vậy phải thất bại và phải trả về các yêu cầu tự
nhiên chính đáng của cá nhân và xã hội con người. Nên nói cho cùng, con người
cá nhân luôn là những tồn tại khách quan, có mọi thuộc tính khách quan, tự
nhiên của nó. Chủ nghĩa chẳng qua chỉ là một ảo giác tham vọng, sự chủ quan nào
đó của các cá nhân hoặc tập thể, từ học thuyết đến thực tiển, chỉ có tính nhất
thời và giả tạo, nên cuối cùng đành phải thất bại, đào thải vì phạm nhiều nghịch
lý và phản lại mọi tính chất cũng như yêu cầu thực tiển chính đáng, thiết yếu của
đời sống khách quan. Chủ nghĩa thật sự cũng giống như trò chơi uốn cây cảnh,
trò diễu hành tập thể, trò diễu binh phô trương tham vọng, nó không có thực chất,
không khách quan, tự nhiên, mà chỉ là những thứ gồng mình giả tạo, rất dễ bị lạm
dụng và lợi dụng của nhiều người cho tham vọng ích kỷ hoặc cá nhân riêng. Bởi
thế, ý nghĩa về mặt thất bại hay hạn hẹp của mọi thứ chủ nghĩa, chỉ hoàn toàn
là điều không thể nào tránh khỏi. Chủ nghĩa nào thực tế cũng xuất phát từ những
tham vọng cá nhân, lý thuyết cũng như thực hành, chỉ vì cái tôi riêng, vô lý, hợm
hĩnh của mình, mà đưa xã hội vào trong vòng khống chế nghiệt ngã của tính cách
ích kỷ, cuồng loạn, đó là điều luôn có thật và không thể phủ nhận. Lý thuyết về
chủ nghĩa luôn luôn phần lớn chỉ là sự cương đại. Sự thực hành về chủ nghĩa, nhất
thiết bao giờ cũng phần lớn là tham vọng cá nhân hay ảo tưởng. Nên nói khác đi,
tinh thần xã hội là một điều tốt, quan điểm xã hội là một điều hay. Nhưng nếu
nó biến thành "chủ nghĩa" xã hội như một thứ mô hình kiểu XHCN theo
công thức hai đoạn của K. Marx đưa ra thì thật sự chỉ mang tính ảo giác hay
tham vọng giả tạo. Cái gì mang tính khách quan, tự nhiên thì không thể có thứ
"chủ nghĩa" nào cả. Chỉ cái gì chủ quan, điên khùng, nhân tạo, mới có
thể là những thứ "chủ nghĩa" nào đó. Nhưng phù hợp theo khách quan
chính là khoa học và chính đáng. Không phù hợp theo khách quan chính là phản tự
nhiên và trái khoa học. Đấy luận về chủ nghĩa có thể tóm tắt như vậy. Giống như
nhà hiền triết phương Đông nổi tiếng thời cổ đại là Mạnh tử cũng có đưa ra một
chân lý khách quan với lời nói hay câu phát ngôn hoàn toàn hữu lý, giá trị,
"thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong" (順天者存, 逆天者亡),
và quan điểm này cũng chính là quan điểm của người thầy đã đi trước cả nhiều thế
hệ, hay là trước cả trăm năm đối với ông ta, đó là Khổng tử, cũng chính là như
vậy.
ĐẠI
NGÀN
(21/4/12)
**
ĐẠI
NGÀN says:
DI SẢN CỦA CÁC MÁC
Mác đã chọn định
hướng chủ nghĩa xã hội. Thực chất đó là một xã hội được tổ chức theo kiểu bầy
đoàn chặt chẽ, trên cơ sở duy vật và một nền kinh tế xã hội được tập thể hóa
cao độ. Lý thuyết không tưởng và phản xã hội khách quan đó, tất yếu chỉ mang
lại tính cách cá nhân chủ nghĩa cho những người nắm được quyền hành. Đó là
những người có cơ may, khôn khéo, lau lách giỏi, hưởng lợi nhiều, và cuối cùng
ban phát quyền lợi đó cho phe cánh, em út, cũng như thuộc hoặc con cháu. Sự
kiện đó càng ngày càng được chứng tỏ rõ ràng trong mọi nước cộng sản, trong đó
Trung Quốc chỉ là một điển hình nổi bật, vì diện tích đất đai rộng lớn và dân
số đông đảo nhất trên thế giới. Từ ý nghĩa đó, chủ nghĩa cộng sản hay định
hướng xã hội cộng sản do Các Mác đề ra cho thấy hoàn toàn ảo vọng, không thể
nào thực hiện được. Thế nhưng cái gọi là chủ nghĩa xã hội theo kiểu một hệ
thống tổ chức dựa trên quyền lực và vây cánh thì như một điều thật sự hiển
nhiên, phổ biến nhất. Hay nói khác đi, đó chính là di sản tất yếu của học
thuyết Mác cho tới ngày nay mà không là gì khác.
NON
NGÀN
(21/4/12)
(21/4/12)
**
NON
NGÀN says:
CON NGƯỜI VÀ CHỦ NGHĨA
Con người sinh ra
là để sống như con người, không phải để thực hiện “chủ nghĩa” này, chủ nghĩa
khác. Xã hội là môi trường sống tự nhiên, khách quan của con người, xã hội
không phải sản phẩm của cá nhân nhằm thực hiện “chủ nghĩa” này chủ nghĩa nọ.
Nói dễ hiểu, xã hội như rừng cây tự nhiên, cá nhân như một đơn vị tồn tại riêng
của rừng cây khách quan, tự nhiên đó. Pháp luật là đặc điểm của con người dùng
nâng yêu cầu sống khách quan, tự nhiên của chủng loại mình xứng đáng là loài có
lý trí, có khoa học, có văn hóa, không giống mọi loài sinh học bình thường
khác. Có nghĩa con người vừa có chiều cao lẫn chiều thấp, chiều rộng lẫn chiều
sâu. Chiều thấp là bản năng, chiều cao là lý tính, chiều rộng là xã hội, chiều
sâu là quan điểm sống, nhân sinh quan, tâm thức cá nhân riêng. Nói như thế, chủ
nghĩa chỉ là một quan điểm sống, một ý hướng theo đuổi của mỗi cá nhân trong
tính cá biệt, tự do của mình, chủ nghĩa không thể biến thành một thứ “tổ chức”
hay “công thức” xã hội, bắt mọi người phải theo. Chủ nghĩa kiểu đó chẳng qua là
sự cuồng điên của những cá nhân hay tập thể nào đó muốn chơi trò xã hội, muốn
biến xã hội phù hợp theo thị hiếu, tham vọng, hay những mưu đồ riêng của mình.
Điều này cũng chẳng khác những kẻ muốn chơi bonsai, nhưng thay vì chơi cây cỏ,
lại chơi nguyên cả xã hội.
Do vậy, từ trước
đến nay, trong lịch sử nhân loại chỉ có hai thử nghiệm đều đã thật bại về “chủ
nghĩa”, đó là chủ nghĩa phát xít của Hitler và chủ nghĩa cộng sản của Karl
Marx. Cả hai nhân vật nổi tiếng toàn cầu này đều là người Đức. Nên quả thật nếu
có người gọi diễu là tinh thần Đức trị, kể cũng không phải hoàn toàn nói dóc.
Hitler đã ảo tưởng về chủ nghĩa quốc xã, đề cao tinh hoa của giống dân Aryan
thượng thừa, mà hậu duệ được phong thánh, là dòng máu Đức theo kiểu chủ quan,
điên khùng. Cuối cùng điều đó đã từng gây nên tấn thảm kịch của đệ nhị thế
chiến, và Hitler vốn đã thành một tên tội đồ của bao dân tộc khác nhau. Bên
cạnh đó, Karl Marx lại cũng chủ trương phong thánh cho giai cấp công nhân một
cách hoàn toàn tưởng tượng. Và trong mục đích đó, Marx lại tưởng tượng ra thứ
gọi là “chủ nghĩa cộng sản khoa học” một cách không tưởng, dựa vào cơ sở lý
luận mang đầy tính viễn mơ, ngụy biện. Kết quan, Marx chủ trương chuyên chính
vô sản hay độc tài cộng sản để nhằm thực hiện tham vọng lý tưởng xã hội của
mình. Nhưng đó là một quan điểm lập luận đầy tính lập dị, tưởng tượng, thiếu cơ
sở khoa học thực tế, kết quả cũng thất bại, vì người đưa vào thực hiện được nhà
nước Liên Xô và khối XHCN trước đây trong thời gian ngắn ngủi già hơn nửa thế
kỷ nhưng cuối cùng cũng đã tan rã, không còn tồn tại. Như vậy tóm lại, chủ
nghĩa áp dụng trên xã hội chỉ là một thứ trò chơi xã hội mang đầy tính chủ
quan, hợm hĩnh, rồ dại và điên khùng. Mỗi thứ “chủ nghĩa” đều phải kèm theo một
“học thuyết” vớ vẩn nào đó, cũng như một “đội ngũ hành động” mang tính chất
cuồng tín, điên loạn nào đó. Đó là hai yếu tố cấu kết hay hỗ trợ, làm cơ sở và
điều kiện cho nhau. Chính đội ngũ hành động kém năng lực lý luận mới tin vào lý
thuyết hay học thuyết của chủ nghĩa. Chủ nghĩa cũng nhờ vào lực lượng hay sức mạnh
bản năng, cảm tính của đội ngũ hành động, với mọi loại tham vọng, ý hướng, mục
tiêu cá nhân mà làm nên sức mạnh của chủ nghĩa. Thế nhưng, trời đất sinh con
người luôn có bản năng tự nhiên, luôn có tham vọng tự nhiên, luôn muốn có điều
kiện sống hoàn toàn tự do, do vậy “chủ nghĩa” thực chất cũng chỉ giống như
những đợt cường triều nhất thời, tuy có gây ra bao cảnh tàn phá, oán than, tiếc
rẻ nào đó, nhưng cuối cùng rồi mọi sự khách quan vẫn trở về với mọi sự khách
quan. Chủ nghĩa do vậy phải thất bại và phải trả về các yêu cầu tự nhiên chính
đáng của cá nhân và xã hội con người. Nên nói cho cùng, con người cá nhân luôn
là những tồn tại khách quan, có mọi thuộc tính khách quan, tự nhiên của nó. Chủ
nghĩa chẳng qua chỉ là một ảo giác tham vọng, sự chủ quan nào đó của các cá
nhân hoặc tập thể, từ học thuyết đến thực tiển, chỉ có tính nhất thời và giả
tạo, nên cuối cùng đành phải thất bại, đào thải vì phạm nhiều nghịch lý và phản
lại mọi tính chất cũng như yêu cầu thực tiển chính đáng, thiết yếu của đời sống
khách quan. Chủ nghĩa thật sự cũng giống như trò chơi uốn cây cảnh, trò diễu
hành tập thể, trò diễu binh phô trương tham vọng, nó không có thực chất, không
khách quan, tự nhiên, mà chỉ là những thứ gồng mình giả tạo, rất dễ bị lạm dụng
và lợi dụng của nhiều người cho tham vọng ích kỷ hoặc cá nhân riêng. Bởi thế, ý
nghĩa về mặt thất bại hay hạn hẹp của mọi thứ chủ nghĩa, chỉ hoàn toàn là điều
không thể nào tránh khỏi. Chủ nghĩa nào thực tế cũng xuất phát từ những tham
vọng cá nhân, lý thuyết cũng như thực hành, chỉ vì cái tôi riêng, vô lý, hợm
hĩnh của mình, mà đưa xã hội vào trong vòng khống chế nghiệt ngã của tính cách
ích kỷ, cuồng loạn, đó là điều luôn có thật và không thể phủ nhận. Lý thuyết về
chủ nghĩa luôn luôn phần lớn chỉ là sự cương đại. Sự thực hành về chủ nghĩa,
nhất thiết bao giờ cũng phần lớn là tham vọng cá nhân hay ảo tưởng. Nên nói
khác đi, tinh thần xã hội là một điều tốt, quan điểm xã hội là một điều hay.
Nhưng nếu nó biến thành “chủ nghĩa” xã hội như một thứ mô hình kiểu XHCN theo
công thức hai đoạn của K. Marx đưa ra thì thật sự chỉ mang tính ảo giác hay
tham vọng giả tạo. Cái gì mang tính khách quan, tự nhiên thì không thể có thứ
“chủ nghĩa” nào cả. Chỉ cái gì chủ quan, điên khùng, nhân tạo, mới có thể là
những thứ “chủ nghĩa” nào đó. Nhưng phù hợp theo khách quan chính là khoa học
và chính đáng. Không phù hợp theo khách quan chính là phản tự nhiên và trái
khoa học. Đấy luận về chủ nghĩa có thể tóm tắt như vậy. Giống như nhà hiền
triết phương Đông nổi tiếng thời cổ đại là Mạnh tử cũng có đưa ra một chân lý
khách quan với lời nói hay câu phát ngôn hoàn toàn hữu lý, giá trị, “thuận
thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong” (順天者存,
逆天者亡), và quan điểm
này cũng chính là quan điểm của người thầy đã đi trước cả nhiều thế hệ, hay là
trước cả trăm năm đối với ông ta, đó là Khổng tử, quả chính là như vậy.
ĐẠI
NGÀN
(21/4/12)
(21/4/12)
**
NGÀN
KHƠI says:
ĐÂU LÀ SỰ THẬT
Khi Henry
Kissinger nói : “Why don’t these people die fast? The worst thing that could
happen would be for them to linger on”, rõ ràng trong sự ca thán này có hai ý
nghĩa cốt lõi. Một ý là “die fast”, còn ý kia là “the worst thing”. Có nghĩa
“die fast” is not “the worst thing”. Hay “to linger on” is “the worst thing”.
Quan niệm của Kissinger như vậy rõ ràng rất căm ghét và đánh giá rất tệ cộng
sản. Những người chống cộng hay không ưa CS ở miền Nam khi ấy dĩ nhiên cũng rất
căm ghét Kissinger, song tất nhiên họ không phải một phần nào đó cũng đồng quan
điểm đánh giá giống như H. Kissinger. Điều này tất nhiên nói một bên, còn phía
kia, những người cộng sản, tất yếu hoàn toàn phát ngôn công khai một quan điểm
ngược lại : chống Mỹ, cứu nước. Điều này rõ ràng không thể phủ nhận là nó tồn
tại trong suy nghĩ của rất nhiều người có ý thân cộng, ủng hộ hoặc chấp nhận
cộng sản, nhưng chắc chắn không phải đối với người cộng sản đúng nghĩa. Bởi
những người cộng sản đúng nghĩa họ có lập trường chủ nghĩa cộng sản rõ ràng,
không bao giờ mơ hồ chuyện “chống Mỹ, cứu nước”, mà chính là “chống Mỹ, để thực
hiện cách mạng, để làm cách mạng quốc tế vô sản”. Đây chính là một sự thật, chỉ
những ai không rõ hẵn điều này mới là người thơ ngây hay ngờ nghệch. Như vậy,
đối với người cộng sản chủ động, hành vi của Mỹ là hành vi can thiệp quốc tế
chống sự thực hiện chủ nghĩa cộng sản, tức chủ nghĩa Mác lêninít. Trái lại đối
với những người là sản phẩm của những người cộng sản đúng nghĩa, chân lý chính
là “chống Mỹ, cứu nước” thật sự. Có nghĩa chân lý hay sự thật khách quan chỉ có
thể ở ngoài con người, như các hiện tượng tự nhiên, các sự vật vật chất cụ thể
chẳng hạn. Trái lại chân lý hay sự thật chủ quan, chỉ là sự nhận thức theo trình
độ, theo hiểu biết, theo cảm tính, theo tình cảm theo thị hiếu, theo ước muốn.
Điều này không những chỉ đúng với cá nhân, với tập thể, mà trong nhiều trường
hợp nó cũng đúng cho cả một thế hệ, vài thế hệ, một dân tộc, hay một đất nước.
Như vậy, chữ “these people” mà Henry Kissinger vụt miệng nói ra ở đây, nó vừa
ám chỉ một tập thể người nào đó đơn lẻ, song biết đâu nó cũng hàm ý như cả một
dân tộc, cả một đất nước theo như quan điểm riêng của chính ông ta. Chỉ có điều
may mà trước chữ people vẫn còn cả cả chữ these, để người ta có thể hiểu được
một cách nhẹ nhàng hoặc cũng có phần ít “sốc” hơn. Tức đó là chỉ nhiều người cụ
thể, rõ ràng, mà không phải chỉ nhằm muốn ám chỉ “the People” như có ý tính
nguyên cả một dân tộc nói chung.
ĐẠI
NGÀN
(20/4/12)
(20/4/12)
**
ĐẠI
NGÀN says:
CHẾ ĐỘ CẤU KẾT, CHẾ ĐỘ BẢO HỘ,
VÀ CHẾ ĐỘ TỰ DO DÂN CHỦ
Chế độ cấu kết là
một hệ thống xã hội được tổ chức chặt chẽ, hoặc có kỹ luật hoặc không có kỹ
luật, trong đó các thế lực có máu mặt, có tư bản để đầu tư, hưởng lợi, cùng bắt
tay liên kết công khai hay ngấm ngầm với các thế lực nắm quyền hay quyền lực để
đôi bên cùng có lợi, cùng chia sẻ quyền lợi riêng với nhau, chỉ có quyền lợi
chung của xã hội là phải chịu thiệt hại. Bởi sự bắt tay như vậy không cần người
có tài, có trình độ, có năng lực nắm các hoạt động kinh tế hay công ích, mà chỉ
cần có ô dù che đỡ, có thế lực, quyền hành chính trị quả ngỏ con ông cháu cha.
Tính cách này là một sự lệch lạc, lạm dụng, coi thường xã hội mọt cách nghiêm
trọng, về phía những thế lực cấu kết cũng như những nhân vật được nặn ra do sự cấu
kết để cầm chịch mọi hoạt động kinh tế xã hội quan trọng hoặc thiết yếu.
Chế độ bảo hộ cũng
là một hệ luận của chế độ cấu kết. Bảo hộ có nghĩa là toàn thể xã hội được bảo
hộ bởi một tầng lớp, một thiểu số nắm quyền hay có thế lực nào đó. Bảo hộ có
nghĩa có người bảo hộ và người được bảo hộ. Người bảo hộ là người nắm quyền,
nắm thế lực, ban phát sự bảo hộ ra cho mọi người hay toàn xã hội. Người được
bảo hộ là người phải tuân thủ sự bảo hộ đó mà không được đi ra ngoài hay chống
đối lại sự bảo hộ. Chế độ bảo hộ rõ ràng là sự không bình đẳng, không dân chủ,
bởi vì nó đã được cơ cấu hay cấu trúc tiền chế ngay từ đầu. Người không có thế
lưc khi sinh ra đã được bảo hộ. Người có quyền hành hay có thể lực, khi sinh ra
đã tự nhiên có quyền bảo hộ người khác hoặc bảo vệ toàn thể một xã hội, một đất
nước hoặc một dân tộc.
Chế độ tự do dân
chủ là chế độ mọi người dân sinh ra đều tự nhiên bình đẳng, không ai có quyền
ưu tiên hay ăn trên ngồi trước người khác do quyền hành hoặc thế lực như kiểu
con ông cháu cha, cha truyền con nối, hoặc thuộc loại dân hạng nhất như kiểu
quý tộc loại mới chẳng hạn. Trong xã hội dân chủ như thế, mọi người cùng tuyển
chọn, bầu bán người có năng lực, trình độ, thiện chí, tài nằng để đại diện làm
việc công, mà không có kiểu chế độ theo cách quyền hành tư trên trời rơi xuống.
Chế độ dân chủ cũng là chế độ tự do, bởi vì nó không bị khống chế nhất định bởi
cá nhân nào, đoàn nhóm nào, hay lực lượng hoặc thế lực nào. Trong chế độ dân
chủ tự do thực chất, dĩ nhiên không thể có nạn con ông cháu cha, bởi vì mọi
người đều bình đẳng, tự do trước pháp luật công bằng và ngay thẳng. Đó đích
thật là chế độ toàn dân làm chủ thật sự mà không phải làm chủ kiểu danh nghĩa
hoặc giả tạo, tức không thật hoặc không có thực chất.
Nên tóm lại, giữa
ba chế độ cấu kết, bảo hộ và dân chủ thì chế độ dân chủ đúng nghĩa là chính
đáng, có chính nghĩa và tốt đẹp nhất. Nhưng chừng nào chế độ dân chủ còn chưa
được tôn trọng hay chưa được phát triển, bị khuynh loát, bị cấm đoán, hay bị
lủng đoạn, tất nhiên mọi sự khống chế phi lý đó sẽ tất yếu đưa đến, dung dưỡng
hay làm phát sinh chế độ cấu kết và chế độ bảo hộ. Chế độ cấu kết tất nhiên chỉ
có lợi cho thiểu số thế lực và nắm quyền, nó là sự bất công xã hội một cách
trắng trợn, một xã hội phi lý và tầm thường, thậm chí là rất tệ hại. Chế độ bảo
hộ mặt khác cũng chỉ là một khía cạnh tất yếu của chế độ cấu kết hoặc ngược lại
cũng vậy. Đó là hai chế độ tồn tại song hành, có cái này thì có cái kia, nhưng
cái duy nhất không thể có là chế độ dân chủ tự do đích thực và đúng nghĩa nhất.
Chế độ cấu kết cho thấy sự tà mị, gian dối. Chế độ bảo hộ cho thấy sự ngạo
ngược và khiếp nhược. Chỉ có chế độ tự do dân chủ đúng nghĩa và khách quan mới
thật sự là xã hội nghiêm túc, nhân bản, khoa học, đúng đắn và tốt lành nhất.
NGÀN
KHƠI
(20/4/12)
(20/4/12)
**
NON
NGÀN says:
SỰ TIẾN HÓA CỦA THỜI GIAN
Khi ông Hồ Chí
Minh mang chủ nghĩa Mác vào VN, ông kéo theo sau ông một lớp người ủng hộ ông,
phục vụ ông, giúp đỡ ông, ngã theo với ông, hưởng ứng trong mục đích cùng ông,
trong hàng ngủ đó tất nhiên có ông Bùi Tín cũng là một nhân vật hậu sinh của
ông Hồ rất khá quan trọng và nổi tiếng. Ông Bùi Tín từ lâu nằm trong hàng ngũ
của ông Hồ nên biết rõ và khá nhiều mọi sự việc có liên quan trong hàng ngũ và
thực tế đó. Dĩ nhiên, nếu so sánh những người cùng thời đại với ông Hồ, như các
ông Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh … thì thấy họ hoàn toàn khác với ông Hồ.
Những người khác với ông Hồ nói chung đều là những người đấu tranh chống Pháp
một cách độc lập, tinh thần yêu nước của họ hoàn toàn là tinh thần và tình cảm
dân tộc một cách chính đáng và tự nhiên. Sở dĩ họ chưa thành công là do hoàn
cảnh lịch sử quốc nội và quốc tế chưa cho phép, thế thôi, không phải họ vụng về
hay bất lực. Trong khi đó, ông Hồ thực chất đã tham gia vào phong trào cộng sản
quốc tế ngay từ đầu. Lý tưởng và mục đích của ông Hồ không thuần túy chỉ là chủ
nghĩa dân tộc mà đó chính là chủ nghĩa quốc tế. Học thuyết quốc tế vô sản của
Mác và Lênin đó là chân lý, cơ sở, mục tiêu đấu tranh của ông Hồ mà không là gì
khác. Kỹ thuật biện luận của Mác, kỹ thuật tuyên truyền của Lênin cũng sao cũng
đã được thấm nhuần, được trang bị vào tận tâm hồn, máu huyết của ông mà những
người khác ông như trên không thể nào có, cho dầu họ có muốn hay không muốn có.
Nói cách khác, những người đó không ở trong tổ chức quốc tế, còn ông Hồ thì
ngược lại. Vậy sự hậu thuẫn và sự thành công của ông Hồ, khác với những người
khác ông, đó một phần lớn hay chủ yếu có mang tính quốc tế đương thời của nó.
Ngoài điều đó ra, nó cũng còn là kỹ thuật lôi kéo thành công và khéo léo của
ông Hồ qua các hoàn cảnh lịch sử, kể cả cho tới ngày nay, sau khi ông đã qua
đời từ non nửa thế kỷ. Sự nghiệp của ông Hồ quả đúng là sự nghiệp quốc tế về
nhiều mặt, chính là như thế. Hình ảnh của ông Hồ do vậy cũng là hình ảnh của
mọi lãnh tụ trong phong trào cộng sản quốc tế mà không là gì khác. Có nghĩa nó
luôn luôn được tuyên dương như một thần tượng có một không hai, khi chết rồi
thì được vinh danh đời đời và được xây lăng tẩm, đó như một công thức phổ biến
mà bất kỳ ai có nhận thức đều cũng phải thấy. Nên nói chung lại, những người
như các ông Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, cho tới Nguyễn Hữu Thọ hay
Huỳnh Tấn Phát v.v… nếu không phải là một phụ bản thì cũng là sản phẩm tự
nhiên, truyền thống, miên viễn của ông Hồ mà không là gì khác. Chính ông Hồ
cũng đáng nói hơn ông Ngô Đình Diệm là như thế. Ông Ngô Đình Diệm và các sản
phẩm truyền thống về sau của ông ta, cho tới ông Nguyễn Văn Thiệu, thì cũng
thế. Họ cũng chỉ là sản phẩm của thời đại trong hoàn cảnh dân tộc khách quan,
nhưng đều không phải một sản phẩm kiểu quốc tế đúng nghĩa như chính ông Hồ. Nói
rõ hơn, nếu ý nghĩa dân tộc, quốc gia của ông ông Hồ nếu có, nó cũng chỉ là một
khía cạnh mơ hồ nào đó trong ý nghĩa của chủ nghĩa quốc tế nơi ông vẫn luôn như
là sợi dây chủ đạo. Nên nói cho cùng, ngày nay trong mọi người VN nói chung,
thật sự đều chỉ có hai khuynh hướng chính yếu quan trọng nhất, là khuynh hướng
ca ngợi, tôn vinh ông Hồ, hay khuynh hướng ngược lại. Khuynh hướng đầu đó,
không ngoài là khuynh hướng quốc tế, tức quốc tế cộng sản, hoặc chí ít cũng như
là một quán tính còn lại một cách tự nhiên. Còn khuynh hướng sau, nếu không
phải là những chủ đích cá nhân, thực chất là khuynh hướng ngược lại, tức khuynh
hướng quốc gia, dân tộc mà không là gì khác. Đại thể lịch sử cận đại của VN chỉ
là như vậy. Tuy nhiên, trong dòng đại thể đó lại có nhiều điểm phân hóa về thời
gian khác nhau. Mà một trong những sự phân hóa nổi bật đáng nói đó, chính là sự
cố Bùi Tín, vẫn là nổi bật nhất. Không xét mọi khía cạnh khác nhau nếu có, chỉ
xét duy nhất về khía cạnh chính danh của lịch sử, sự kiện Bùi Tín quả là hiện tượng
phân hóa theo hướng quay trở về ý nghĩa dân tộc, sau một thời gian dài của nó
như là một ý nghĩa sản phẩm do ông Hồ Chí Minh đã gieo rắt, đào tạo, cũng giống
như chính bản thân của ông Hồ ngay từ đầu đã được đào tạo, giúp đỡ và chi phối
ra trong phong trào cộng sản hay vô sản quốc tế, mà học thuyết Mác Lênin chính
là một khởi đầu bao quát khởi thủy nhất.
NGÀN
KHƠI
(20/4/12)
(20/4/12)
**
NON
NGÀN says:
NHÀ SƯ VÀ CHÍNH TRỊ
Theo nguyên lý
Phật giáo, nhà sư không thể làm chính trị. Điều này có hơi khác với Thiên chúa
giáo hoặc một vài tôn giáo nữa. Lý do đạo Phật hoàn toàn xuất thế. Người tín đồ
Phật giáo, người cư sĩ Phật giáo, tức tu tại gia, còn có khuynh hướng coi đời
là huyễn ảo, huống là nhà sư, người đã hoàn toàn xuất gia và mặc y giáo màu
vàng hay màu nâu cũng vậy. Ý nghĩa của nâu sồng hay ý nghĩa của tấm y đạo được
chắp bằng nhiều mảnh của đạo Phật nói rõ lên điều đó. Đời là huyễn ảo, thế giới
là sắc sắc không không, mục đích của tu chứng hay của đạo pháp là nhằm đến giải
thoát, ý nghĩa tối hậu là về niết bản, thế thì làm chính trị đâu có mang ý
nghĩa gì, đâu có giá trị gì, bởi chính trị là trần tục, là cỏi ta bà, cái đúng
hay cái sai cũng chỉ là hiện tượng, cái hay hoặc cái dở, cái tốt hoặc cái xấu
cũng chỉ là vô thường. Phật từ một hoàng tử, tức một nhà vua, người của quyền
uy thế tục, thế mà đã xuất gia, thế thì thử hỏi chính trị còn có mục đích hay
cơ sở nào. Cho nên nói đạo Phật là đạo nhập thế, từ bi phải quan tâm tới cuộc
đời, đó chỉ là ngụy luận, nói để mà nói, vì thực chất trái hẳn với tôn chỉ tự
nhiên của đạo Phật, chỉ vì mục tiêu bào chữa, ngụy biện cho các mục đích nào đó
của người đạo Phật có liên quan đến điều đó mà thôi. Tất nhiên không ai chối
cãi trong lịch sử đất nước, có nhiều nhà tu hành và Phật tử của triều Trần,
triều lý đã tham gia chiến đấu chống ngoại xâm phương Bắc, tham gia vào các
hành vi chính trị của đất nước, hậu thuẫn cho triều đình, nhưng đó phải hiểu là
yếu tố con người trong người Phật tử đó tham gia chiến đấu, tham gia chính trị
vì lợi ích chung, vì chính nghĩa, không phải là yếu tố tu sĩ đã làm nên người
chiến sĩ hay người tham gia chính trị hoặc tham chính đó. Như vậy rõ ràng cần
phân biệt con người trong người Phật tử và con người Phật tử trong tính cách là
người tu chứng thật. Cũng chính vì thế, không ai phủ nhận ông Thích Trí Quang
là nhà sư, nhưng chắc chắn nhiều người hiểu biết vẫn có quyền nói chính nhà sư
Thích Trí Quang đã từng làm chính trị. Có nghĩa ông Thích Trí Quang quả đã có
lập trường chính trị riêng của mình. Lập trường đó có thể là lập trường khuynh
tả, lập trường cách mạng vô sản, hay nói khác đi là lập trường cộng sản. Nếu
khuynh hướng đó không phải thuần túy trăm phần, ít ra nó cũng đa phần, hay nói
khác không phải hoàn toàn không đúng như vậy. Cái cớ bảo vệ đạo pháp, thật sự
không hoàn toàn chính yếu hoăc đầy đủ. Bởi bảo vệ đạo pháp trong những trường
hợp như thế có thể chỉ mang tính cách nhất thời. Nhưng chỉ là mục đích chính
trị riêng biệt và độc lập thì mới có tính thường xuyên cũng như đầy các khía
cạnh cũng như quyết tâm chiến lược và chiến thuật hoàn toàn thống nhất và kiên
cường mà mọi người đều có thể nhận ra được. Song đó là cái quyền riêng của ông
Thích Trí Quang, do hoàn cảnh lịch sử riêng của bản thân mình, do tình huống
hay hoàn cảnh khách quan, tự nhiên của lịch sử bên ngoài đưa đẩy, nhưng đó cũng
chỉ là hành động của một người có đạo (Phật) như ông, mà không bắt buộc đó phải
là hành vi của người thuần thành là tu sĩ. Song có điều, hành vi chính trị như
vậy của riêng bản thân ông Thích Trí Quang hoàn toàn không phải là hành vi duy
nhất của cá nhân, song ông lại kéo theo cả nhiều người Phật tử ửng hộ ông, kéo
theo cả một bộ phận Phật giáo nào đó tự đồng hóa với bản thân ông, tự coi ông
như một lãnh tụ chính trị của tôn giáo (đạo Phật) mới là điều đáng nói nhất.
Tôn giáo chủ yếu là xuất thế, nhất là đạo Phật, một tôn giáo hoàn toàn không
màng đến thế tục, tục lụy, mà cái tục lụy cao nhất, điển hình nhất lại chính là
chính trị, vậy mà ông Thích Trí Quang lại lăng xả vào, một cách hoàn toàn năng
động, tích cực, nhiệt tình và cương quyết nhất, thì rõ ràng ông ta đã là con
người chính trị, đã là yếu tố chính trị, nhăt là và kể cả yếu tố chính trị
khuynh tả hay cách mạng giấu mặt, đó mới chính là điều đáng nói nhất. Bởi tôn
giáo thì không bao giờ có khuynh hướng về cái gì mình cho là sai lầm. Trong khi
đó, chính trị không ai bảo đảm là tuyệt đối đúng, mà chỉ là mối quan hệ đấu
tranh cho quyền hành, quyền lợi hay lý tưởng là điều có thể đúng hoặc sai. Điều
này cũng có nghĩa chính trị và tôn giáo không thể nào tuyệt đối thống nhất hay
hòa hợp cùng nhau. Vậy mà người tôn giáo kiểu như ông Thích Trí Quang làm chính
trị một cách rất cương quyết, kiên trì, dai dẵng và nhiệt tình, điều đó chỉ có
nghĩa hay hoàn toàn cho thấy yếu tố chính trị trong ông Thích Trí Quang đã hoàn
toàn trội vượt, nổi bật hơn cả yếu tố tôn giáo mà ông vốn có. Bàn thờ xuống đường,
lôi kéo hay cổ vũ được cà một khối lượng quần chúng đông đảo, cho dù đúng hoặc
sai, cần thiết hoặc không cần thiết, đó vẫn chắc chắn chủ yếu là hành động hoặc
yếu tố chính trị hơn là hành vi hoặc thái độ của con người thuần túy tôn giáo.
Tử những yếu tố đó, người ta có thể suy đoán ông Thích Trí Quang là một người
giác ngộ cách mạng, một người được tổ chức bố trí nhằm cấy vào chính trị, hay
nói cách đơn giản là con người có mục tiêu đấu tranh khuynh đảo chính trị như
một điều chắc chắn. Bây giờ thì mọi việc đã qua, mọi tính cách chính trị đương
thời lúc đó đều cũng đã bật ngữa hay bị lật ngữa. Tất cả những điều đó mọi
người khác đều có quyền ức đoán về ông Thích Trí Quang, song chỉ những người
nào đã vận động hay tổ chức được ông, cũng như chính bản thân ông mới biết được
một cách thật sự hoàn toàn đầy đủ, khách quan, tường tận, và chính xác nhất.
Dầu sao mọi hành đồng vận động tôn giáo cho chính trị điều đó cũng nói lên chắc
chắn đó không phải là hành vi tôn giáo thuần túy mà quả là hành vi chính trị tôn
giáo, hay thậm chí là hành vi hoàn toàn chính trị, được xuất phát từ một cá
nhân tôn giáo như ông Thích Trí Quang chẳng hạn. Có nghĩa đây chính là một nhà
sư làm chính trị, hay chính trị đã vận động được nhà sư hoặc đã tổ chức được
nhà sư cũng chính là như thế.
ĐẠI
NGÀN
(19/4/12)
(19/4/12)
**
NON
NGÀN says:
CHÍNH TRỊ VÀ SỰ NÓI DỐI
Trong trạng thái
và điều kiện bình thường, con người không ai thích điều sai sự thật hay điều
dối gạt. Bởi như thế chúng đều không ích lợi gì, rất thấp kém, mà phần lớn lại
chỉ có hại. Chính trị là mục đích tranh giành ảnh hưởng, quyền lợi, mục đích
hay kết quả lý tưởng nào đó. Để đạt được mục đích đó, có khi chính trị và quân
sự đều cần nói dối. Cần nói dối bởi vì chính trị và quân sự bao giờ cũng cần
được thêm hậu thuẫn, cần thêm lực lượng. Nói dối là cách để tạo thân thế, để tạo
dư luận nhằm cho chiến thắng. Người ta nói chính trị và quân sự là mưu mô, xảo
quyệt chính là như thế. Bởi quân sự hay chiến tranh, muốn thắng lợi có khi cần
hư hư thực thực, đó là chiến lược, chiến thuật nghi binh, dụ địch mà ai cũng
biết. Song chiến tranh hay quân sự không bao giờ tự quyết định được một mình.
Mà ý nghĩa, thực chất, hay mục tiêu của nó chính là chính trị. Có nghĩa sự nói
láo trong quân sự chỉ là kỹ thuật, nhưng sao nói láo trong chính trị mới chính
là ý nghĩa bản chất hay tính cách tự thân của nó, nếu khi nào nó trở nên như
nguyên lý thường xuyên. Trong ý nghĩa như thế, vấn đề đặt ra là tại sao chính
trị lại phải nói dối theo kiểu bản chất. Chỉ có thể hoặc đối phương quá dối nên
đối lại phải dối hơn thế để mới chiến thắng được đối phương. Nếu đối phương
không thật sự dối, có nghĩa chỉ do bản chất của phía đối nghịch lại đó là dối.
Như vậy chính trị hay sự dối gạt không thể chỉ xét đơn lẻ, mà cần xét cả hai
mặt, hai vế. Từ đó để xem bản chất hay yêu cầu dối gạt có cần thiết hay không,
và nếu nó trở thành bản chất thường xuyên không có lý do hay lý lẽ biện minh
chính đáng, liệu bản thân nó có còn đạo đức hay không. Như trên đã nói, sự nói
dối hay gạt gẫm trong chính trị và quân sự hoặc chiến tranh không phải chỉ nhằm
vào đối phương, mà chính nhằm vào thành phần ở ngoài, tức thành phần thứ ba,
hay thành phần xã hội, mọi người, hoặc toàn dân. Nếu vậy sự nói dối hay sự lừa
gạt vô hình chung trở thành việc xem thường con người, xem thường xã hội, coi
con người, xã hội, hay mọi người như chỉ là công cụ, phương tiện hay chỉ là cỏ
rác. Tính nghịch lý hay mâu thuẫn giữa chính trị và sự dối gạt chính là như
thế. Chính trị tốt thì không thể chỉ có dối gạt. Nói khác sự dối gạt chỉ là bất
đắc dĩ trong các tình huống nào đó. Nhưng nếu sự dối gạt trở nên thường xuyên
như một thời kỳ quá độ liên tiếp và không ngừng để đạt tới được đích điểm hay
mục đích sau cùng, có nghĩa điều đó đã không còn là đạo đức, không còn là chân
lý, không phải là yêu cầu khách quan, thiết yếu nào đó mà chỉ còn là bản chất
phi đạo đức tự nhiên của cá nhân, của tập thể, hoặc ngay cả của một lý thuyết.
Bởi chỉ có thể do một học thuyết không bình thường mới tạo nên những thái độ
hoặc cung cách thực hiện không bình thường. Chỉ có thể có những cá nhân không
bình thường, tức không quan tâm lắm về mặt đạo đức bình thường mới thể hiện ra
những hành vi hoặc lời nói không bình thường, tức là ngôn ngữ nói dối hay hành
vi không lành mạnh vì dối gạt. Nên nói tóm lại, chính trị, con người và sự nói
dối hay không nói dối, luôn luôn là mối quan hệ về bản chất mà không phải chỉ
là nhất thời hay hiện tượng. Đây là điều rất đáng tiếc, bởi nó liên quan đến xã
hội, đến mọi người, và đến cả tư cách đạo đức hay khoa học khách quan của một
học thuyết liên quan nào đó mà thông thường mọi người lại ít khi để ý tới. Bởi
vì nếu nói theo kiểu người xưa, tức theo đời cổ đại, chính trị vương đạo thì
không thể nói dối, chỉ chính trị bá đạo mới ưa nói dối hay cần nói dối. Nhưng
chính trị vương đạo mới là chính trị chính đáng muôn đời. Trái lại chỉ có chính
trị bá đạo mới là chính trị phi giá trị, phi ý nghĩa và phi mục đích khách quan
đúng đắn nhất. Từ đó cũng suy ra được con người không bao giờ là thực thể lý
tưởng, xã hội cũng thế. Có nghĩa sự đấu tranh giữa cái chính danh và cái phi
chính danh, giữa cái trung thực và cái nói dối, giữa cái ngay thẳng và cái tà
mị luôn luôn có, không đời nào lại triệt tiêu hay hoàn toàn tiêu diệt chúng
được. Điều đó cũng có nghĩa việc tuyên truyền về một xã hội hoàn hảo, việc rắp
tâm thực hiện một xã hội hoàn hảo, việc đưa ra một lý thuyết cho một xã hội
hoàn hảo, thực chất đó cũng chỉ là một sự ngụy tín hoặc ngay là những sự nói
dối trắng trợn chỉ vì những lý do nào đó. Nói khác đi, chân lý hay sự thật
khách quan luôn là sự đấu tranh tự phát giữa cái tốt và cái xấu nhằm cho cái
tốt được phát triển. Ngược lại mọi điều khẳng định về một cái tốt nào đó mang
tính cách tiền đề, tiền lệ hay tiền chế, thực chất vẫn luôn là sự nhân danh giả
ảo hay nói khác đi tự trong bản thân nó đã chính là sự dối gạt hay chỉ là sự
nói dối từ trong bản chất hoặc mục tiêu của nó.
NGÀN
KHƠI
(19/4/12)
(19/4/12)
**
ĐẠI
HẢI says:
KHÔNG AI CÓ THỂ ĐƯA TAY CHE MÃI MẶT TRỜI
Vì những lý do nào
đó một người có thể đưa tay để che mặt trời trong chốc lát, nhưng không ai có
thể đưa tay che mãi mặt trời trong suốt cuộc đời của mình. Nói như thế để thấy
rằng cái khách quan không thể bị cái chủ quan phủ nhận, cho dù sự phủ nhận đó
có như thế nào và mục đích ra sao. Ở đây muốn nói thế nào là chủ nghĩa quốc tế
và chủ nghĩa quốc gia dân tộc mà chắc vẫn còn rất nhiều những người mơ hồ hay
lẫn lộn. Tất nhiên, nói là là nói những người hiểu biết, những người từng trải,
những người kinh qua sự việc, những người có vị trí, những người đã sống trong
những thời kỳ lịch sử khác nhau, không nói những người hoàn toàn mù mờ hay
không biết bất kỳ cái gì khác hơn là cái ăn, cái sống. Tức ở đây cũng muốn nói
về những người VN có ý thức, những con dân của một dân tộc có hiểu biết, có sự
nhìn xa thấy rộng, hoặc ít nhất cũng không phải hoàn toàn mù mờ, mơ hồ, ù ù cạc
các, thế thôi.
Chủ nghĩa quốc gia dân tộc thật ra là quan niệm sống, ý chí phấn đấu của bất kỳ những công dân nào tại mọi đất nước nào trên thế giới hay trên hành tinh xanh này từ cổ chí kim. Đó là lý tưởng đất nước, lý tưởng xã hội, dân tộc tự nhiên ở tại mỗi quốc gia mà mỗi người đang sống. Cái thực tế này là điều hoàn toàn khách quan, như là chân lý tự nhiên, như là sự thật vốn dĩ hoàn toàn thiên cổ.
Chủ nghĩa quốc gia dân tộc thật ra là quan niệm sống, ý chí phấn đấu của bất kỳ những công dân nào tại mọi đất nước nào trên thế giới hay trên hành tinh xanh này từ cổ chí kim. Đó là lý tưởng đất nước, lý tưởng xã hội, dân tộc tự nhiên ở tại mỗi quốc gia mà mỗi người đang sống. Cái thực tế này là điều hoàn toàn khách quan, như là chân lý tự nhiên, như là sự thật vốn dĩ hoàn toàn thiên cổ.
Thế nhưng từ ngày
có chủ nghĩa hay học thuyết Các Mác ra đời, vào khoảng giữa thế kỷ 19 tại châu
Âu, khi giai đoạn kinh tế tư bản chủ nghĩa đang phất lên ở nhiều nước bên trời
Tây, là học thuyết chủ trương quốc tế vô sản, giương cao ngọn cờ đấu tranh đấu
tranh giai cấp trên toàn thế giới. Chủ yếu là đi đến một thế giới xóa bỏ mọi
biên cương quốc gia, lấy giai cấp vô sản làm chủ thể lịch sử nhằm giải phóng
toàn thế giới theo hướng quan điểm chủ nghĩa Mác tức là chủ nghĩa quốc tế vô
sản. Cuộc cách mạng đỏ trên toàn thế giới đó bắt đầu bằng Lênin ở Nga vào năm
1917, sau đó nhà nước Liên xô thành lập và phát triển ra toàn thế giới. Ông Hồ
Chí Minh ở VN và ông Mao Trạch Đông ở Trung Quốc là hai nhân vật chính trị đầu
tiên đi theo chiều hướng đó. Cả hai ông thực tế đều được tổ chức hoặc lấy cảm
hứng từ cuộc cách mạng vô sản ở Liên xô, sau đó thành lập lên được đội ngủ cách
mạng chung quanh mình và cuối cùng thành lập được hai nhà nước cộng sản cho đến
nay mà mọi người đều biết. Thế nhưng hoàn cảnh của Trung Quốc hoàn toàn khác
với hoàn cảnh tại VN. Ở Trung Quốc chế độ cộng sản được thành lập kinh qua nội
chiến, nhưng ở VN còn có cả giai đoạn của chủ nghĩa can thiệp quốc tế, phía
chống cộng sản cũng như phía cộng sản. Đó hoàn toàn là một sự thật. Tuy nhiên,
trừ những người lãnh đạo chóp bu, quần chúng, cán bộ, chiến sĩ, quân đội ở dưới
đều luôn luôn được động viên, hô hào chủ nghĩa dân tộc để nhằm tạo nên được sức
mạnh. Song kết quả cuối cùng vẫn là xã hội hướng theo chủ thuyết lêninnít hay
chủ nghĩa quốc tế vô sản, kinh qua đấu tranh chính trị vũ trang, kinh qua chiến
tranh các thứ, là điều hoàn toàn khách quan không thể chối cãi. Sự thật như
thế, nhưng qua báo chí, truyền thông, sự thật đó không bao giờ hoàn toàn hay
tuyệt đối được những người lãnh đạo công khai thừa nhận với nhân dân trừ ra
trong nội bộ guồng máy của chế độ. Thế nhưng ngày nay sau bao nhiêu chuyển biến
khách quan của lịch sử, tất cả đều trở thành lá bài lật ngữa, và không ai còn
mơ hồ điều gì nữa, trừ ra giới bình dân nào quá thấp kém, không hiểu biết hoặc
một thiểu số người nào đó còn hoàn toàn mù quáng chỉ tin vào ý nghĩa tuyên
truyền, hay chỉ sống bằng niềm tin hoàn toàn cảm tính hay tình cảm giả tạo về
chính trị. Ngày nay sau hầu một thế kỷ thời gian trôi qua, học thuyết hay chủ
nghĩa Mác đã hoàn toàn thất bại, vì nó chỉ là ảo tượng và ngụy biện. Đó là điều
cho thấy chính chủ nghĩa dân tộc ở mọi nơi đã chiến thắng. Điều đó nay phát
triển thành quan điểm toàn cầu trong nền thị trường tự do phi mác xít. Chủ
nghĩa mác xít lêninnít thực chất là chủ nghĩa kinh tế tập thể. Cơ chế này hoàn
toàn phản tự nhiên và giả tạo. Nó chỉ có thể đưa đến xã hội bao cấp, phản tự
do, phản tiến hóa. Đó là chân lý hiển nhiên ngày nay không sao chối cãi, không cần
lý thuyết dẫn giải mà chỉ cần thực tiển chứng minh cũng đủ. Trước đây ở một số
nơi chủ nghĩa Mác thắng lợi vì nó núp dưới cái bóng của tinh thần yêu nước, của
chủ nghĩa dân tộc. Đó chỉ là sự nhân danh giả tạo, vì những người lãnh đạo cách
mạng mác xít đều hoàn toàn biết rõ điều đó. Song chủ nghĩa Mác khi đã thành
hình, nó trở thành một xã hội quán tính, chỉ có vận động theo cơ chế tập thể mà
không còn quyền tự quyết của cá nhân quyết định được nữa, đó là quy luật chuyển
động của thế giới vật thể, hoàn toàn vật chất. Chính trong tính cách đó mà dù
ngày nay chủ nghĩa Mác và khối cộng sản quốc tế thực chất đã hoàn toàn biến
đổi, song quán tính của nó vẫn cứ còn ở một số nước. Đó chính là cách lý giải
của điều gọi là nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nói
chung, chủ nghĩa cộng sản và sau này là chủ nghĩa Mác, vẫn luôn luôn là một
niềm ám ảnh ngay từ thời cổ xưa đối với một phần nhân loại. Sự ám ảnh đó chỉ
khi nào được đưa vào hiện thực mới thôi còn ám ảnh. Khi đó không còn ám ảnh
nữa, nó lại trở thành quán tính. Đó chính là điều mà có thể nói là không ai có
thể lấy tay để che mặt trời mãi mãi, hay sự thực khách quan bao giờ cũng chỉ là
sự thực khách quan mà không thể nào hay không bất cứ ai có thể mãi mãi tiếp tục
chủ quan được mãi. Lịch sử đã qua thì không bao giờ trở lại được như lúc đầu.
Mọi sự vật chuyển động theo quán tính cũng y như thế. Nó không thể trở lại lúc
ban đầu những nó cũng không thể nào mãi mãi giữ nguyên như cũ. Mọi sự tiến lên
đều luôn luôn tất yếu. Ngày nay mọi sự phi mác xít và phi quốc tế vô sản cũng
hầu như chắc chắn đã trở thành tất yếu. Sự kiện ngày 25-1-2006, Quốc hội Âu
Châu họp tại Strasbourg (Pháp), với đa số áp đảo, bằng 99 phiếu thuận, 42 phiếu
chống, đã đưa ra nghị quyết số 1481 phi bác học thuyết Mác và phong trào cộng
sản hay cách mạng vô sản quốc tế cũng không ngoài chỉ là một hệ luận như thế.
Có nghĩa dòng sông lịch sử thế giới phải mãi mãi trôi đi mà không bao giờ quay
lại được điểm cũ, điểm cũ tiền mác xít hay điểm cũ của cuộc “cuộc cách mạng
long trời lở đất” thì cũng như thế. Mác thực chất đã đưa ra một học thuyết lập
dị không giống ai, và sự lập dị không giống ai đó tuy đã hấp dẫn hay khống chế
được một số lớn nhiều người, nhưng cuối cùng thì cũng chính sự lập di không
giống ai đó đã phản bội lại ông ta, giống như tự nó đã phản bội lại chính lịch
sử khách quan tự nhiên của cả loài người cũng chính là như vậy.
ĐẠI
NGÀN
(18/4/12)
(18/4/12)
**
NGÀN
KHƠI says:
THÂN PHẬN HẬU THUỘC ĐỊA
Khi nền kinh tế tư
bản chủ nghĩa phát triển cũng kéo theo chế độ thực dân ra đời. Đó là tính tất
yếu khách quan của lịch sử. Việt Nam thật sự chỉ là một nước nhỏ ở Đông Nam Á
châu bị rơi vào vòng xoáy của lịch sử thế giới đó. Có nghĩa tư bản chủ nghĩa
trước hết đã phát triển ở châu Âu, châu Mỹ hay phương Tây nói chung. Còn chế độ
thực dân hay thuộc địa lại được thực hiện ở các châu lục khác, trong đó có châu
Á, mà cụ thể có VN là trường hợp như thế. Rõ ràng xu thế này không thể đảo
ngược.
Bởi tiến trình
lịch sử khách quan nó đã như vậy. VN không thể đi ra ngoài hậu quả đó. Trừ phi
VN đã biết canh tân sớm như Nhật Bản để có thể đã trở thành một nước phát triển
vào thời đó như họ. Trung Hoa thì thân phận chẳng khác gì VN. Bởi nhà Thanh
cũng chẳng hơn gì triều Nguyễn của VN vào cuối thế kỷ thứ 19. Chế độ thuộc địa
có nghĩa sự thi đua, cạnh tranh nhau trong khai thác thuộc địa để phục vụ cho
kinh tế tư bản chủ nghĩa và phục vụ cho nước cai trị bằng chế độ thuộc địa.
Mặt khác, bất kỳ
chế độ chính trị xã hội nào cũng khai sinh ra một tầng lớp người phục vụ cho sự
hiện diện và phát triển của nó. Các nho sĩ trong thời quân chủ phong kiến, các người
tây học trong chế độ thực dân thuộc địa cũng giống như thế.
Thế nhưng, bất kỳ
hiện tượng xã hội nào cũng mang tính lưỡng diện của nó. Chế độ thực dân, thuộc
địa cũng có khía cạnh tiêu cực lẫn khía cạnh tích cực của nó nơi xã hội mà nó
thống trị. Tất nhiên khía cạnh hay mặt tiêu cực vẫn lấn lướt hơn mặt tích cực.
Có nghĩa sự kiềm hãm, sự khai thác, bóc lột thuộc địa vẫn chủ yếu hơn là các
thành quả xây dựng, văn hóa, giáo dục, chính trị, hành chánh, phát triển văn
minh, hiện đại hóa, mà nó mang lại trong suốt giai đoạn hay thời kỳ liên quan
đến chế độ thuộc địa đó. Tất nhiên ở đây ngoài ra cũng phải nói đến sự đấu
tranh và sự đàn áp giữa nhân dân của nước thuộc địa và chính quyền thuộc địa.
Song từ tất cả mọi
khía cạnh nêu trên, vấn đề hay yếu tố hoàn cảnh, yếu tố con người vẫn là điều
đáng nói đến nhất. Tức là hoàn cảnh nào, yếu tố con người nào để một nước trở
thành đi khai thác thuộc địa, và hoàn cảnh, con người nào để một nước trở thành
một đất nước bị khai thác thuộc địa. Đây chính là ý nghĩa lớn nhất mà nhiều
người không để ý. Có nghĩa không những tại sao Pháp lại khác VN vào thời đại
đó, mà cả tại sao Nhật Bản lại khác VN cũng trong hoàn cảnh của thời đại đó.
Trách kỷ, trách
bỉ, đó là nguyên lý mà người xưa vẫn nói. Phần lớn người ta hay chỉ trách người
Pháp đến nước ta khai thác thuộc địa, nhưng lại ít trách người mình tạo hoàn
cảnh để tự rơi vào chế độ thuộc địa và không thoát ra khỏi chế độ thuộc địa
suốt trong một thời gian dài.
Cho nên sự phân
tích của tác giả Nguyễn Văn Lục về thực trạng hậu thuộc địa hay hội chứng hậu
thuộc địa tại VN sau khi người Pháp rút đi khi chế độ thực dân chấm dứt tại VN,
cũng chỉ là mô tả thực tế với nhiều khía cạnh khách quan, phong phú khác nhau,
nhưng không phân tích các nguyên nhân, nguồn gốc tại sao các sự việc lại diễn
ra trong khách quan và thực tế như thế.
Nên nói tóm lại, ý nghĩa chính trị nào cũng đi theo với nó khía cạnh quan hệ dân sự của nó. Chính quan hệ dân sự hay xã hội dân sự là điều quyết định cho phát triển kinh tế xã hội mà không phải duy nhất chỉ chế độ chính trị. Chẳng hạn sau khi chế độ thực dân thuộc địa chấm dứt, VN lại rơi vào chiến tranh liên miên và đi vào thể chế mác xít lêninnít cũng là một đặc trưng mà không phải nước nào cũng có. Tất cả điều đó, ngoài nguyên nhân là hậu quả hay hội chứng hậu thuộc địa như ông Lục muốn nói, mà trong đó cũng còn cả yếu tố hoàn cảnh, yếu tố con người, hay nói rộng ra là bản chất dân tộc tính mà liệu chúng ta có thể phủ nhận. Trong bài ông Lục cũng nói nhiều đến khoa học, như y khoa, văn hóa, văn chương và triết học. Tất nhiên nói cụ thể, ông ta cũng nhấn mạnh nhiều đến khía canh văn hóa, giáo dục nói chung, như là một thứ hội chứng từ chương trình giáo dục, cho đến con người, tức chủ thể giáo dục và đối tượng giáo dục. Nhưng có điều ông ta chưa nói tới là thứ giáo dục giáo điều của miền Bắc, thứ văn hóa chính trị đề cao đảng tính và lãnh tụ của miền Bắc cũng như sau khi đất nước đã được hòa bình và thống nhất, liệu những điều đó thuộc hội chứng nào ? Hội chứng hậu thuộc địa hay hội chứng cộng sản chủ nghĩa. Nên nói cho cùng lại, bản chất dân tộc, mối quan hệ dân sự trong xã hội, hay xã hội dân sự nói chung, nó vừa là hậu quả mà cũng là nguyên nhân của mọi thứ hội chứng tiêu cực mà người ta muốn nói đến. Hội chứng hậu thuộc địa có liên quan đến hội chứng quốc tế vô sản, hội chứng hậu giải phóng khỏi chế độ thực dân, thuộc địa, để đi vào một ý niệm giải phóng mới, giải phóng kiểu ý thức hệ hóa và chuyên chính hóa về chính trị, nhằm khống chế, lẫn vô hiệu hóa mọi quan hệ xã hội dân sự đã có một cách tự nhiên và cố hữu, đó cũng chính là những điều rất cần thiết phải được nói đến. Khía cạnh tiêu cực và tích cực của cá nhân, khía cạnh tiêu cực và tích của chính trị, khía cạnh tiêu cực và tích cực của các yếu tố xã hội cũng như khía cạnh tiêu cực và tích cực của các yếu tố chính trị khác nhau, cũng đều có thể hoặc cũng cần được đưa vào cả trong các hội chứng theo kiểu cần mổ xẻ ra một cách đầy đủ và sâu xa chính là như vậy. Bởi trong bất kỳ hoàn cảnh hay điều kiện xã hội nào, cũng gồm những cá nhân tiêu cực và những cá nhân tích cực tạo nên xương sống hay góp phần làm cho nó tồn tại và phát triển hoặc trì trệ và lạc hậu cũng chỉ là những lẽ đó. Có lẽ nếu có thời gian, ông Nguyễn Văn Lục cần đi sâu thêm vào các khía cạnh và đặc điểm cũng như những thực tế này lại càng bổ ích biết mấy.
Nên nói tóm lại, ý nghĩa chính trị nào cũng đi theo với nó khía cạnh quan hệ dân sự của nó. Chính quan hệ dân sự hay xã hội dân sự là điều quyết định cho phát triển kinh tế xã hội mà không phải duy nhất chỉ chế độ chính trị. Chẳng hạn sau khi chế độ thực dân thuộc địa chấm dứt, VN lại rơi vào chiến tranh liên miên và đi vào thể chế mác xít lêninnít cũng là một đặc trưng mà không phải nước nào cũng có. Tất cả điều đó, ngoài nguyên nhân là hậu quả hay hội chứng hậu thuộc địa như ông Lục muốn nói, mà trong đó cũng còn cả yếu tố hoàn cảnh, yếu tố con người, hay nói rộng ra là bản chất dân tộc tính mà liệu chúng ta có thể phủ nhận. Trong bài ông Lục cũng nói nhiều đến khoa học, như y khoa, văn hóa, văn chương và triết học. Tất nhiên nói cụ thể, ông ta cũng nhấn mạnh nhiều đến khía canh văn hóa, giáo dục nói chung, như là một thứ hội chứng từ chương trình giáo dục, cho đến con người, tức chủ thể giáo dục và đối tượng giáo dục. Nhưng có điều ông ta chưa nói tới là thứ giáo dục giáo điều của miền Bắc, thứ văn hóa chính trị đề cao đảng tính và lãnh tụ của miền Bắc cũng như sau khi đất nước đã được hòa bình và thống nhất, liệu những điều đó thuộc hội chứng nào ? Hội chứng hậu thuộc địa hay hội chứng cộng sản chủ nghĩa. Nên nói cho cùng lại, bản chất dân tộc, mối quan hệ dân sự trong xã hội, hay xã hội dân sự nói chung, nó vừa là hậu quả mà cũng là nguyên nhân của mọi thứ hội chứng tiêu cực mà người ta muốn nói đến. Hội chứng hậu thuộc địa có liên quan đến hội chứng quốc tế vô sản, hội chứng hậu giải phóng khỏi chế độ thực dân, thuộc địa, để đi vào một ý niệm giải phóng mới, giải phóng kiểu ý thức hệ hóa và chuyên chính hóa về chính trị, nhằm khống chế, lẫn vô hiệu hóa mọi quan hệ xã hội dân sự đã có một cách tự nhiên và cố hữu, đó cũng chính là những điều rất cần thiết phải được nói đến. Khía cạnh tiêu cực và tích cực của cá nhân, khía cạnh tiêu cực và tích của chính trị, khía cạnh tiêu cực và tích cực của các yếu tố xã hội cũng như khía cạnh tiêu cực và tích cực của các yếu tố chính trị khác nhau, cũng đều có thể hoặc cũng cần được đưa vào cả trong các hội chứng theo kiểu cần mổ xẻ ra một cách đầy đủ và sâu xa chính là như vậy. Bởi trong bất kỳ hoàn cảnh hay điều kiện xã hội nào, cũng gồm những cá nhân tiêu cực và những cá nhân tích cực tạo nên xương sống hay góp phần làm cho nó tồn tại và phát triển hoặc trì trệ và lạc hậu cũng chỉ là những lẽ đó. Có lẽ nếu có thời gian, ông Nguyễn Văn Lục cần đi sâu thêm vào các khía cạnh và đặc điểm cũng như những thực tế này lại càng bổ ích biết mấy.
ĐẠI
NGÀN
(17/4/12)
(17/4/12)
**
Võ
Hưng Thanh says:
THẬT LÀ KHÓ NÓI
Nhà nước nào cũng
có pháp luật, nếu chỉ nhân danh pháp luật, để cho rằng bất cứ người nào không
theo ý nhà nước đó là vi phạm pháp luật, và trên cơ sở đó để mang ra xử tội,
thì sẽ chẳng có ai dám nói, hay được quyền nói điều gì ra không thuận tai nhà
nước đó cả. Nhà nước nào cũng có hệ thống tòa án, các quan tòa hành xử chức
năng ăn lương của nhà nước đó, xét xử theo lệnh của nhà nước đó, thế thì mọi
tội phạm chính trị đều không thể qua lọt được bản án, và bất kỳ ai nói không
trúng theo, hay hành động không khớp theo nhà nước đó, phải đều bị xử có tội
cả. Mọi người sinh ra đều bình đẳng với nhau, quyền phát biểu chính kiến là
quyền tự nhiên, chính đáng, nếu không có tà ý, lạm dụng, mà ngay thẳng, khách
quan, ít ra cũng trong cách nhìn chủ quan phần nào của người đó, thì đó vẫn là
điều hoàn toàn cần thiết và hữu lý. Nên nói chung lại, một nhà nước nào dân
chủ, tự do, tiến bộ, thì nhà nước, tòa án, luật pháp, nhân dân trong nhà nước
đó phải cùng nhìn về một hướng, một mục tiêu, mục đích, mà không phải chỉ nhìn
về bản thân mình. Bởi chỉ nhìn về bản thân riêng mình, ai cũng chỉ có quyền lợi
riêng, có chủ quan riêng, tất yếu phải luôn đấu tranh, kình chống, không thiện
chí, chỉ nhằm loại trừ nhau. Trái lại, nếu chỉ nhìn đến mục đích, ý hướng chung
là lợi ích cao nhất của con người, của xã hội, của dân tộc, của đất nước, mà
không để cái tư riêng, thấp kém nào xen vào, như thế mới có thể hòa hợp nhau,
tương tác nhau, thông cảm nhau, cùng nhau ích lợi và cùng nhau xây dựng. Đó
chính là nguyên lý dân chủ, tự do đúng mức nhất, là cơ sở khách quan của mọi
nhà nước, mọi pháp luật, mọi hệ thống tòa án, mọi tính cách của xã hội dân sự
cũng như mọi công dân. Các Mác ngày xưa đã viết một câu xanh rờn muôn thuở :
“Nhà nước hay pháp luật, luôn luôn là công cụ của giai cấp thống trị để chà đạp
lên giai cấp bị trị”. Chính lý thuyết đấu tranh giai cấp và ý niệm chuyên chính
của Mác đã thật sự không khách quan và tai hại là như thế. Cho nên một xã hội
dân chủ, tự do thực chất, hiện đại ngày nay, tất yếu không thể là xã hội theo
lối mác xít ngoan cường, xa cũ nữa, mà phải là xã hội nhân văn, nhằm mọi người
đều phải cùng nhìn về một hướng, trong tinh thần tự chủ, độc lập, tự do, tự
giác, tiến bộ, mang tính chất xã hội có thực chất và cao độ, chính là chân lý khách
quan theo lẽ như thế đó.
NGÀN
KHƠI
(16/4/12)
(16/4/12)
**
Võ
Hưng Thanh says:
THƯƠNG THAY VIỆT NAM
Một trăm năm nô lệ
thực dân Pháp, rồi đến phát xít Nhật, mọi người VN đều mong ước một đất nước
thanh bình, hạnh phúc, phát triển. Có lẽ trong tinh thần và nguyện ước chính
đáng đó mà cuộc cách mạng tháng 8 năm 1945 tương đối đã dễ thành công, rồi đến
cuộc chiến tranh Pháp Việt 1945 – 1954 cũng cuối cùng thắng lợi về phía người
Việt. Nhưng rồi cuộc chiến tranh Nam Bắc 1954 -1975 không thể gọi là cuộc chiến
tranh giải phóng dân tộc thuần túy nữa, mà dần dần rõ nét là cuộc chiến tranh ý
thức hệ, có lẫn vào đó yếu tố quốc tế của hai phe đối địch cộng sản và tư bản ở
khắp năm châu. Điều đó nếu không ai thấy ra, rõ ràng là lấy vải thưa che mắt
thánh, rõ ràng tự ngụy tín, hoặc rõ ràng dốt nát, khờ khạo hoặc hoàn toàn mù
quáng, mất phương hướng, thiếu ý thức độc lập, tự do. Bởi vì sau 1954, miền Bắc
rõ ràng đã có sự hậu thuẫn, đỡ đầu của phe Liên xô và XHCN. Miền Nam sau 1954
rõ ràng có sự đỡ đầu của Mỹ và các đồng minh tư bản, chống cộng. Đó là sự kiện
miền Bắc tuyên bố tiến nhạnh lên CNXH và chiếu cố miền Nam. Miền Nam từ chế độ
Ngô Đình Diệm đến chế độ Nguyễn Văn Thiệu đều tự tuyên bố rõ ràng là tiền đồn
chống cộng của thế giới tự do hay thế giới tư bản. Nói chung lại là hai chiếc
dù. Chiếc dù đỏ quốc tế cộng sản cắm tại miền Bắc, chiếc dù xanh tư bản chủ
nghĩa cắm tại miền Nam. Bởi vì nếu không phải vậy, từ 1954 tại miền Bắc đã
không xảy ra cải cách ruộng đất theo lối kinh tế tập thể tập trung kiểu Nga sô
viết của Lênin và Trung Quốc, cũng như không có đấu tố dã man, phi lý mà ai
cũng thấy là do tư tưởng mác xít lẫn Mao Trạch Đông. Ấy vậy như từ khoảng năm
1963 trong Nam có MTDTGPMNVN của ông Nguyễn Hữu Thọ ra đời. Trong đó có chữ dân
tộc và chữ giải phóng là đậm nét nhất. Nhưng lá cờ của MT lại nửa đỏ nửa xanh
có ngôi sao vàng ở giữa. Lúc đó phần lớn chỉ thấy các ông Nguyễn Hữu Thọ và
Huỳnh Tấn Phát có thể không phải là đảng viên CS. Nhưng sau này mọi người mới
biết, nói vậy mà không phải vậy. Kể cả thành phần thứ ba khi ấy cũng tin, hay
cũng giả đò tin như thế. Nói tóm lại, sợi chỉ đỏ xuyên suốt từ ông Hồ Chí Minh
đến ông Nguyễn Hữu Thọ với lý tưởng cộng sản từ đầu chí cuối. Sau năm 75, chỉ
cần xóa nửa màu xanh trên nền cờ đi, thế là nước Việt Nam thống nhất XHCN với
màu cờ đỏ sao vàng nguyên thủy xuất hiện trên cả nước là điều hoàn toàn tự
nhiên, khách quan. Cũng thế, sợi chỉ xanh xuyên suốt từ Bảo Đại qua Trần Trọng
Kim, đến Ngô Đình Diệm rồi Nguyễn Văn Thiệu thì cũng thế, tức là không CS hay
là chống CS. Chính Dương Văn Minh là gạch nối vừa bi tráng vừa khôi hài để tiến
tới một nước VN thống nhất dưới chủ nghĩa mác xít lêninnít. Điều này bây giờ đã
hoàn toàn công khai trong cả nước và trên toàn thế giới giống như lá bài đã
công nhiên lật ngữa, chẳng ai không biết. Cho nên dầu có nói cũng không còn
ngại ngùng gì, không còn tác hai gì, vì nay không còn chuyện kín của riêng ai,
mà đã là chuyện công khai của bàng dân thiên hạ tứ phương tám hướng. Thế nhưng,
điều đáng tiếc không phải là sự thống nhất đất nước, cũng không phải là chế độ
chính trị nào, vì kẻ thắng lợi thì vẫn ưa thích muốn mặc chiếc áo của mình, mà
chính là nguyên nhân nào đã dẫn đến cuộc vượt biên vĩ đại của hàng nhiều triệu
người sau khi hòa bình lập lại, nguyên nhân nào đã dẫn đến cải tạo tư sản công
thương nghiệp, sự truất hữu ruộng đất tận kỳ cùng của những người tư sản, sự
học tập cải tạo đại trà đối với toàn bộ sĩ quan cũ, sự loại bỏ hoàn toàn hệ
thống hành chánh, trí thức cũ, sự hụt hẫng và chảy máu, cùng tê liệt chất xám
trên toàn quốc, sự đào tạo mới vừa hồng vừa chuyên nhưng hồng là chính và
chuyên thì vá víu, nửa vời, giả tạo, lạc hậu. Đó mới là điều đáng thương thay
cho VN trong gần suốt một thế kỷ. Trong tính cách đó, thành phần yêu nước giả
tạo, giả đò không phải không có, thành phần cơ hội không phải không nhiều,
thành phần trí thức, văn nghệ sĩ nửa mùa, thiếu tinh thần ý thức độc lập, tự
chủ, hay thậm chí điếu đóm, tầm vơ, không phải không có, có khi còn có nhiều là
khác, do được đào tạo bài bản, chính quy không đúng cách, hay chỉ là loại người
ngọn cỏ gió đùa, cuốn theo chiều gió. Đó là điều đáng thương thay cho đất nước
VN, dân tộc VN, chính là như thế đó. Nhưng rồi quá khứ cũng lại qua đi, lịch sử
tất nhiên không lặp lại, bây giờ từ lâu xã hội cả nước cũng đã đi vào hội nhập,
đi vào đổi mới, mọi việc cũng đã trở lại bình thường. Có chăng cái không bình
thường cũng chỉ vẫn còn là việc rượu mới bình cũ thế thôi. Thế giới đã sang
trang, lịch sử loài người đã sang trang với bao tình huống và nội dung hiện đại
mới mẽ, lịch sử dân tộc thực tế cũng đã sang trang. Sự sang trang hoàn toàn
lặng lẽ, thật hoàn toàn khác với bao nhiêu hô hào, cường điệu và bao nhiêu khổ
đau hoành tráng trong thời kỳ chiến tranh kéo dài thảm khốc của một quá khứ vẫn
được nhiều người từng đã hân hoan đón nhận như một thực tế hết sức vĩ đại, oanh
liệt và hào hùng. Hình như đây là bản chất lãng mạn của người VN nói chung,
hoặc như một sự lãng mạn bất đắc dĩ không hoàn toàn khách quan, hay cái được
gọi là lãng mạn cách mạng có thể gọi được là chủ quan của một số người VN nào
đó nói riêng.
NGÀN
KHƠI
(16/4/12)
(16/4/12)
**
Võ
Hưng Thanh says:
NGUYÊN LÝ VÀ THỰC TIỂN
Năm ngoái tôi có
viết một bài ngắn trên ĐCV nhan đề “Nguyên lý và thực tiển” để nhấn mạnh tầm
quan trọng của nguyên lý so với thực tiển. Thế nhưng một vài người hạn hẹp,
không nhìn sâu được vấn đề tỏ ra dè bỉu, chê bai. Nay qua đoạn trích dẫn từ bài
phát biểu của ông Nguyễn phú Trọng tại Trường Đảng Cao cấp Nico Lopez ở Cuba,
và sự chứng minh phản biện qua bài viết của ông Nguyễn Thanh Giang, tôi xin
được trở về chủ đề trên đây của tôi như sau.
Rõ ràng ai cũng
thấy rằng tuy không nói ra đầy đủ, nhưng ý kiến của ông Trọng không ra ngoài
điều ông muốn khẳng định răng nguyên lý học thuyết Mác là hoàn toàn đúng đắn,
khách quan, cần theo đuổi. Đó chính là những gì mà thực tế kinh tế xã hội Việt
Nam ngày nay đã nhất thiết theo đuổi cũng như đã thực hiện được.
Thế nhưng điều ông
Trọng nói, chính ông Nguyễn Thanh Giang lại phản biện ngược lại. Ông Nguyễn
Thanh Giang cho rằng những thực tế ông Trọng nói ờ VN là hoàn toàn không đúng,
tức đó không phải là thực tiển muốn được xác nhận.
Nói cụ thể hơn,
ông Nguyễn Phú Trọng cho rằng các nguyên lý của chủ nghĩa Mác là hoàn toàn
chính xác, khách quan, cần thiết, đúng đắn. Do đó, theo nguyên lý đúng như thế,
tất thực tiển cũng phải đúng, và những gì xảy ra tại VN đến nay là hoàn toàn
thực tế như thế. Điều này đã bị ông Nguyễn Thanh Giang dùng các số liệu cụ thể
cũng như những thực tế khách quan nhằm hoàn toàn hay phần nhiều bác bỏ.
Ở đây tôi không
nghiêng theo ông Trọng, cũng không nghiêng theo ông Giang. Tôi chỉ nói theo ý
riêng của mình là :
Theo tôi, vấn đề
không phải là chủ nghĩa Mác mà chỉ là vấn đề khoa học, nhân văn và thực tiển.
Có nghĩa điều gì
mang tính chất khoa học, nhân văn và thực tiển thì nên làm và chắc chắn hợp
lòng người cũng như nhất thiết phải tốt đẹp và thành công.
Nhân văn có nghĩa
là phục vụ con người, phục vụ xã hội một cách đúng đắn, khách quan, hiệu quả.
Khoa học có nghĩa là hữu lý, sáng suốt, không mù quáng, không mơ hồ. thực tiển
nghĩa là chỉ lấy cơ sở khách quan làm tiêu chuẩn, không cuồng tín, không hão
huyền, không chủ quan hay độc tài độc đoán một cách hoàn toàn phi cơ sở đúng
đắn.
Trong ý nghĩa như
thế, yếu tố con người, yếu tố xã hội, yếu tố lịch sử đúng đắn là điều cần theo
đuổi, không thể vì một lý thuyết mơ hồ, một ý thức hệ không kiểm chứng, một
quán tính sáo mòn, một niềm tin bảo thủ, một suy đoán lý thuyết trừu tượng, một
khẳng định theo cảm tính hay tình cảm nào đó.
Trong ý nghĩa như
thế thì các quan niệm của lý thuyết Mác là hoàn toàn không bảo đảm, bời vì nó
quá xa thực tiển tâm lý con người, quá xa nhu cầu dân chủ tự do tự nhiên của xã
hội dân sự, mang tính cách ảo tưởng và mơ mộng vì quá ức đoán về tương lai mà
hoàn toàn không có chứng minh nào cụ thể, chỉ là niềm tin hão huyền hay một
khẳng định độc đoán mà không cho phép hay không cần sự phản biện. Tất cả các
tính cách đó chính thực tiển thế giới ngày nay đã chứng minh sự hữu lý và phù
hợp giữa tính nguyên lý và tính thực tiển trong xã hội tư bản hơn là sự hữu lý
và phù hợp giữa tính nguyên lý và tính thực tiển trong xã hội kiểu mác xít
lêninnít. Tức một bên là khoa học khách quan, còn một bên là giả khoa học, hay
ức đoán khoa học.
Nên nói cho cùng lại, nguyên lý có nghĩa lý luận khoa học xác đáng, đúng thực tiển, phù hợp tính lô-gíc. Từ đó thực tiển là kết quả của nguyên lý đúng đưa vào áp dụng thì bao giờ cũng hiệu quả và kết quả chắc chắn. Ngược lại, nếu lý luận nào đó phi lô-gíc, kém lô-gíc, có phần nào đó ngụy biện hay giả tạo, tất nhiên cũng không cho phép một thực tiển có kết quả hay có giá trị thực tế nào đó xảy ra được. Theo tôi chính học thuyết Mác rơi vào trường hợp như thế mà ngày nay phần lớn mọi người đều thấy. Cho nên chẳng qua ông Nguyễn Phú Trọng chỉ nói về một nguyên lý mà ông tin tưởng nhưng không chứng minh cụ thể được. Đó chỉ là niềm tin do thói quen, tình cảm, cảm tính hay quán tính vốn có. Còn ngược lại ông Nguyễn Thanh Giang chỉ căn cứ vào thực tế theo ông để phản biện lại. Đây không phải chuyện ông nói gà bà nói vịt, nhưng thật ra chỉ là chuyện nguyên lý nằm ở kênh khác còn thực tiển nằm ở kênh khác thế thôi. Có nghĩa chúng hoàn toàn gán ghép và không phù hợp nhau nên cũng không thể nào đồng nhất hoặc thích đương được. Đó chính là điều tôi muốn rút ra, chính là nguyên lý và thực tiển luôn đi đôi với nhau. Do vậy chỉ khi nào nguyên lý đúng thì mới có thể có được thực tiển đúng. Bởi nguyên lý khoa học luôn luôn quyết định và nổi trội so vớithực tiển thực tế và khách quan. Đồng thời vấn đề ý nghĩa đạo đức cũng thế. Đạo đức là điều tốt đẹp phù hợp với nguyên lý khách quan. Đạo đức hoàn toàn không phải chỉ là sở thích hay thị hiếu không phù hợp hay đi ngược lại với nguyên lý khoa học và khách quan. Nói khác đi, đạo đức luôn luôn tốt. Song đạo đức phải trên cơ sở nguyên lý lý tính đúng đắn, không phải chỉ tưởng tượng hay chủ quan trên cơ sở cảm tính, phi nguyên lý khoa học và trái lại với thực tại khách quan.
Nên nói cho cùng lại, nguyên lý có nghĩa lý luận khoa học xác đáng, đúng thực tiển, phù hợp tính lô-gíc. Từ đó thực tiển là kết quả của nguyên lý đúng đưa vào áp dụng thì bao giờ cũng hiệu quả và kết quả chắc chắn. Ngược lại, nếu lý luận nào đó phi lô-gíc, kém lô-gíc, có phần nào đó ngụy biện hay giả tạo, tất nhiên cũng không cho phép một thực tiển có kết quả hay có giá trị thực tế nào đó xảy ra được. Theo tôi chính học thuyết Mác rơi vào trường hợp như thế mà ngày nay phần lớn mọi người đều thấy. Cho nên chẳng qua ông Nguyễn Phú Trọng chỉ nói về một nguyên lý mà ông tin tưởng nhưng không chứng minh cụ thể được. Đó chỉ là niềm tin do thói quen, tình cảm, cảm tính hay quán tính vốn có. Còn ngược lại ông Nguyễn Thanh Giang chỉ căn cứ vào thực tế theo ông để phản biện lại. Đây không phải chuyện ông nói gà bà nói vịt, nhưng thật ra chỉ là chuyện nguyên lý nằm ở kênh khác còn thực tiển nằm ở kênh khác thế thôi. Có nghĩa chúng hoàn toàn gán ghép và không phù hợp nhau nên cũng không thể nào đồng nhất hoặc thích đương được. Đó chính là điều tôi muốn rút ra, chính là nguyên lý và thực tiển luôn đi đôi với nhau. Do vậy chỉ khi nào nguyên lý đúng thì mới có thể có được thực tiển đúng. Bởi nguyên lý khoa học luôn luôn quyết định và nổi trội so vớithực tiển thực tế và khách quan. Đồng thời vấn đề ý nghĩa đạo đức cũng thế. Đạo đức là điều tốt đẹp phù hợp với nguyên lý khách quan. Đạo đức hoàn toàn không phải chỉ là sở thích hay thị hiếu không phù hợp hay đi ngược lại với nguyên lý khoa học và khách quan. Nói khác đi, đạo đức luôn luôn tốt. Song đạo đức phải trên cơ sở nguyên lý lý tính đúng đắn, không phải chỉ tưởng tượng hay chủ quan trên cơ sở cảm tính, phi nguyên lý khoa học và trái lại với thực tại khách quan.
ĐẠI
NGÀN
(16/4/12)
(16/4/12)
**
Võ
Hưng Thanh says:
TƯ SẢN VÀ VÔ SẢN
Học thuyết Các Mác
phủ nhận, lên án tư sản, và chủ trương vô sản, là điều hết sự phản tự nhiên và
phi lý. Tư hữu như phương tiện phụ vụ đời sống, là điều khách quan của mọi giới
sinh vật, trong đó có loài người. Tư hữu như công cụ sản xuất xã hội, là nguyên
tắc khách quan, phù hợp tâm lý, ý thức tự nhiên của cá nhân và xã hội về mặt
sản xuất xã hội. Chính pháp luật là yếu tố điều tiết, nhằm khắc phục những phi
lý xã hội để đi đến phát triển và tiến bộ. Mác cường điệu hóa ý niệm vô sản, ý
niệm bóc lột, ý niệm đấu tranh giai cấp, ý niệm kinh tế tập thể. Đó là tất cả
những gì không đúng với quy luật khách quan, không phù hợp với quy luật khoa
học tự nhiên, cuối cùng kéo xã hội đi xuống, làm cho cá nhân nghèo nàn về mọi
mặt, chỉ trừ ra một thiểu số cơ hội, thời cơ, lủng đoạn mọi người bằng quyền
lực, bằng quán tính, bằng sự tuyên truyền giả tạo. Tất cả khiến xã hội dân sự
bị khống chế, què quặt, chỉ còn xã hội chính trị giả tạo, guồng máy kinh tế xã
hội chủ yếu phục vụ giai tầng thống trị, cấu kết, tiêu cực, tham nhũng, nhân
danh mọi sự nhưng không có thực chất. Bởi xã hội chính trị giả tạo đã nuốt
chửng, tiêu hóa xã hội dân sự, làm thành một cơ chế tập thể giả tạo, phi hiệu
quả, phản hiệu quả trong kinh tế sản xuất phát triển cũng như về mọi mặt trong
văn hóa và đời sống của cá nhân và xã hội. Đó là kết quả của sự lập dị, giả
tạo, cương đại, ảo tưởng, trong hệ thống tư duy kinh tế xã hội và lịch sử nói
chung của Các Mác. Mác thổi phồng ý niệm giai cấp vô sản và ý niệm bóc lột mà
không phân tích khoa học các ý nghĩa khách quan, chính xác, hay hoàn toàn tự
nhiên của chúng. Sự lệch lạc đó lẫn việc dựa vào biện chứng luận Hegel một cách
giả tạo và mù quáng, khiến Mác đưa vào một hệ thống lý luận đầy lập dị, phản
thực tế, huyễn tưởng, để cuối cùng đi đến những kết quả lý luận kiểu tẩu hỏa nhập
ma, khiến xã hội mất phương hướng, trở thành chủ quan, luẩn quẩn và đầy những
giả tạo, cũng như những sự tai hại trong thực tế khách quả đời sống, khiến cho
mọi người đều bị khống chế, chỉ trừ một thiểu số nắm quyền hành sử dụng sự
tuyên truyền nhân danh đủ thức mà phi thực chất và phản hiệu quả. Sự ngây thơ
hay cố tình không phân biệt giữa ý nghĩa mục đích và ý nghĩa công cụ của tài
sản, của tư hữu là lỗi lầm tai hại nhất của Mác. Ông ta chỉ thấy cây che rừng.
Chỉ nhìn tiểu tiết, vi mô về kinh tế xã hội mà không nhìn ra các tính cách vĩ
mô hay đại tượng của nó. Từ đó hằn sâu ý niệm bóc lột một cách giả tạo, đồng
thời huyễn hoặc nền kinh tế tập thể trong một xã hội cộng sản ảo tưởng trong
tương lai xa vời hoàn toàn mù mờ, ức đoán, phi cơ sở khách quan, ngược lại với
mọi nguyên tắc ý thức, tâm lý tự nhiên của cá nhân và xã hội. Tính cách phản
con người, phản xã hội khách quan của toàn bộ học thuyết Mác chính là như thế.
ĐẠI
NGÀN
(16/4/12)
(16/4/12)
**
Ngàn
Khơi says:
TUYÊN TRUYỀN VÀ LÃNH ĐẠO
Người có lòng vì
dân vì nước có mục đích vì quốc gia dân tộc trước tiên phải tìm cách cổ vũ để
tập hợp động viên nhân dân, gây sức mạnh cho việc lãnh đạo. Nhưng việc tuyên
truyền đó phải có chính nghĩa, tức không được trái sự thật, xa sự thật. Bởi
tuyên truyền là để hướng dẫn dân chúng, xã hội một cách đúng đắn, không thể lợi
dụng, lạm dụng, không thể mị dân, tạo ảnh hưởng bằng mọi cách, mọi thủ đoạn, kể
cả những thủ đoạn ma đầu. Bởi vậy chỉ nhìn vào cách tuyên truyền cũng biết được
người lãnh đạo có tâm huyết, thật tình vì nước, vì dân hay không, hay chỉ vì
các mục đích riêng tư hoặc riêng biệt nào đó. Cũng vì thế, để tránh bị hiểu
lầm, người lãnh đạo luôn luôn phải kiểm tra, giám sát việc tuyên truyền, khi
nào thấy bị lạm dụng, đi lệch hướng vì dân vì nước thiệt tình, cần phải uốn
nắn, thích nghi lại. Trái lại nếu không làm như thế, miễn sao thấy có lợi cho
mình là được, điều đó cũng đã nói lên công khai tính cách của người lãnh đạo đó
như thế nào rồi. Đó là lúc chưa cầm quyền được còn như thế. Nhưng khi đã cầm
quyền rồi, nếu sự tuyên truyền không nhắm giáo dục lành mạnh cho nhân dân,
ngược lại chỉ nhằm làm u mê dân, mị dân, lừa dối dân, tính cách của người lãnh
đạo khi ấy đã hoàn toàn hiện rõ, không có gì phải bản cãi nữa. Sự tuyên truyền
quan trọng như thế, nên nếu người lãnh đạo nào, giới lãnh đạo nào, trong hoàn
cảnh và giai đoạn ra sao, vẫn xem nó như là công cụ chính yếu nhằm tranh giành
quyền lực, bảo vệ quyền lực, củng cố quyền lực là chính, thì điều đó chỉ qua
dấu ấn của việc làm cũng đánh giá ngược lại được của mọi người lãnh đạo, tùy
theo thời điểm nhất định, thuộc lại bất xứng hay không bất xứng, có giá trị dân
tộc hay không dân tộc, có ý nghũa yêu nước thật sự hay không yêu nước thật sự.
Sự tuyên truyền hoàn toàn khác sự giáo dục. Sự giáo dục là mang lại, trang bị
cho người khác thông tin khách quan, khoa học, chính xác, đúng đắn, giá trị,
hữu ích. Trái lại sự tuyên truyền chỉ nhằm để khuyến dụ, lôi kéo người khác làm
sao để có lợi cho mình, thủ lợi cho mình, có khi bất chấp tất cả. Cũng có khi
người ta hay có thói quen sử dụng cụm từ tuyên truyền giáo dục. Thực chất đó
vẫn nặng về tuyên truyền hơn về giáo dục. Tức giáo dục trong mục đích tuyên
truyền hay tuyên truyền trong mục đích lạm dụng vụ lợi. Có nghĩa cụm từ đó chỉ
mang nghĩa xấu, ẩn ý, mà không phải nghĩa tốt, vô tư, đúng đắn, khách quan. Nhà
lãnh đạo chính đáng thì chỉ nặng về giáo dục, không nặng về tuyên truyền. Chỉ
người lãnh đạo nào không đúng đắn mới có ý hướng ngược lại. Trong tính cách như
thế, nếu lãnh đạo mà chỉ nặng về guồng máy tuyên truyền, được thể hiện qua chế
độ, chính sách, ngân sách, quyền lợi ưu tiên cho tuyên truyền, cũng cho thấy
chính sách bất cập, chính sách hư ảo của quan điểm lãnh đạo đó ra sao. Nơi cụ
thể, bộ máy tuyên truyền chính trị trong chế độ phát xít trước kia, và bộ máy
tuyên truyên chính trị ở những đất nước cộng sản đều cho thấy tuyên truyền như
một loại công nghiệp rất được chú trọng. Điều đó về thực chất khách quan đã cho
thấy sự méo mó trong mục đích lãnh đạo nếu không nói tính cách không chính danh
trong ý thức và tinh thần của người lãnh đạo.
ĐẠI
NGÀN
(13/4/12)
(13/4/12)
**
Non
Ngàn says:
CHỦ NGHĨA MÁC
Chủ nghĩa hay học
thuyết Mác là chủ nghĩa quốc tế vô sản, tên thông dụng là chủ nghĩa cộng sản.
Nếu chủ nghĩa Mác hoàn toàn đúng, chắc có lẽ mọi người đã theo hết, chắc có lẽ
nó đã thành công từ tám hoánh rồi trên toàn thế giới. Thế nhưng sau bao cuộc
cách mạng cộng sản đây đó trên toàn thế giới, sau bao hi sinh quá mức của số
lớn nhân loại, sau bao cuộc chiến tranh tàn tệ, khốc liệt, sau bao chính sách
chính trị kinh hoàng, cuối cùng ngày nay chủ nghĩa Mác đã thât bại, một phần
thế giới cộng sản được thành lập trên thế giới nay cũng đã không còn. Điều đó
chứng tỏ chủ nghĩa Mác hay học thuyết quốc tế vô sản là không thực tế, không
hiệu quả, không đi đến kết quả. Vậy nhưng còn rất nhiều người vì lý do này lý
do khác tới nay vẫn không thấy điều đó. Có nghĩa quan điểm của con người nhiều
khi chỉ là quán tính, thói quen, cảm tính hay tình cảm nào đó mà chưa hẳn đã
hoàn toàn lý tính hay tính chất hữu lý, hợp lý của nó. Vậy thì đấu tranh trong
cuộc đời là đấu tranh về thực tế mà không chắc là đấu tranh về lý tưởng. Nói
quốc gia hay quốc tế, dân tộc hay thế giới cũng chỉ là cách nói có giá trị đối
với người hữu lý mà không giá trị đối với người phi lý, bất chấp lý. Tinh thần,
ý thức quốc gia dân tộc là điều tốt, điều hoàn toàn thực tế, nhưng không phải
ai cũng có. Thế cho nên cái sai đúng, hay dở ở đời là một điều vô cùng phức
tạp. Không phải bao giờ lẽ phải hay chính nghĩa, tinh thần, ý thức chân chính
vẫn luôn luôn thắng, mà có khi hay rất nhiều khi hoàn toàn ngược lại. Cho nên
cái cao cả là điều đáng quý, còn thực tế kết quả trong cuộc sống ra sao còn tùy
số đông con người có sáng suốt cũng như có sức mạnh thực tế lẫn sự hiểu biết
hay không. Tinh thần yêu nước, yêu non sông không phải ai ai cũng có, tuy
nhiên, non sông nhiều khi chao đảo, hiểm nghèo vì nhiều lý do khác nhau, trong
đó có lý do sự không sáng suốt hay sự hèn kém của nhiều thế hệ, nhiều cá nhân
có liên quan trong đó.
Ngàn
Khơi
(13/4/12)
(13/4/12)
**
ĐẠI
NGÀN says:
BA HẠNG NGƯỜI TA
Ca dao cổ của VN
có nói “Người ta ba hạng người ta, người thì tiền rưởi, người ba mươi đồng”. Ý
phân loại 3 loại người phổ biên trong xã hội. Loại chọn lọc, loại trung bình,
loại hạ đẳng. Loại chọn lọc giống như giá trị một tiền rưởi. Loại trung bình
giống như giá trị một tiền. Loại thấp kém giống như giá trị ba mươi đồng, tức
nửa của một tiền. Trong chính trị xã hội, có thể nói loại chọn lọc là loại cao
cấp, có tình cảm cao đẹp, có mục tiêu cộng đồng, xã hội, có lòng yêu nước, yêu
dân thật sự. Thường họ có tinh thần và ý thức tích cực, không vụ lợi, không cơ
hội, nhưng luôn nghiêm túc, thiện tâm, thiện chí. Đó chính là loại tiền rưởi.
Loại một tiền là loại đại trà, bàn dân thiên hạ nói chung, chỉ lo làm ăn tư lợi
nhưng không quan tâm đến mọi việc lớn của đất nước, xã hội, không thiết tha mấy
hay hoàn toàn vô tư trước mọi chuyện quốc gia đại sự. Đây là loại một tiền.
Loại chót bẹt là loại vụ lợi, thời cơ hay cơ hội. Loại này có thể nhân danh đủ
thứ nghe đinh tai nhức óc, nhân danh lý tưởng này nọ, nhưng thực chất luôn luôn
là các phẩn tử có hội hay những loại thấp kém mọi loại trong xã hội. Các loại
này là thứ ba mươi xu, tức là ba mươi đồng, hay một nửa quan tiền ngày xưa. Bởi
thế, khi quyền lực xã hội rơi vào tay những hạng tiền rưởi, xã hội sẽ có cơ sở
đi lên, phát triển. Nếu chẳng may rơi vào trong tay những loại ba mươi đồng,
thì quả là không còn thuốc chữa, vì họ toàn là đám tham quyền cố vị, cá nhân,
ích kỷ, tư lợi, nhưng mánh mung, mánh lới, nhân danh những cái không thật,
những cái phi ý nghĩa hoặc kém giá trị nhất, nhưng coi đó hay mệnh danh đó là
những lý tưởng, những giá trị tuyệt đối không ai có thể đi ngược lại được. Điều
này trong thâm tâm họ có thể biết nhưng vẫn ngoan cố, hoặc hoàn toàn ảo tưởng,
không biết vì quá ngây thơ hoặc kém nhận thức. Cho nên sự ngây thơ cũng là điều
đáng tiếc, trong khi mục tiêu cơ hội cũng là điều đáng khinh, đáng trách. Các
tính chất này tự thâm tâm những thành phần đó biết. Song nếu bị chụp mũ mà
không đúng bằng bất kỳ danh gọi nào lại là chuyện khác.
NGÀN
KHƠI
(13/4/12)
(13/4/12)
**
ĐẠI
NGÀN says:
THẾ NÀO LÀ PHẦN TỬ CƠ HỘI
Phần tử cơ hội là
những kẻ tham gia chính trị không vì lợi ích chung mà vì lợi ích riêng của
mình. Phần tử cơ hội thì thời nào cũng có, ở đâu cũng có, lúc nào cũng có, từ
cổ chí kim. Cơ bản của phần tử cơ hội là thiếu nhận thức đúng đắn, kém ý thức
lành mạnh, ích kỷ cá nhân, tham vọng riêng tư, nhưng lại khôn khéo, mánh lới,
nhạy bén về quyền lợi riêng, cũng như trong sự luồn lỏi. Đặc thù của phần tử cơ
hội là không có lý tưởng riêng, độc lập, nhưng chỉ mượn lý tưởng của người khác
coi như cũng là lý tưởng của mình. Có nghĩa phần tử cơ hội chỉ chạy theo, làm
theo người khác mà hoàn toàn không có ý thức tự giác, tinh thần độc lập, tự
chủ, tự do, tự quyết. Bởi thế phần lớn hay hầu hết phần tử cơ hội luôn luôn
nhân danh ý nghĩa, mục đích, tính cách của người khác làm ý nghĩa, mục đích,
tính cách của mình. Những người ưa làm theo, học theo, nếu đó không phải là các
thành phần dốt nát, kém nhận thức, thì cũng chỉ là những phần tử a dua hay cơ
hội. Nói khác đi nguồn gốc của phần tử cơ hội là do sự tuyên truyền mà hùa
theo, để cuối cùng nối giáo hay lợi dụng chính sự tuyên truyền đó hầu làm lợi
cho riêng mình. Tuy vậy phần tử cơ hội khác phần tử a dua thuần túy, là phần tử
cơ hội có tính chủ động, linh hoạt hơn phần tử a dua. Phần tử a dua thuần túy
chỉ chạy theo phong trào, theo người khác cho vui, cho sướng, nhưng chưa hẳn đã
lợi dụng được gì lợi ích riêng cho mình. Tức phần tử a dua chủ yếu là thói xu nịnh,
về hùa. Nhưng phần tử cơ hội thì cơ động hơn, bén nhạy về lợi ích và có mục
đích riêng chủ động hơn để nhằm lợi dụng thời cơ, hoàn cảnh nhằm vụ lợi cho
riêng mình. Nói khác phần tử cơ hội là phần tử a dua nhằm trục lợi, còn phần tử
a dua thuần túy chưa chắc có mục đích thuần túy trục lợi như phần tử cơ hội.
Bởi cơ hội trong cuộc đời thì vô số, nên phần tử cơ hội cũng vô số, đa dạng và
đa diện. Nói chung a dua hay cơ hội cũng đều do hoàn cảnh khách quan của cá
nhân đun đẩy, do kém nhận thức, hiểu biết, do thiếu tinh thần, ý thức, mục đích
tự chủ mà chạy theo người khác một cách thụ động, bị động, kém cỏi, không có
tính cách hoặc mục tiêu tự chủ, độc lập. Nhưng khác nhau cơ bản giữa phần tử a
dua và phần tử cơ hội là thị hiếu và tham vọng. Đương nhiên, những người phát
huy một phong trào, mục đích nào đó trong lịch sử, luôn nhận biết ai là kẻ a
dua hay phần tử cơ hội chạy theo họ. Song trong ý nghĩa tương kế tựu kế nhằm
tăng cường công cụ nhân lực, họ luôn luôn tìm mọi cách thu hút và lợi dụng hiệu
quả các phần tử đó. Chuyên cho ăn bánh vẽ là của mục đích của phần tử lôi kéo.
Chuyện ăn bánh vẽ là tính cách của phần tử a dua. Chuyện lợi dụng bánh vẽ để
thủ lợi riêng cho mình đó là phần từ cơ hội. Cho nên cả ba ý nghĩa đó luôn dắt
dây với nhau, dung túng nhau, lợi dụng lẫn nhau. Nói khác đi, người không có tà
ý không bao giờ tạo ra các phần tử a dua hay cơ hội trong chính trị. Trái lại,
người càng có nhiều tà ý lại càng tạo nên nhiều loại các phẩn tử này. Tục ngữ
nói đi với Phật mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy là như thế. Như tự trung
lại, chỉ những kẻ ngờ nghệch là đáng thương vì họ luôn bị lợi dụng. Trái lại kẻ
ma đầu và phần tử cơ hội luôn luôn là kẻ đáng trách trong lịch sử cũng như
trong chính trị, bởi vì đó tựu trung cũng chỉ là loại mạt cưa, mướp đắng, cùng
lợi dụng nhau để xâu xé và nhiễu loạn xã hội chỉ vì mục đích lợi hay tham vọng
ích kỷ cá nhân riêng nhưng được che đậy dưới lớp vỏ ngoài luôn luôn mỹ miều,
hào nhoáng. Chính thuật tuyên truyền không đúng sự thật, dối gạt, là công cụ
hữu hiệu nhất, cũng như là miếng đất mầu mỡ khiến cho các phần tử ma đầu thành
công và những phần tử cơ hội phát triển, song chỉ có xã hội nói chung là nạn
nhân, cũng như những người bị lợi dụng hoặc hùa theo một cách vô ý thức là
thiệt thòi nhất. Nên để kết luận, bất cứ lúc nào, những người có nhận thức sáng
suốt, tự chủ, hiểu biết, không có mục đich riêng tư nào, không thể bảo họ là
các phần tử cơ hội. Mà chính mọi người nào ngược lại như thế mới thật sự là
những phân tử cơ hội đúng nghĩa hoặc những phần tử a dua đúng nghĩa.
Non
Ngàn
(13/4/12)
(13/4/12)
**
Non
Ngàn says:
BA HÌNH THỨC DỄ THẤY NHẤT CỦA NẠN ĐỘC TÀI
Có ba hình thức
độc tài cho tới nay thường thấy nhất : độc tài cá nhân, độc tài nhóm hay tập
thể, độc tài học thuyết. Độc tài cá nhân thời xưa là vua chúa, đó là hôn quân,
bạo chúa. Đốc tài cá nhân thời mới như Hitler, Moussolini, Mao Trạch Đông v.v…
Độc tài nhóm, là nhóm cầm quyền chuyên đoán thay vì một người. Thời xưa có lúc
là thể chế quả đầu ở La Mã. Thời nay là tập thể lãnh đạo. Độc tài lý thuyết là
độc tài ý thức hệ kiểu mác xít mà ai cũng biết. Trong ba thứ độc tài đó, độc
tài cá nhân chỉ phụ thuộc vào ý chí, ý muốn của cá nhân. Độc tài tập thể chỉ
phụ thuộc vào ý chí, ý muốn của một nhóm, một số người. Như ngày xưa vua muốn
tôi chết, tôi phải chết. Thời Stalin, đảng Lêninít lúc đó muốn, coi như toàn
dân Liên xô phải muốn. Song cái muốn cá nhân, cái muốn tập thể, tức một số vài
cá nhân cũng không ghê gớm bằng cái muốn của một học thuyết. Bởi cái muốn cá
nhân, tập thể luôn nhất thời, có thể thay đổi. Còn cái của lý thuyết, của ý hệ
thì cả ngàn đời nó cũng chỉ muốn có như thế. Đặc biệt khi ý muốn của học
thuyết, của ý hệ , chủ trương chuyên chính, sẽ tất yếu bị cá nhân hay tập thể
lợi dụng, khiến cho nạn độc tài trở thành song trùng, đôc tài chồng lên độc
tài, thật hết đường chạy chữa. Vua độc tài, người ta có thể lên rừng, xuống
biển để sống. Độc tài ý thức hệ kết hợp cùng cá nhân hay tập thể làm bá chủ,
người dân chỉ có thể chạy ra nước ngoài hay phải chịu ách thống trị cha truyền
con nối suốt đời chính là lẽ đó. Bởi thế có thể nói độc tài lý thuyết hay ý
thức hệ là thứ độc tài kinh khiếp nhất, bởi nó nuốt sống không những tự do bản
thân mà cả lý thức lẫn sự hiểu biết của con người qua nạn giáo dục và cơ chế xã
hội toàn diện của sự độc tài chuyên chính. Tính cách phản xã hội, phản nhân bản
cao độ nhất của nó cũng chính là như thế, bởi nó luôn luôn thèm muốn và nhân
danh sự lãnh đạo toàn diện. Điều trên tất cả mọi người trung thực, khách quan,
sáng suốt, công tâm đều nhận thấy rõ. Chỉ trừ những người nào ngược lại có thể
cho là lquan điểm ệch lạc, vu khống, chụp mũ hoặc phản động.
Ngàn
Khơi
(12/4/12)
(12/4/12)
**
Ngàn
Khơi says:
TẠI SAO ĐA SỐ THANH NIÊN VIỆT NAM NGÀY NAY
LẠI MẤT HƯỚNG
Trong truyền thống
nhiều nghìn năm của dân tộc, giới trí thức, sĩ phu không bao giờ mất hướng. Có
nghĩa họ có lý tưởng, có tình yêu con người, có tình yêu nước, yêu dân tộc. Nếu
có một số thành phần không phải như vậy, đó chỉ là đặc thù, là thiểu số, không
phải cái khuynh loát hay cái tiêu biểu chung. Có nghĩa ngày trước vua chỉ là
người cầm quyền, không muốn ai đi ngược, chống lại mình, song cũng không cần
phải mọi người phải công khai suy tôn mình, răm rắp nghe theo mình. Người ta
chỉ phải quỳ lạy vua ở triều đình hay vô tình gặp vua giữa đường mà biết rõ đó
là vua, không ai buộc phải suy tụng vua từ A tới Z như kiểu nhà thơ dỏm đời Tố
Hữu. Thế nhưng từ thời cách mạng, tức từ 1945, chủ tịch nước được vinh danh như
thánh thần, qua cả một hệ thống giáo dục từ trước đến sau, từ trong ra ngoài,
từ trên xuống dưới một cách toàn diện, tuyệt đối. Đó là ý nghĩa ngu dân, coi
thường dân, xem khinh dân vì những mục đích nào đó. Bởi chỉ xem dân như “quần
chúng” theo kiểu dân ngu khu đen, nên người cầm quyền chính muốn nói gì thì
nói, chỉ thích dân nghe mà không ưa dân xem thường hoặc phản đối. Cái thuật hay
kỹ thuật tuyên truyền mang tính quốc tế đó phải kể về mặt lịch sử chính là công
đầu của Lênin. Đây cũng coi như thiên tài hay kỹ thuật chưa từng có trong lịch
sử nhân loại, hay có một không hai trong thế giới của Lênin. Chính công cụ
truyên truyền đó đã lan ra toàn thế giới cách mạng, không trừ đất nước nào, mà
trong đó ở VN con chim đầu đàng không ai khác hơn chính là nhà thơ dở hơi Tố
Hữu. Tố Hữu thật ra làm thơ không có tài, làm thơ dở tệ, gồng mình làm thơ,
nhưng sở dĩ được đưa lên thành thần tượng thi ca là do kỹ thuật tuyên truyền.
Tố Hữu có công tuyên truyền cho người khác, như cho Stalin chẳng hạn, và cuối
cùng Tố Hữu được trả công, được tuyên truyền lại, được thổi phồng lên như là
thần tượng, mặc dầu thi tài và bản chất thơ thật ra chỉ hoàn toàn tệ từ sau ra
trước. Thơ của Tố Hữu thực chất chỉ là giả tạo. Nhưng nó được mang vào chiếm
lính trường học từ cao tới thấp, chiếm lĩnh cả nền giáo dục đất nước, chứng tỏ
nguyên lý giáo dục, mục đích giáo dục, bản chất giáo dục hoàn toàn giả tạo.
Giáo dục như thế không nhằm phục vụ con người chân chính, phục vụ xã hội đích
thực, phục vụ đất nước và dân tộc một cách thật sự, mà thực tế chỉ nhằm phục vụ
cá nhân, phe phái, phục vụ mọi loại thị hiếu tầm thường, giả tạo hoặc thấp kém.
Một nền giáo dục như vậy làm sao mà không khiến cho các thế hệ trẻ mất phương
hương, không có nội dung, ý nghĩa, bởi vì nó hoàn toàn không thực chất hoặc
hoàn toàn giả tạo. Cho nên cái lỗi chính là do nguồn gốc của nền giáo dục, mục
đích của nền giáo dục, do người người chi phối nền giáo dục, do những người
biến giáo dục thành công cụ riêng tư phục vụ cho mình, cho phe nhóm của mình,
do những người tự nguyện làm công cụ cho chính nền giáo dục sai trái kiểu như
thế. Cái gì không có nội dung thì không có thực chất. Cái gì không mang ý nghĩa
và giá trị khách quan thì không có ích lợi và phẩm chất, cũng như không tạo ra
được những kết quả gì đích thực, vì nó hoàn toàn vô bổ và phi hiệu quả. Đấy cái
khác nhau giữa tầng lớp được gọi là trí thức XHCN hiện tại và tầng lớp gọi là
sĩ phu, trí thức truyền thống của đất nước, của dân tộc ta từ ngàn xưa chỉ có
đơn giản chính là như thế. Nếu ngày xưa nhà thơ dỏm Tố Hữu đã từng làm thơ ca
ngợi, hôn ghế của Stalin, của Mao Trạch Đông một cách đê tiện, hạ cấp như một
tiền lệ, thi ngày nay qua kết quả của chuỗi dài ngày tháng giáo dục theo tinh
thần, bản chất và mục tiêu của Tố Hữu, tầng lớp thanh niên mới phần lớn không
có lý tưởng, không có tịnh thần ý thức tự chủ, độc lập, tự tin, mất hết phương
hướng để trở nên quỳ xuống hôn ghế các thần tượng điện ảnh hay ca nhạc tân
thời, kiểu như trong đêm lưu diễn ở Hà Nội của Bi Rain, mà một số “fan” Việt
Nam đã quì xuống để ngửi và hôn hít chiếc ghế mà thần tượng của họ vừa ngồi,
thì quả nhiên cũng chẳng có gì lạ. Bởi vì nó chỉ là hệ luận hay hệ lụy cuối
cùng của một chuỗi dài ngày tháng giáo dục không đi đúng hướng hay hoàn toàn
phi văn hóa của toàn thể một dân tộc, một đất nước.
NON
NGÀN
(11/4/12)
(11/4/12)
**
PHẦN DANH MỤC CÁC BÀI VIẾT NGẮN,
CHỚP NHOÁNG (II) – (10)
1. DÂN
CHỦ VÀ QUYỀN HÀNH (11/6/12)
2. CHỦ
NGHĨA CÁ NHÂN VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI (11/6/12)
3. LUẬT
PHÁP VÀ TÍNH NHÂN VĂN HAY TÍNH VĂN HÓA
(08/6/12)
4. TỪ
CÁC MÁC ĐẾN CÁC MÁC (08/6/12)
5. DÂN
TRÍ VÀ SỰ TỰ GIÁC (08/6/12)
6. DÂN
TRÍ VÀ SỰ TỰ DO DÂN CHỦ (07/6/12)
7. VÀI
SUY NGHĨ VỀ NGƯỜI VIỆT NAM VÀ NGƯỜI CỘNG SẢN
VN NGÀY NAY (07/6/12)
8. THAN
ÔI, THỰC CHẤT “THƠ” VIỆT NAM NGÀY NAY
(07/6/12)
9. QUYỀN
LỰC VÀ SỰ CHÍNH NGHĨA (05/6/12)
10.
THỰC CHẤT NGƯỜI VN ĐÃ CHƯA BAO GIỜ
THÀNH THẬT
VỚI
NHAU (04/6/12)
11.
THẾ NÀO LÀ ĐẠO ĐỨC CÁ NHÂN VÀ ĐẠO ĐỨC
XÃ HỘI ?
(02/6/12)
12.
VỀ BẢN CHẤT THẬT CỦA KINH TẾ VÀ CHÍNH
TRỊ
ĐÚNG NGHĨA (02/6/12)
13.
NÓI VỀ CHÍNH Ý NGHĨA CỦA QUY LUẬT
KHÁCH QUAN
(01/6/12)
14.
SỰ KHÁC NHAU GIỮA Ý NGHĨA CỦA HIẾN
PHÁP DÂN CHỦ
VÀ Ý NGHĨA CỦA HIẾN PHÁP
PHI DÂN CHỦ (29/5/12)
15.
DÂN TỘC TÍNH VÀ HOÀN CẢNH XÃ HỘI (29/5/12)
16.
NGHỆ THUẬT THI CA TRONG THƠ TỐ HỮU (17/5/2012)
17.
TRIẾT HỌC KHÔNG BAO GIỜ CHẾT (17/5/2012)
18.
CHỈ CÓ BỌN TRẺ CON (15/5/12)
19.
TRIẾT HỌC LUÔN MANG TÍNH TRUNG CHUYỂN
GIỮA
VĂN HÓA VÀ KHOA HỌC (15/5/12)
20.
KHOA HỌC VÀ SỰ TỰ DO (15/5/12)
21.
CÁI NGỚ NGẨN CỦA ÔNG LỮ PHƯƠNG VỀ HỌC
THUYẾT
CÁC MÁC (14/5/12)
22.
HIẾN PHÁP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG QUANH
CỦA NÓ
(12/5/12)
23.
ĐIỀU GÌ LÀ QUAN TRỌNG NHẤT (12/5/12)
24.
CÓ MỘT ĐIỀU TINH TẾ CẦN PHẢI BIẾT CỦA
MỌI NGƯỜI
VIỆT NAM HIỆN NAY (05/5/12)
25.
CÓ MÁC VÀ KHÔNG CÓ MÁC (05/5/12)
26.
TẠI SAO PHẢI CHẠY TRỐN HAY KHÔNG CHẠY
TRỐN (05/5/12)
27.
NGUYÊN LÝ DUY NHẤT ĐÚNG ĐẮN VÀ VĨNH
CỬU CỦA
XÃ HỘI LÀ NGUYÊN LÝ TỰ
DO VÀ DÂN CHỦ : HAY
CHÂN LÝ KHÁCH QUAN VÀ
ĐÚNG NHẤT (04/5/12)
28.
SỢI CHỈ ĐỎ XUYÊN SUỐT (01/5/12)
29.
SỰ LẾU LÁO HAY TẾU TÁO CỦA LỊCH SỬ (30/4/12)
30.
HÃY NÊN CÙNG TRỞ VỀ VỚI BẢN CHẤT CỦA
NGƯỜI
VIỆT NAM BẢN LAI DIỆN
MỤC (26/4/12)
31.
NHẬN DIỆN VỀ MỘT CON NGƯỜI NGHỆ SĨ (25/4/12)
32.
PHÂN TÍCH CÁC Ý NIỆM “TỔ QUỐC” VÀ
“NHÂN DÂN”
CHỈ Ở TRONG MỘT ĐÔI DÒNG
CỰC NGẮN (24/4/12)
33.
VỀ Ý NGHĨA SỰ SÒNG PHẲNG TRÊN CHÍNH
TRƯỜNG
CỦA CỦA ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM THỜI HIỆN
ĐẠI (23/4/12)
34.
DỊCH HAY CHUYỂN NGỮ CÁC TÁC PHẨM (23/4/12)
35.
SỰ TẬP HỢP QUẦN CHÚNG KIỂU PHI NHÂN (22/4/12)
36.
CÁC MÁC VÀ CHÍNH TRỊ (22/4/12)
37.
XÃ HỘI CON NGƯỜI VÀ CHỦ NGHĨA (21/4/12)
38.
DI SẢN CỦA CÁC MÁC (21/4/12)
39.
ĐÂU LÀ SỰ THẬT (20/4/12)
40.
CHẾ ĐỘ CẤU KẾT, CHẾ ĐỘ BẢO HỘ, VÀ CHẾ
ĐỘ TỰ DO
DÂN CHỦ(20/4/12)
41.
SỰ TIẾN HÓA CỦA THỜI GIAN (20/4/12)
42.
NHÀ SƯ VÀ CHÍNH TRỊ (19/4/12)
43.
CHÍNH TRỊ VÀ SỰ NÓI DỐI (19/4/12)
44.
KHÔNG AI CÓ THỂ ĐƯA TAY CHE MÃI MẶT
TRỜI (18/4/12)
45.
THÂN PHẬN HẬU THUỘC ĐỊA (17/4/12)
46.
THẬT LÀ KHÓ NÓI (16/4/12)
47.
TƯ SẢN VÀ VÔ SẢN (16/4/12)
48.
THƯƠNG THAY VIỆT NAM (16/4/12)
49.
NGUYÊN LÝ VÀ THỰC TIỂN (16/4/12)
50.
CHỦ NGHĨA MÁC (13/4/12)
51.
TUYÊN TRUYỀN VÀ LÃNH ĐẠO (13/4/12)
52.
BA HẠNG NGƯỜI TA (13/4/12)
53.
THẾ NÀO LÀ PHẦN TỬ CƠ HỘI (13/4/12)
54.
BA HÌNH THỨC DỄ THẤY NHẤT CỦA NẠN ĐỘC
TÀI
(12/4/12)
55.
TẠI SAO ĐA SỐ THANH NIÊN VIỆT NAM
NGÀY NAY LẠI
MẤT HƯỚNG (11/4/12)
No comments:
Post a Comment