LUẬN
VỀ CON NGƯỜI VÀ THẾ GIỚI CỦA NHỮNG DANH TỪ
Loài vật chỉ có tiếng
kêu nhưng loài người có ngôn ngữ. Tiếng kêu chỉ là ngôn ngữ bậc thấp còn ngôn
ngữ lại là tiếng kêu bậc cao. Bậc thấp chỉ đơn giản và nội dung nghèo nàn.
Nhưng bậc cao phong phú, phức tạp và tinh vi hơn. Tiếng kêu hay ngôn ngữ đều là
công cụ giao tiếp giữa các cá thể với nhau, dầu con người hay loài vật.
Sự liên quan giữa
óc não và ngôn ngữ chỉ là tự nhiên. Sự phát triển óc não ở loài người dĩ nhiên
cao hơn nhiều so với loài vật. Bởi vậy ngôn ngữ ở loài người cũng tinh vi,
phong phú, sâu sắc và phức tạp hơn loài vật, nên thậm chí cũng chứa đựng nhiều
yếu tố giả trá, lừa dối, gian tà nhiều hơn loài vật. Nếu ngôn ngữ loài vật chỉ
nhằm thông tin khách quan, ngôn ngữ ở loài người còn bao gồm cả yếu tố tuyên
truyền, vận động, là điều ở loài vật hầu như ít có.
Tất nhiên ngôn ngữ
ở loài người ngoài lời nói, chữ viết, và bên trong đều chứa đựng những nội
dung, ý nghĩa, hay mục tiêu nhất định nào đó của nó. Và ngôn ngữ luôn bao gồm một
hệ thống văn phạm hay ngữ văn cần thiết bắt buộc phải có, nhưng quan trọng nhất
trong đó không gì khác hơn chính là những danh từ. Mọi danh từ đều là những
trung tâm của từ ngữ và những từ ngữ khác đều chủ yếu xoay quanh hay tập trung
vào đó.
Danh từ luôn là những
công cụ chuyên chỡ ngữ nghĩa, gồm cả nội dung, hình thức diễ`n đạt, và đôi khi
cả những cảm xúc đi kèm theo nó, nên đó là những mục tiêu tối hậu nhằm truyền đạt
hay muốn hướng đến mà không gì khác. Nên nếu ngôn ngữ có nhiều mặt thì danh từ
cũng có nhiều mặt, như thật hay giả, đơn giản hay phức tạp, xuyên tạc, đánh lừa,
hay nhất thiết trung thực với những sự kiện khách quan hay vật thể cụ thể xác định.
Chính danh từ gắn vào những sự hiểu biết và truyền đi những sự hiểu biết như vậy.
Nói khác danh từ đều
có những mặt chuyên môn của nó, từ thấp đến cao, từ giản dị đến sâu sắc, nó làm
nên những trình độ hiểu biết nhiều hay ít, giả tạo hay nhất thiết xác đáng.
Trình độ nhận thức, học vấn, đào tạo, giáo dục, hay năng lực riêng biệt mỗi người
không thể không qua đó, và khả năng đối ứng cũng như nhằm tương tác với người
khác đều không đi ra ngoài các phạm vi đó cũng như các mục đích liên quan về điều
đó. Ví dụ phạm vi thường nhật, chuyên môn, nghề nghiệp, xã hội, kể cả đến những
lãnh vực khoa học hay triết học nếu có cũng đều như thế.
Vậy sự hiểu biết về
những danh từ trong các lãnh vực nào đó đều là trình độ đầu tiên, hay cả ý
nghĩa và giá trị cho các cá nhân liên hệ thuộc về các lãnh vực đã nói, và đây
không những thiết yếu mà còn rất quan trọng để xác định ý nghĩa cũng như mục
đích sau cùng về những vấn đề liên quan đến trong các lãnh vực hoạt động hay
suy nghĩ của người đó. Nắm vững được các danh từ về nội hàm sâu xa cũng như những
ngoại diên phong phú của nó đó chính là điều kiện hay yếu tố nhận thức phải có
để nhằm tương tác đúng mức với người khác tránh được mọi sự giả tạo, ngộ nhận
hay lừa dối, tránh được mọi sự tuyên truyền giả dối hay hiểu lầm không đáng có.
Nói chinh xác ra,
chính danh từ mới gắn vào các ý niệm hay khái niệm bao quát hoặc nền tảng mà
con người cần hướng tới. Đó chính là cơ sở của mọi sự hiểu biêt nào đó, trong
các phạm vi lãnh vực nào đó mà không ai có thể quay lưng lại được. Sự khác nhau
về sự hiểu biết, sự sai biệt về trình độ nhận thức của cá nhân không gì khác
hơn là sự nắm bắt về những danh từ nào đó một cách xác đáng, đúng đắn, chân thực,
khách quan nhất mà người đó có thể đạt tới được. Bởi mọi sự chưa đạt tới một độ
sâu, độ chín muối nào đó mà chỉ mới kiểu lững lơ con cá vàng đều là sự nông cạn,
khiếm khuyết hay có thể còn ngây thơ, non kém.
Chính các danh từ
gắn vào với các ý niệm hay khái niệm cần thiết nhất cũng trở thành những yếu tố,
những bộ phận nhất định cho các hoạt động tư duy, tư tưởng, hay cả văn hóa nói
chung mà bất cứ ai đều không thể tránh được. Hay mọi trình độ hiểu biết của cá
nhân đều liên quan tới đây một cách căn cơ nhất, tạo nên sự quan hệ với người
khác một cách chuẩn mực nhất và có ý nghĩa, giá trị, lẫn nội dung nhiều nhất.
Đó cũng là kết quả của sự học tập, đào tạo, nghiên cứu mà mỗi cá nhân có thể được
trang bị cho chính mình qua kinh nghiệm bản thân cũng như sự qua sự giáo đục và
đào tạo của xã hội một cách bao quát và sâu xa nhất.
Điều này tạo thành
sự học vấn hay học thức cá nhân, sự học vấn hay học thức xã hội như sự bao gộp
nhiều người trong đó nhất, tức cũng là vai trò của trí thức hay ý nghĩa của mọi
người hiểu biết nói chung trong xã hội hoặc cả mọi thành phần tinh hoa có liên
quan trong đó. Bởi danh từ ở đây cũng đã trở thành những vấn đề, nội hàm và ngoại
diên của chúng đều luôn phát triển, bổ sung theo dòng lịch sử cuộc sống mà
không phải bao giờ cũng luôn được xác định tất yếu không hề thay đổi. Chính khả
năng hay năng lực nhận thức làm thay đổi các nội dung nhận thức, tương quan nhận
thức, tạo nên một tiềm lực phát triển mang tính lịch sử của cả xã hội cũng như
kể cả mọi cá nhân nằm trong đó. Mối tương quan biện chứng này là có thật, không
bất cứ ai có thể thay đổi, ngăn cản, lừa dối, hay ngụy tạo ra được.
Điều đó cũng chống
lại bất kỳ hình thức giáo điều nào, hình thức cuồng tín, hay mê tín nào, hình
thức độc tài, độc đoán hoặc cực đoan, quá khích, bảo thủ nào. Mọi sự hiểu biết
của con người đều là sự nhận thức mà không là gì khác. Mà sự nhận thức không
bao giờ là vật đúc sẵn, vật được chứa hay tồn kho tất yếu, mà luôn là sự tương
quan, phát triển và cũng không thể có điểm dừng hay cố kết nào cả. Tiềm lực nhận
thức của con người hay kể cả loài người đều luôn luôn như một cái cây đang lớn,
đang phát triển ra, và kể cả đang mọc mới thêm cây khác mà không hề và cũng không
thể như loại cây khô, loại gỗ mục, bị sâu mọt, hay thoái hóa và trở thành tàn lụi
qua thời gian nào cả.
Nên điều đáng nói
là khuynh hướng của quần chúng hay phần đông đại chúng trong xã hội nói chung,
vẫn thường ham muốn những danh từ kêu to mà hay sáo rỗng. Những danh từ bề
ngoài nhìn hay nghe hào nhoáng mà chưa chắc đã có những nội dung xác đáng, cụ
thể, hay đúng mực nào cả. Ví dụ những danh từ như đại dồng, lý tưởng, cao đẹp,
hạnh phúc, hòa hợp, hòa đồng, thanh bình, cộng sản, đấu tranh giai cấp, triệt
tiêu giai cấp, không phân giai cấp, không còn bóc lột, không còn tư hữu, hoàng
kim thời đại, v.v.. và v.v… như niềm thu hút, như sự say mê say đắm hướng đến mà
thực chất chưa hề hiểu biết nắm bắt được nội dung hay xác định được cụ thể những
tính cách hay thuộc tính nội tại chính xác của chúng là thế nào cả. Chính những
danh từ hào nhoáng bề ngoài nhưng mông lung mờ hồ về nội dung, song lại đầy sức
thuyết phục, nhưng vốn khả dĩ gây nên bao sự tàn phá, vì các hệ lụy mang tính
quá khích, tiêu cực, mù mờ, mà lại đẩy tính cuồng nộ, ngu dốt và đảo điên của
chúng.
Ví như sau thời kỳ
học thuyết xã hội không tưởng, cộng sản không tưởng ở Pháp, Anh và Mỹ cuối thế
kỷ 18 đã mang mọi kết quả thực tế thất bại, thì cũng tại Đức, chính Các Mác và
Ănnghen đã xướng xuất ra học thuyết xã hội cộng sản mới, tự mệnh danh là khoa học,
tức vượt lên được mọi ý nghĩa không tưởng trước kia, làm thu hút biết bao nhiêu
tầng lớp mới, mà điển hình nhất tại Nga, rồi phát triển dần ra toàn thế giới,
nhờ khái niệm hay danh từ Khoa học mà Các Mác và Ănghen tự khẳng định trong đó
như là chân lý bất diệt, vô địch và nhất định thắng lợi vì nó tuyệt đối khoa học,
khách quan, không còn mê lầm, không tưởng, hay hư tưởng của những lý thuyết xã
hội cộng sản đã từng có trước đây và đưa từng chỉ mang đến chỉ những chua cay,
thất bại.
Vậy chính các nội
dung “khoa học” mà Mác đưa ra đó là gì, để trở thành hấp dẫn các tầng lớp trí
thức mới, những thành phần cấp tiến, cực đoan, khuynh tà toàn cầu mới, bị hấp hồn
bởi chính ý nghĩa, giá trị và mục tiêu khoa học mà trước khi Mác xuất hiện nó
hoàn toàn chưa có hay chưa được đem ra hay đưa ra áp dụng ? Căn bản nhất là ý
niệm biện chứng (Dialektik) trong triết học Hegel. Thứ hai học thuyết tiến hóa
(evolution) của Darwin, Thứ ba ý niệm tế bào học vào thời đó. Thứ tư lý tưởng
xã hội theo trường phái Pháp. Cả ba cái sau được Mác dùng như cánh cửa xoay
quanh bản lề khái niệm biện chứng của Hegel, để mở ra ý niệm đấu tranh giai cấp
và kết quả là nhằm tiến tới một xã hội cộng sản không còn bóc lột, không còn
giai cấp, kiểu xã hội cộng sản thiên đường như Mác ao ước.
Thật ra biện chứng
luận của Hegel là gì ? Là một ý niệm hoàn toàn duy tâm, tư biện,mà chính Hegel,
một nhà triết học Đức cũng chỉ mới lướt qua trong hệ thống tư tưởng của mình,
chưa hoàn toàn đào sâu lắm, cũng chưa hoàn toàn lý giải hay chứng minh lắm, nói
chung vẫn ở trạng thái thuần trực giác, hay thuần tư biện, tức tư duy biện luận
thuần túy. Hegel cho thực thể hay bản thể của vũ trụ là Tinh thần tuyệt đối
(absolutes Geist). Nó tự mâu thuẩn nên hóa thành tự phủ nhận mình từ đầu (die Negation
der Negation) một cách liên tục mà tạo nên tất cả vũ trụ tồn tại, và cuối cùng
là thế giới loài người mà sự nhận thức tự thân (absolutes Wissen) là mục đích tận
cùng hay cứu cánh cao nhất và sau hết. Trong khi quan điểm của Mác là duy vật tuyệt
đối, tức tin tuyệt đối chỉ vật chất tồn tại, ngoài ra không có gì nữa cả.
Tinh thần theo
Hegel như vậy còn có thuộc tính ban đầu tức còn có nội dung. Trong khi Mác chỉ
thuần túy duy vật, tức vật chất thuần, chỉ có trì lực tuyệt đối, ngoài ra không
có bất kỳ thuộc tính hay nội dung sâu xa nào khác, vậy đem biện chứng duy tâm của
Hegel áp dụng sang cho duy vật của Mác, để tạo ra quan điểm duy vật biện chứng
(matérialisme dialectique) là hoàn toàn phi lý, rồi từ đó lấy đấu tranh giai cấp
mà Mác tưởng tượng ra trong lịch sử thế giới loài người để nâng lên thành quan
điểm duy vật lịch sử (matérialisme dialectique historisque) cho học thuyết cộng
sản chủ nghĩa có khác gì chỉ là sự thêu dệt nối tiếp kiểu tư biện thuần túy chẳng
có gì chứng minh khoa học sao tự bảo là khoa học được.
Còn thuyết tiến
hóa Darwin nếu có lý phần nào, thì đó cũng thuần túy trong đời sống thiên nhiên
hoang dã, không thể áp dụng tuyệt đối nơi thế giới loài người, vì ở đây còn yếu
tố mới là sự phát sinh ra lý trí, tinh thần, văn minh, văn hóa, tư duy nhân bản
của loài người mà không còn chỉ là nhiên tính tuyệt đối do chỉ có bản năng chi
phối ở trước kia nữa. Vả chăng quan điểm duy vật thô sơ kinh điển kiểu cơ giới
ngày xưa thời kỳ của Mác ngày nay khoa học đã vượt qua rất xa nơi vật lý lượng
từ, các hạt cơ bản và siêu cơ bản, trở thành lý thuyết trường, và sóng hạt bất
định, vô cùng phức tạp, không còn kiểu chỉ toàn đơn sơ như Mác hiểu nữa. Ngày
nay khoa học cũng còn cho thấy vật chất bình thường như hằng ngày ta thấy, chỉ
chiếm tỷ lệ 5% trong tất cả, còn 75% lả năng lượng đen (dark energy), và 20% là
vật chất tối (dark matter) kể chung trong toàn thể vũ trụ hiện hữu. Còn vũ trụ
siêu hình thì chưa ai giải thích được.
Cả lý thuyết về tế
bào sống (living cell) ngày nay cũng đã được vượt qua rất nhiều, cộng với thuyết
tiến hóa, càng đi sâu thêm vào sinh học lượng tử, lại thêm càng rối nhùi, bí mật,
không còn kiểu hiểu biết thô sơ như thời kỳ của Mác còn sống. Tức cơ học lượng
tử và sinh học lượng tử ngày nay càng gắn bó với nhau, đẩy lùi thêm mọi khái niệm
kinh điển hay cổ điển về quan điểm vật chất hay sinh học nơi thời đại của Mác,
khiến càng gần thêm với lằn ranh triết học mà trong thời kỳ Mác chưa hề quan niệm
được. Mác đã hoàn toàn bị đào thải về khoa học tự nhiên, khoa học nhân văn và
xã hội, thành nên quan điểm hợm hĩnh tự cho mình mới tuyệt đối khoa học vì tin
xác quyết vào biện chứng luận của Hegel khiến Mác càng trở nên ngây thơ và ấu
trĩ. Điều này cũng cho thấy tính nông cạn trong tư duy và nhận thức của Trần Đức
Thảo từng một thời làm mưa làm gió trên sàn diễn triết học nước ngoài và trong
nước mà thật sự chỉ đồ đệ hay điếu đóm cốt nhằm minh họa thuần túy hay nhằm biện
minh cho tư tưởng cộng sản kiểu Mác.
Mác cốt yếu dùng
biện chứng luận (la dialectique) của Hegel, đem vật chất hóa nó, để xây nên lý
thuyết đấu tranh giai cấp, cho hai đầu phủ định nhau sẽ làm triệt tiêu một đầu
và còn lại chỉ một đầu duy nhất. Thời đại do Mác thấy chính là thời đại đối lập
giữa hai đầu đối kháng là vô sản và tư bản. Vậy tất yếu tư bản phải tự chôn còn
vô sản thắng lợi xây nên xã hội cộng sản. Xã hội cộng sản là xã hội không còn
bóc lột người, không còn giai cấp, không còn tư hữu, chỉ còn thuần túy một giai
cấp là công nhân, không còn thị trường, không còn tiền tệ, cả không còn pháp luật
và nhà nước, bởi mọi thứ đó chỉ là thượng tầng kiến trúc nay hoàn toàn không
còn ý nghĩa, giá trị hay mục đích nữa. Chỉ công nhân hoạch định chương trình, sản
xuất với nhau và chia chác sản phẩm làm ra với nhau. Giai đoạn đầu còn thấp gọi
là xã hội chủ nghĩa, làm theo năng lực, chia theo sản phẩm góp vào. Đến giai đoạn
sau cao hơn gọi là cộng sản chủ nghia, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu.
Đây chính là danh tư kiểu huyền thoại đã từng một thời hấp dẫn kẻ ngu dốt, ngay
cả đến ngày nay vẫn còn lung lạc giới trẻ nhỏ ít học kém hiểu biết.
Như vậy xã hội cộng
sản theo Mác hiểu thực chất chỉ kiểu xã hội hoàn toàn huyền hoặc, không thể nào
xuất hiện hay tồn tại trên thế gian này được. Bởi con người chính yếu là bản
năng, sẽ luôn đè bẹp lẫn nhau nếu không có nhà nước, không có pháp luật, tức học
thuyết kiểu loại bỏ con người, loại bỏ ý thức và nhận thức, chỉ còn kiểu người
máy vô cảm, hoàn toàn phi nhân bản. Vả kinh tế học không phải hoàn toàn là cơ
chế cơ học vô tri kiểu vật chất mà là cơ chế cơ học kiểu ý thức và nhận thức
con người vả xã hội. Thị trường và tiền tệ không gì khác hơn là sản phẩm lịch sử
tối ưu của xã hội, nó tạo nên những công cụ và tiện ích thiết thực và tiện ích
nhất nhằm nâng cao hiệu suất trong hoạt động của toàn thể loài người. Dẹp bỏ thị
trường và tiền tệ nhằm dẹp bỏ bóc lột, dẹp bỏ giai cấp thực chất chỉ là quan điểm
ngây thơ, ấu trĩ, nông cạn, mê tín, thậm chí ngu xuẩn mà trước đây nhiều nhà nước
cộng sản đã từng theo đuổi nhiều nơi trên thế giới.
Thật ra ý niệm bóc
lột và tư hữu là gì ? Đó chỉ là ý niệm ngây thơ đầy chủ quan, cảm tính, đầy thị
hiếu non kém, nông cạn trong đầu óc hiểu biết và tư duy mê muội của Mác. Tư hữu
thật ra chỉ sự kiện khách quan, hay khuynyh hướng tự nhiên của mọi sinh vật sống
trong thực tại. Nó chỉ là một công cụ, một phương tiện cho đời sống, cả trong
giới tự nhiên lẫn đã trở nên định chế khách quan đã từ lâu trong thế giới loài
người. Là phương tiện thì nó không gì xấu khi phục vụ được cho bản thân con người
và xã hội con người một cách chân chính và cần thiết nhất. Do vậy tư hữu không
đứng độc lập mà luôn gắn liền với luật pháp cũng như nhu cầu xã hội. Luật pháp
luôn quyết định tư hữu nhưng không thể bao giờ ngược lại.
Còn bóc lột hiểu
thế nào ư ? Đó chỉ luôn là một loại tương quan công bình nào đó mà rất khó phân
định rạch ròi, chính xác kiểu như thế nào. Chỉ là một tương quan giao tiếp kinh
tế trong khuôn khổ pháp luật và lương tâm đạo đức bản thân và xã hội theo mức độ
nào đó thôi. Đây không phải là khái niệm toán học hay khái niệm chính trị mà chỉ
là khái niệm nhân văn trên quan điểm công bằng thực tế. Nên Mác cho sự kiện bóc
lột gắn với thị trường, gắn với tư hứu, găn với giai cấp thực chất chỉ là một
nhận thức điên loạn, rồ dại, kiểu chỉ vì một con sâu nào đỏ mà quyết tâm chặt bỏ
cây, đốn phá thiêu đốt rừng để nhằm trồng lại rừng cho thật hoàn hảo, lý tưởng,
không còn mầm mống sâu bệnh hay tệ hại nữa.
Luận đến đây có thể
cho thấy quan niệm của có nhiều chỗ rất điên loạn, đầy khúc mắc, không lành mạnh
lại nhân danh mọi điều ngược lại. Mọi mối tương quan nhân quả của mọi vấn đề
khác nhau bị Mác nhìn một cách bóp méo, không chân xác, không nhìn ra được
chính bản thân làm nền tảng trong đó. Điều đó dễ đưa đến nhầm lẫn giữa cái đầu
và cái đuôi trong sự việc, giữa hiện tượng bên ngoài và bản chất bên trong của
sự việc, giữa cái chính yếu va cái râu ria của sự việc, giữa cái thiết yếu và
cái không thiết yếu nơi sự việc, dễ đưa đến mọi sự cảm tính, thị hiếu, sai lệch
mang đầy tính ngụy biện, xảo biện phục vụ cho ý đồ chủ quan mà không phải thiết
yếu khách quan, chân xác.
Hay nói khác mọi lập
luận của Mác trong Tư bản luận cũng như nhiều tác phẩm khác đều không ngoài nhằm
tập trung vào ý niệm giai cấp, Mác quy mọi chuyện đều do giai cấp tạo ra, và để
giải quyết mọi việc tốt đẹp trong xã hội như thế không ngoài đấu tranh giai cấp,
tức tiêu diệt giai cấp cho giai cấp vô sản chủ động để đi đến xã hội không còn
giai cấp. Ngay cả khái niệm đấu tranh giai cấp hay giai cấp đấu tranh của Mác
cũng hàm ý nội dung đầy ngụy biện và gian dối. Đấu tranh không phải sự tranh đấu
ngang nhau của hai chủ thể đối tượng khách quan mà thật ra ở đây chỉ giai cấp
vô sản dung biện pháp vũ lực tiêu diệt các giai cấp khác không phải là mình,
hay các giai cấp hữu sản khác khác với mình thế thôi.
Nhưng như vậy rút
ra chính ý niệm giai cấp cuối cùng là gì ? Mác quan niệm đó là giai tầng xã hội
khác nhau mà chính yếu là sự sai biệt hay chênh lệch về của tài, tài sản tư hữu.
Nhưng chính đây là chỗ then chốt nhất trong học thuyết Mác mà mọi người phải
nên thận trọng và sâu sắc tìm hiểu. Tức công hữu hay tư hữu mới là cái có trước
trong xã hội loài người ? Mới nhìn qua ai cũng nghĩ là công sản có trước, tức
nó có hoàn toàn tự nhiên, không bất cứ ai làm ra cả. Biển hồ, sông nước, đất
đai, rừng núi, chim muông, khí trời, ánh nắng, gió mưa, sấm chớp … nếu không phải
công cộng thì là gì ? Nhưng những cái đó tương quan gì với xã hội loài người ?
Không có xã hội loài người, không có cá nhân con người vận dụng chút nào những
cái đó, mọi cái đó đều thành vô nghĩa.
Vậy khi con người
có chiếm dụng hay sử dụng vật tự nhiên, hay tạo ra một vật nào đó cho riêng
mình, khi đó vật ấy mới trở nên tư hữu. Như vậy tư hữu là một tương quan xã hội
thiết yếu, do nhu cầu xã hội tạo ra cho cá nhân mà không là gì khác. Ý nghĩa tư
hữu là ý nghĩa xã hội. Không có xã hội cũng không có tư hữu. Của cải hay vật dụng,
tài sản tư hữu của cá nhân là do chính xã hội mang đến cho cá nhân, để cá nhân
sử dụng hữu ích cho mình và cả cho xã hội, điều ấy có làm sao khác đi được. Chối
bỏ tư hữu tức chỉ quan niệm nghịch lý, ngu dốt mà Mác đã phạm phải một cách
nông cạn mà không hề để ý đến. Chính luật pháp xã hội đã tạo ra tư hữu trong xã
hội, chi phối tư hữu trong xã hội, quyết định cả về tư hữu đó trong xã hội, mà
còn ý nghĩa nào khác. Không có tư hữu cũng không có ý nghĩa xã hội loài người.
Một xã hội hoàn toàn không tư hữu, chỉ quay lại xã hội kiểu thiên nhiên hoang
dã, không phân biệt cái chi là của chung hay của riêng cả. Tư hữu cũng chỉ là định
chế xã hội hoàn toàn như tư hữu mà không gì khác. Sự vô duyên và nộng cạn của
Mác ở đây chỉ hoàn toàn thế.
Tức xã hội cộng sản
là gì, chỉ là xã hội cha chung không ai khóc, vì nếu khóc cũng chỉ là ép buộc,
cưỡng chế, hay chỉ gượng gạo, giả tạo phải làm như thế. Đây chỉ là một thị hiếu,
tức một ham thích riêng tư cá nhân đầy cảm tính và đầy chủ quan của Mác, không
hề là một yêu cầu thực tế khách quan hay bó buộc phải thực hiện nào của xã hội.
Bởi vậy nó không kích thích được sự phát triển nào cả, mà còn chỉ làm cho xã hội
thụt lùi, suy giảm năng suất sản xuất, và chỉ đưa dến suy thoái và nghèo đói.
Nó làm bế tắt mọi điều về đời sống xã hội vì giả tạo và làm làm vong thân, làm cùn
nhụt mọi phát triển cũng như ngăn trở các hạnh phúc cá nhân của con người đích
thực nói chung.
Trong khi đó Mác
tin tưởng vào sự phát triển máy móc, tưởng tưởng, hoàn toàn phản thực chất, thực
tế của xã hội dựa trên quy luật biện chứng ảo giác, phi lý, không tưởng bằng
nguyên tắc hay quy luật đấu tranh giai cấp là một điều hoàn toàn mê tín, mơ hồ,
đầy tính chất thần bí không hề có bất kỳ bản chất thực nào cả. Nguyên lý phát
triển kinh tế trong đời sống xã hội là quy luật đặt ra sự đáp ứng các nhu cầu
xã hội đòi hỏi tùy theo các giai đoạn lịch sử bằng sự phát triển kỹ thuật mọi
loại do khoa học khách quan cung cấp các kết quả lý thuyết và thực chất mà
không liên quan gì đến đấu tranh giai cấp như Mác hiểu. Vả chỉ con người cụ thể
bằng xương bằng thịt đấu tranh với nhau đẻ giải quyết những nghịch lý, những
mâu thuẫn xảy ra nếu có giữa họ với nhau trong các điều kiện hoàn cảnh cụ thể
nhất định, còn giai cấp chỉ là các ý niệm phạm trù phân loại các tầng lớp người
trong xã hội, đó chỉ là những khái niệm trừu tượng riêng biệt, chẳng phải chủ
thể cụ thể gì mà đấu tranh với nhau được.
Thành ra tư duy của
Mác chỉ là kiểu tư duy điên loạn, gàn bướng, thậm chí ảo giác mà không có gì thực
chất, xác đáng hay nghiêm ngặt cả. Đã vậy, nhằm bảo đảm cho hoài vọng phi lý và
không tưởng của mình Mác còn xướng lên hay đưa ra nguyên tắc độc tài vô sản một
cách đầy rồ dại, phản nhân văn, phản xã hội, làm bế tắt và tiêu diệt mọi nhân
quyền chính đáng mà tất cả mọi người đều cần phải có. Bởi độc tài đã là sự chủ
quan phi lý, phản lại sự bình đẳng tự nhiên của mọi cá nhân, huống là độc tài của
người vô sản, là thành phần đột xuất, nhất thời, không chọn lọc, yếu kém nhiều
điều kiện so với các tầng lớp khác, làm sso đó là sự độc tài cần thiết, không
phi lý, nếu không nói là sự độc tài đầy nghịch lý cũng như hoàn toàn phản lịch
sử, phản nhân bản và phản xã hội. Bởi khi bản năng hướng dẫn mà nhận thức khiếm
khuyết hoặc yếu kém, dễ áp chế con người và áp chế xã hội nói chung còn là điều
khác.
Hơn thế nữa đó đã
chắc gì là cai quản độc tài của những người vô sản thức thiệt, mà không phải mọi
thành phần cơ hội, lợi dụng, nhân danh khác của vô sản thay thế vào, bởi các
thành phần này luôn luôn có và cũng có nhiều năng lực cùng cá tính linh hoạt
khác hơn so với những người vô sản. Cuối cùng chỉ dẫn đến mọi sự giả dạng, bế tắt,
suy thoái, lạm dụng và phá hoại khác nhau trong toàn xã hội. Đây chính là sự
ngu muội, sự phá hoại, sự phản động, sự phản lại con người và xã hội cũng như cả
lịch sử của Mác và Mác trở thành tội lỗi hay kể cả tội ác dù Mác có thể không
trực tiếp tạo ra những điều đó. Song những hệ lụy gián tiếp Mác làm sao né
tránh được, và đó đương nhiên là tác nhân của nhiều loại tội ác nhân danh Mác
và Mác cũng không thể nào chối bỏ trách nhiệm của chính bản thân mình được.
Một mục tiêu không
bao giờ đạt đến mà lại gây ra nhiều bất công phi lý, nhiều phung phí thiệt hại,
làm khống chế con người và xã hội một cách nghiệt ngã, khổ đau, chèn ép và áp bức,
đó nếu không là tội lỗi, tội ác, thì còn gì nữa. Bởi mọi cá nhân sinh ra đời là
để sống, để mưu cầu hạnh phúc và phát triển tiềm lực bản thân mình một cách cần
thiết và chính đáng, không phải để nhằm nô lệ người khác hay để nhằm xây dựng
những mô hình xã hội nào đó không có thực, hoàn toàn phí lý và bị khống chế, ép
buộc một cách không căn cứ, vô bổ, vô ích và đầy phí phạm vô lối cho chính bản
thân, cũng như đời sống chân chính và thiết yếu của chính họ. Mọi sự cưỡng chế
vô bổ và vô tích sự trong cuộc đời này dầu nấp dưới bất cứ danh từ hay sự nhân
danh nào thực chất đều là sự lừa đảo, gian dối và thành tội ác cả, không phải với
bất cứ cá nhân, tập thể nào, mà còn đối với xã hội và kể cả đối với nhân loại.
Bởi độc tài làm
đánh mất bản thân người khác, tức làm vong thân họ, họ không còn tiếng nói chân
chính, bình đẳng mà chỉ trở thành cu li mọi loại. Họ bị đánh mất tư duy và cả
văn hóa, tức phải thành kẻ lòn cúi, nịnh nọt, bợ đở, tâng bốc kẻ độc tài bằng
vô vàn hình thức mà trong xã hội thực tiển mọi người đều đã nhìn thấy. Sự tâng
bốc thần thánh hóa lãnh tụ cộng sản cho dù bất cứ ai đó là điều dễ thấy và đáng
nói nhất của loài người suốt trong thế kỷ 30 của kỷ nguyên hiện tại mà ai cũng
biết. Nhưng kết quả cuối cùng vẫn là nhà nước Liên Xô sụp đổ, khối các nước Đông Âu tan rã, vậy mọi
phí phạm, cưỡng chế thúc ép trước đó cho người dân của họ còn ý nghĩa gì, giá
trị nào, kể cả mục đích chính đáng ra sao nếu không phải chỉ là sự phung phí,
lãng phí tùy tiện, coi bản thân con người và mọi quyền lơi chính đáng liên quan
của họ đều chỉ như rác rến nhằm đổ sông đổ biển. Đó mọi hệ lụy đã qua của học
thuyết Các Mác trong suốt cả thế kỷ 20 đều không ngoài như thế.
Ai cũng biết xã hội
tự do dân chủ luôn luôn là xã hội nhân văn, vì phẩn lớn loài người dù trong
hoàn cảnh, môi trường hay điều kiện nào cũng đều thường sống có lý trí, có nhân
bản, nhân văn, bởi bản thân tích cực của loài người luôn đều như vậy. Trong khi
đó mọi chế độ, cơ chế độc tài đều tạo nên mọi cá nhân ích kỷ, chỉ sống vì quyền
lợi chật hẹp của mình trước hết mà không có thoi quen hay mục đích nghĩ đến người
khác. Điêu đó cũng giống như nước chảy tự do, không khí lưu thông tự do thì
khác, nhưng khi xếp thành đống đá, dống gạch đè ép lẫn nhau, không bất kỳ yếu tố
nào xê dịch vì do bị chế ngự, ngăn cản bời các yếu tố chung quanh thì chỉ có thể
hoàn toàn bị tế tắt, thụ động, và hoàn toàn bị vật hóa tuyệt đối, không còn
hình dạng, hình thể của con người có ý thức tự do tự chủ và tinh thần nhân bản
cùng thương yêu trợ giúp với nhau được nữa. Tội ác của lý thuyết chuyên chính
vô sản hay độc tài vô sản của Các Mác xảy ra xuyên suốt nhiều nơi trong cả thế
kỷ thứ 20 trong lịch sử loài người thực chất là như vậy.
Điều đáng nói cuối
cùng cho hệ lụy học thuyết độc tài vô sản của Mác là do hoản cảnh cụ thể của thế
giới, nhân danh chống thực dân đế quốc, chống bóc lột giai cấp, giải phóng dân
tộc, giải phóng đất nước, mọi lãnh tụ cộng sản quốc tế vào thời đó từ lò đào tạo
của Liên Xô cũ hay của Nga do Lênin lãnh đạo từ Điện Kremlin đều không đi ra
ngoài hệ thống nhà nước Nga sau cách mạng tháng mười và đều bằng cả một hệ thống
danh từ hoàn toàn giống nhau và khó còn biết thế nào là giả hay thật, nhân danh
hay ảo tưởng, lợi dungj hay tin chắc, và nó cũng vốn tạo ra mọi hệ lụy đều giống
như nhau cả. Như là chiến tranh, đàn áp, thủ tiêu, đấu tố, cưỡng chế, khủng bố,
tuyên truyền kiểu dụ hoặc, qua các danh từ bóng bẫy nhất, hấp dẫn nhất, thu hút
và thuyết phục nhất mà bất kỳ nước nào cũng có, nơi đâu cũng có từ Tây sang
Đông trên khắp cùng mọi nơi trên thế giới.
Như vậy đó cũng
chính là những tác động qua lại giữa con người và các danh từ trong suốt thế kỷ
20 của loài người mà ai cũng biết. Chính con người tạo ra những danh từ rồi lợi
dụng các danh từ tạo ra những con người khác, và cứ tiếp tục như vậy giống người
ta tạo ra tia sáng laser trong vật lý học càng ngày sức mạnh càng lớn. Chính học
thuyết Mác trong suốt thế kỷ vừa qua đã rơi vào hoàn cảnh như vậy, bởi môi trường
của nó thường là môi trường những người vô sản hay ít học, kém phán đoán, dễ bị
lợi dụng và dễ bị thu hút. Nói khác đi con người càng bị thu hút vao cái gì
mình ít hiểu biết, còn hễ càng hiểu biết thì càng hồ nghi và càng e ngại. Ngay
cả những lãnh tụ quốc tế cộng sản lớp đầu tiên cũng thế, nếu họ hiểu rõ được học
thuyết Mác theo kiểu như nhà khoa học hay nhà triết học hay ít ra như nhà trí
thức chân chính, chưa chắc họ đã làm cộng sản hay đi theo thuyết Mác, nhưng thực
tế ở đây hoàn toàn ngược lại. Nên chỉ do luận điểm độc tài vô sản tạo nên một hệ
thống chắc cứng, từ quốc tế đến quốc nội, bất kỳ nơi nào họ đã đi vào thì khó
ra được, cứ phóng lao thì phải theo lao đến trọn đời nếu không muốn để hủy hủy
diệt, tạo nên sức mạnh và hệ lụy ghê gớm nhất mà trong qua khứ chính Các Mác đã
mang đến cho toàn nhân loại mà loài người xuyên suốt 29 thế kỷ đến nay hoàn
toàn chưa hề có.
Nói cho cùng lại,
chính các danh từ lại là điều dễ dàng làm cho con người bị thu hút, đam mê, và
truy đuổi theo nhiều nhất. Nó là niềm hấp dẫn khôn cùng khi nó càng nhiều hào
nhoáng bề ngoài, kiểu càng mật ngọt chết ruồi bất kỳ lãnh vực nào cũng vậy, nhất
là tình yêu trai gái, tôn giáo, và nổi bật ghê gớm nhất là chính trị xã hội. Bởi
cái gì chưa thăm dò hết được càng dễ khiến say sưa lao tới. Và khi chính trị bị
biến thành tôn giáo thì hết phương cứu chữa. Nó cũng gần như một loại thánh chiến
mà con người say mê tột độ nhất, có thể hi sinh đến người cuối cùng nếu không
có gì ngăn cản lại. Tư duy yếu thì niềm đam mê và cảm xúc càng lớn, đó cũng là
quy luật khách quan tự nhiên nơi cá nhân cũng có khi nơi toàn xã hội con người.
Chỉ có điều tiếc
là học thuyết Mác không hoàn toàn khoa học khách quan hay tuyệt đối đúng. Bởi nếu
nó được như thế thì chẳng có gì phải nuối tiếc hay ân hận vơi mọi điều nó đã
đưa lại. Đằng này moi việc đánh bẫy ngọn tre thì chẳng qua chì chài đều mất cả,
chỉ trở nên sự phung phí vô tiền khoáng hậu mà mọi người trong cuộc không bất cứ
ai lại có thành tâm hay ý chí thú nhận. Phóng lao thì phải theo lao, mọi tâm lý
ích kỷ của loài người từ xưa đến nay vẫn đều như vậy. Quyết tâm của Mác là phải
tiêu diệt chế độ kinh tế tư bản. Quy cho nó nguyên nhận phạm tội trong lịch sử
thế giới loài người. Mác muốn thay vào đó là chế độ kinh tế tập thể, tự cho là
tối ưu, hấp dẫn, tuyệt đối đúng mà mang lại thành công nhất. Nhưng hỡi ơi mọi sự
việc khách quan đều không diễn ra như vậy, chỉ có điều nó bị cản ngại bởi yếu tố
tâm lý nơi con người.
Mác quên rằng con
người làm bất kỳ điều gì đều phải cần đến kỹ thuật, không thể chủ quan hay cảm
tính dễ dãi. Bởi kỹ thuật chính là phương pháp luận mà bất kỳ lãnh vực hoạt động
nhân văn hay tự nhiên nào con ngươi đều cần phải có. Phương pháp luận nói khác
đi là phương pháp khoa học hay mục tiêu khoa học. Nó chính là công cụ tiết kiệm
tối ưu nhất mà con người phải cần tìm ra vưa đưa vào giải quyết. Đó cũng là mọi
kinh nghiệm hàng ngàn năm mà con người ngày nay đã qua đúc kết. Nó vượt lên mọi
cảm tính chủ quan để đạt tới những lý tính khách quan và hiệu nghiệm nhất mà
con người cần phải có. Phương pháp luận khách quan đã có không thể bao giờ loại
bỏ mà chỉ có thể cải thiện, làm cho nó tốt lên thêm, đó là ý nghĩa lịch sử thường
xuyên và hoàn toàn thực tế. Các định chế về xã hội kinh tế tư nhân, thị trường
kiểu tư bản chủ nghĩa, tiền tệ, ngân hàng, tuy không phải bất di bất dịch,
nhưng nó luôn tiện ích, hiệu quả và cần phải có, hoàn toàn khác vơi chủ nghĩa
Mác đầy tính hoang đường, thêu dệt, phản lại con người, phản lại thực tế, chỉ bằng
mọi danh từ hết sức kêu to nhưng hoàn toàn sáo rỗng.
Thành nên quần
chúng hay mọi con người bình thường luôn chỉ như tờ giấy trắng. Họ tạo nên
khung sườn hay cửi canh cho toàn xã hội. Hay họ cũng chỉ luôn luôn là vật liệu
thụ động. Chính những người tiên phong trên những phương diện nào đó đều vẽ lên
các hình ảnh trên chính họ. Các hình ảnh đó luôn thay đổi theo từng thời đại
hay mỗi thời mỗi khác. Có các hình ảnh đẹp hay xấu, hay hoặc dở tùy theo mỗi thời
nhưng đều thảy qua hết và trở thành quá khứ dầu được xã hội vẫn luôn lưu lại.
Những người tiên phong đó chính là những nhân tố do các nguyên nhân nào đó mà
xuất hiện. Họ thường là những nhà khoa học, những nhà tư tưởng hay các triết
gia, những nhà hoạt động tôn giáo, xã hội, chính trị, văn học, văn hóa cùng bao
nhiêu lãnh vực, phạm vi khác nữa. Có điều vẫn luôn vàng thau lẫn lộn, và cuối
cùng đều qua mọi sự sàng lọc lịch sử mà còn lại mãi mãi hay mất đi vĩnh viễn.
Thế giới của những danh từ vẫn luôn luôn là vậy. Mọi cái đổi thay trong sự trường
cửu và mọi sự trường cửu trong cái đổi thay đều luôn như thế.
THƯỢNG NGÀN
(29/3/24)
**
No comments:
Post a Comment