Thursday, April 25, 2024

NÓI VỀ TÍNH NGUY HIỂM VÀ SỰ TỆ HẠI CỦA SỰ ĐỘC TÀI ĐỘC ĐOÁN TRONG XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI

 

NÓI VỀ TÍNH NGUY HIỂM VÀ SỰ TỆ HẠI CỦA SỰ

ĐỘC TÀI ĐỘC ĐOÁN TRONG XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI

 

     Hãy ví dụ có một nhóm người nhỏ nào đó đang đi trong rừng, được kết tụ lại bởi nhiều nguồn gốc và thành phần khác nhau, nếu người cầm đầu nhóm chỉ là người độc tài độc đoán chỉ biết làm theo ý riêng mình bất chấp mọi người khác, dĩ nhiên chẳng bao lâu nó phải tự tan rã. Trừ ra nhóm này phải đi theo một ông chủ thật sự, và mọi người khác đều là người làm thuê, được thuê mướn do ông chủ. Đây chính là một mô hình xã hội thu nhỏ, và xã hội tự do hay độc tài độc đoán cũng khác nhau như vậy. Nhóm tự do hay xã hội tự do mọi người đều được bình đẳng, có quyền ngang nhau, lấy quyết định chung hợp lý nhất cho mọi vấn đề hay mục đích thiết yếu cần đòi hỏi, và kết quả tốt đẹp nhất cũng phải tự đó mà có.

 

Bất kỳ cá nhân nào, hay cả số ít người nào nắm quyền, vẫn không tránh được tính hợm hĩnh, ích kỷ, nhưng họ vẫn có thể che đậy được bằng những ngôn ngữ giả tạo nào đó để đánh lừa người khác, hoặc cả những thủ đoạn gian trá nào đó nhằm phỉnh gạt người khác nếu thực chất trong lòng họ thiếu trong sáng, lương thiện, điều này khó ai có thể biết được. Nên ý nghĩa tự do dân chủ và độc tài độc đoán luôn luôn khác nhau như vậy. Đặc biệt nếu sự độc tài độc đoán đó không phải riêng bởi cá nhân nào mà nó thành ra một thiết chế chung cho xã hội. Hay một xã hội chỉ làm thuê cho một cá nhân, thiểu số, hoặc một tầng lớp nào đó, vẫn cứ bề ngoài tuyên bố bình đẳng, tự do, dân chủ, thì vẫn không ai nói khác làm khác đi được.

 

Có nghĩa đối với con người, không phải ngôn ngữ bề ngoài có ý là gì, nhưng đó chính là thực chất bên trong là thế nào, nhất là cơ chế tự tại vốn có của nó ra sao, tự do dân chủ thật sự hay chỉ là chủ quan, độc đoán. Tính cách thiết chế của xã hội càng chặt chẽ càng biểu lộ hơn thêm về điều đó. Bởi nếu cá nhân sống độc lập thì chẳng có gì đáng nói, nhưng nếu xã hội được liên kết, tổ chức càng chặt chẽ, nó trở thành một mạng lưới khắt nghiệt, một thực tại kiểu bê tông cốt thép mà mọi người, bất kỳ ai đều không thể nào thoát ra được. Tính cách của loài người là sự ý thức, nên khi ý thức xã hội bị kết cấu và điều hướng theo cách tệ hại, tiêu cực, thấp kém hay xấu xa nào đó, liền trở nên một thực tế tệ hại, bởi vì cá nhân dầu ít hay nhiều đều bị ràng buộc bởi mối liên kết chung, cộng đồng hay tập thể.

 

Mọi người sinh ra đều được bình đẳng và tự do, đó là nguyên lý lớn nhất, quan trọng nhất, bao quát nhất của toàn lịch sử. Không ai với bất kỳ lý do gì mục đích gì mà có quyền đi ngược lại chính nguyên lý này nếu không phải chỉ là giả tạo và gian dối. Bởi con người ai cũng có ý thức và lý trí giống nhau, tuy sự hiểu biết, năng lực, và cả khi sự hiểu biết có thể khác nhau, nhưng quyền làm người bình đẳng đều như nhau, cần sự bổ sung, trợ lực đều cho nhau, nên không bất kỳ lý do nào để thiết chế, bảo vệ, hay tuyên dương sự độc tài độc đoán của một vài cá nhân hay chỉ một số ít lớp người nào đó trong xã hội được. Vả xã hội luôn luôn thay đổi, biến động một cách tự nhiên bởi những lớp người mới ra đời, những thế hệ mới nối tiếp nhau, tiềm lực và triển vọng của xã hội luôn luôn đổi thay, tiến tới, vậy lý do nào để tuyên xưng sự độc tài độc đoán của bất kỳ cá nhân hay tập thể nào được cả nếu không nói chỉ là sự bảo thủ, lạc hậu và phản động.

 

Như vậy có thể nói sự hiểu biết của mỗi người, tức mỗi thành viên trong xã hội là ý nghĩa quan trọng thiết yếu và sâu xa nhất. Điều đó nói chung là dân trí. Tính dân trí luôn luôn cần phải độc lập, sáng suốt, tự do riêng nó, bởi nếu dân trí bị què quặt, khống chế, lũng đoạn bởi bất kỳ sự giáo dục, tuyên truyền, ép uổn, uốn nắn giả tạo không khách quan nào đó thực chất đều sự lạm dụng, gian dối, hay kể cả thành một tội ác. Bởi con người ai cũng có bản năng và tình cảm, vấn đề là bản năng đó có chính đáng và tình cảm đó có cao quý và hướng thượng thật sự không. Nên nếu dùng sự tuyên truyền giả tạo để điều hướng những tình cảm sai trái, tạo ra thực chất dân trí hổn độn, thấp kém, thì đó cũng là tội lỗi hay kể cả là tội ác nhìn chung đối với con người và xã hội.

 

Xã hội thật ra chỉ như cục bột, nó có thể dạy men bất kỳ lúc nào tùy theo loại men đưa vào đó là loại men gi. Nếu men tốt thì thành bánh mì, còn nấm mốc thì chỉ đưa đến một khối bột hoàn toàn bị mốc meo cả thảy. Chỉ cần vài con men tốt ban đầu hay chỉ vài con nấm mốc ban đầu, chẳng mấy chốc cũng lan truyền ra cả khối bột, bởi quần chúng thường vẫn luôn tiêu cực và thụ động, nên tính cách ủ men, tùy thuộc vào loại men tốt hay xấu phải đưa ra các kết quả khác nhau là vậy. Men xấu ở đây là sự giả trá, mê muội, hay không trung thực ban đầu ở một số người, nhưng vẫn được truyền lan ra toàn xã hội, bởi quy luật khách quan luôn là như vậy. Nên con người lương thiện, có lương tâm và sự hiểu biết sáng suốt, tức dân trí tốt đẹp trong một xã hội tự do dân chủ đúng đắn, đích thực, hoàn toàn trái ngược lại kiểu độc tài độc đoán mù quáng, thấp kém đều là như thế.

 

Con người hơn thua nhau là nhờ giáo dục, nhờ bản chất lương thiện tự nhiên, nhờ nổ lực phấn đấu vươn lên điều tốt đẹp, thế thôi, còn thân xác ai cũng đều có quy luật khách quan như nhau, là bản năng sinh tồn, sự hưởng dụng khoái cảm, nhiều khi khuynh hướng thiên về hướng hạ là điều chắc chắn bất kỳ lúc nào cũng có. Nên ý nghĩa của mọi sự tốt đẹp luôn luôn là sự nhận thức hướng thượng nhờ mọi sự giáo dục lành mạnh, trong sáng, cao cả. Còn nếu sự giáo dục chỉ nhằm đào tạo công cụ, nhằm đào tạo kiểu ý thức bầy đàn, hay kiểu chỉ sự hiểu biết mù quáng, một chiều nào đó, thực chất đều phản nhân văn, phản xã hội, phản lịch sử, tất nhiên chỉ không ngoài tội lỗi hoặc tội ác, chỉ kiểu ngây thơ, vô tình, hay cố ý nhằm phản động thế thôi.

 

Thời xưa xã hội bộ lạc, phong kiến hay quân chủ sự độc tài độc đoán chỉ là điều khách quan, tự nhiên, bởi vì xã hội đi lên từ hoang dã, ai có sức mạnh có quyền, dù đó chỉ là quyền ỷ mạnh hiếp yếu, chưa có gì là nhân văn cao cả được. Tù trưởng bộ lạc, phong kiến cát cứ, quân chủ độc đoán cha truyền con nối đều là kết quả khách quan như thế. Bởi do chưa thể có ý nghĩa khách quan hợp lý nào khác thay vào. Nhưng lịch sử xã hội loài người luôn luôn phát triển đi lên là điều tất yếu, nên cuối cùng ý nghĩa của tự do dân chủ khách quan dần dần thay thế vào đó, bản chất dân chủ tự do là thật sự, còn hình thức quân chủ biểu trưng nào đó còn tồn tại, chẳng qua là nhằm đáp ứng những thói quen truyền thống hay tình cảm tốt đẹp bảo lưu nào đó vậy thôi. Tất cả mọi điều đó hoàn toàn tự nhiên, khách quan còn không có một cơ sở ý thức hệ chủ quan nào lồng vào trong đó cả.

 

Nhưng tới khi Các Mác xuất hiện (1848 - 1883) thì hoàn cảnh thế giới mới hoàn toàn đổi khác. Lần đầu tiên Mác đưa ra lý thuyết đấu tranh giai cấp nhằm đi đến xã hội hoàn toàn không giai cấp bằng biện pháp độc tài vô sản hay chuyên chính vô sản. Mục đích xã hội không giai cấp của Mác là xã hội không còn thị trường, tiền tệ, không còn mọi giai cấp khác nhau, chỉ còn những người công nhân thuần túy, cùng làm sản phẩm trực tiếp chia chung với nhau, giai đoạn đầu gọi là xã hội chủ nghĩa, làm theo năng lực hưởng theo công sức, giai đoạn sau cao hơn gọi là cộng sản chủ nghĩa, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu. Trong tương lai xã nữa, tiến tới xã hội không còn nhà nước, không còn pháp luật, bởi không còn giai cấp thành những gì nhằm bảo vệ giai cấp, là công cụ của giai cấp trước đó cũng hoàn toàn bị tiêu diệt.

    

Giấc mơ đầy không tưởng đó của Mác thật vô tiền khoáng hậu, chứa toàn những điều nghịch lý, phi lý trong đó, hoàn toàn phản lô-gích, phản thực tế khách quan khoa học. Bởi giai cấp công nhân vô sản chỉ tồn tại có một mình thì cơ chế xã hội nào mà tạo ra điều đó. Phải có cái mặt mới có cái trái, có cái thấp mới có cái cao, có cái này mới có cái kia, có sự vật nào mà chỉ có một minh, đây chính là sự ngờ nghệch của Mác. Mác còn cho giai cấp công nhân được đội tiền phong của nó lãnh đạo, khi xóa xong được giai cấp thì đội tiền phong hay đảng độc tài của nó cũng tự mất, không còn ai ngoài giai cấp công nhân nữa.

 

Thật là một lý luận ngược ngạo và cả hoàn toàn ngây thơ mà Mác phạm phải. Mác quên cả điều thiết yếu là bản năng tham muốn của con người, ai có điều lợi lộc hay ưu quyền mà lai hoàn toàn tự nguyện bỏ đi, hay sự độc tài độc đoán đó sẽ mút chỉ cà na cai quản mãi thế gian. Mác quên cả điều quán tính hay luật quán tính khách quan trong xã hội loài người, là trạng thái nào được thiết lập, nếu không có nguyên nhân nào lớn hơn để thay đổi nó, nó chỉ có thể tồn tại mãi mãi mà không thể khác. Vả thế nào là đội tiên phong thuần túy lý tưởng, lấy thuộc tính hay cơ sở nào bảo đảm cho điều đó, lấy điều gì để bảo đảm chắc chắn rằng nó không suy thoái hay cả ngay từ đầu khó tránh bị các thành phần, yếu tố thời cơ, cơ hội xâm nhập, trà trộn vào. Tính ấu trĩ, ngây thơ của Mác ở đây chỉ là như thế.

 

Thật ra kiểu tin tưởng suông đuột của Mác như thế chăng qua là do từ sự mê tín quá mê muội vào thuyết biện chứng của Hegel. Cho rằng sự vật đều phủ nhận liên tiếp nhau, và khi có hai đầu đối lập phải nhất thiết bị phủ nhận và tiêu diệt một đầu. Kiểu biện chứng của Hegel chỉ là kiểu biện chứng duy tâm và hoàn toàn tư biện, tức lý luận suông trong ý thức và nhận thức. Mác là người tuyệt đối duy vật, chỉ tin tưởng duy nhất vật chất như là cốt lõi tồn tại của mọi điều trong thảy thế gian, ngoài ra không có gì khác, không có tinh thần mọi loại, hay nếu có cũng chỉ là bản thân của vật chất. Và vật chất hoàn toàn vô nghĩa, không có nội lực nào cả thì lấy đâu biện chứng. Một tảng đá triệu đời nó cũng chỉ là tảng đá, dễ nào làm phát sinh ra cái khác ngoài là chất đá được. Sự đem râu ông nọ cắm cằm bà kia để phịa ra thuyết duy vật biện chứng rồi tô vẽ ra cả thuyết duy vật lịch sử để để nhằm cổ vũ cho quan niệm giai cấp đấu tranh hay đấu tranh giai cấp của Mác chỉ là một quan niệm tùy tiện, đầy chất ức đoán, xuyên tạc sự thật và chẳng có chút gì là thực tế, khách quan cả. Lý luận kiểu để nhằm lý luận, bất chấp sự thật, đó khác nào là kiểu ngụy biện, xuyên tạc và thậm chí gian giảo của Mác.

 

Trong khi bản chất cấu trúc hay cơ cấu tổ chức tự thân luôn luôn phải có trong đều sự vật. Từ mảnh giấy, đầu kim, ngọn cỏ, đến những cái khác sâu xa hơn như hạt nhân nguyên tử, hay cả đến những cái vĩ mô hoặc vĩ đại, toàn diện hơn, như các thiên hà lẫn cả đều vũ trụ toàn thể, cái nào mà không cấu trúc hay thoát ra được bản thân quy luật của cấu trúc. Giai cấp xã hội cũng hoàn toàn kiểu thế, có điều nó không rắn chắc, im lìm bất động như nhiều sự vật nhưng luôn chuyển động, đổi thảy, chỉ là quy luật vận động khách quan, tự nhiên của đều xã hội lẫn lịch sử. Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời, đó là chân lý thực tế mà từ thời xa xưa nhân gian đã từng thấy rõ. Nên đây cũng chính là một sự hoang tưởng của Mác, một mơ một xã hội toàn không giai cấp là điều ấu trĩ, ngu ngơ và hoàn toàn phi lý.

 

Cả tư sản là định chế thiết yếu và khách quan của xã hội loài người, bởi là phương tiện bảo đảm sự tự do, thoải mái, cũng như tiện lợi cho mọi cá nhân trong tất cả mọi mặt. Cả thị trường và tiền tệ đều cũng do đó mà ra, đều là những khám phá vĩ đại và hiệu dụng nhất từ ngàn xưa mà loài người tìm thấy được. Mác lại vì nhận thức tính bóc lột theo kiểu phán đoán một chiều, sai lạc, lẫn đều chất cảm tính, để muốn nhằm tránh bóc lột phải loại bỏ thị trường, hủy bỏ tiền tệ lưu thông, để con người cùng làm ăn trực tiếp phân phối sản phẩm với nhau, khác nào quan niệm của Mác là chống lại xã hội, đi ngược lại phát triển tự nhiên của xã hội. Bởi vì thời hái lượm được mệnh danh là thời cộng sản nguyên thủy, ngày nay đã rời xa cả nhiều vạn năm rồi, làm sao có thể quay lại kiểu ngược dòng được nữa.

 

Mác lấy cảm thức phi lý đầy cảm tính và thị hiếu bạt mạng đó của mình két chung lại với quy tắc biện chứng chỉ toàn tư biện đó của Hegel để tự mệnh danh học thuyết của mình là học thuyết khoa học, chân lý vô địch và tuyệt đối đúng, kiểu như đỉnh cao của trí tuệ loài người, thật là phi lý và ốt dột, lôi kéo và phỉnh dụ được chỉ số người trong thời kỳ tri thức thế giới còn nhiều ấu trĩ, mơ hồ và thấp kém. Nhưng chính Lênin là người đầu tiên ở Nga đã đem nhằm thực thi và tưởng rằng thực hiện được toàn diện lý thuyết Mác. Thật ra nếu không có Lênin, thuyết Mác chỉ có thể ngàn đời nằm yên trong hộc tủ, làm mồi cho mối mọt, bởi nó hoàn toàn phi lý, hư tưởng như thế thì mọi con người lý trí, trung thực, và lương hảo nữa còn làm sao chấp nhận.

 

Nhưng đất nước Nga lúc đó thực chất vẫn là đất nước lạc hậu nhiều mặt so với toàn châu Âu, nên đây là mảnh đất mầu mỡ cho thuyết Mác được chiếu cố và làm lan truyền đi nhiều nơi ra toàn thế giới. Thêm điều quan trọng nhất, khi Mác hô lên vô sản độc tài đầy chất khiên cưỡng và mờ mịt, thì điều đó hấp dẫn được giới nghèo khó trên toàn thế giới, nhất là đối với những nước lạc hậu. Vả nghệ thuật tổ chức và tuyên truyền lẫn áp dụng kỹ thuật bạo lực, bạo động là sở trường của nước Nga. Những cái ấy càng cố kết và hỗ trợ lẫn nhau, làm hệ thống bôn sê vít ngay từ đầu thành công ở Liên Xô chỉ đều như thế. Sức mạnh ở đây không phải là sức mạnh của sự nhận thức hay công lý mà là sức mạnh mù quáng của đám đông, của ý thưc kiểu thuần túy trong suốt thời gian dài cả gần thế kỷ quả đều là vậy. Sự sợ hãi luôn có và sức mạnh bầy đàn của đám đông, được tuyên duyên thành sức mạnh tập thể, thành sức mạnh vô địch nhất định thắng, thật là điều lố bịch của nhân loại mà từ ngàn năm xưa chưa từng có. Tình ngu dân tệ hại do sự tuyên truyền nghiệt ngã một cách giả dối, cũng phát sinh do bởi sự cuồng tín, giáo điều, hay kể cả sự lợi dụng bản thân về học thuyết Mác.

 

Nên mọi sự nhân danh trong thuyết Mác đã trở thành thói quen truyền thống vẫn luôn luôn có. Chỉ vì sự nghèo khó một thời của công nhân vô sản Anh thế kỷ 18, sự nghèo khổ của giai cấp tầng lớp nông dân bần cố nông do các xã hội, đất nước nghèo nàn của Á Châu mang lại, một số người đầu tiên hoặc chỉ vô tình hay hữu ý cũng đã từng nhân danh ý thuyết Mác. Nhân danh giải phóng giai cấp công nhân và nông dân, nhân danh giải phóng khỏi thực dân đế quốc và quân chủ phong kiến, nhân danh giải phóng đất nước và cả nhân loại, nhưng cuối cùng thực tế hay cả trong thâm tâm họ ai đâu đều biết. Sông sâu còn có kẻ dò, nào ai lấy thước mà đo lòng người, cuối cùng kết quả thực tế đã phơi bày hay chứng minh ra tất cả. Sự độc tài độc đoán của cá nhân Stalin, của Mao Trạch Đông, của Kim Nhật Thành, cuối cùng chỉ mang đến chiến tranh và xã hội bị áp đảo cùng cực mà ai cũng rõ. Nguyên lý cấm xét lại ở Liên Xô, mười năm cách mạng văn hóa ở Trung Quốc, phong trào cải cách ruộng đất ở một số nước, chế độ giòng họ trị, gia đình trị của ông cha con cháu nhà họ Kim làm toàn dân Bắc Triều Tiên bị tuyệt đối áp chế, đều hoàn toÀn cho thấy điều đó.

 

Thật ra không bất kỳ cá nhân hay tập thể nào có thể sử dụng được sức mạnh độc tài nếu họ không vận dụng hay sử dụng được sức mạnh mù quáng của đám quần chúng rộng lớn nghe tin theo họ hay nằm trong tay chính họ. Một đứa trẻ chăn cừu hay đứa bé chăn vịt đều có thể chỉ cần cầm một cái que nhỏ hay cái roi nhỏ đã có thể điều khiển cả đám đông bầy cừu hay vịt khổng lồ. Đó là sức mạnh của sự vô tri thức hay sự nhận thức. Sức mạnh đó không phải đến từ cái que hay cây gậy mà đến từ từng cá thể cừu hay vịt với nhau. Chúng hoàn toàn mù quáng chỉ chạy theo bầy tức theo một niềm tin quán tính nhất định. Riêng nơi loài người, sự tuyên truyền giả dối lâu ngày đã được nhập tâm, con người chỉ còn biết suy nghĩ một chiều mà không còn tư duy độc lập hoặc nhận thức tự do theo cách nào khác. Đó là kết quả của chế độ Quốc xã, quân phiệt, hay cả hệ thống bôn sê vít của xã hội Liên Xô xưa kia đều là như thế.

 

Nó hoàn toàn không dung nạp được người trí thức chân chính, độc lập, nó chỉ tạo ra kiểu quần chúng đàn bầy, chỉ biết tung hô lãnh tụ, hô khẩu hiệu theo mọi cách, mọi loại, nhất là âm nhạc và văn học nghệ thuật nhằm ngu dân kiểu mù quáng nhất. Tiêu diệt trí thức, tiêu diệt mọi giới tinh hoa khác nhau trong xã hội loài người là thủ thuật thường thấy nhất trong mọi chế độ độc tài độc đoán. Không những thế còn dùng sức mạnh kinh tế cùng bạo lực trần trụi hoang dã để khống chế. Tính nguy hiểm và tệ hại đối đế nhất của các kiểu độc tài toàn trị là như thế đó. Chúng làm hạ giá con người xuống còn xã hội bầy đàn, xã hội vật thể mà không còn toàn đúng xã hội nhân bản, nhân văn, với nền tảng tự do dân chủ hoàn toàn thực tế, khách quan và thiết yếu nữa. Trách nhiệm của nhà độc tài vì do mù quáng vào một học thuyết hay ý thức hệ nào đó, hay thật sự chỉ vì bản thân ích kỷ, thấp kém, nhưng được khéo che đậy hay dùng mọi cách để thêu dệt nên vậy thôi. Tính ngu dân và tính xuyên tạc sự thật khách quan luôn là điều mà mọi chế độ độc tài đều ham muốn và ưa vận dụng nhất.

 

Nếu ngày xưa chế độ phong kiến hay quân chủ đôc đoán, thực chất chỉ có cá nhân, gia đình, hay giòng họ nào đó cai trị kiểu cha truyền con nối chỉ nhờ họ đánh thắng mọi địch thủ của mình, nhưng toàn bộ xã hội vẫn có tự do riêng, tuy không dân chủ, nhà nước không can dự vào hoạt động toàn dân riêng tư chút nào cả. Chỉ từ luật khi quân, phản loạn, chống lại vua, còn phần lớn xã hội đều được tự do nhiều mặt, không hề gò bó, buộc chặt vào bất kỳ loại ý thức hệ chủ quan phi lý nào cả. Sự tự do dân chủ của xã hội trong nền quân chủ chuyên chinh là điều vẫn còn thấy được. Trong khi đó học thuyết tuyệt đối hoang tưởng của Mác cuối cùng trở thành chế độ toàn trị chuyên chế toàn xã hội. Nhờ hệ thống tổ chức chặt chẽ, hệ thống tuyên truyền giáo dục tinh vi, cả chính sách kinh tế bó buộc về đời sống, con người bất kỳ mọi cai đều không thể có chút tự do để tránh né hay thoát ra nào cả. Như một đám cỏ bị đè bẹp bằng một tấm danh, cỏ vẫn có tự do sống được, nhưng thật sự chỉ sống theo bản năng tự nhiên theo mọi cách, nhưng hoàn toàn giả tạo và chẳng có khách quan chút nào.

 

Loài người cũng vậy, trong bất kỳ chế độ độc tài nghiệt ngã phản động nào thì họ vẫn sống, nhưng đó chỉ là cách sống sinh vật tạm bợ, không phải cách sống chân chính của con người có đều mọi tự do khách quan và nhân bản. Như cái cây kẹt trong hốc đá thì nó vẫn sống, loài vật kẹt trong nơi tối tăm, bẩn chật thì chúng vẫn sống, nhưng đó là cách sống trái lại với bản thân tự nhiên của nó. Loài người cũng vậy, đó chỉ là cách sống ảo và hoàn toàn giả tạo. Sống trái ngược lại với bản thân khách quan tự nhiên của mình mà đều tự không biết. Đó là cách sống vong thân và còn làm cả đồng loại mình vong thân. Bởi trong thế giới ảo đó, không ai được quyền làm ngược, suy nghĩ ngược, hay sống ngược lại với chính bản thân thế giới ảo đó. Riết rồi lâu ngày tưởng thế giới đó là thật, là chân lý, là công lý, là sự vong thân, đánh mât bản thân chính đáng của mình mà không tự biết. Sự bóc lột cá nhân ngày xưa nếu có trong vài trường hợp đặc thù nào đó, nay trở thành sự bóc lột tập thể cả tinh thần lẫn vật chất cùng quan hệ xã hội mọi loại. Ngây xưa nếu là vua cá nhân hay giòng họ, thì ngày nay trở thành vua tập thể tự tuyển chọn lấy mà không ai trong xã hội đó bầu bán hoặc tín nhiệm ra cả.

 

Đó là sự tệ hại mà học thuyết Mác đã mang lại cho cả thế giới loài người gần như suốt tròn cả một thế kỷ. Sự tệ hại này trước hết do những nguyên lý tự chế trong bản chất nó gây ra. Trước tiên thuyết Mác xét cho cùng là lý thuyết hư vô tuyệt đối, bởi không tin điều gì khác hơn là vật chất tuyệt đối, như vậy nó còn gì về bất kỳ ý nghĩa hay nghĩa lý nào giữa thế gian hay xã hội tồn tại. Thứ nhì, nhìn cứu cánh tột cùng, nó chẳng khác gì kiểu học thuyết vô chính phủ, bởi chủ trương nhằm tiêu diệt hết mọi cái một cách tuyệt đối, chỉ trừ ra một mớ giáo điều kỳ quặc và tâm thức cuồng tín phi lý, nghiệt ngã, là còn để lại. Học thuyết Mác bởi vậy như kiểu một học thuyết chủ tương vô thiên vô pháp, thực chất là kiểu vô chính phủ, mọi chuyện bất cần mà gần một nửa loài người từng bị du vào trong đó trước khi Liên Xô hoàn toàn sụp đổ. Thế nên tóm lại, bản thân Các Mác và kể cả bản thân dân tộc Nga trong quá khứ phải chịu trách nhiệm về tất cả điều đó trước nhân loại. Bởi đây mới chính là nguyên nhân đầu tiên của tất cả. Mọi sự về sau chỉ là hệ lụy hay hậu quả. Một nguyên nhân đầu tiên tệ hại vẫn tạo ra được mọi hậu quả tồi tệ sau cùng chỉ bởi vì do một chuỗi nguyên nhân kế tiếp nhau về sau trên tất cả mọi phương diện, mọi mặt, mà chính nó đã tạo lập.

 

THƯỢNG NGÀN

(25/4/28)

 

**

No comments:

Post a Comment