THẾ
NÀO LÀ NHỮNG TIÊU CHUẨN CỦA CHÂN LÝ
Đây có thể là bài
viết đúc kết nhất cho tới nay trong số nhiều nghìn bài viết với nhiều nghìn
trang viết từ thi ca đến văn xuôi mà người viết ở đây từng một thời gian rất
dài đã đưa lên trên trang mạng Google và Facebook. Bài viết này như một nền tảng
căn cứ chung nhất, kể cả nó có thể chứng minh được rành mạch tất cả mọi điều gì
đã được bày tõ hay giải tỏa. Tất nhiên mục đích ở đây là mục đích thiết thực,
nên cũng vừa mang tính khoa học nhân văn và xã hội, mang tính triết học phần
nào đó, lẫn có những mặt nhận xét, phê phán học thuyết của Mác một cách bao
quát và cốt lõi nhất.
Chân lý là tất cả
mọi sự thật vẫn có mặt ở chung quanh ta trong
cuộc sống thường nhật. Biết đúng sự thật nào đó là biết đúng là biết đúng chân
lý về sự vật hay sự kiện đó. Biết sai về điều đó là biết sai sự thật khách quan
mà nó ẩn chứa. Biết đúng tức nhận thức đúng về điều gì đó cũng đưa đến hành động
đúng và kết quả đúng có liên quan đến nó. Có nghĩa đúng hay sai là tiêu chuẩn đầu
tiên và quyết định của vấn đề chân lý. Chân là sự đích thực, lý là ý nghĩa và
cũng là giá trị đúng. Đây cũng là chuẩn mực đối với mọi tốt đẹp và hiệu quả,
cho mỗi cá nhân, cho từng tập thể, và cho cả xã nói chung.
Tiêu chuẩn là cái
thước đo hay cái ni tấc làm chuẩn mực để nhận thức về sự đúng sai nơi một sự vật
nào đó mà chúng ta muốn hướng tới hay nhắm đến. Đây là dụng cụ để đo đạc hay so
sánh giữa điều chúng ta nghĩ tưởng, chúng ta đánh giá, so với bản chất thật có
của sự vật khách quan. Điều gì chúng ta nhận thức trong suy nghĩ hay trong tư
duy mà phù hợp với sự thật khách quan nào đó, thì đó chính là điều đã đạt tới
chân lý buộc phải có, còn nếu không thì hoàn toàn ngược lại. Tiêu chuẩn đó là sự
phù hợp, sự tương ứng, sự tương thích giữa nhận thức và sự vật cũng như ngược lại.
Mọi sự không tương thích, không đúng đắn, không phù hợp nhau giữa chúng, vì có
sự nghịch lý, sự mâu thuẫn nào đó, đều là sự sai lầm vì không khách quan, không
đích thực, không chuẩn xác.
Mọi sự không đích
xác giữa nhận thức và đối tượng sự vật bất kỳ đều là sự sai lầm nhất định về mặt
nào đó. Nguyên do sự sai lầm này có thể đến từ bên trong hay bên ngoài chủ thể
nhận thức. Bên trong chủ thể nhận thức như trạng thái tâm lý sai hỏng nào đó,
trình độ khả năng nhận thức, hoặc cả định kiến hay thói quen nhất định. Người
trong trạng thái say rượu hay mê muội nào đó thì không thể nhận thức đúng, người
trình dộ thấp thì không nhận thức được các ý nghĩa cao, người bị người khác lừa
dối hay phỉnh gạt cũng như thế, hay cả chính sự vật cũng tạo nên được sự hoang
tưởng như nhìn dây thừng lại nghĩ là con rắn, nhìn mặt trời mọc hay lặn có thể
to hơn chính nó buổi trưa.
Vậy tiêu chuẩn nhận
thức đúng luôn luôn phải là sự lành mạnh trong nhận thức, kể cả sự trung thực
trong đối tượng mà chủ thể nhận thức phải có khả năng đạt đến. Nhận thức không
bị lừa dối vì bất kỳ nguyên nhân nào, nhận thức đạt đến chiều sâu khách quan
nào đó, nhận thức không bị khiếm khuyết do bởi bất kỳ lý do gì, đó mới là những
nhận thức chân lý thật sự. Sự lừa dối trong tự nhiên vẫn là điều thường gặp, sự
lừa dối giữa con người và con người vốn là điều hay dễ xảy ra, và cuối cùng sự
lừa dối do trí tuệ non yếu, sự thiểu năng của đầu óc, ní chung đều vẫn cốt yếu.
Nên một tinh thần thông minh sáng suốt, một đầu óc lành mạnh, một lý trí biết tự
kiểm soát, cũng là những tiêu chuẩn đích thực cho sự nhận thức về chân lý.
Con người hay
thiên về mặt cảm tính và mặt thị hiếu. Cảm tính là sự bằng lòng với nguồn tiếp
nhận giản đơn của các giác quan, cả với những thuộc tính tâm lý bình thường như
vui buồn thương ghét, nó ngăn trở mọi tính khách quan hay mọi đào sâu suy nghĩ.
Hay thị hiếu là sự ưa thích đã thành thói quen hay mong ước nào đó, chỉ thuần
túy theo ý muốn chủ quan mà không còn cần biết những tiêu chuẩn hay tiêu chí
khách quan nào cả. Bởi vậy chỉ có lý trí lành mạnh, được đào tạo chuẩn bị đứng
đắn, qua giáo dục khoa học, chuẩn mực và khách quan mới làm thành lý tính hiệu
quả và đúng đắn nhất của con người. Đó chính là ý nghĩa của khoa học, của giáo
dục nghiêm túc và lành mạnh, của sự truyền bá tính nhân văn trong xã hội, mà
không phải chỉ là sự lừa dối, sự lũng đoạn, sự nhiễu loạn tạo ra bởi những sự
vô tình hay cả những chủ đích và sự hữu ý rõ rệt.
Bởi vậy trong một
đất nước, một dân tộc, hay qua những giai đoạn lịch sử nào đó, nếu bị đánh mất
đi mọi tiêu chuẩn khách quan, thì đó trở thành là sự tệ hại tột cùng cho ý
nghĩa xã hội đó. Khi dân trí bị mê hoặc và hạ thấp vì các nguyên nhân và các chủ
ý nào đó nhất định, chỉ làm xã hội trì trệ, thụt lùi vì chính sự ngu dân, đó là
sự tệ hại khôn lường mà ai cũng nhận thấy ra được. Nên trình độ dân trí cũng
luôn đi đôi với mọi sự nhận thức về chân lý trong mỗi bản thân xã hội. Bởi ai
cũng biết xã hội là một môi trường quán tính mang tính phổ quát nhất, nó có thể
là một lực lượng phát triển mạnh mẽ hay hoàn toàn tiêu cực trì trệ đều do bản
thân của nó bị tác động, ảnh hưởng bởi những nhân tố nào đó. Sức mạnh xã hội có
thể là sức mạnh lành mạnh tích cực hay chỉ là sức mạnh mù quáng tiêu cực, thực
tế cũng chỉ vì những lẽ đó.
Nên những thành phần
học vấn, tinh hoa, sáng suốt, mới luôn là những nhân tố tích cực làm thúc đẩy
xã hội vươn lên, tiến tới, còn nếu không thì hoàn toàn ngược lại. Học vấn là do
nền giáo dục lành mạnh, nền văn hóa lành mạnh, kể cả nền văn minh lành mạnh tạo
ra ở mỗi cá nhân. Khi tất cả điều này bị cùn nhụt, thật ra xã hội cũng không
còn trí thức đúng nghĩa, tinh hoa đúng nghĩa mà chỉ còn là một thực tế vàng
thau lẫn lộn, chỉ còn là đám quần chúng ô hợp có nhiều thành phần chẳng khác
nhau gì mấy thế thôi. Sự vong thân trí thức, sự tha hóa trí thức thực chất là
như vậy, chính trí thức mới đẻ ra được trí thức từ đại chúng mà hoàn toàn không
thể ngược lại, bởi môi trường của trí thức hay tinh hoa đúng nghĩa không chỉ ở
nơi bản thân mà còn chính yếu nằm nơi môi trường xã hội. Môi trường xã hội chỉ
như mặt đất mà từ đó các loại cây trí thức mọc lên, nên khi bầy đàn hóa trí thức,
quần chúng hóa trí thức, chẳng khác khai hoang đất trống để những loại cây đó bị
triệt tiêu đi không còn mọc lên được nữa.
Nhưng chân lý thực
chất không phải chỉ ở nơi những sự vật cụ thể, khách quan, mà chân lý chính là ở
nơi các nguyên lý khách quan mà loài người cần nắm biết. Bởi sự vật thì đa đoan
và đa dạng, luôn luôn biến chuyển đổi thay khó bao giờ tuyệt đối xác định,
trong khi đó nguyên lý luôn luôn là những điều bất di bất dịch khi chưa có những
nguyên lý nào khác hơn thay thế nó. Các nguyên lý về toán học, vật lý, hóa học,
sinh học, xã hội học, chính là những nguyên lý luôn luôn như thế. Nguyên lý là
những điều do chính lý trí con người tạo ra, nó hoàn toàn bao quát và chi phối
tất yếu các sự kiện khách quan nào đó không thể làm thay đổi khác đi hay làm biến
mất đi được. Cả các nguyên lý về nhận thức cũng luôn như vậy, đó là các nguyên
lý nhận thức lô-gích mà từ cổ chí kim hay muôn đời đều cùng phải vậy, chỉ mọi nội
dung của nhận thức là phát triển theo lịch sử, theo thời gian, còn nguyên lý nhận
thức chỉ luôn bất biến.
Bởi vậy khi Mác
nêu ra nguyên lý độc tài vô sản nhằm đi đến xã hội cộng sản trong tương lai, thực
chất đó chỉ là ngụy nguyên tắc, phản nguyên lý, bởi vì nó đi ngược nguyên lý
khách quan chuẩn mực đầu tiên nhất là nguyên lý bình đẳng giữa mọi con người.
Chính nguyên lý tự do và bình đẳng trong xã hội mới có thể đưa đến nguyên lý
tinh hoa trong xã hội làm đầu tầu cho xã hội đi lên và phát triển. Nguyên lý tự
do và bình đẳng trong xã hội cũng chính là nền tảng của nguyên lý phát triển và
tiến hóa trong lịch mà không gì khác. Nguyên lý tự do chi phối nguyên lý tiến
hóa trong tự nhiên, cũng như ý nghĩa của tiến hóa trước tiên cũng cần phải có
yêu cầu tự do như thế. Vì vậy nguyên lý dân chủ cũng phải là nguyên lý nền tảng
trong xã hội nhân văn mà không thể nào khác. Nguyên lý độc tài của Mác thực chất
là phản nguyên lý bình đẳng tự do mang tính tiên quyết khách quan, và đây chính
là sự hoang đường, mê tín, cùng mơ hồ của Mác.
Mác nhân danh
nguyên lý biện chứng để đề ra ý nghĩa và nhiệm vụ của đảng tiền phong giai cấp
công nhân. Thật ra biện chứng chẳng có ý nghĩa gì cả ngoài ra chỉ là sự ức đoán
mang tính tư biện của Hegel. Đó không phải là nguyên lý được khoa học chứng
minh, nên thực sự nó không hề là quy luật, định luật, hay nguyên lý khách quan
nào cả. Đưa nó vào cho xã hội chỉ là sự áp đặt, ngụy biện, đầy thị hiếu, và là
sự sai lầm của Mác. Nó không phải là nguyên lý được dựa trên nguyên lý chắc chắn
nào trước cả, mà thực chất chỉ là sự tưởng tượng, ức đoán do cảm tính, không có
gì chắc thực hay khách quan cả. Nên từ nguyên lý phi thực đó mà nại ra thêm
nguyên lý độc tài vô sản, thực chất Mác chỉ thành quan điểm huyền hoặc, phản
nguyên lý khách quan, phản chân lý khách quan như trên đã nói. Mác bởi vậy chỉ
thành ngụy thuyết hay tà thuyết mà rất ít người nhận ra điều đó.
Mặt khác xã hội cộng
sản hoàn toàn không còn giai cấp là sự hoang đường, hoang tưởng, phi lịch sử,
cũng là sự mê muội của Mác. Bởi theo nguyên lý lịch sử khách quan, mọi cái gì
đã qua, cho dù bất cứ nguyên nhân nào, cũng đã là điều đã xảy ra rồi, nên không
bao giờ quay trở về đúng kiểu thực trạng như trước nữa. Giai đoạn xã hội hái lượm
mệnh danh là cộng sản nguyên thủy đã xảy ra cách đây nhiều vạn năm, làm sao có
thể quay về lại được. Vả nguyên lý biện chứng là nguyên lý tư biện, không thực
tế, làm sao trở thành thuyết cộng sản khoa học mà Mác từng huênh hoang và tạo
ra sự tin tưởng sai lầm một thời đầy phấn kích cho bao người khác. Tính cách tà
mị hoang tưởng của Mác chính là ở đó. Xã hội cộng sản hiểu theo Mác chỉ là xã hội
huyền hoặc, mê tín, hoang đường, chẳng khác gì độc tài vô sản, vì nó sai nguyên
lý, đưa thành phần không thật sự tinh hoa, dễ bị thời cơ, cơ hội nhảy vào lũng
đoạn, để lãnh đạo toàn xã hội, thực chất chẳng khác gì Mác mê sảng, phá hoại xã
hội, phản động, lẫn phản lại cả con người và xã hội.
Nên nguyên lý
khách quan luôn luôn tạo thành hệ thống toàn diện, làm nền cho nhau, liên kết
cùng nhau, chi phối lẫn nhau, như nguyên lý toán học chi phối nguyên lý vật lý,
nguyên lý vật lý chi phối nguyên lý hóa học, nguyên lý hóa học chi phối nguyên
lý sinh học, nguyên lý sinh học chi phối các nguyên lý về đời sống, xã hội, đó
là sự khách quan tất yếu. Nhưng ngoài nguyên lý tiến hóa chung đã có nơi tự
nhiên, cá nhân con người và xã hội con người còn có nguyên lý tâm lý, tinh thần
chi phối, đó là điều Mác hoàn toàn coi nhẹ hay cố ý, cố tình quên lãng. Đây là
sự thiếu sót hay tính phản động, tiêu cực hoàn toàn dễ thấy của Mác. Bởi Mác kiểu
lấy cây che rừng, lấy giai cấp bịt mờ tất cả, thành ra học thuyết Mác ngoài
tính cách hoang đường, ngụy biện, thực sự nó còn cả tính chất học thuyết kiểu
hư vô chủ nghĩa, vô chính phủ chủ nghĩa, nếu nhìn tận cùng viễn tượng chiều
sâu, chiều xa nhất của nó.
Cũng do sai từ
nguyên lý nền tảng, thuyết Mác cuối cùng dẫn đến những sai lầm về các nguyên lý
cục bộ khác nhau, như sai lầm các nguyên lý về kinh tế, các nguyên lý về xã hội,
các nguyên lý về chính trị đời sống, các nguyên lý về văn hóa, các nguyên lý về
lịch sử, về văn học nghệ thuật v.v… Mác chỉ nghĩ đơn thuần hạ tầng cơ sở quy định
thượng tầng kiến trúc kiểu ngây thơ, chủ quan, máy móc, ấu trĩ và hoàn toàn
thiêu sót, nên nó từng làm hổn loạn xã hội, làm đảo lộn con người, làm khủng hoảng
lịch sử, tạo nên bao sự giả tạo, dã dối sâu xa và khủng khiếp nhất. Nó làm tha
hóa con người, tha hóa xã hội, tạo nên sự giả dối thay thế cho sự trung thực,
tính bạo lực thay thế cho lòng nhân ái, đó là những hệ lụy phũ phàng nhất mà học
thuyết Các Mác đem lại cho xã hội loài người khắp nhiều nơi suốt non một thế kỷ.
Thuyết Mác thật ra
cũng như kẻ làm vườn uốn cây. Đáng lẽ cây phải mọc tự nhiên, cần cung cấp đủ dưỡng
chất và các điều kiện để cây lớn lên, phát triển, ra hoa kết trái tự nó, đằng
này người làm vườn muốn theo thị hiếu và cảm tính của mình dùng các biện pháp
giả tạo như dây buộc, lực căng kéo để buộc cây phải theo hướng, chiều mình muốn.
Điều này chỉ phục vụ cho ý chí, mong muốn ích kỷ, riêng tư của người chủ cây mà
không hề nhằm lợi ích thiết thực, đúng đắn nào cho cây cả. Thay vì cây lớn tự
nhiên, hữu ích, lại bị trồng vào chậu như kiểu bon sai, chỉ làm cây còi cọc,
phát triển không tự nhiên và hoàn toàn giả tạo.
Học thuyết Mác
cũng thế, nó hoàn toàn trái với mọi nhu cầu tự nhiên, khách quan của cá nhân
con người và toàn xã hội. Giống như cây bon sai đã có thì luôn chỉ theo quán
tính cách thụ động mà không thể bung ra được, trừ khi đập bể chậu và trồng lại
tự nhiên trên mặt đất. Xã hội con người cũng là một thực thể quán tính, khi đã
bị đưa vào trong tình huống và trạng thái như thế nào rồi, như chế độ toàn trị
mọi mặt chẳng hạn, nó vẫn cứ phải tồn tại bó buộc như vậy, có khi cả trăm năm
hay nhiều hơn thế nữa. Bởi trong xã hội luôn luôn có những lực lượng xấu tiềm ẩn,
tiếp tục từ thế hệ này qua thế hệ khác, chỉ tìm cách khống chế, lợi dụng xã hội
sao có lợi cho riêng mình còn đều bất chấp tất cả.
Trong các xã hội
toàn trị mọi mặt như toàn trị kiểu học thuyết Mác, luôn luôn có những thành phần
ăn không ngồi rồi tạo thành tầng lớp làm niềng bó buộc chung xã hội. Đó trở
thành lực lượng hay sức mạnh của quán tính về tổ chức, về điều hành, về nhận thức,
về ngôn từ giả tạo, giả dối trong tuyên truyền, và nó chỉ là công cụ bị lợi dụng
và được nuôi dưỡng bởi các cá nhân cầm quyền tạo thành hệ thống truyền nối liên
tục kiểu độc tài bạo lực theo mục đích chủ quan mà thật sự chẳng hữu ích hay cần
thiết gì cho xã hội cả. Nhưng chính những thành phần ngoại vi này làm rào giậu,
công cụ cho thành phần trung tâm, tạo nên một hệ thống tập đoàn từ trên xuống
dưới luôn luôn khống chế xã hội, làm hại xã hội mà thật ra không ích lợi gì cho
xã hội khách quan một chút nào cả.
Học thuyết Mác thật
sự sai trái về nguồn gốc của nó, về phương pháp thực hành của nó, nhất là cả về
mục đích, mục tiêu, hay cứu cánh của nó. Sai về nguồn gốc bởi vì toàn chuỗi lý
luận giả tạo, trên những cơ sở giả tạo, nhằm vào thị hiếu, dựa trên cảm tính,
không có cơ sở khách quan khoa học nào cả mà thật ra chỉ nhằm tưởng tượng, một
chiều, độc đoán theo cách ngụy biện, nên nó không có giá trị hay lợi ích thiết
thực nào hết. Phương pháp thực hành của nó là phương pháp khống chế bằng bạo lực,
bằng tuyền truyền sách động giả tạo, nên thật ra chỉ làm lũng đoạn, làm tiêu cực,
làm phương hại cá nhân con người và xã hội mà không gì khác. Chính nguyên tắc
bưng bít, ngu dân có thể là mặt thành công về phương diện quần chúng ít học,
nhưng lại làm cùn nhụt xã hội về mặt dân trí, làm triệt tiêu trí thức và những
phần tử tinh hoa trong xã hội. Cuối cùng mục đích theo đuổi chỉ nhằm cuồng vọng,
hoang tưởng, không tưởng, cho dẫu đến ngàn vạn năm thật sự đều không đi tới đâu
cả như mục đích của Mác xướng xuất.
Nhưng vậy nó chỉ
làm hoang phí xã hội về nhiều mặt, tinh thần cũng như vật chất bằng những việc
làm hay cố gắng vô bổ, thực chất chỉ mang tính cách phá hoại con người và xã hội
một cách tiêu cực mà không mang ích lợi nào tích cực cả. Chỉ tại vì học thuyết
Mác luôn nhằm hành sử theo các nguyên tắc giả tạo, trái tự nhiên, phản tự
nhiên, để đi ngược lại mọi nguyên lý khách quan, tự nhiên của con người, xã hội,
và nói chung của toàn lịch sử. Cá nhân con người sinh ra là để sống sao cho phù
hợp giữa nhau, phù hợp chung với xã hội, nhằm phát huy mọi tiềm lực có sẳn nơi
mình nhằm mưu cầu mọi hạnh phúc riêng và chung mà không phải đeo đuổi mọi mục
đích hoang tưởng, giả ảo nào hết. Đó chính là cái sai nền tảng nhất của chủ
thuyết Mác. Lịch sử luôn tự nó phát triển theo chiều hướng tích cực và tốt đẹp
không cần ai uốn nắn nó cả. Mọi sự uốn nắn phi lý thực chất đều chủ quan, giả tạo,
và thực sự chỉ gây phản tác dụng, bế tắt và tiêu cực. Học thuyết của Mác đối với
xã hội và lịch sử loài người là toàn như thế. Cuối cùng Liên Xô, Đông Âu sụp đổ
và tan rã cũng chỉ đề do như thế. Chứng tỏ thuyết Mác chỉ là một ảo thuyết, một
ngụy thuyết vì hoàn toàn không mang tính chất khách quan và không đúng chân lý
sự thật, tính cách phản tự do dân chủ của nó chính là đặc điểm then chốt ở đây.
Đất nước Việt Nam
giai đoạn trước kia mới thoát ra khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp sau thế chiến
thứ hai, hoàn cảnh còn trứng nước, nhưng bị một số người cộng sản theo khuynh
hướng Nga vì tin tưởng tuyệt đối vào học thuyết Mác, hay thực chất chỉ kiểu
nghe hơi nồi chõ do Nga tuyên truyền đào tạo đã đứng lên nhằm làm cuộc cách mạng
vô sản theo mô típ Nga và kiểu thuyết Mác. Thế nhưng để được kết quả, họ nhân
danh cuộc cách mạng giải phóng đất nước, giải phóng dân tộc để thu phục, lôi
kéo mọi thành phần quần chúng và những người yêu nước, và họ đã thành công
trong hai cuộc chiến tranh liên tiếp nhau là như vậy. Tuy nhiên bởi do những
nguyên tắc trong học thuyết Mác là giả tạo và sai trái, nên các kết quả cuối
cùng vẫn chẳng ra ngô ra khoai gì cho đến nay là hoàn toàn như vậy.
Thật ra thực tế chủ
nghĩa thực dân, đế quốc đã hoàn toàn cáo chung trên toàn thế giới kể từ sau đệ
nhị Thế chiến, vì thời đại đã qua và chúng đã thành lạc hậu, phi lý trước thế
giới văn minh phát triển đi lên tiến bộ nên cũng không còn ai theo đuổi nó nữa.
Các nước thực dân cũ vì quyền lợi của họ, nay quay qua tìm cách liên kết với
các thuộc địa cũ theo cách bình đẳng phát triển đề huề thế thôi, đó là một sự
thật khách quan lịch sử mà nhiều người vẫn biết. Nhưng những người cộng sản
khác nhau, thực chất do nước Nga sô viết chỉ đạo, vẫn phải nói theo Nga tuyên
truyền chống thực dân đế quốc theo cách giả ảo để quyết tâm nhằm thực hiện lý
thuyết Mác. Đấu tranh giai cấp là ý nghĩa tột cùng của họ, và ý nghĩa chống thực
dân đế quốc chẳng qua cũng là như thế. Tuyên truyền chống Đế quốc Mỹ luôn luôn
là khẩu hiệu hàng đầu do Nga đề xướng mặc dầu Mỹ thực chất không hề và chưa bao
giờ là thực tế như vậy.
Mỹ đích thực chỉ
là nước tự do và theo chủ nghĩa tư bản. Đối với Mỹ xã hội tư bản là điều kiện
khách quan đúng đắn để nhằm phát triển đất nước. Kinh doanh tự do nhưng theo
pháp luật, lẫn nguyên tắc cạnh tranh lành mạnh và chống độc quyền, kết hợp với
thể chế chính trị trên nền tảng tự do và dân chủ, đó là bản chất sâu xa của nước
Mỹ. Đây là điều hoàn toàn khách quan mà ai cũng biết, và mọi sự thích nghi cũng
như nhằm hoàn thiện hơn là điều cần thiết luôn luôn phải có. Trừ ra những người
bị tuyên truyền theo kiểu Nga vẫn luôn la bài hoãi là chống Đế quốc Mỹ. Đây chỉ
là việc làm chém gió, thật không bổ ích và kết quả gì cả. Bởi sau hai lần thế
chiến, Mỹ chỉ liên kết kiểu đồng minh mà thực tế có chiếm nơi nào làm thuộc địa
cả đâu. Nhưng các sự tuyên truyền chống Mỹ thì chỉ ngụy biện mọi mặt. Nên trình
độ dân trí là điều quan trọng nhất trong một đất nước là như thế.
Nói tóm lại, không
thể theo chủ nghĩa cảm tính hay chủ nghĩa thị hiếu mà phải theo chủ nghĩa khách
quan sự thật. Điều này hoàn toàn ngược lại với chính chủ thuyết của Mác. Bởi nó
không tự xây dựng trên những tiêu chuẩn chân lý khách quan nào cả mà chỉ nhằm cảm
tính và thị hiếu cá nhân. Bản thân Mác chính là một điển hình như thế. Tất cả
các lý luận đều phần lớn là ngụy biện, kể cả các cách chứng minh cũng là ngụy
biện. Bởi khi con người đã toàn định kiến thì không còn nhắm tới kết quả hay
giá trị khách quan nào cả, những tiêu chuẩn chân lý đích thực nào cả, mà chỉ nhằm
sao thỏa mãn, đáp ứng cho các thị hiếu cùng những cảm tính của mình. Đây là tâm
lý tự nhiên của số đông người ít học hay học hành không đầy đủ. Bởi khi bất chấp
các tiêu chuẩn chân lý thì cũng không còn chân lý khách quan đẩy đủ mà chỉ còn
sự mê hoặc, cuồng tín, quá khích và nông cạn, chỉ cốt theo tham vọng cá nhân lệch
lạc và ích kỷ của Mình. Câu nói nổi tiếng của Mác cho mọi giá trị đạo đức truyền
thống cũ đều chỉ là tư sản, cần thực hiện triệt để đạo đức vô sản, và câu nói của
Mao Trạch Đông coi trí thức không bằng cục phân (theo cách nói lưu manh), mà cần
phải tuyệt đối và mù quáng tin theo lãnh tụ. Đó là hệ lụy đã từng có một không
hai trong lịch sử loài người của học thuyết Các Mác
ĐẠI NGÀN
(03/5/2024)
**
No comments:
Post a Comment