Wednesday, August 5, 2015

NHỮNG BÀI PHÓNG BÚT NGẮN, CHỚP NHOÁNG (II) - 17


NHỮNG BÀI PHÓNG BÚT NGẮN, CHỚP NHOÁNG (TẬP II) - (17)

 

**

 

CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN

 

Đây không phải là vấn đề lập thuyết mà là ý nghĩa của sự phát huy và chia sẻ. Lập thuyết có nghĩa là đưa ra một lý thuyết mới. Sự chơi trội như vậy dù hoàn toàn vô tư hay thiện chí, thật sự cũng chỉ thừa, bởi vì mọi hiểu biết và ý hướng trên thế gian này quả đã có rất nhiều rồi. Chủ nghĩa nhân văn thật sự không phải ý hướng gì mới, không phải mục tiêu, lý tưởng hay ý nghĩa gì mới, đây chỉ là vấn đề đào sâu, đúc kết, hay phát huy thêm tất cả mọi suy nghĩ đã có của lịch sử con người. Không ai là tác giả đích thực của lý thuyết này. Đây chỉ là sự cảm hứng mà mọi người đều có thể có, có thể hài lòng, đồng ý, tức có thể cùng nhau chia sẻ và cùng nhau phát huy lên được.

Mọi sự bổ sung, mọi sự tham dự, mọi sự đào sâu, suy nghĩa thêm, mọi sự quãng diễn và phát triển ra tất nhiên đều luôn luôn cần thiết và tất cả mọi người, bất cứ ai, bất cứ ở đâu, bất cứ trong tính chất và ý nghĩa như thế nào đều có thể tham gia thực hiện, chia sớt, và cùng góp phần thêm vào đó được.

Vậy chủ nghĩa nhân văn là gì ? Đúng ra nó cũng không phải là “chủ nghĩa” theo các cách hiểu thông thường. Thực sự đây chỉ là một quan điểm sống, một quan niệm thực hành trong đời sống, đúng hơn đây chỉ là ý hướng mà bất kỳ ai đều có thể chấp nhận như quan điểm của chính mình, chia sẽ cùng mọi người, hay trở thành một quan điểm hoàn toàn gần gũi của xã hội nói chung.

Ý nghĩa nhân văn thật sự chỉ là ý nghĩa văn hóa, tinh thần mà không là gì khác. Nhân văn có nghĩa là nhân bản, lấy con người làm nền tảng, lấy xã hội làm nền tảng, nhưng không phải chỉ hoàn toàn đơn sơ hay giản ước như vậy. Con người đương nhiên là nền tảng, xã hội đương nhiên là cơ sở, nhưng điều đó không phải chỉ dừng lại ở cái ban đầu. Chủ nghĩa nhân bản (humanism) từ lâu vốn đã có rồi. Ý nghĩa này hoàn toàn đúng đắn và cần thiết. Nó nói lên cơ sở của con người, căn bản của xã hội, nhưng đó vẫn còn chưa phải là ý nghĩa của chủ nghĩa nhân văn. Nói rộng ra, ngay kể cả chủ nghĩa nhân đạo cũng thế. Nó vốn từ lâu cũng đã có rồi, đó là giá trị cũng như ý nghĩa đúng đắn của tất cả mọi hoạt động trong đời sống của con người, nhưng nó vẫn còn dừng lại ở quan niệm đạo đức, cho đầu giá trị và yêu cầu đạo đức, phẩm hạnh vẫn là yêu cầu mang ý nghĩa cần thiết hàng đầu của tất cả mỗi cá nhân con người hay của toàn xã hội. Nhân đạo là lòng yêu thương và tinh thần giúp đỡ mọi người.

Ý nghĩa của chủ nghĩa hay quan điểm nhân văn lại có một phần nào đó khác hơn. Nhân văn là tính chất tinh thần, văn minh, văn hóa mà tất cả mọi người đều cần vun trồng, bảo tồn và phát triển. Nó là căn bản, là mục tiêu trước hết của mỗi cá nhân, và như thế nó cũng đồng thời là mục tiêu, ý nghĩa và giá trị của mọi người, hay của toàn xã hội.

Nhân nói nôm na là con người. Văn nói nôm na là văn hóa. Con người có nền tảng hay cơ sở từ tự nhiên. Nhưng văn hóa chính là ý nghĩa phát triển về tinh thần, về giá trị, về kết quả phát triển của chiều cao trong ý thức, cùng những thành tựu thực tế, cụ thể qua lịch sử của thời gian, qua không gian đặc thù của xã hội, đó chính là tính cách hay ý nghĩa của văn hóa.

Con người có tồn tại thể lý là thiên nhiên, không thể tách ly mọi nền tảng của tự nhiên. Nhưng thực tế, ý nghĩa của con người vẫn phải luôn là tinh thần và ý thức. Đó chính là thành tựu của lịch sử và xã hội. Và đó cũng trở thành tài sản, giá trị, hay ý nghĩa chung nhất của toàn thể nền tảng xã hội. Thế thì, con người trong xã hội và lịch sử không phải thuần túy là con người của tự nhiên nữa, mà con người của nhân văn, tức con người của chính nền văn minh và văn hóa.

Văn minh, văn hóa chính là ý nghĩa và mục đích của giá trị tinh thần. Chính đây cũng là cơ sở, mục tiêu, ý nghĩa, giá trị của khái niệm nhân văn nói chung. Cho nên nhân văn cũng có nghĩa bao hàm mọi thành tựu của các nền văn hóa, không loại trừ mọi sự dị biệt mà bao hàm chung như là kết quả của toàn bộ trong đó. Có nghĩa đây là sự hòa hợp theo thời gian, không gian, cũng như chứa đựng và bao hàm toàn thể mọi mục đích. Trong ý nghĩa đó, nhân văn cũng không phân biệt chủng tộc, giới tính, nguồn gốc, hoàn cảnh hay điều kiện xã hội của mọi người khắp nơi, tức không hề có ý niệm phân biệt về tính chất lẫn ý nghĩa của mọi không gian và thời gian.

Ý nghĩa nhân văn như vậy có nghĩa là do mọi người cùng làm ra và hướng đến phục vụ hay cũng nhằm đáp ứng hết cho tất cả mọi người. Ý nghĩa của nhân văn như vậy không còn chỉ khu biệt trong phương diện cá nhân, phương diện cục bộ, phương diện địa phương, mà hướng đến toàn bộ cả cộng đồng nhân loại.

Nhưng đây là quan điểm thực tế, không phải chỉ là ý nghĩa lý thuyết hoặc tính cách trừu tượng, mơ hồ. Nó là ý nghĩa đời sống thực tế của mỗi nước và trên toàn thế giới, không phải nhân loại kiểu chung chung, huyền hoặc. Bởi đơn vị xã hội và lịch sử chính là đơn vị mỗi cá nhân con người. Đó là những con người hoàn toàn cụ thể, thực tế trong đời sống cụ thể, có các cá tính, hoàn cảnh, điều kiện hay tính chất riêng, không thể xóa nhòa ranh giới, cũng không thể luôn luôn hoặc nhất thiết tách biệt hoàn toàn.

Ý nghĩa của con người như vậy chính là ý nghĩa của những cộng đồng cụ thể. Toàn thế giới nhân loại chính là tập hợp của tất cả mọi cộng đồng cụ thể. Tính cách của xã hội nhân văn là hướng đến bất kỳ ai, không bỏ sót bất kỳ ai bất cứ khi nào hoàn cảnh tự nhiên, khách quan hoàn toàn cho phép. Chủ nghĩa nhân văn cũng chính là chủ nghĩa thực tế, mang ý nghĩa kinh tế, tinh thần và văn hóa, không phải chỉ nói suông hay hoàn toàn lý thuyết.

Tính cách nhân văn là ý nghĩa giá trị cũng như ý hướng tốt đẹp của con người. Hiểu thấp về giá trị hay triệt tiêu về ý hướng cao đẹp cũng không còn mang ý nghĩa của tính cách nhân văn. Chính nhờ giá trị mà con người biết hướng đến nhau làm ích cho nhau. Chính nhờ ý nghĩa nhân văn mà giá trị và ý hướng này có chiều sâu, có tính cách thiết thực và có kết quả tốt đẹp.

Con người sinh ra đời là để sống, sống cho bản thân mình và cũng là sống cho toàn xã hội, không thể đặt cái nào cao hay thấp hơn cái nào, bởi vì cả hai cũng đều có giá trị, có ý nghĩa bổ sung, cần thiết cho nhau, nên ý nghĩa nhân văn hoàn toàn là ý nghĩa bao quát cũng như hoàn toàn thực tế nhất.

Nhu cầu đời sống cho mình và cho người khác hay cho tất cả mọi người, đó là ý nghĩa hoàn thiện của tính chất hay nền tảng của chủ nghĩa nhân văn. Con người không thể sống không có kinh tế, xã hội, ý nghĩa văn minh, văn hóa và ý thức, tinh thần, đó chính là quan điểm chủ đạo về yêu cầu của xã hội nhân văn. Phát triển kinh tế là phát triển của khoa học kỹ thuật, của tạo tác, của sáng tạo, của tạo nên vật chất và sản phẩm, nói chung đó là tính chất, yêu cầu, mục đích hay ý nghĩa của đời sống kinh tế. Nhưng tính chất của con người không phải chỉ dừng lại ở vật chất, mà nhất thiết phải vươn lên sự phát triển của văn hóa, tinh thần, ý thức, đó chính là giá trị, ý nghĩa và mục tiêu sau cùng yêu cầu và tính cách nhân văn như đã nói.

Như thế, chủ nghĩa nhân văn lấy kinh tế làm cơ bản, nền tảng, thừa nhận quyền tư hữu như là yêu cầu cần thiết, chính đáng của tất cả mọi người. Kinh tế là nền tảng, nhưng văn hóa, tinh thần mới là ý nghĩa, giá trị sâu xa, nếu không muốn nói thật sự là đích điểm. Trong tính cách đó, chủ nghĩa nhân văn cũng loại bỏ đấu tranh giai cấp mà chủ trương hòa hợp giai cấp. Bởi vì, thật ra giai cấp kinh tế hay xã hội chỉ thực chất là bề ngoài, có thể luôn luôn thay đổi đối với mọi cá nhân, nên tính cách của nó chỉ là tương đối. Tất nhiên sự hòa hợp giai cấp không có nghĩa là bảo vệ giai cấp, đặt nặng giai cấp, mà chỉ thấy nơi đó cơ bản vẫn luôn luôn chỉ là những cá nhân con người. Nói khác đi hòa hợp giai cấp chỉ là sự hòa hợp giữa những con người với nhau, ý nghĩa chủ động và chủ thể vẫn luôn là những cá nhân con người mà không phải địa vị con người theo các giai cấp hay giai tầng xã hội. Có nghĩa chủ nghĩa nhân văn đặt ý nghĩa cá nhân con người làm trung tâm mà không phải chỉ nhìn duy nhất vào tính chất hay ý nghĩa của xã hội. Bởi cá nhân đích thật mới là đơn vị của xã hội, làm nên xã hội, mà hoàn toàn không phải chỉ có điều ngược lại. Trong tính cách đó, chủ nghĩa nhân văn cũng chính là chủ nghĩa hòa hợp xã hội, mà không phải chỉ nhằm phi cá nhân hóa trong xã hội. Chỉ nghĩa cá nhân theo tính ích kỷ, dĩ nhiên phải bị lên án, bị loại trừ. Nhưng mọi giá trị cá nhân riêng biệt, chính đáng trái lại luôn luôn là điều gì thiêng liêng, chính đáng nhất, phải tất yếu cần thiết được bảo vệ.

Phát huy mọi giá trị tốt đẹp nơi cá nhân, đó chính là một trong những ý nghĩa căn cơ nhất của chủ nghĩa nhân văn. Đỉnh cao nhất nơi mọi cá nhân chính là các tài năng riêng nơi mỗi cá nhân. Bởi tài năng của cá nhân không phải chỉ là lợi ích chính đáng của mỗi cá nhân mà cũng là tài sản, ý nghĩa, lợi ích và giá trị chung của tất cả mọi người hay của toàn xã hội. Đương nhiên, tài năng, nhất là tài năng đặc biệt nổi trội nơi mỗi con người vẫn hoàn toàn ngẫu nhiên. Lý do dù các nguyên nhân, thành tựu của tài năng là như thế nào, chính các tài năng đó rơi vào mỗi cá nhân nào đều không hoàn toàn tính trước được, nên đó cũng chỉ coi được như sự ngẫu nhiên. Niềm hãnh diện và ích lợi của tài năng chính là của chung toàn thể xã hội mà không phải chỉ là của riêng nơi bất kỳ cá nhân nào. Phát huy, nuôi dưỡng, vận dụng tài năng nơi tất cả mọi cá nhân đó cũng chính là ưu tiên hàng đầu hay thiết yếu của chủ nghĩa nhân văn như đã nói.

Thế nhưng không thể lẫn lộn chủ nghĩa nhân văn và chủ nghĩa xã hội thông thường như người ta vẫn hiểu. Bởi chủ nghĩa xã hội phần lớn chỉ đặt nặng xã hội là chính, coi xã hội là mục tiêu thứ nhất hay thậm chí là duy nhất, trong khi ngược lại chủ nghĩa nhân văn luôn nhấn mạnh đến ý nghĩa chính đáng của cá nhân con người, coi đó là mục đích tiên quyết, còn xem xã hội là nền tảng cần thiết không bao giờ có thể coi nhẹ. Chủ nghĩa xã hội như vậy chỉ có thể lồng chứa trong chủ nghĩa nhân văn mà nhất thiết không hề ngược lại.

Sự hòa hợp giai cấp, sự nhấn mạnh kinh tế, do vậy khiến chủ nghĩa nhân văn cũng là chủ nghĩa hòa hợp xã hội, cũng là chủ nghĩa phát huy và khuếch trương kinh tế. Có nghĩa vẫn chỉ coi kinh tế là phương tiện, là công cụ, là nền tảng tối ư của xã hội, mà không bao giờ chỉ coi đó mới là mục đích tối hậu. Chủ nghĩa nhân văn như vậy cũng rõ ràng là chủ nghĩa về con người, về ý nghĩa và giá trị nhân văn, tinh thần, mà không phải chỉ là chủ nghĩa về vật chất hay thuần túy duy vật.

Trong tính cách ấy chủ nghĩa nhân văn gắn liền với ý nghĩa xã hội nhưng không bao giờ để xã hội nuốt chửng cá nhân hay ngược lại. Có nghĩa chủ nghĩa nhân văn cũng chủ trương sự độc lập, tự do, dân chủ thật của tất cả mọi người trong xã hội. Như thế mọi sự phân công trong xã hội đều luôn luôn hoàn toàn tự nhiên, cần thiết, tùy hoàn cảnh xã hội, tùy tài năng và ý muốn cá nhân mà hoàn toàn không chịu bất cứ những sự khiên cưỡng giả tạo nào của toàn xã hội. Sự phân công đó hoàn toàn bị chi phối bởi ý nghĩa, hoàn cảnh khách quan, bởi tài năng và sở thích riêng của mỗi cá nhân, đó chính là tính cách kinh tế và văn hóa mọi mặt mà chủ nghĩa nhân văn luôn luôn đề cao, bảo vệ hay quan tâm đến.

Từ đó chủ nghĩa nhân văn cũng rất quan tâm đến ý nghĩa của vấn đề tiền tệ. Tiền tệ cho dầu luôn luôn là huyết mạch đời sống của cá nhân và xã hội, nhưng thật sự tiền tệ bao giờ cũng chỉ là phương tiện mà không hề là mục đích. Tiền tệ chính là công cụ hiệu quả và đắc lực nhất về mọi mặt cho mỗi cá nhân cũng như xã hội. Cho nên vận dụng một chính sách tiền tệ, một kỹ thuật tiền tệ như thế nào đó là hiệu quả, thuận lợi, hợp lý nhất cho mỗi cá nhân và xã hội đó chính là yêu cầu khoa học và kỹ thuật trong đời sống mà chủ nghĩa nhân văn luôn luôn nhấn mạnh và để tâm tới.

Nói như vậy cũng để thấy rằng chủ nghĩa nhân văn luôn luôn hướng đến lợi ích của khoa học kỹ thuật, song vẫn không sa lầy vào chính bản thân máy móc, vô tình của ý nghĩa khoa học và kỹ thuật. Có nghĩa đây không phải là quan điểm thuần túy duy khoa học hay duy kỹ thuật mà chính là quan điểm, mục đích, ý nghĩa nhân văn vẫn hoàn toàn tối hậu. Khoa học kỹ thuật là công cụ đắc lực phục vụ nhân văn, phục vụ xã hội, nhưng nó không phải là cựu cánh tự nhiên hay duy nhất.

Điều này cũng có nghĩa chủ nghĩa nhân văn luôn luôn rất đề cao tất cả mọi nghiên cứu khoa học, tự nhiên, nhân văn cũng như xã hội. Bởi ý nghĩa của khoa học là phát triển vô hạn về chiều sâu cũng như chiều rộng, đó chính là mục tiêu ưu tiên hang đầu mà chính chủ nghĩa nhân văn luôn quan tâm nhất. Vì con người phát triển về tinh thần không phải chỉ có nghĩa phát triển về đời sống, mà nhất thiết còn là phát triển trong nghiên cứu, áp dụng, thực hiện khoa học, nghệ thuật, hay mọi giá trị liên quan khác nói chung.

Chính vì thế mà chủ nghĩa nhân văn cũng là chủ nghĩa hoàn toàn thực tế. Có nghĩa chủ nghĩa nhân văn chỉ đóng khung chính yếu trong đời sống thực tiển hay hiện thực của cá nhân và xã hội mà không vượt quá hay đi ra ngoài phạm vi này một cách hoàn toàn không cần thiết. Có nghĩa chủ nghĩa nhân văn chỉ nhấn mạnh về ý nghĩa văn minh, văn hóa, ý nghĩa của đời sống tinh thần, ý thức của cá nhân và xã hội ngay trong cuộc sống mà không là gì khác. Tức chủ nghĩa nhân văn không đi quá xa về các lãnh vực siêu hình, tôn giáo, triết học, hoặc các lý thuyết khoa học cơ bản khác nhau. Tất cả mọi điều đó được dành riêng cho các lãnh vực chuyên môn, các quyền hạn đặc thù, có thể dùng để tham khảo, hiểu biết, nhưng hoàn toàn không thể lấn lướt hay tuyệt đối thay thế, ảnh hưởng quyết định được tới các phạm vi, phạm trù chính yếu của thực tại xã hội và đời sống hiện thực.

Sự tách rời cái thực tại và cái phi thực tại của cuộc đời, sự tách rời mọi nguyên lý trừu tượng và các nhu cầu khách quan hoàn toàn cụ thể và hiện thực, đó cũng là một nét chủ yếu của chính chủ nghĩa nhân văn. Chủ nghĩa nhân văn có ý nghĩa xã hội nhưng không hoàn toàn là chủ nghĩa xã hội theo tính chất phổ dụng hoặc ý nghĩa tầm thường nào. Chủ nghĩa nhân văn bao hàm tất cả nhưng vượt lên tất cả. Chủ nghĩa nhân văn không phủ nhận vật chất, nhưng coi vật chất luôn luôn chỉ là yếu tố cần thiết những không bao giờ là yếu tố tối hậu hay tiên quyết. Cho nên chủ nghĩa nhân văn hoàn toàn không mâu thuẫn với khoa học hay tôn giáo, trái lại chỉ luôn luôn là sự phân công cũng như trong yêu cầu cần thiết bổ sung và hòa hợp.

Cũng chính trong ý nghĩa đó mà chủ nghĩa nhân văn phủ nhận đấu tranh giai cấp, loại bỏ đấu tranh giai cấp nếu có, nhưng chủ trương sự hòa hợp, hòa điệu của tất cả mọi cá nhân con người. Điều này hoàn toàn không phải ảo tưởng hay phi lý, bởi chủ nghĩa nhân văn đề cáo ý thức, sự nhận thức, trình độ hiểu biết của chính cá nhân con người cũng như toàn xã hội. Bởi nói cho cùng, cái quyết định tối hậu nơi con người chính là ý thức, là sự hiểu biết mà không là gì khác. Con người xuất phát từ tự nhiên, nhưng giá trị và ý nghĩa con người là do giáo dục, do phát triển của văn minh văn hóa, do sự chủ động về ý thức, tinh thần, lại chính là điều quyết định và quan trọng hơn hết.

Trên cơ sở như thế, chủ nghĩa nhân văn chủ trương hướng thiện, chủ trương thăng tiến, chủ trương sự giải phóng và sự tự do hóa chính đáng mỗi cá nhân con người. Con người không thể bị đồng loại của mình khống chế hay o ép bất kỳ về phương diện nào, tinh thần, đời sống, vật chất cũng như ý thức. Con người không khống chế sai trái lẫn nhau mà chỉ có thể cạnh tranh một cách đúng đắn, khách quan, tự nhiên và hữu lý. Chính sự hỗ trợ, hòa hợp, bổ sung cho nhau, là ý nghĩa chính yếu, cần thiết cũng như chính đáng nhất trong tương quan xã hội mà chủ nghĩa nhân văn hướng đến. Sự cạnh tranh chính đáng, hợp pháp luôn luôn là điều cần thiết. Bởi vậy quan điểm của chủ nghĩa nhân văn cũng chính là quan điểm kinh tế thị trường, kinh tế tự do, nhưng chủ trương đề cao và vận dụng pháp luật một cách luôn luôn khoa học, cần thiết và chính đáng. Bởi thị trường, luật pháp chính là hai yếu tố hay hai phạm trù hoàn toàn tự nhiên, khách quan, cần thiết, chính đáng, không thể bất ý loại bỏ của chính bản thân xã hội con người. Sự phi bạo lực, hòa dịu, hòa hợp, ý thức đạo đức và trách nhiệm lẫn nhau giữa người và người, tất cũng phải nằm trong ý hướng, chủ trương của chủ nghĩa nhân văn đúng nghĩa. Không khuynh loát một cách sai trái, không khống chế một cách ích kỷ, không thù hận tầm thường lẫn nhau, đó cũng là ý nghĩa của ý thức, tinh thần phải có.

Bởi bạo lực chỉ cần thiết khi thiểu số chống lại đa số, nhưng khi ý hướng tốt đã trở thành đa số, hay của toàn thể mọi người, tất nhiên mọi ý nghĩa bạo lực cũng không cần đặt ra bởi vì nó đã hoàn toàn bị hóa giải. Cũng trong ý nghĩa đó, quan điểm nhân văn vừa là quan điểm nhân loại vừa là quan điểm dân tộc, cũng vừa là quan điểm quyền tự chủ chính đáng của mỗi cá nhân con người. Cả ba phạm vi này là bất tương xâm, chỉ có thể lồng vào nhau, hòa hợp, phát triển cùng nhau nhưng không thể xâm hại hay trái ngược lẫn nhau. Mọi cá nhân đều có quyền tự vệ, mọi dân tộc đều có quyền tự vệ. Đó chính là quan điểm sống thực tế, cần thiết và chính đáng nhất. Không chủ động tấn công nhưng luôn luôn có quyền chủ động tự bảo vệ mình chính đáng, đó là nguyên lý hoàn toàn cụ thể, thực tế, khách quan, cần thiết và cũng hoàn toàn hiện thực mà quan điểm nhân văn nhấn mạnh và đề cao trong mọi tình huống. Quyền tự vệ chính đáng luôn luôn là quyền tự nhiên, cần thiết của mọi con người. Chủ nghĩa nhân văn có tinh thần, ý thức từ bi của Phật giáo, có tinh thần, ý thức bác ái của Thiên chúa giáo, vốn đã có từ nhiều ngàn năm qua, có tinh thần, ý thức nhân văn thực tế của toàn lịch sử nhân loại, điều này không có gì mới mà chỉ là ý nghĩa kế thừa, phát huy và bảo lưu cần thiết trong tất cả mọi ý nghĩa cao cả nhất của đời sống cá nhân và xã hội con người.

Cũng trong ý nghĩa như thế, quan điểm nhân văn chủ trương một ý nghĩa chính trị tự do, nghĩa là chính trị được xã hội hóa một cách cần thiết, tự nhiên, không hề giả tạo, cũng không hề o ép, phiến diện, khiên cưỡng, biệt phái hay nói tóm là mọi tính hạn hẹp, đặc thù. Xã hội hóa chính trị đó cũng là ý nghĩa cần thiết và chính đáng của tất cả mọi quyền tự do dân chủ thực tế, tự nhiên và đúng nghĩa nhất. Cá nhân, dân tộc, nhân loại hay quốc tế hòa hợp, đó chính là ý nghĩa chính trị bao quát và rộng lớn nhất. Không thể có yếu tố nào hi sinh, lép vế cho yếu tố nào, những tất cả cùng được tôn trọng, phát triển, hòa hợp và nếu cần đi đến thống nhất như nhau. Đây là quan điểm toàn diện mà không hề phiến diện, quan điểm thực tế mà không hề là ảo tưởng hay ảo ảnh. Bởi vì nó không đặt nặng cái nào mà xem nhẹ cái nào. Bởi tất cả đều chính đáng, cần thiết, cần được bảo vệ mà không thể loại trừ hay hủy diệt lẫn nhau.

Quan niệm thực tế như thế chính là quan điểm khoa học. Có nghĩa chỉ có thể dùng khoa học, tức tri thức đúng đắn, hữu lý; dùng kỹ thuật, tức các giải pháp khôn ngoan, cần thiết; dùng ý thức, tinh thần, ý nghĩa, giá trị nhân văn để giải quyết mọi mối quan hệ hòa hợp về mọi mặt trong chính đời sống xã hội con người. Sự phát triển của nó là sự phát triển của tri thức, của trí thông minh, của lịch sử xã hội thực tế, hoàn toàn hiện thực mà không hề mang tính cách một chút viễn mơ hay ảo tưởng phi thực tế nào. Quan điểm hiện thực như vậy cũng chính là quan điểm khoa học, hợp lý tự nhiên mà không hề ngụy biện, ngụy tín, phi thực tế hay chỉ là hư ảo. Có nghĩa quan điểm nhân văn vẫn luôn luôn là ý nghĩa khoa học, tinh thần, của ý thức văn minh và văn hóa. Chủ nghĩa nhân văn cũng chính là chủ nghĩa văn hóa, tức luôn luôn hết sức đề cao văn hóa trong mọi ý nghĩa và tương quan hiện thực tự nhiên trong mọi khía cạnh, lãnh vực của đời sống con người.

Nên chủ nghĩa nhân văn có thể có chứa đựng trong lòng nó những thành phần cần thiết, chính đáng của các chủ nghĩa chân chính nào đó có trước nó, nhưng không phải chỉ là những chủ nghĩa đó. Nó chủ trương thoát ra hay vươn lên trên tất cả mọi cái cá biệt, cục bộ, đặc thù để trở thành phổ biến nhất. Nó giữ lại các giá trị và ý nghĩa thông minh của những quan điểm hay chủ nghĩa khác nhưng nhất thiết không sa lầy hay đắm đuối trong bất kỳ những yếu tố thô thiển hay thật sự bất hợp lý nào. Nói cho cùng, từ bản thân nó thật sự cũng không hề là một thứ chủ nghĩa theo ý nghĩa dung tục và thông thường nhất của các ý hướng chủ nghĩa mà lịch sử nhân loại đã từng biết. Nói đúng hơn, đây chỉ là một thứ quan điểm hay một thứ quan niệm. Trong ý nghĩa đó nó cũng chủ trương hội nhập nhân loại, hội nhập lịch sử, hội nhập toàn cầu, và giải thể tất cả mọi thứ chủ nghĩa, mọi thứ ý thức hệ giả tạo nào mà nhân loại đã trải qua hay hiện thời còn có. Cho nên, thực sự nó cũng không phải là tác phẩm, công trình, hay ý hướng chủ quan, riêng biệt của bất cứ cá nhân nào. Cũng không phải nó là sản phẩm tham khảo, kết tinh, đúc kết, tổng hợp, sao chép, hay thậm chí thay thế cho tất cả mọi thành quả nào đã có.

Sự chấp bút ở đây chỉ là sự chấp bút ngẫu nhiên, tùy hứng của một con người, và điều đó cũng hoàn toàn không quan trọng. Bởi quan trọng nhất, nó có thể cũng chính là ý tưởng của tất cả mọi người, tuy chưa từng nói ra, chưa từng viết ra, nhưng hoàn toàn có trong tư duy, hay trong tâm thức vẫn luôn luôn đã có, không ngoại trừ bất cứ ai, bất cứ ở đâu và bất cứ thời nào. Cho nên nó có thể cứ coi là sản phẩm của chung, sản phẩm vô danh, vô tác giả, bởi vì bất kỳ ai cũng có thể là tác giả của nó, có thể chia sẻ, tâm đắc, đồng quan điểm, bảo lưu, phát huy, bổ sung, phát triển, và kể cả góp phần hiện thực hóa cho chính nó. Một nội dung, một ý hướng bao quát như vậy mà chỉ được chấp bút trong một khoảnh khắc ngắn và chứa đựng trong vài bat rang thì quả thật hoàn toàn còn phiến diện, thiếu sót, hay còn chưa đủ. Cho nên sự phát triển tự thân nó sau này biết đâu cũng có thể là một điều thiết yếu. Bởi vì nếu nó có thể được cả bao nhiêu người viết thêm theo ý mình, như là sự đóng góp của riêng mình, viết thành hàng nhiều trăm trang phát triển và đào sâu hơn nữa về sau này, đó cũng là tính cách của ý hướng cộng đồng, xã hội hay tập thể nói chung. Bởi rõ ràng một sự đặt tên cho nó, một tên gọi chính thức, đúng nghĩa của nó, là quan điểm hay chủ nghĩa nhân văn, một thứ chủ nghĩa hay quan điểm văn hóa (culturalism) hay một thứ quan điểm hoặc chủ nghĩa về văn minh của đời sống con người (civilisationism) vẫn chưa hề tìm thấy có trong từ điển.

                                                                                

VÕ HƯNG THANH

(23/01/2011)

                                  

**

 

BẢN CHẤT CỦA XÃ HỘI DÂN CHỦ

VÀ NỀN CHUYÊN CHÍNH ĐỘC TÀI

 

Mọi cá nhân sinh ra đều bình đẳng, tự do. Nhận định đó tưởng chừng đơn giản, dễ hiểu, nhưng thật ra đó là một ý tưởng hết sức sâu xa, phong phú, hiển nhiên và cùng cần thiết vô cùng, bởi đó thật sự luôn luôn là một chân lý khách quan mà không phải ai ai cũng để ý đến.

Mỗi người sinh ra đều bình đẳng, bởi vì ai cũng chỉ do cha mẹ mình sinh ra, không phải sinh ra do bất kỳ người nào khác, do vậy sự ngang hàng, bình đẳng là sự tự nhiên, và đó cũng chính là điều cơ bản hay nền tảng quyền tự do của tất cả mọi người.

Song nói cho cùng, tuy bình đẳng, tự do, nhưng thật sự không phải ai ai cũng như nhau, muốn làm gì thì làm, bởi vì cá tính mỗi người khác nhau, điều kiện mỗi người khác nhau, hoàn cảnh, mục đích mỗi người khác nhau, cho nên sự điều hòa và mọi trật tự cần thiết trong đời sống xã hội tất yếu vẫn là điều không thể nào tránh được.

Thế nhưng, điều gì là quyết định nhất cho mỗi cá nhân cũng như cho toàn thể xã hội ? Rất nhiều người cho rằng đó là nền tảng vật chất và kinh tế. Nói như thế hoàn toàn đúng, như mới chỉ là điều kiện ban đầu. Ý nghĩa cuối cùng vẫn chính là trình độ nhận thức, khả năng hiểu biết, hay nói chung lại là trình độ và ý thức.

Có nghĩa mỗi cá nhân chỉ có thể trở thành con người hoàn chỉnh, trong một xã hội có trình độ hiểu biết, đó là do văn hóa, nhận thức, hay nói chung là văn hóa cũng như sự phát triển đi lên qua lịch sử của toàn xã hội.

Thuở con người con ăn lông ở lổ, tức trong các trạng thái xã hội bán khai, đời sống đó là đời sống bộ lạc, tất nhiên ý nghĩa dân chủ đúng nghĩa và thật sự cũng chưa thể được đặt ra. Kết quả của đời sống đó chỉ do thử thách qua kinh nghiệm. Người tù trưởng có thể là người được bầu lên, hay được nắm quyền trực tiếp trong tay là do những nguyên nhân khách quan, cụ thể, hoặc đặc thù nào đó. Như do sự khôn ngoan, do kinh nghiệm, do tài trí, do sức mạnh thân xác và vật chất, hay do một hoàn cảnh riêng biệt, đặc thù nào đó chẳng hạn.

Sự phát triển đi lên của xã hội loài người từ hoang dã, bộ lạc, đến phong kiến, quân chủ cũng chỉ theo ý nghĩa và con đường như vậy. Lộ trình đó hoàn toàn tất yếu và khách quan. Đó cũng là ý nghĩa của luật pháp và trật tự xã hội nói chung. Bởi tính cách hoàn cảnh bên ngoài của mỗi cá nhân tất yếu vẫn khác nhau, và tính cách nội tâm của mỗi cá nhân cũng đương nhiên như vậy, cho nên nếu không có trật tự, nền nếp xã hội, không có pháp luật, đời sống tập thể hay cộng đồng đương nhiên phải loạn.

Cho nên luật pháp phát triển là theo với sự phát triển của xã hội, tức sự phát triển của đời sống vật chất, kinh tế, văn hóa, ý thức, và giáo dục nói chung. Đó cũng là lý do tại sao nền văn minh của nhân loại đã trải qua các thời kỳ phong kiến, quân chủ, và cuối cùng là nền cộng hòa dân chủ phổ biến trên khắp thế giới ngày nay. Con đường đó là con đường đi lên khách quan, phải trình tự tiến lên, không quyền gì để lên án những giai đoạn xã hội quá khứ nào đó hay đặc biệt ca ngợi hoặc xiển dương những giai đoạn đặc thù nào đó.

Từ xã hội phong kiến chuyển lên xã hội quân chủ chỉ là lẽ đương nhiên. Bởi xã hội phong kiến thì chia lẻ, manh mún, không tập trung, trong khi yêu cầu phát triển của xã hội là ngược lại, cần có sự kết hợp và thống nhất, đó là ý nghĩa hình thành đương nhiên của các xã hội quân chủ là như thế. Xã hội quân chủ đương nhiên là xã hội độc đoán, đó là quyền lực tập trung duy nhất vào trong tay nhà vua, trong tay vị hoàng đế. Quyền lực đó là để nhằm ổn định toàn thể xã hội, sự chuyên chế là đỉnh cao của trật tự xã hội khi chưa có điều kiện nào để phát triển được tốt hơn.

Nhưng mọi sự vật bao giờ cũng có mặt trái của nó. Tính lạm quyền cá nhân luôn luôn tất yếu phải xảy ra. Những nhà độc tài sắt máu của phương Tây, những ông vua tàn ác ở phương Đông, đó chính là những trường hợp điển hình như thế. Cũng từ đó mà đi đến các hiện tượng lịch sử tranh bá đồ vương, sự thiết lập nên các đế quốc khổng lồ, một thời từng là sự thống nhất vinh quang, mà thực chất không phải không luôn luôn có nhiều mặt trái. Bởi chế độ cha truyền con nối, chế độ tập quyền của giới quan lại thống trị, tính cách truyền ngôi báu hay quyền lực xã hội theo kiểu ngẫu nhiên, đưa đến những hoạn quan bất tài, những tì thiếp ban đầu vẫn có thể soán ngôi hoàng đế, thu tém mọi sức mạnh vũ lực và vật chất vào riêng trong tay mình, đó là thực tế tất yếu, tự nhiên của rất nhiều những giai đoạn xã hội quân chủ và phong kiến.

Tất nhiên trình độ phát triển vật chất, kinh tế của xã hội vẫn luôn đi theo với ý nghĩa phát triển của nhận thức và văn hóa. Đó là lý do tại sao hang ngàn năm xã hội con người không thoát ra được nền tảng phong kiến, quân chủ độc đoán nói chung, và chỉ đến đầu thế kỷ 19 tư tưởng dân chủ và thể chế dân chủ mới thật sự nở rộ ở phương Tây.

Trong xã hội phong kiến và quân chủ, các chế độ đó phần lớn phải dựa vào thần quyền để làm cơ sở, nền tảng cho sự hiện diện hay quyền lực cai trị của mình. Ý nghĩa quý tộc là do những đặc điểm ưu việt nào đó riêng của các cá nhân con người. Ý nghĩa của nền quân chủ là vua thay trời trị dân, hoặc được Chúa che chở trong các chế độ quân chủ thần quyền.

Chỉ khi bước vào kỷ nguyên của nền dân chủ, tính chất của con người mới trở về được ý nghĩa nguyên thủy ban đầu, tức mọi người sinh ra đều hoàn toàn tự do và bình đẳng. Tất nhiên con đường trở về xuất phát đó không phải dễ dàng gì, mà rất nhiều tầng lớp trí thức hay những người có ý thức trong nhân dân đã phải trả giá đắt, hi sinh, bỏ ra muôn vàn nổ lực về tất cả các mặt mới giành lại được một cách vẽ vang, ý nghĩa, cần thiết cho toàn bộ xã hội loài người.

Đến khi Karl Marx (1818 - 83) xuất hiện, ông lại đưa ra một học thuyết mới, phủ nhận mọi chế độ dân chủ đã có, mệnh danh chung đó là chế độ dân chủ tư sản, để chỉ chủ trương chế độ vô sản với nền tảng là nền độc tài chuyên chính vô sản (Diktatur des Proletariats) nhằm tiến tới thiết lập một xã hội không còn tư sản, không còn giai cấp, một xã hội hoàn toàn lý tưởng theo ông quan niệm.

Sứ mạng lịch sử đó, Marx cho rằng là của giai cấp công nhân, và điều quan trọng theo ông nhằm tiến tới xây dựng được xã hội đó chính là ý thức giai cấp hay cụ thể là ý thức của giai cấp công nhân. Nhưng đó mới chỉ là lý thuyết của một cá nhân đầu tiên đưa ra. Người đầu tiên đưa vào thực hiện các ý tưởng đó chính là Nicolai Lenin (Vladimir Ilych Ulyanov, 1870 - 1924). Đó là cuộc cách mạng vô sản ở Nga năm 1917 thành lập nên đất nước Liên bang Xô viết, với nguyên lý chủ đạo là nền kinh tế tập thể, và sau đó thể chế chính trị này đã phát triển ra nhiều nơi trên toàn thế giới, để cuối cùng vẫn là thực tế của thế giới hội nhập toàn cầu ngày nay mà ai cũng rõ.

Thế thì sự tranh luận hay sự đấu tranh cốt lõi của xã hội con người ngày nay rút lại vẫn chỉ là nền dân chủ tư sản hay nền dân chủ vô sản, ít ra cũng là về mặt nguyên tắc hay lý thuyết. Đó chính là di sản của Mác và Lênin để lại, mà thông thường mọi người vẫn gọi đó là học thuyết chính trị hay chủ nghĩa Mác-Lênin.

Sự tranh luận này nói cho cùng vẫn là nền tảng của học thuyết Mác. Đó là nền tảng của khái niệm đấu tranh giai cấp, mà cốt lõi của nó vẫn là quy luật biện chứng (Dialektik) lấy từ quan điểm học thuyết triết học của nhà triết học duy tâm người Đức là Hegel (Georg Wilhelm Friedrich, 1770 - 1831) mà ra. Đúng ra, hình thức của lý thuyết Mác là hình thức phân tích kinh tế xã hội, nhưng động lực sâu xa chủ yếu của nó vẫn là tư tưởng biện chứng của Hegel. Bởi nếu không có động lực căn cơ này, lý thuyết của Mác cũng không mang tính quy luật theo ông quan niệm được. Đây chính là điều mà ông hoàn toàn xác nhận trong bộ sách cơ bản của ông về kinh tế chính trị, đó là cuốn Tư bản luận (das Kapital) mà mọi người đều biết.

Cho nên phê phán mọi ý nghĩa của lý thuyết Mác thực chất và sâu xa nhất cũng chỉ là phê phán quan điểm biện chứng luận về mặt triết học của nhà triết học Hegel mà không là gì khác. Điều này tác giả bài viết này cũng đã từng phân tích, nhận xét rất nhiều, không cần phải thảo luận thêm chi tiết ở đây nữa.

Vậy thì rút cuộc lại, ý nghĩa của sự tranh luận hay đấu tranh về khái niệm dân chủ từ thời kỳ cận đại đến nay trên toàn thế giới vẫn là sự tranh chấp tính cách khác nhau giữa nền dân chủ tư sản và nền dân chủ vô sản. Nền dân chủ tư sản dựa chủ yếu trên công cụ hay phương tiện sản xuất kinh tế xã hội thuộc tư nhân. Nền dân chủ vô sản, tức nền dân chủ tập trung, lý tưởng toàn trị chuyên chính do Mác đưa ra và Lênin thực hiện, đó là chế độ Bolchevik, ngày nay còn được áp dụng ở vài nơi trên thế giới.

Thật ra, trừ phi con người muốn đi vào những học thuyết triết học hoàn toàn xa thực tế, tức phi thực tế, thì xã hội hiện thực của con người vẫn luôn luôn là xã hội thực tế, đó là chân lý khách quan, hay một mặt nào đó của chân lý toàn diện và khách quan vốn vẫn luôn luôn như vậy. Bởi vì đơn vị cụ thể của xã hội loài người vẫn là con người thực tế bằng xương bằng thịt, tức con người thân xác và ý thức tâm lý, là điều hoàn toàn không thể phủ nhận. Nói khác đi, đó là con người chịu ảnh hưởng trực tiếp, tự nhiên của các quy luật tâm sinh lý, tức quy luật sinh học, quy luật xã hội, và quy luật lịch sử hoàn toàn cụ thể và thật sự khách quan.

Đó cũng là ý nghĩa đã nêu ra ngay từ đầu tức mọi người sinh ra đều hoàn toàn bình đẳng và tự do, và đó cũng chính là nền tảng của mọi quyền tự do thật sự. Tất nhiên, sự tự do cũng có nghĩa là quyền làm người, tức là nhân quyền, và dân chủ cũng có nghĩa là yêu cầu chính đáng, cần thiết, khách quan của con người, đó là dân quyền. Điều này cũng có nghĩa khi đặt một lý thuyết, hay được nôm na gọi là một ý thức hệ, nào đó lên trên xã hội con người, điều đầu tiên là phải xuất phát từ quan điểm dân chủ, có nghĩa phải hỏi ý kiến dân thật sự dân chủ. Đây chính là điều mà cuộc cách mạng vô sản hoàn toàn phủ nhận. Bởi nếu hỏi ý kiến dân thì còn gì là ý hướng hay yêu cầu của cách mạng nữa. Đó cũng chính là lý do tài sao chính bản thân Mác lại chủ trương chuyên chính vô sản. Thế thì xuất phát điểm ở đây là xuất phát điểm lịch sử khách quan hay chỉ là xuất phát điểm chủ quan theo nhận thức của Mác, là điều mà mọi người có quyền tự do suy nghĩ. Điều đó cũng còn gắn với bản thân của ý niệm hữu sản và ý niệm vô sản trong cuộc sống hoàn toàn cụ thể, thực tế, mà chắc mọi người ngày nay đều hoàn toàn rõ.

Vậy nên rút lại, trừ phi con người đứng trên quan điểm chuyên chính nào đó, bản thân của nền dân chủ xã hội vẫn luôn luôn phải là sự tự do và tính bình đẳng. Hai ý niệm này hoàn toàn ăn khớp, cần thiết, hay bổ sung cho nhau, bởi vì nếu không có cái này cũng không thể có cái kia. Nói khác đi, nền tảng thật sự của dân chủ và tự do vẫn không thể khác gì hơn là nền tảng của ý thức và nhận thức. Điều này hoàn toàn đúng trong thực tế xã hội. Nói dân chủ tự do thực tế vẫn là nói cho những thành phần chọn lọc tự nhiên nào đó trong xã hội, mặc dầu ý nghĩa và nguyên tắc của nó vẫn là ý nghĩa nói chung cho toàn xã hội hay cho tất cả mọi người.

Có nghĩa, đối với những người hay những cá nhân con người không có ý thức về sự dân chủ, tự do, thì điều này đối với họ cũng hoàn toàn thừa thải hay vô nghĩa. Đó là tính cách khách quan thực tế mà bất cứ người nào muốn phủ nhận cũng không thể nào phủ nhận được. Đó chính là tính chất nói chung của số đông, tức chỉ biết làm ăn, lo làm ăn cụ thể, thực tế trong đời sống cá nhân, ngoài ra không còn để ý hay không còn lo gì xa xôi hơn như thế. Tính chất này cho thấy ý nghĩa của dân chủ, tự do là ý nghĩa nguyên lý của toàn xã hội, nhưng chưa hẳn là ý nghĩa của mọi cá nhân. Sự khác nhau ở đây chính là yếu tố ý thức tinh thần, hay nói cụ thể là trình độ nhận thức, sự hiểu biết, nhất là ý nghĩa của tinh thần hay ý thức nói chung về xã hội mà thật sự những cá nhân cụ thể vẫn có thể có hay không có.

Tất nhiên, lịch sử luôn biến chuyển, về phương diện chung của xã hội cũng như phương diện đặc thù riêng bản thân mỗi cá nhân. Mỗi trình độ hiểu biết, nhận thức, ý thức của mỗi con người không phải luôn đứng yên mà vẫn chắc chắn đổi thay như thế. Hay nói khác đi, chất lượng của số đông vẫn là chất lượng quyết định cho tất cả. Thời kỳ dân tộc VN phải chịu sự cai trị của người Pháp, trình độ nói chung của mọi người dân còn thấp, sự đấu tranh bằng bạo lực vẫn không thể không xảy ra, nhưng Phan Chu Trinh là người sáng suốt muốn nâng cao dân trí, dân khí, dân tâm, vẫn chính là điều đó.

Vậy thì nói cho cùng, ý nghĩa của dân chủ và tự do vẫn không gì hơn chính là vấn đề bản thân của toàn xã hội. Đây là vấn đề nguyên tắc mà đồng thời cũng là vấn đề thực tế. Nguyên tắc bởi nó là ý nghĩa căn bản của quyền làm người, của nhân phẩm và giá trị nói chung nơi mọi con người, nhưng thực tế bởi vì nó có được số đông nhận thức yêu cầu cần thiết hay không lại là chuyện khác.

Vậy nên, mọi sự tranh cãi hay đấu tranh nhau, ngoài trừ phương diện quyền lợi kinh tế, vật chất cụ thể (luôn luôn là của đám đông), thì trong thực tế xã hội, thực chất nó vẫn chỉ xảy ra nơi số ít của những thành phần chọn lọc, những phần tử có ý thức và có nhận thức, có tri thức hiểu biết trong xã hội loài người. Điều này đúng trong mỗi nước và đúng trong toàn bộ lịch sử thế giới từ nguyên thủy đến ngày nay trải qua mọi chế độ, giai đoạn phát triển trong từng xã hội.

Đó cũng là lý do tại sao ý niệm dân chủ tập trung (hay tập trung dân chủ) và ý niệm dân chủ phổ biến là hoàn toàn khác. Bởi dân chủ tập trung chỉ là dân chủ hạn chế, dân chủ khu biệt, dân chủ trong nội bộ. Một tập thể hay tập hợp cá nhân con người nào đó, có quy luật vận động, lý thuyết, mục đích, ý nghĩa tổ chức riêng, đó là chính là nền dân chủ tập trung, nó phải tuân theo mọi ý nghĩa và khuôn khổ đặc thù, nội bộ, riêng biệt của nó mà không là gì khác. Nhưng bất kỳ một nhóm, một tập hợp, một cá nhân nào cũng chỉ là những thành phần riêng của xã hội mà không phải là toàn thể xã hội, đó là ý nghĩa của bản thân nền dân chủ phổ biến là như thế. Cho nên dân chủ tập trung quy kết lại vẫn chỉ là ý nghĩa dân chủ theo quan điểm đấu tranh giai cấp của Mác. Nó được coi là ý nghĩa của sự đại diện cho giai cấp, còn thực tế khách quan nó là ý thức của, mục đích của giai cấp, của những thành phần cá nhân, hay của toàn thể lịch sử xã hội như một tiêu biểu hoàn toàn đúng nghĩa lại là chuyện khác.

Vậy thì kết luận lại, điều gì quyết định nhất trong xã hội loài người, đó chính là sự hiểu biết, ý thức, và cái còn lại chính là quyền lực. Đương nhiên quyền lực ở đây là quyền lực công cộng. Quyền lực công cộng đặt nền tảng trên toàn sự tổ chức của xã hội. Nắm quyền tức nắm được toàn bộ sự tổ chức, điều hành, hay toàn bộ guồng máy vận động khách quan và tự động của toàn xã hội. Điều này cũng giống như người lái xe, lái tàu, người lái xe lô, xe ủi, thiết giáp xa, xe tăng bánh xích cũng vậy. Bởi ý nghĩa của quyền lực luôn luôn mù quáng và tự động. Con người thân xác vẫn luôn chỉ sợ nhau qua công cụ vật chất hay vũ khí mà người khác có trong tay. Về quyền lực xã hội người ta sợ nhau cũng chỉ vì có người nắm quyền lực và người hoàn toàn không có quyền lực. Nhất là khi quyền lực đó được tổ chức một cách chặt chẽ và toàn diện nhất, trong đó mọi cá nhân đều không còn phương tiện tự vệ. Trong khi đó, đối với xã hội tự giác và có hiểu biết, con người kính trọng nhau là vì đạo đức, vì trình độ nhận thức, vì giá trị của chân lý, sự thật khách quan. Bởi vậy, trong khía cạnh nào đó thì quyền lực độc đoán cũng giống như tình trạng chen chấn nơi đám đông. Hãy tưởng tượng một vụ kẹt xe ở đầu cầu, nơi đường hẹp, đông người, mạnh ai nấy chen nấy lấn, nguồn nguy hiểm và thiệt hại gây nên rất bội phần, ai cũng chỉ muốn thoát thân ra nhưng vô tính lại làm kẹt cho những người khác, đó là tình trạng hổn loạn, lùng nhùng không có lối thoát, cho tới khi cảnh sát đến hay có người nào đó có sự khôn khéo, có thiện chí, có điều kiện nào đó để đứng ra vẫn hồi lại chính trật tự bình thường. Kinh nghiệm này tất cả mọi người hẳn đều biết nên chắc chắn là đều suy nghĩ sâu sắc.

Thế nên, vấn đề ý nghĩa của tự do dân chủ đích thực, nói cho cùng vẫn chính là vấn đề về ý thức, hiểu biết và trách nhiệm. Tức mỗi người có thật sự hiểu biết, có thật sự thấy sự cần thiết, khách quan của ý niệm tự do dân chủ cho toàn xã hội hay không. Nếu không thấy được, hay chỉ thấy theo cách cục bộ, biệt phái, đặc thù nào đó, không thể nào có ý thức thực hiện, đấu tranh hay tranh thủ cho ý niệm dân chủ tự do một cách hoàn toàn phổ biến được. Bởi ý nghĩa tối hậu của dân chủ tự do phổ biến chắc chắn và luôn luôn phải xây dựng trên sự phổ thông đầu phiếu. Không có sự phổ thông bỏ phiếu, tức sự thể hiện ý kiến công khai, khách quan của tất cả mọi người về bất kỳ những vấn đề quan trọng nào đó, không vì bất cứ lý do gì và không bất kỳ một ai có thể có quyền tự quyết định thay cho họ, cũng không thể nào có được nền tự do dân chủ phổ biến một cách hoàn toàn đúng nghĩa và khách quan được. Bởi vậy nền dân chủ tự do phổ biến thì khai thác, tập hợp được mọi tinh hoa của toàn xã hội, còn nền dân chủ cục bộ hay độc tài thì đó nhiều lắm cũng chỉ là tinh hoa của một thành phần thiểu số. Tự do nói cho cùng là mọi cá nhân con người không bị áp đặt, vì nhân danh điều gì, làm trái lại sự nhận thức khách quan hay ý muốn hợp lý của họ. Còn dân chủ cũng là sự đối đãi bình đẳng nhau giữa tất cả mọi người cũng theo ý hướng đó.

Cho nên chân lý và quy luật vẫn là hai vấn đề hay hai ý nghĩa mấu chốt, quan trọng và khách quan nhất trong xã hội loài người mà không phải ai ai cũng thấy. Giống như nếu có người cao hứng làm ra một chiếc xe có bánh vuông, tất nhiên nó không thể chạy được ngon lành hay không vận động được theo đúng quy luật. Với một chiếc xe bánh vuông như thế, nếu mọi người cùng hè nhau đẩy, tất nhiên nó vẫn xê dịch, nhưng đó vẫn không phải là cách chạy xe, không phải xe tự chạy, mà chính do lực người cùng bị bắt buộc phải hè nhau đẩy. Nói về mặt kỹ thuật và mặt kinh tế, đó không phải là yêu cầu hợp lý, tiết kiệm, và thậm chí kém khôn ngoan trong thực tế cho dù có tự mệnh danh đó là điều ưu việt đi chăng nữa. Thế nhưng, mọi người có ý thức, khả năng, ý muốn phê phán, phê bình, hay phát biểu nhận xét về cái xe đó hay không lại là chuyện khác. Chẳng hạn, vì cần phải lo riêng, cũng chẳng ai thèm để ý đến nó. Hoặc sợ mếch lòng, hay sợ xô xát, sợ hậu quả, kể cả chỉ sợ lời qua tiếng lại không cần thiết, cũng chẳng ai muốn chỏ miệng vào. Đó cũng chỉ là tâm lý thụ động khách quan tự nhiên của phần lớn người hay kể cả nói chung trong toàn xã hội nào đó cụ thể.

Ý nghĩa của dân chủ tự do cũng chính là thế. Đó cũng còn là do chỗ sáng suốt, mù quáng, có ý thức, vô ý thức, có hiểu biết, kém hiểu biết, có trách nhiệm, vô trách nhiệm, có năng động, không năng động, có chủ động hay chỉ thụ động, là tâm lý bàng quan hay ý thức dấn thân của tất cả mọi người. Cái gì là ý nghĩa chung, cái gì là ý nghĩa riêng, cái gì là cục bộ, cái gì là phổ biến, cái gì là khách quan, cái gì là chủ quan, cái gì là thực tế, cái gì là viễn mơ, cái gì là quy luật, cái gì không phải là quy luật, cái gì là giả tạo, cái gì là thực chất, cái gì có ý nghĩa và giá trị, cái gì không ý nghĩa và không giá trị, cái gì là niềm tin giáo điều, cái gì là chân lý khách quan thực tế v.v… và v.v…, đó chính là tính mục đích, tính ý thức, tính hiểu biết, tính điều kiện, và nói chung là tính hiệu lực và ý nghĩa văn minh, văn hóa, tinh thần cần thiết, chính đáng, bao quát, đích thực nhất của sự tự do dân chủ phổ biến nhất trong toàn xã hội.

 

VÕ HƯNG THANH

(22/01/2011)


 

**

 

NÓI VỀ BẢN CHẤT SÂU XA CỦA CHỦ NGHĨA

QUỐC TẾ VÔ SẢN

 

Chủ nghĩa quốc tế vô sản ngày nay không còn là vấn đề gì quan trọng trên khắp thế giới nữa. Tuy nhiên, trên TV vừa rồi vẫn còn có người nhắc đến nó một cách say mê nhiệt tình; hoặc có thể chỉ là một biểu hiện bề ngoài, nhưng cũng có thể là một thật lòng được nuôi dưỡng từ những tình cảm, niềm tin, hay cảm xúc quá khứ nào đó.

Từ ý nghĩa đó, tác giả bài viết này cũng cần nên phát biểu riêng tư một đôi điều thêm về chủ nghĩa quốc tế vô sản vốn đã có từ lâu để mọi người cùng nhận xét, phê phán hoặc thưởng lãm.

Thật ra chủ nghĩa quốc tế vô sản cũng là bản thân, khởi điểm và mục đích của chủ nghĩa Mác-Lênin mà không là gì khác. Cả hai là một nhưng tính chất vận dụng và tiến trình nắm bắt đối với nhiều người có thể khác nhau.

Khởi đầu của học thuyết Mác là nổi bức xúc về tình cảnh thợ thuyền và giai cấp công nhân Anh nói riêng và phương Tây nói chung trong thời kỳ tiền tư bản chủ nghĩa. Từ đó kết hợp lý thuyết biện chứng trong triết học của Hegel, những tìm hiểu nghiên cứu phần nào về kinh tế xã hội của mình, nói cụ thể là các lý thuyết kinh tế cổ điển Anh, những lý thuyết cách mạng xã hội Pháp, Mỹ lúc đương thời, cùng với những mục tiêu thực tiển trong hoạt động cách mạng của bản thân, ông mới đúc kết lại, hình thành nên toàn bộ các nội dung lý thuyết của mình.

Cho dù như vậy, cái cốt lõi nhất trong học thuyết của Mác vẫn chính là quy luật biện chứng trong quan niệm của Hegel, bởi nếu không có cái cốt lõi này, ý nghĩa và dự kiến của học thuyết Mác cũng không thể nào đạt được. Đó chính là điều mà Mác từng nói ông lật ngược hệ thống Hegel lại, bởi theo Mác, Hegel là con người đi bằng đầu, ông cần phải lật ngược lại để Hegel đi được bằng chân.

Cái đi được bằng chân đó chính là nguyên lý biện chứng áp dụng vào cho kinh tế chính trị học, tức là quy luật mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn để tiến lên và hoàn thành toàn bộ cuộc cách mạng xã hội. Con người khởi thủy là vô sản trong xã hội cộng sản nguyên thủy, tất nhiên xã hội loài người cũng là xã hội vô sản trong xã hội cộng sản khoa học nơi xã hội tương lai.

Mác nhất thiết cho học thuyết của mình là học thuyết khoa học, bởi vì ông tin chắc chắn quy luật biện chứng của thực tại do Hegel đưa ra là chân lý khách quan, bao trùm, nên hoàn toàn và chắc chắn duy nhất đúng. Đó là cơ sở của quan điểm cộng sản khoa học mà Mác luôn luôn nhấn mạnh. Bởi trên cơ sở của quy luật biện chứng khách quan và thực tại đó, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa tự nó chứa đựng mâu thuẫn, tự nó sẽ đào mồ chôn nó, tự nó tiến đến chỗ dẫy chết, để cuối cùng chuyển sang nền kinh tế cộng sản khoa học.

Ý nghĩa của mâu thuẫn đó nói rút lại là mâu thuẫn trong quan hệ sản xuất, mâu thuẫn trong xã hội tư sản, mâu thuẫn trong hàng hóa và tiền tệ, mâu thuẫn trong diễn biến số lượng giữa giai cấp công nhân và giai cấp chủ tư bản, để cuối cùng lượng sẽ dẫn đến chất, lượng sẽ làm chuyển biến, thay đổi chất, đưa đến tiến hành và hoàn thành cuộc đại cách mạng xã hội, và cuối cùng là thiết lập nên xã hội vô sản, tức xã hội cộng sản khoa học.

Trong bản Tuyên ngôn cộng sản Mác có nói xã hội loài người từ khởi thủy đến nay là xã hội đấu tranh giai cấp. Đấu tranh giai cấp vì có phân chia giai cấp. Nguồn gốc của phân chia giai cấp theo Mác chính là tư hữu. Có tư hữu nên cũng phát sinh ra sản xuất hàng hóa, phát sinh ra giao dịch mua bán, phát sinh ra tiền tệ. Như vậy để thực hiện được xã hội cộng sản tương lai, tất cũng đi đến dẹp bỏ tư hữu, dẹp bỏ xã hội sản xuất hàng hóa, dẹp bỏ phân công lao động tự phát, dẹp bỏ thương mại và tiền tệ, xã hội chỉ còn thuần là giai cấp công nhân, không còn chủ tư bản, đó chính là nền kinh tế hiệp đồng, sản xuất tự giác theo kế hoạch, sản phẩm tuông ra dồi dào được phân phối tùy thích, tức làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu. Ở xã hội này mọi con người mới thật sự giải phóng, không còn tư sản, không cần tư hữu, tức chỉ sống bằng tinh thần, tình yêu thương nhau và sở thích.

Có nghĩa theo Mác, tư hữu, giai cấp, tiền tệ là những phạm trù tội lỗi của lịch sử loài người. Đó là gốc phát sinh ra mọi tệ nạn của xã hội. Phải cần tiến lên dẹp bỏ mọi nguyên nhân thực tế này, cuộc đại cách mạng xã hội cũng sẽ được hoàn tất, hay thực sự mới có thể thực hiện được.

Nguyên lý biện chứng của lịch sử và nguyên lý kinh tế xã hội trong học thuyết Mác chủ yếu là như thế. Kết hợp quan điểm duy vật tuyệt đối với quan điểm biện chứng của học thuyết (duy tâm) Hegel, Mác đưa ra quan điểm về biện chứng duy vật và biện chứng lịch sử của mình như đã nói trên. Có nghĩa không có lý thuyết biện chứng cũng không thể có học thuyết Mác, và nguyên tắc nổi bật nhất trong lý thuyết biện chứng của Hegel chính là nguyên lý lượng biến thành chất.

Thật ra nguyên lý lượng biến thành chất của nhà đại triết học Hegel (1770 – 1831) chỉ là nhận xét khập khiễng. Bởi lượng của một chất và bản chất của chất đó hoàn toàn khác nhau. Đó là hai phạm vi hay hai phạm trù riêng biệt không thể nhập nhằng và hoàn toàn đồng hóa vào nhau được. Nước nhiều hay nước ít thì bản chất của nước vẫn là lưu chảy. Đá nhiều hay đá ít thì bản chất của đã vẫn là đứng yên. Còn nói nước nhiều thì chảy mạnh hơn, đá nhiều thì nặng cân hơn, đó lại là chuyển sang ý nghĩa một tính chất khác, một phạm trù khác chẳng còn liên quan gì đến ý nghĩa hay bản chất ban đầu. Sự nhập nhằng, sự hàm hồ ở đây chính là ở đó. Quan điểm của Hegel đã chuyển từ một nhận xét thực tại trở thành một ý nghĩa của phán đoán tinh thần. Phạm trù vật thể khách quan trở thành phạm trù ý thức, phán đoán hay nhận thức chủ quan. Đấy cái nguyên lý lượng biến thành chất trong thực chất nó chỉ là như thế.

Nhưng chính từ trên quan điểm lượng biến thành chất đó mà Mác đã vội vã xây dựng nên toàn bộ học thuyết của mình. Tức khi ý thức giai cấp công nhân thay đổi, cuộc đại cách mạng nhất định phải nổ ra, ý thức công nhân trở thành làm chủ lấy mình, làm chủ lịch sử, đó là tiền đề của tương lai xã hội cộng sản khoa học.

Tuy nhiên, Mác vẫn quên một điều, quan điểm biện chứng của Hegel dầu sao vẫn là quan điểm trong một toàn bộ hệ thống duy tâm. Nguyên lý duy tâm là nền tảng hay cơ sở của thuyết biện chứng. Thế nhưng quan điểm của Mác ngược lại là quan điểm hoàn toàn hay tuyệt đối duy vật. Như vậy có nghĩa nếu áp dụng nguyên lý biện chứng thì hoặc lý thuyết Mác đã trở thành duy tâm, hoặc đó chỉ là một sự áp dụng không tương thích hay hoàn toàn trái khoáy. Có lẽ sự quá bức xúc của Mác về tình cảnh đau khổ của thợ thuyền, mà gặp quan được điểm biện chứng của Hegel ông giống như người vớ được phải cọc, khiến trào dâng lên một quan điểm lý thuyết đầy cảm hứng, đầy cảm xúc mà mất đi tính cách trầm tĩnh của ý thức khoa học chính xác và khách quan chăng.

Đó là chưa nói cho dù là người công nhân hay người chủ tư bản chăng nữa, họ đều cũng là những con người như nhau, có nghĩa vẫn phải luôn chịu nhưng quy luật, những áp lực tự nhiên của tâm lý ý thức mà mọi người đều có tương đối như nhau. Tức những nhu cầu tự nhiên về sinh tâm lý, các khuynh hướng, bản năng, cá tính, các tình trạng bản thân và môi trường, các hoàn cảnh khách quan và điều kiện lịch sử bản thân cũng như của xã hội, các cơ may, các nổ lực, thói quen, các năng lực riêng, hay các thành tựu của kết quả của đào tạo, giáo dục v.v… Do vậy sự đối lập giữa các cá nhân con người cụ thể, linh hoạt thành những phạm trù trừu tượng, cứng nhắc là điều chưa hẳn đã hoàn toàn hợp lý. Hơn thế, hoàn cảnh mỗi con người, vị thế mỗi con người đều luôn luôn có thể hoán đổi nhau một khi có hoàn cảnh thay đổi, có nghĩa mỗi người đều vẫn là sản phẩm lịch sử riêng của mình cũng như sản phẩm của hoàn cảnh lịch sử chung, họ thật sự có gì nhất thiết là thần thánh hay đáng trách.

Sự bất công xã hội nếu có, sự không hợp lý hay chưa phù hợp trong những điều kiện hoàn cảnh kinh tế đời sống nào đó của những số ít hay số đông con người, đáng lẽ ra chỉ cần giải quyết một cách đơn giản bằng các biện pháp xã hội hay pháp lý một cách tiết kiệm, thông minh, cần thiết hoặc hiệu quả, đâu có cần gì phải tính đến những chuyện động trời hay long trời lở đất. Tất cả những tồn tại đó, ngay cả đến trong các xã hội ngày nay trên toàn thế giới, người ta vẫn còn phải tiếp tục giải quyết mà vẫn tồn đọng, chưa xong, có gì đâu là lạ, bởi vì lịch sử khách quan vẫn luôn giống như một dòng chảy không ngừng, có những cái mới vẫn nảy sinh ra, có những cái cũ vẫn tiếp tục biến thiên, có khi nào mà hoàn chỉnh hay kết thúc được mọi sự.

Bởi vậy xã hội loài người từ chỗ hoang dã đến chỗ phát triển đi lên, thật ra do rất nhiều yếu tố, có những yếu tố đã biết, nhưng vẫn còn những yếu tố chưa biết. Hành tinh xanh của chúng ta thật ra chỉ là một hạt bụi rất nhỏ bé trong không gian vô hạn giữa các thiên hà. Một cái vô cùng nhỏ so với cái vô cùng lớn, có gì đâu mà có vai trò tiêu biểu, toàn diện, tổng thể, hay quyết định. Đó quả là một sự lạc quan quá đáng. Đó chỉ là một sự suy diễn nặng phần tư biện về toàn bộ lịch sử khách quan. Ngay như trong môi trường tự nhiên của địa cầu cũng có thể có những yếu tố ngoại lai bất ngờ tác động, ảnh hưởng quyết định đến dòng biến thiên của lịch sử loài người, đừng nói tới bao quy luật hay ngẫu biến xảy ra bất ngờ trong thiên hà hay trong toàn vũ trụ.

Trở về với thực tế cuộc đời, xã hội con người cộng đồng nguyên thủy là xã hội sơ khai tự nhiên, đêm gán ép vào với khái niệm xã hội cộng sản nguyên thủy là một điều khiên cưỡng, giả tạo, không khách quan hoặc không tự nhiên. Ý nghĩa tài sản hay tư hữu chỉ là ý nghĩa về sau này khi đời sống thực sự phát triển. Đó là sự diễn tiến tự nhiên, không thể chê trách, phê phán hay kết án gì được. Bởi không một cá nhân hay tầng lớp nào tạo ra nó, mà là diễn tiến của toàn thể lịch sử nói chung. Giữa cái chưa có, cái đã có, và cái sẽ có là hoàn toàn khác nhau. Bức vách giữa chúng là khoảng trống vắng, là số 0, là cái hư vô, đó không hoàn toàn là sự diễn tiến của cái continum trong khái niệm toán học. Do đó từ xã hội cộng đồng nguyên thủy, qua xã hội phong kiến (có những nơi có xã hội nô lệ), đến xã hội quân chủ, rồi xã hội tư sản dân quyền chỉ là điều hoàn toàn khách quan, đã có và tự nhiên. Lịch sử phải tiến lên không ngừng nhưng cũng không khi nào có thể lùi lại. Lên án những giai đoạn lịch sử xã hội đã qua, xiển dương những ý nghĩa xã hội chưa tới, quả là điều chỉ mang tính lý thuyết suy luận máy móc kiểu tư biện trừu tượng mà không phải hoàn toàn thực tế.

Con người là sinh vật có lý trí. Với lý trí và sự hiểu biết của mình, có nhiều vấn đề thuộc xã hội và lịch sử con người vẫn có thể giải quyết được trong thực tế một cách thông minh và hiệu lực, kết quả, chẳng phải cần gì đến những giải pháp mơ hồ, huyễn mộng. Tất nhiên, lịch sử là kết quả của toàn thể mà không phải của cá nhân, của số đông mà không phải của chỉ vài người, mặc dầu trong ngắn hạn nào đó, vẫn có thể có những yếu tố khách quan bất ngờ nào đó của tự nhiên, của xã hội, thậm chí của một vài cá nhân đặc thù nào đó tác động đến nhất thời khiến làm thay đổi, biến chuyển thoáng qua những bước phát triển tổng thể, tự nhiên của toàn xã hội.

Nhưng có điều quan trọng, mọi sự phát triển quyết định nhất của lịch sử vẫn là do những phát kiến, những khám phá, do trí tuệ con người, không phải thuần túy đơn giản do mối quan hệ con người, hay mối quan hệ đấu tranh giai cấp như Mác đã nói. Bởi lẽ chính sự khám phá ra lửa, sự phát kiến ra nam châm, dòng điện, máy hơi nước, máy điện, rồi điện toán ngày nay … mới chính là những dấu mốc vĩ đại của lịch sử nhân loại mà không là gì khác. Bởi vì mối quan hệ con người, hay quan hệ sản xuất, nhiều lắm cũng chỉ là những hình thái xã hội chính trị nào đó, như bộ lạc, phong kiến, quân chủ, tư bản … mà chẳng gì mới. Chính khi nào có sự tích lũy về các kết quả kỹ thuật quan trọng, khi đó thực tiển xã hội mới buộc phải hoàn toàn thay đổi. Xã hội hái lượm nhiều lắm chỉ đánh nhau bằng tay chân, cây, đá. Nhưng khi phát minh ra lửa, ra cung tên, dáo mác … rồi ngày nay là kỹ thuật hạt nhân, thì đó hoàn toàn lại là chuyện khác. Hoặc nhân loại sẽ phải chuyển biến hoàn toàn, hoặc phải đi đến chỗ tự hủy diệt.

Thế cho nên, mối quan hệ giữa con người và con người, hay trong các giai cấp, chẳng qua cũng chỉ giống mối quan hệ giữa những gợn sóng trên hồ, trên sông hay trên biển. Đó là những mối quan hệ bình thường, trừ khi có những yếu tố tác động từ bên ngoài gây nên những đợt triều lớn. Thổi phồng các mối quan hệ bình thường này là điều quá đáng, vì những biến động chính yếu của lịch sử cơ bản không phải ở đó mà chỉ có thể do những nguyên nhận thực tế khác quyết định hoặc kích thêm vào.

Vả chăng, nếu tư hữu là khuynh hướng khách quan, tự nhiên của mọi loài sinh vật, thì tiền tệ chính là một khám phá vĩ đại của lịch sử loài người. Rõ ràng điều này là đúng vì phải cần phân biệt giữa phương tiện và mục đích. Mục đích của mọi sinh vật là sự sống và phát triển, nâng cao sự sống, còn các yếu tố phục vụ cho điều đó thật sự hay thực chất đều chỉ là phương tiện. Con sư tử no rồi thì chẳng thèm săn mồi. Nhưng con báo khi được mồi thường phải đem lên cây để giấu nhằm riêng hưởng được phần mình. Yêu cầu tư hữu như vậy là yêu cầu tiện dụng, tiện nghi, lợi ích, sự cần thiết khách quan mà không là gì khác. Con cái lớn lên đều cần phải có các sở hữu riêng tư, đó là các thực tế của gia đình cũng như của xã hội. Nguyên tắc quyền sử dụng và quyền di sản thừa kế cũng là ý nghĩa hay yêu cầu tự nhiên trong pháp luật mà nghìn đời vẫn luôn thừa nhận.

Thế nên lên án, đả kích quyền tư hữu là điều hoàn toàn không đúng, nó hàm chứa tính đố kỵ, sự bất chấp trong đời sống, tính cách phi trách nhiệm nói chung. Bởi vì nói cho cùng ý nghĩa của sự tư hữu cơ bản vẫn chỉ luôn là phương tiện, điều tiện ích, mà không phải là mục đích hay ý nghĩa sau cùng của cuộc sống. Cho nên không thể vì ý nghĩ sai lệch của số ít, của đặc thù những cá nhân mà lên án, chỉ trích, chê bai, cốt nhằm triệt tiêu hay loại bỏ sự tư hữu. Bởi vì nếu muốn, nếu thấy có những phân hóa quá đáng trong thực tế đời sống về thực tế này, luật pháp chỉ cần đưa ra các biện pháp hạn chế thông minh nào đó, như thuế khóa, chính sách, để nhằm chế ngự, điều hòa một cách hợp lý, hiệu quả, mà chẳng cần gì phải vận dụng đến những điều đao to búa lớn.

Vậy thì điều còn lại cuối cùng chỉ là quyền tư hữu trong tư liệu sản xuất. Cốt lõi của học thuyết Mác chính là lên án và tập trung giải quyết chính ý nghĩa gai góc này. Mác cho rằng tư hữu trong sản xuất chính là nguyên nhân, nguồn gốc của mọi sự, như sự làm phát sinh ra giai cấp, tạo ra cơ chế sản xuất hang hóa, làm phát sinh tiền tệ, cho nên dẹp bỏ nó cũng dẹp bỏ được tất cả, giải quyết nó cũng là giải quyết được tất cả. Xã hội sẽ tuyệt đối lý tưởng, tròn đầy nếu hoàn toàn không có, không còn nó. Và cũng nhằm để giải quyết điều này mà Lênin đã áp dụng quan điểm làm ăn, sản xuất tập thể ở Nga từ cuộc cách mạng 1917 khi Liên xô thành lập mà ai cũng biết. Kết quả những công nông trường ban đầu sụp đổ và Lênin đã phải đối phó lại bằng các chính sách kinh tế mới.

Thế cho nên, tâm lý ý thức con người vẫn là cái ngưỡng khó vượt qua, vẫn là điều gì tự nhiên, khách quan, chính đáng nhất. Đó là tâm lý an toàn, tâm lý tự vệ, tâm lý phòng xa, thậm lý tâm lý kèn cựa, đố kỵ, tâm lý đối phó, tâm lý cạnh tranh v.v… bởi vì chung qui lại vẫn chỉ do bản năng tự nhiên về sinh tồn, phát triển, tự chủ, tự do và tự lập … mà nói chung ai ai cũng có. Đó không phải tâm lý ích kỹ mà chỉ là nhu cầu, ý thức tự nhiên, thậm chí bất kỳ loài sinh vật nào đều có. Có nghĩa sự khôn ngoan sắc sảo của con người chính là thích ứng với tự nhiên một cách thông minh mà không phải đi ngược, đi ngoài, hay phản lại tự nhiên.

Bởi vậy, đời sống của xã hội là luôn luôn phải sản xuất và phân phối. Nhưng cơ chế nào là cơ chế tự nhiên, năng suất, hiệu quả và hợp lý nhất, đó mới thật là điều đáng nói. Tất nhiên cơ chế nào phù hợp với các yêu cầu, tâm lý tự nhiên của cá nhân vẫn phải là cơ chế khách quan, cần thiết, đúng đắn, hữu lý nhất. Nguyên lý liên kết tập thể chỉ có thể là những kịch bản nhỏ, nhất thời, khu biệt, nhưng không thể là cơ chế đại trà, tự nhiên, hằng cửu của toàn xã hội. Bởi vì xã hội là kết tập của những cá nhân con người. Nhưng cá nhân này luôn luôn thay đổi về số lượng, chất lượng, đến và đi, có và hết, còn và mất trong xã hội, đó là một yếu tố động, linh hoạt, một biến số tự nhiên, nên mọi phương trình giải quyết nó cũng phải hoàn toàn là một chuỗi các hệ thống phương trình hoàn toàn tự nhiên và sinh động. Phản ứng tự nhiên chính là phản ứng tự phát hợp lý nói chung của các sinh vật, từ hạt nhân tế báo, các vi thể trong tế bào, đến các con vật đơn bào, đa bào, cá thể con người và toàn bộ xã hội nói chung. Điều này các quy luật trong lý thuyết sinh học, tiến hóa, phân tử đều đã biết nhiều, không cần nhắc tới.

Nói khác đi, quy tắc hay quy luật xã hội không thể vượt ngoài quy tắc hay quy luật sinh học vẫn luôn luôn là điều cần thiết, hữu lý, và hoàn toàn chính đáng. Xã hội con người thực chất là một quần thể sinh học trong chính môi trường tự nhiên. Các quy luật tác động qua lại, nội tại cũng như bên ngoài đều luôn luôn khách quan và cũng luôn luôn là cơ chế có phần tự động hóa. Có nghĩa mọi sự can thiệp thông minh của con người chỉ có thể là sự can thiệp bổ sung, điều tiết hay điều chỉnh mà không thể là sự can thiệp hoàn toàn thay thế.

Chính vậy mà mọi sự thay thế bằng cách duy ý chí trong quá khứ rõ ràng đã thất bại, gây biết bao nhiêu hậu quả tệ hại cho bản thân cá thể cũng như cho toàn thể xã hội cũng những nguy hiểm biết bao cho xã hội con người. Nhưng rồi tất cả những gì phiến diện, vô lý cũng đã bị chính lịch sử đào thải và cũng đã đi qua. Ngày nay sự đổi mới của nhiều nơi cũng như sự hội nhập toàn cầu nói chung chính là con đường tất yếu không ai có thể đi ngược hay đảo ngược lại được nữa.

Vả chăng ý nghĩa của cách làm ăn hay sản xuất theo kiểu tập thể mà Lênin quan niệm là nhằm để xóa quyền tư hữu trong sản xuất, tức xóa bóc lột và thặng dư giá trị mà Mác đã quan niệm. Điều này quả thật Mác vẫn có khuynh hướng nhìn kinh tế xã hội trên bình diện vi mô, cả lẻ, mà không nhấn mạnh về khía cạnh hay ý nghĩa vĩ mô, toàn cục. Quan niệm về sự bóc lột thật ra là một quan niệm toán học mang tính cứng nhắc. Mác đã dùng cả một phương trình toán học cổ điển và cơ bản để nhằm chứng minh cho lập luận này của mình. Nhưng trong phương trình đó Mác quên đưa vào các biến số hay thông số về lịch sử, tâm lý cũng như xã hội. Tóm lại là một phương trình quá đơn giản, loại biệt, giản ước và chưa thật sự hoàn toàn bao quát hay toàn diện. Bởi vì mọi mối quan hệ xã hội luôn luôn là mối quan hệ nghịch đảo, song phương, đa chiều, mà không phải chỉ đơn giản là mối quan hệ đơn phương hay chỉ một chiều. Cho nên hoàn cảnh xã hội, yếu tố kỹ thuật, thông số chỉ tiêu, các ngoại biến số khác phần lớn đều không được Mác tính đến. Đó là chưa nói đến yêu cầu tái đầu tư, mở rộng sản xuất trong kinh tế xã hội, là điều hình như Mác đã phớt lờ, không quan tâm, hay chỉ giải thích cố ý theo quan điểm lập luận riêng của mình.

Nói khác đi, bộ Tư bản luận của Mác như Mác nói không phải dành cho những nhà kinh tế cổ điển thông thường, mà chính là dành riêng cho ý nghĩa và mục tiêu cách mạng. Có nghĩa cơ sở của nó là cơ sở phép biện chứng (lịch sử) của Hegel được mang áp dụng vào nhưng không phải các ý nghĩa nội dung khoa kinh tế học khách quan của bản thân chính nó. Nói theo lối ẩn dụ, Mác giống như gọt chân cho vừa giầy trong kinh tế học nơi bộ Tư bản luận mà không là gì khác. Đó cũng là lý do có những nhà kinh tế học thật sự đọc vào thấy hết sức khó hiểu là như thế, bởi vì có khi hay có nhiều chỗ nó không phải ngôn ngữ khách quan, tự nhiên của kinh tế học.

Cho nên, điều cuối cùng quan trọng hay điều mà Mác không để ý hay chẳng quan tâm đến, đó là tính cách phương tiện xã hội của chính bản thân nhà tư bản. Mác lên án lợi nhuận, lên án tiền tệ, bởi vì coi đó là mục đích của nhà tư bản. Thật ra giữa mục đích và chức năng cũng là điều cần nên cân nhắc. Mục đích hay chức năng của nhà tư bản cũng đều chỉ là lợi nhuận. Đó không những là chức năng xã hội mà cũng là ý nghĩa hay yêu cầu bản thân của họ. Bởi lợi nhuận là điều kiện, là cơ sở của mọi hoạt động sản xuất. Nó là yêu cầu cho mọi chi phí, đặc biệt chi phí cho tồn tại của hoạt động, cho tái sản suất, mở rộng đầu tư và phát triển sản xuất. Nguyên tắc cạnh tranh trên thị trường là thực tế tự nhiên và không tránh khỏi. Vô hình chung người công nhân và cả chủ tư bản cũng đều trở nên như phương tiện chung của toàn thể cộng đồng xã hội. Một bên bỏ sức lao động thể xác của mình ra, một bên bỏ khả năng và tài nghệ quản lý, điều khiển của mình ra. Kết quả cuối cùng cũng chỉ là hàng hóa càng ngày càng mở rộng, gia tăng hơn cả về mặt số lượng và chất lượng, đáp ứng yêu cầu tiêu dùng chung cho cả xã hội. Như thế, nền sản xuất xã hội cũng giống như một cái mô đun, một hộp đen tự điều tiết tự động, theo nhu cầu hàng hóa và giá cả thị trường. Tính cách tự điều chỉnh đó hoàn toàn linh hoạt và chính xác. Đầu vào gián tiếp là lao động liên đới của tất cả mọi người, trong đó trực tiếp có giới công nhân và chủ tư bản. Đầu ra trực tiếp cũng nhằm đến tất cả mọi người, trong đó kể cả những công nhân và các chủ tư bản. Bởi vì hàng hóa là yêu cầu tiêu dùng cần thiết chung nhất không ngoại trừ bất cứ một ai. Vả chăng sự tiêu thụ về năng lượng sinh học cũng như các yêu cầu thiết cốt cho đời sống hang ngày thật ra mọi người cũng đều không chênh lệch hay khác nhau là bao nhiêu, có thể khác nhau về chất lượng hay tính cách, nhưng cái chính vẫn là đáp ứng yêu cầu tùy theo hoàn cảnh và bản thân. Cho nên quy luật tái phân phối lợi tức, tái phân phối hưởng dụng, quy luật kế thừa quyền quản lý cũng chỉ là thông lệ chung trong toàn xã hội. Cả nhiều khi sự hưởng thụ về đời sống của những nhà tư bản thật sự cũng không hơn gì người bình thường là mấy. Giống như câu ngạn ngữ nói người thợ giầy thường phải mang giầy rách, và người thợ làm hòm thường chết phải bó chiếu. Mặt khác, sự nộp thuế và những đáp ứng từ thiện, đó cũng là sự phân bố lại hay sự chia sẻ phần nào các lợi nhuận nhà tư bản thu về trên một phương diện khác. Nói chung mọi dòng sông đều quy về biển, và nước lại bốc hơi đổ xuống các dòng sông, đó vẫn là quy luật tự nhiên chung của mọi sự vật khách quan không loại trừ bất cứ khía cạnh đặc thù nào.

Thế cho nên, cái cuối cùng vẫn là quan niệm sống, quan điểm làm việc, đóng góp hay thụ hưởng nơi tất cả mỗi con người. Thông thường sự trì lực tự nhiên của mỗi cá nhân vẫn làm cho họ không muốn lao động nếu không có nhu cầu hấp lực hay kích thích. Sự kích thích nơi mọi người lao động bình thường chính là điều kiện của cuộc sống, sự kích thích nơi những người chủ tư bản chính là lợi nhuận. Như thế mọi sự đòi hỏi công bằng hay lý tưởng xã hội không phải chỉ đòi hỏi nơi người quản lý sản xuất mà thật sự là nghĩa vụ góp phần giải quyết của tất cả mọi người. Cho nên khoa học kỹ thuật, văn hóa, tri thức, chính là những nhân tố mạnh mẽ, hiệu quả góp phần to lớn cho chính các yêu cầu này. Sự khác nhau giữa năng suất lao động cơ bắp của con người không phải đặc thù lắm, nhưng sự khác nhau giữa trí tuệ, ý thức, thói quen hay trách nhiệm giữa các con người mới thật sự là nhiều. Một ngàn người nông dân, một vạn người công nhân, tuy về giá trị và ý nghĩa con người thì giống nhau, nhưng tính chất của hiệu quả trí tuệ vẫn không so được với vài cá nhân tầm cỡ của những nhà khoa học. Những con người như Edison, Newton, Einstein … thì lại hoàn toàn không thể so sánh.

Cho nên bài toán kinh tế xã hội là bài toán chung cho toàn xã hội, kể cả cho phát triển lịch sử, mà không phải chỉ thu gọn vào trong cá nhân, giai cấp, hay kể cả những giai tầng xã hội nào. Sự chan hòa và hiệu quả trong xã hội chính là yêu cầu thực tế mà toàn bộ loài người phải luôn hướng đến. Đó cũng là lý do tại sao quy luật khách quan vẫn luôn luôn là yêu cầu thiết yếu cho tất cả mọi hoạt động của xã hội con người. Vận động hợp quy luật chính là vận động có kết quả, nếu không chỉ hoàn toàn ngược lại. Chiếc xe chạy nhanh được bởi vì nhờ hai bánh hình tròn, hợp với quy luật chuyển động tròn. Thử hỏi nếu hai bánh là vuông, hay có những bánh xe trong một guồng máy là vuông, tất nhiên sẽ thành tắt tị và nhất thiết phản lại hiệu quả. Bởi vậy mọi quy luật của xã hội, của tâm lý con người, của lịch sử nói chung, cũng phải đều là những quy luật có thật, khách quan, tự nhiên, mà không thể chỉ là những quy luật tưởng tượng, áp đặt, huyền hoặc hoặc thiếu khách quan.

Mác đã đưa ra những quy luật về lịch sử xã hội, được nhiều người cho là tất yếu và duy nhất đúng, nhưng những quy luật ấy ngày nay đã tỏ ra không thành thực tế, và có lẽ cũng chẳng bao giờ có thể trở thành thực tế, bởi vì lịch sử sẽ không thể nào quay lại chỗ cũ bao giờ. Cho nên phần lớn những điều Mác nói đều có tính hấp dẫn bởi vì nó vượt xa lên trên mọi sự hiểu biết của những con người bình thường hàng ngày. Chính vì vậy người ta khó bẽ lại nó, cũng như thấy nó hoàn toàn hấp dẫn hoặc thuyết phục. Nhưng đó chỉ do tính lười suy nghĩ và chẳng thích đào sâu. Bởi khoa học và học thuật vẫn luôn yêu cầu các tinh thần, các đầu óc trầm tính, khách quan, và quyết ý tìm tòi. Đó là của giới chuyên môn, không phải của tất cả mọi người trong bàng dân thiên hạ. Đó cũng là lý do khoa học không thể truyền miệng mà phải là sự lập chí của mỗi một con người.

Nhưng điều oái oăm nhất là Mác quá tin chắc vào lý thuyết “biện chứng” của Hegel, nên cũng tin tưởng vào lý thuyết lịch sử của mình là tuyệt đối đúng, nên ông cũng chủ trương sự độc tài quyền lực hay sự chuyên chính vô sản (Diktatur des Proletariats). Nhưng chính điều này dẫn đến chỗ  không phát huy, không tập hợp được mọi tài năng, mọi tinh hoa, sáng kiến của xã hội, do đó mà nó cũng trở thành trở ngại cho mọi sự phát huy, phát triển nói chung của toàn xã hội. Đó là một thực tế mà ngày nay ai cũng thấy, và đó cũng chính là nhu cầu của mọi sự đổi mới và mọi mục tiêu dân chủ hóa.

Nói chung lại, học thuyết của Mác đúng là một sự cao hứng, một sự bồng bột, say sưa có phần quá đáng. Sở dĩ ít có người bác bẽ lại Mác, bởi vì ông chủ trương chuyên chính, các lý luận của ông vượt lên trên tầm hiểu biết chung của nhiều người, nhất là lý tưởng của ông quá cao vời, đẹp đẽ (tuy không thực tế), nên phần lớn gây nên mặc cảm tự ti, thấp kém, nếu có những người nào thật sự muốn công khai phân tích, nhận xét hay đánh giá lý thuyết của ông. Do vậy, những người vận dụng, nghiên cứu học thuyết của ông từ xưa này phần lớn đều chỉ rập khuôn, minh họa, sao chép thụ động theo, mà họ gọi là “lý luận”, điều đó không ngoại trừ cả Nguyễn Bách Khoa (Trương Tửu), Trần Đức Thảo … cùng nhiều người khác.

Cho nên, cái gì của César cần trả lại cho César, cái gì của khoa học, học thuật cũng nên trả về cho khoa học, học thuật. Do vậy, nói rút lại, sự không tách bạch rạch ròi giữa ý nghĩa phương tiện và ý nghĩa mục đích có lẽ là điều dễ thấy nhất trong Mác. Chẳng hạn, hàng hóa và tiền tệ là yêu cầu phổ biến, tự nhiên và thiết yếu trong xã hội phát triển, tì ngay từ đầu Mác đã gắt gao lên án, muốn dẹp bỏ, cho là nguồn gốc của mọi tệ nạn xã hội, và muốn quay về tình trạng sản xuất vật phẩm trực tiếp để phân phối, không phải qua trung gian của thị trường và tiền tệ. Điều này ai đọc sâu vào bộ Tư bản luận của ông đều nhất thiết phải thấy. Cũng chính vì thế mà Mác chủ trương một xã hội vô sản trong tương lai, tức mọi của cải tài sản chỉ còn là tài sản của cộng đồng chung, nhất là các phương tiện sản xuất trong kinh tế. Đó là một xã hội hoàn toàn đồng thuận, tự nguyện, tự giác, tự đề ra kế hoạch sản xuất và phân phối cho nhau giữa tất cả mọi người không phân biệt, không còn và cũng không cần thông qua thị trường bán buôn và tiền tệ. Một xã hội quá khác thường, thần thánh như vậy quả thật cũng là một điều rất lạ, bởi vì Mác hầu như đã quên mất chính quy luật vật chất và tự nhiên vẫn chi phối mọi người trên cơ sở của chủ thuyết duy vật. Như thế đúng là trên cơ sở duy vật như là nguyên lý được chấp nhận, Mác lại xây dựng một phạm trù xã hội hết sức duy tâm, quả là điều nghịch lý và mâu thuẫn lại chính nền tảng cơ sở ban đầu của lý thuyết mình. Vả chăng, nếu theo đúng quan điểm lý thuyết biện chứng, xã hội vẫn phải luôn biện chứng, biến đổi không ngừng, vậy thì những mô thức hoàn thiện, bất biến như vậy trong tương lai liệu có phải tự nghịch lý với chính nó hay không.

Thật ra, mọi nền sản xuất trong kinh tế xã hội tự nó chẳng bao giờ nhất thiết ổn định hay bất di bất dịch. Bởi vì yếu tố đầu vào, yếu tố đầu ra, yếu tố phân phối luôn luôn tự nó là những biến số. Tập hợp con người trong bất kỳ không gian hay thời gian nào đó không khi nào tuyệt đối bất biến. Đó là một tập hợp biến chuyển. Sự phát triển khoa học kỹ thuật cũng luôn không ngừng đổi mới. Yếu tố tài nguyên thiên nhiên cũng không phải luôn luôn ổn định. Do vậy mọi bài toán quy hoạch mà không theo phương thức xác suất ở đây là hoàn toàn không đủ cơ sở. Đó không những là yếu tố của tương lai, mà cả chính yếu tố trong hiện tại cũng như trong quá trình phát triển kinh tế trong quá khứ trên toàn thế giới của nhân loại nói chung.

Chẳng hạn có những kỹ thuật sản xuất trước kia không có mà ngày nay đã có, và trong tương lai cũng sẽ còn nhiều bước ngoạn mục như thế. Đó cũng là lý do phải luôn luôn nên xem mọi thể chế xã hội, mọi cơ chế của nền kinh tế đều luôn luôn chỉ là phương tiện mà không bao giờ là cứu cánh tối hậu của chính xã hội con người. Cứu cánh đó không gì khác hơn là đời sống, là văn hóa, là tinh thần, mà không bao giờ là tiền tệ hay hàng hóa, bởi vì chúng vẫn chỉ là các vật chất, các phương tiện, cho dù hoàn toàn hiện thực, thiết yếu và luôn luôn cần thiết.

Bởi vậy ý nghĩa giai cấp của Mác cũng luôn luôn nặng về tính biện chứng theo công thức của Hegel, tiền đề - phản đề - hợp đề, mà không nhìn thuần túy trên thực tế luôn luôn chuyển biến tự nhiên trong toàn xã hội. Bởi vì nếu khởi đầu giai cấp nông dân là nhiều nhất, rồi đến giai cấp công nhân, vì đó là những lực lượng lao động trực tiếp của con người khai thác tài nguyên đất đai, tài nguyên tự nhiên, và các yêu cầu chế biến, tạo tác ra các sản vật nói chung trong toàn xã hội. Nhưng khi kỹ thuật thay đổi, phát triển, năng suất lao động nâng cao, tất nhiên sức lao động giản đơn, cơ bắp được giải phóng nhiều hơn, đó là kết quả của nền kinh tế tri thức mà không phải là của kết quả trong tiến trình đấu tranh giai cấp. Quả là Mác vẫn luôn luôn bị buộc chặt trong hoàn cảnh thời đại của mình nhưng lại phóng một cái nhìn hết sức quá chừng viễn tưởng.

Nên nói chung lại, quan điểm của Mác hình như quá nhiều chỗ còn nhập nhòe giữa phương tiện và cứu cánh. Tiền tệ và hàng hóa thật sự là phương tiện hiệu quả nhất trong mọi giao dịch, quan hệ cần thiết, tự nhiên nhất của nhân loại, lại bị ông lên án, coi như những phương thức quá độ của tiến trình lịch sử. Thật sự đó là sự tiết kiệm nhất trong giao dịch, sự tiện nghi nhất trong nhu cầu, sự hoàn thiện nhất trong phát triển và tích lũy về mọi mặt, là cuộc cách mạng lớn lao nhất thay thế cho sự trao đổi hoán vật trực tiếp của quá khứ, thì ông lại cho đó là bước thụt lùi, phản động trong lịch sử nhân loại. Tính ưu việt trong các chức năng của tiền tệ, cũng như tính tiết kiệm, hiệu lực trong sản xuất hàng hóa, rõ ràng là sự tiện ích không thể phủ nhận của đời sống thực tế mọi mặt của xã hội con người, vậy mà muốn trở nên một xã hội không còn hàng hóa, không còn tiền tệ trong tương lai, thì thật sự đó là bước thụt lùi hay phát triển.

Cho nên bài viết này cũng chỉ là sự bổ sung cho bài viết trước, nó không khác nhau mà thật sự chỉ giống nhau, có điều được nhìn ở một số khía cạnh phần nào khác hẳn. Tựu trung lại, sự phân biệt của Mác là hết sức rạch ròi, dứt khoát giữa xã hội tư sản và xã hội vô sản. Xã hội tư sản là xã hội đặt nền sản xuất trên tư hữu, hàng hóa, tiền tệ, thị trường, còn xã hội vô sản là xã hội hoàn toàn loại bỏ tất cả mọi thứ trên. Nhưng ở đây rõ ràng là giữa hai xã hội đó, xã hội nào là phát triển tự nhiên, khách quan, hiện thực, hiệu quả, mang lại nhiều tiện ích, tiết kiệm, hiệu lực cho con người, đó chính là một chủ đề cần để so sánh. Sự so sánh này chính con người cũng đã thực hiện nhiều trong thực tế. Vì tất cả đều không thể không thông qua chính nhân tố quản lý và quan hệ giữa con người và con người. Trong khi đó, sự phân biệt về giai cấp của Mác lại hết sức rành rọt. Ông cho rằng chỉ có hai giai cấp cơ bản là giai cấp vô sản và giai cấp hữu sản, tức giai cấp tư sản hay tư bản. Ông không thừa nhận có ranh giới tập mờ trung gian nào giữa hai lằn mức. Tức hoặc chỉ có những người làm chủ, hoặc chỉ có những người làm thuê trong xã hội tư sản. Bởi vì chỉ trên nền tảng phân hóa, đối nghịch giai cấp dứt khoát như, thì tính chất biện chứng mới có ý nghĩa, tức sự đối kháng tạo nên và hoàn thành chính cuộc cách mạng vô sản. Một xã hội vô sản chính là một xã hội giải quyết được tiền đề tư sản, phản đề vô sản, để đi đến hợp đề phi giai cấp của toàn xã hội mà ông nhất thiết tiên báo. Nhưng một xã hội như thế trên toàn thế giới, có nghĩa là phải xóa bài để làm lại tất cả, quả thật nếu không phải là quy luật tự nhiên, khách quan của trời đất, thì không phải sức mọi người đều có thể làm nổi. Đó là chưa nói nó suýt đưa nhân loại đến chỗ diệt vong trong cuộc khủng hoảng đối đầu trước kia trong thời kỳ chiến tranh lạnh về ý thức hệ vô sản, phi vô sản ở tại Cu Ba.

Thật ra trong tự nhiên có những thực tại không hoàn toàn mang tính chất biện chứng như Hegel quan niệm. Chẳng hạn giống tính, như nam nữ, đực cái, vẫn là quy luật phổ biến tự nhiên, cụ thể và khách quan trong phần lớn các loài sinh vật. Điều ấy không thể cho là hai trạng thái đối lập để cùng đấu tranh loại bỏ nhau theo như ý nghĩa cơ bản của biện chứng. Sự phân cực của trái đất hay của thanh nam châm, đó là do cấu trúc vật lý về từ tính của thành phần cấu tạo mà không liên quan gì đến sự đấu tranh giữa hai mặt đối lập buộc tuân theo trong công thức của lý thuyết biện chứng được Hegel nêu ra cả. Chưa nói đến quan điểm phân tâm học ngày nay, cõi siêu thức nơi tâm lý bản năng con người, trong đó có bản năng phá hoại và bản năng quyền lực cũng là điều rất nên được nói đến.

Nói sơ qua thế để thấy rằng thật sự còn rất nhiều vấn đề đáng nói mà không thể nào nói hết. Do đó có rất nhiều sách viết về lý thuyết Mác mà đúng nghĩa đó chỉ là thói quen sao chép, minh họa, chấp nhận một chiều, điều đó phỏng có ích gì cho học thuật, khoa học, hay sự phát triển chân lý của thực tại khách quan. Bởi thế bài viết này trong chừng ấy trang cũng gọi là vừa, bởi vì tuy không đầy đủ những nó cũng đã cố gắng gói ghém vào đó tất cả những nội dung và ý nghĩa cốt lõi nhất không thể nào không nói đến. Trong ý nghĩa đó, đây cũng có thể coi là bài viết sau rót của tác giả trong loạt bài phân tích về các vấn đề căn cơ và bao quát nhất trong lý thuyết của Mác. Điều này cũng coi được như sự tạm khép lại những tranh luận có phần bổ ích, cần thiết, mà trong non hai thế kỷ quả ở khắp nơi trên toàn thế giới không biết bao nhiêu người bàn thảo trên khía cạnh này hoặc khía cạnh khác. Song đó vẫn là việc của xứ người, là các sản phẩm của xứ người, có thể có nhiều điều chúng ta không hề biết tới. Bởi vậy đây cũng chỉ là một sản phẩm thuần túy của Việt Nam, được thể hiện chính trong hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam. Dầu sao cây nhà lá vườn, tuy thô sơ những vẫn thấy hết sức mát lòng và hoàn toàn an ủi.     

 

VÕ HƯNG THANH

(18/01/2011) 

 

**

 

ĐIỀU CỐT LÕI CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN

 

Giữa thế kỷ 19 Các Mác đưa ra học thuyết của mình phê phán gắt gao xã hội tư bản chủ nghĩa. Cơ sở của sự đả kích này là tình trạng kinh tế xã hội tư bản thời kỳ phôi thai, mới chuyển từ nền sản xuất manh mún của xã hội phong kiến sang nền sản xuất tập trung của xã hội tư bản chủ nghĩa.

Từ những nhận xét ban đầu của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, Mác kết luận nền sản xuất này chỉ là thời kỳ quá độ để tiến tới nền sản xuất trong xã hội cộng sản chủ nghĩa. Cơ sở và lý do của tình trạng quá độ này được Mác đưa ra là tình trạng người bóc lột người và xã hội bị phân chia thành giai cấp. Bởi vậy ý hướng của Mác trong xã hội cộng sản chủ nghĩa trong tương lai là không còn tình trạng người bóc lột người và xã hội không còn giai cấp.

Ngoài nhiều bài viết và tác phẩm đả kích xã hội tư bản, bộ sách chủ yếu và cao điểm nhất của Mác phân tích nhằm đả phá xã hội và nền kinh tế tư bản chủ nghĩa chính là bộ Tư bản luận (das Kapital). Trong bộ sách này Mác tuyên bố sự dẫy chết của xã hội tư bản để tiến tới nền kinh tế cộng sản chủ nghĩa.

Như vậy cơ bản của học thuyết Mác chính là ý niệm bóc lột trong kinh tế tư bản chủ nghĩa, ý nghĩa phân chia giai cấp trong quá khứ của xã hội loài người, và ý nghĩa đấu tranh giai cấp như động lực và lịch sử của cuộc cách mạng toàn diện cho thế giới.

Nguồn gốc của bóc lột Mác cho rằng đó là do quyền tư hữu. Nhưng quan trọng hơn cả, ý nghĩa của đấu tranh giai cấp là Mác rút ra từ quan điểm biện chứng (die Dialektik) của hệ thống triết học Hegel. Điều này bắt nguồn từ sự kiện Mác là một người trẻ theo thuyết Hegel trong thời đại của ông ta. Bởi đấu tranh giai cấp không theo Mác không phải chỉ là hiện tượng bề ngoài và tự nhiên trên bình diện khách quan của kinh tế xã hội, mà nền tảng sâu xa chính là quy luật biện chứng như là quy luật thiết yếu bao trùm toàn thể tồn tại.

Tất nhiên Hegel là nhà triết học duy tâm, hệ thống Hegel là hệ thống duy tâm, “phép biện chứng” của Hegel cũng là “phép biện chứng” duy tâm, thế mà Mác lại đưa vào hệ tư tưởng hoàn toàn duy vật của mình, chính là điều đầu tiên không ổn, chẳng khác gì râu ông nọ cằm bà kia, nên đây là chỗ trái khoáy không phải nhiều người thấy được hoặc muốn thấy.

Thế nên cái cốt lõi còn lại chính là sự tư hữu và khái niệm bóc lột. Mác nói xã hội loài người nguyên thủy là xã hội không có tư hữu nên cũng không thể có bóc lột, đó là xã hội cộng sản nguyên thủy, tức làm ăn tập thể. Nhưng khi nói điều này Mác đã không phân biệt cái đã có và cái chưa có. Thật ra xã hội nguyên thủy không phải là xã hội cộng sản như Mác quan niệm mà chỉ là xã hội sơ khai. Ngay cả khái niệm tài sản riêng ở đây cũng chưa có, nói gì là ý niệm cộng sản. Đánh đồng cái chưa có và cái có ở đây chính là một suy nghĩ còn lờ mờ của Mác. Giữa con số 0 và số ε (epsilon) trong toán học vẫn cách xa một trời một vực, giống tư cánh hoa tàn và mầm trái mới nhú là hoàn toàn khác nhau.

Cho nên Mác vì quá say mê và tin chắc tuyệt đối vào thuyết biện chứng của Hegel, khiến trở thành chỉ nặng về lý luận tư biện (spekulatives Argument) mà quên đi chính thực tế tự nhiên của cuộc đời và xã hội. Từ đó Mác cũng quên mất điều phân biệt giữa ý niệm cứu cánh và ý niệm phương tiện về mặt ý nghĩa của tư hữu. Bởi nói chung, xét cho cùng, về mặt sinh học và xã hội, thì sự tư hữu luôn luôn chỉ là phương tiện mà không hề bao giờ là cứu cánh cả. Bởi quy luật sinh học và xã hội vẫn luôn luôn là sự phát triển, cho nên tư hữu vẫn trở thành quy luật phổ biến, vì là công cụ và tiện ích tối cần cho mỗi cá thể (không phân biệt thuộc phạm vi nào) tồn tại phát triển đi lên, mà không bao giờ là cứu cánh tối hậu như một cách nhìn hời hợt.

Mác cho rằng vì tư hữu là nguồn gốc của bóc lột, của giai cấp, nên triệt tiêu sự phát sinh ra hai hệ quả này cũng đồng thời triệt tiêu giai cấp, tiệt tiêu đấu tranh giai cấp, để đi đến xã hội không còn bóc lột, không còn giai cấp. Trên nền tảng đó, Mác cũng cho rằng nhà nước là công cụ của đấu tranh giai cấp, pháp luật là ý hệ của đấu tranh giai cấp, tức thuộc thượng tầng kiến trúc, nên một xã hội cộng sản hoàn toàn lý tưởng trong tương lai cũng không còn nhà nước, không còn pháp luật, vì không còn giai cấp. Mác cũng mô tả xã hội lý tưởng trong tương lai đó mọi người đều làm ăn tập thể, tự nguyện tự giác sản xuất, người công nhân được giải phóng hoàn toàn, buổi sáng có thể đi câu cá, buổi chiều có thể vào xưởng thợ, buổi tối có thể đi chơi tùy thích, bởi vì lúc đó mọi người đều làm theo năng lực và hưởng theo nhu cầu, triệt tiêu tiền tệ, vì tiền tệ là nguồn gốc của giai cấp và bóc lột, nên cũng triệt tiêu luôn cả mọi sự phân công tự nhiên, khách quan của xã hội. Chỉ còn lại một xã hội hoàn toàn tự quản, hoàn toàn phân phối mọi thành quả lao động cho nhau. Quả thật là hết sức không tưởng, quên mất đi mọi yếu tố trì lực, khuynh hướng sinh học, hay bản năng vật chất, yếu tố nọa tính tự nhiên, của tâm lý con người.

Mác cho rằng học thuyết của mình là học thuyết khoa học duy nhất đúng, bởi ông ta tin chắc vào quy luật biện chứng của Hegel như là quy luật phổ biến khách quan tự nhiên của vũ trụ, nên niềm xác tín đó khiến Mác luôn luôn trụ vững trong mọi khía cạnh khác nhau nơi học thuyết lịch sử, xã hội của mình. Có nghĩa Mác cũng đã “triết lý hóa” theo kiểu tư biện những khái niệm hoàn toàn thực tế, khách quan, cụ thể và tự nhiên của những con người bằng xương bằng thịt nơi thế gian cụ thể và hoàn toàn sống thực của lịch sử xã hội. Quy luật phát triển đi lên của xã hội từ nguyên thủy đến hiện đại, qua các giai đoạn lịch sử khác nhau là hoàn toàn khách quan, tự nhiên, có khi đột biến hay ngẫu biến là những trạng thái cá biệt. Phạm trù hóa vào các hình thái xã hội liên tiếp nhau cách tất yếu là điều Mác đã làm một cách khiên cưỡng, tràn đầy suy diễn theo kiểu chủ quan. Do vậy sự lên án giai đoạn này hay giai đoạn khác đã qua của lịch sử cũng hoàn toàn phi lý.

Bởi con người nói cho cùng là con người sinh học và tâm lý. Con người là thực thể sinh học, nên quần thể xã hội thực chất cũng là quần thể sinh học. Nó luôn luôn chịu sự tác động qua lại của môi trường thế giới tự nhiên ở chung quanh. Điều này ngày nay trên khắp thế giới mọi người đều thấy rõ kết quả của tác động môi trường là như thế nào. Chính mỗi cá thể sống đều là một thực thể sinh học, cho nên tâm lý ý thức tự nhiên của cá nhân và xã hội con người vẫn phải coi tư hữu là phương tiện thiết yếu không thể nào khác và cũng không phải gì khác. Như thế chủ trương loại bỏ óc tư hữu, loại bỏ quyền tư hữu là hoàn toàn trái khách quan, trái tự nhiên và không thực tế. Đây là một ảo tưởng phi khách quan và phi khoa học của chính Mác.

Mặt khác, quy luật cấu trúc của muôn vật vẫn là quy luật khách quan và tự nhiên. Mọi sự tồn tại đều có cấu trúc hay thuộc về một cấu trúc, đó là điều chắc chắc. Trong thế giới vi mô của những hạt cơ bản, đến thế giới vĩ mô của các thiên hà, đến xã hội và lịch sử phát triển xã hội của loài người, ý nghĩa này luôn luôn là một thực tại. Nên nói thẳng ra, giai cấp hay giai tầng xã hội phải luôn luôn có, vì đó là thực tế khách quan, là kết quả của sự cọ xát về mọi phương diện tâm lý, ý thức và năng lực tự nhiên của mỗi cá nhân con người. Nói một xã hội không giai cấp cũng như nói một tồn tại phi cấu trúc, đó là điều hoàn toàn vô lý.

Cho nên ý nghĩa của giai cấp hay giai tầng xã hội không nên nhìn theo khía cạnh tiêu cực mà nên nhìn theo ý hướng tích cực. Khía cạnh tiêu cực là khía cạnh phản lại con người, phản lại xã hội, tức ý thức phân biệt giai cấp theo kiểu ích kỷ, kiểu kỳ thị, kiểu phân biệt đối xử. Đó là quan điểm phản nhân bản. Trái lại, ý hướng tích cực là ý hướng khách quan, khoa học, mỗi cá nhân và xã hội đều luôn luôn cần phải thăng tiến, cải thiện, hoàn thiện chính bản than của mình, nhằm làm cho cấu trúc tự nhiên của xã hội càng ngày càng phù hợp, khách quan, hiệu quả, tốt đẹp, lý tưởng hơn. Cho nên, chính sự khác nhau về quan điểm, về cái nhìn khiến người ta có quan niệm sai lệch, có cái nhìn thiển cận, thù địch với ý nghĩa khách quan, mà không phải đó là thái độ hay là điều hoàn toàn hợp lý.

Vì thế quan điểm duy vật lịch sử của Mác là bắt nguồn từ quan điểm duy vật biện chứng nhưng không phải là quan điểm khoa học xã hội hoàn toàn khách quan và thực tế. Nhưng có điều đã là quan điểm duy vật, cũng không thể nào có quy luật biện chứng theo đúng nghĩa. Bởi quy luật biện chứng luôn gắn liền với tiềm lực (duy tâm) và cứu cánh luận (cũng duy tâm nốt), nên quan điểm duy vật thuần túy mà lại gắn với tính biện chứng chỉ có nghĩa là niềm tin cảm tính mà hoàn toàn không có ý nghĩa khách quan khoa học hay hoàn toàn triết học. Cũng từ đó mà khái niệm các hình thái xã hội, tức sự phát triển tự nhiên khách quan của xã hội loài người từ cộng sản nguyên thủy, sang tư hữu phong kiến, sang tư hữu tư bản chủ nghĩa, cuối cùng sang công hữu cộng sản chủ nghĩa chỉ hoàn toàn là suy luận trừu tượng kiểu tư biện của lý thuyết biện chứng mà tuyệt nhiên không phải những dữ kiện khách quan khoa học lịch sử và xã hội thật sự.

Nói cách khác, quần thể xã hội loài người cũng là một quần thể sinh học, cho nên sự tác động của các quy luật sinh học vẫn là điều cơ bản và khách quan tự nhiên. Có thể kể tóm lược các quy luật cơ bản đó là quy luật đấu tranh sinh tồn, quy luật cộng hợp tồn tại, và quy luật biến thiên phát triển. Các quy luật này thuyết tiến hóa và thực tại tiến hóa của lịch sử khách quan đã cho thấy nhiều, cả phương diện sinh học tổng thể lẫn phương diện sinh học phân tử ngày này, đồng thời có rất nhiều khía cạnh bổ sung của chúng như khía cạnh đột biến, khía cạnh chọn lọc tự nhiên chẳng hạn.

Do đó sự phân hóa thực tế trong xã hội vẫn là sự phân hóa tự nhiên, không thể nào ngăn chặn hiệu quả được sự phân hóa này. Giống như mầm cây phát triển thành cây là sự phân hóa tự nhiên. Nên cây cho ra hạt chính là hạt khác, không phải trở lại cái hạt ban đầu như cách lý luận của Mác cho rằng từ xã hội cộng sản nguyên thủy, phát triển theo quy trình lịch sử, lại quay về xã hội cộng sản khoa học. Bởi vậy, vấn đề không ngăn được sự phân hóa tự nhiên trong xã hội, phải làm sao cho sự phân hóa đó thật sự là hoàn toàn khách quan mà không phải giả tạo. Quan điểm loại bỏ nhà nước, không có pháp luật, là quan điểm hoàn toàn phi lý. Trong khi đó, những thực tế nhà nước bất lực, tiêu cực, lẫn pháp luật không hiệu quả trong việc quản lý xã hội một cách tốt đẹp cũng hoàn toàn trái lẽ và phi lý.

Nhưng cũng từ trên các quan điểm chung nhất đó của Mác mà Lênin (từ cuộc cách mạng vô sản 1917) đã đi sâu và cụ thể vào quan điểm và tổ chức xã hội Liên bang Xô viết theo kiểu tập thể hóa của mình. Hay nói rút lại, học thuyết hay chủ nghĩa Mác-Lênin chính là chủ trương tập thể hóa xã hội. Tập thể hóa xã hội chính là chủ trương kiểu cách làm ăn tập thể, là kinh tế tập thể, kinh tế nhà nước, thay vì kinh tế cá thể, kinh tế tư bản chủ nghĩa. Bởi Lênin cho rằng chỉ có làm như thế mới tránh được mọi bất công xã hội, mới đấu tranh loại bỏ giai cấp và xây dựng được xã hội thuần túy xã hội chủ nghĩa rồi cộng sản chủ nghĩa.

Kinh tế tập thể là kinh tế hướng mạnh vào sự tập trung của quản lý nhà nước, đó là các kế hoạch ngắn hạn hay dài hạn nhiều năm, loại bỏ quyền tư hữu, đẩy mạnh quyền công hữu, nền kinh tế theo sự chỉ đạo, sự phân công, theo kiểu cách sản xuất tập thể trong các nhà máy, các công nông trường quốc doanh mà chính Liên xô và các nước XHCN Đông Âu trước kia đã từng áp dụng.

Tất nhiên trong các hoàn cảnh cụ thể của xã hội như thiên tai, chiến tranh, sự tập trung tổ chức, chỉ đạo luôn luôn tỏ ra hiệu quả, có sức mạnh, nhưng đó chỉ là tạm thời, không thể cứ kéo dài vô hạn hoặc vĩnh viễn. Bởi mặt phải là như thế, song mặt trái là sự hi sinh mọi quyền tự do cơ bản của cá nhân con người, sự phản lại tâm lý tự nhiên trong dài ngày, sự phát sinh ra các tiêu cực không thể tránh trong lòng xã hội về rất nhiều mặt, mà đôi khi hậu quả của nó còn nặng nề hơn chính các kết quả mang lại. Điều này kinh qua lịch sử quá khứ, mọi người đều có thể nhìn thấy, và đó cũng là kết cục của sự sụp đổ khách quan, tự nhiên của Liên xô và phe XHCN trước đây.

Thế nên, ý nghĩa của kinh tế xã hội chẳng qua chỉ là ý nghĩa của khoa học kỹ thuật và ý nghĩa của tâm lý ý thức con người. Điều quan trọng nhất là ý niệm bóc lột và giá trị thặng dư trong học thuyết Mác phần nào mang tính chất phiến diện và chỉ nhìn trên bình diện cá thể. Có nghĩa khái niệm bóc lột chủ yếu có liên quan đến tương quan và tính khí cá nhân, lại được khái quát hóa, trừu tượng hóa thành ý niệm đấu tranh giai cấp toàn diện. Đây là cách nhìn vừa mang tính cách trừu tượng toán học vừa mang tính cách khái quát hóa hay tổng thể hóa theo quan điểm biện chứng duy vật. Bởi thật ra, tình trạng bóc lột nếu có, còn mang tính cách cá biệt, tính cách tương quan, và tính cách tính khí của các chủ thể cá nhân con người trong từng trường hợp.

Sự thổi phồng giai cấp, sự khắc họa hay tô đậm đấu tranh giai cấp đúng là ý nghĩa trừu tượng hóa, khái quát hóa, vượt xa trên thực tế. Gọi là chủ thể A bóc lột chủ thể B có nghĩa chủ thể A là kẻ ác ôn, phi đạo đức, và chủ thể B là nạn nhân đáng thương trong xã hội. Thế, nhưng nếu hoán vị hay đổi chỗ giữa hai chủ thể, chưa hẳn tình trạng đã khá hơn nhưng còn tệ hơn, nếu tính khí tâm lý của B còn tệ hơn của A. Như vậy, yếu tố ý thức tâm lý, ý thức đạo đức, trình độ khả năng nhận thức, kết quả giáo dục, cá tính riêng, là một trong những nguyên nhân hay nhân tố quan trọng mà chính Mác không quan tâm đến. Điều này cũng có nghĩa những sự kiện xảy ra trong đấu tranh giai cấp theo kiểu khái quát hóa về giai cấp trong thời Liên xô, hay trước kia ở Trung quốc, ở Khmer đỏ, và nhiều nơi khác, những sự khắc nghiệt quá mức và phi nhân tính thì ai cũng rõ.

Bởi sự công bằng một cách chính xác theo kiểu toán học là điều hoàn toàn không thực tế, không thể có trong xã hội. Cho nên sự công bằng tương đối trong kinh tế hay trong thực tiển đời sống xã hội là điều hoàn toàn khách quan và tự nhiên. Người nào có chút hiểu biết về kinh tế học có thể hiểu rằng ý nghĩa bóc lột và giá trị thặng dư mà Mác nói về kinh tế tư sản, cá thể, hay kinh tế tư bản chủ nghĩa thật sự vẫn đi đôi với ý nghĩa an toàn cá thể, sự dự phòng cá thể, và đi đôi với sự tích lũy tư bản nói chung. Tâm lý an toàn, tâm lý dự phòng, đó là tâm lý đời sống có tính hiển nhiên nơi con người hay thậm chí nơi mọi sinh vật nói chung. Câu chuyện con sóc giấu quả thì ai cũng biết, tâm lý tiết kiệm lo xa cũng là tâm lý tự nhiên của mọi con người.

Cho nên nếu nhìn đại thể, sự tích lũy tư bản không phải xấu, mà là điều kiện tự nhiên để phát triển kinh tế xã hội. Bởi nếu lao động xã hội được làm ra đều chi tiêu hết trong hiện tại, đều trang bằng ra cho tất cả mọi người, cũng không thể còn điều kiện tái đầu tư để phát triển chung cho tương lai và cả hiện tại của xã hội. Vả chăng, sự tích lũy này cũng còn là điều kiện thiết yếu, tự nhiên để phát triển khoa học kỹ thuật nói chung mà mọi người đều rõ. Khoa học kỹ thuật không thể có nếu không có quá trình tích lũy đầu tư về nhiều mặt trong lịch sử xã hội, đó là điều hoàn toàn chắc chắn.

Cho nên nhìn ý nghĩa lao động và hưởng thụ trong xã hội, Mác chỉ thấy một mà không thấy hai là như thế. Sự tiêu thụ năng lượng thực phẩm hàng ngày của một chủ tư bản thật ra cũng không thể dôi lên vô hạn so với điều đó ở một công nhân, kể cả cho rằng ý nghĩa và chất lượng nội dung ở cuộc sống giữa họ là hoàn toàn khác. Thế thì ý nghĩa của tích lũy lao động, của tái đầu tư sản xuất chính là ở đây. Sự công bằng xã hội theo nghĩa tương đối cũng chính là ở đây, nếu nó không vượt quá khuôn khổ của luật pháp, của đạo đức xã hội, của những điều hợp lý tự nhiên cho phép.

Thế nhưng điều quan trọng khác nữa của phát triển lịch sử và xã hội chính là khoa học kỹ thuật hay sự phát kiến của con người, mà không phải chỉ là đấu tranh giai cấp như Mác đã quá suy nghĩ thiên lệch. Bởi con người thuở ban đầu ăn tươi nuốt sống, nếu không phát kiến ra lửa, tình trạng đó chắc muôn đời vẫn vậy. Thế thì từ lửa đến rèn đúc, đến chế tác vẫn là con đường phát triển tất nhiên. Rồi con người phát minh ra chuyển động tròn, phát kiến ra la bàn, ra thuốc nổ, ra điện, điện toán và tin học ngày nay, quả là những dấu mốc quyết định, những bước tiến không lồ của nhân loại mà không là gì khác. Ví thử nếu không có những phát kiến, những tiến bộ khoa học kỹ thuật đó, sự đấu tranh giai cấp thuần túy, tức sự giành giật lẫn nhau về các quyền lợi kinh tế có sẳn, liệu có thể dẫn tới đâu không. Đó quả là điều chỉ thấy lá, thấy cây mà chẳng thấy rừng của Mác. Sự xác định sai hay không chính xác nguyên nhân và động lực chủ yếu hay cốt lõi của lịch sử chính là điều đã chủ thuyết Mác trở nên không thực tế và xa lạ với hiện thực. Đó cũng là nói tồn tại của vũ trụ quả thật còn quá nhiều bí ẩn hơn chỉ là quan niệm duy vật quá giản lược, cạn hẹp và đơn thuẩn như kiểu của Mác nghĩ tưởng.

Điều này thực tế của xã hội cũng như những trải nghiệm của từng cá nhân vẫn hoàn toàn thấy rõ, hoặc giả cũng đã trả lời được hoàn toàn chính xác. Kinh tế cá thể hay kinh tế tư bản chủ nghĩa nếu muốn nói như vậy, chủ yếu dựa vào sự phát triển tự nhiên, khách quan của xã hội con người, mà không phải theo những mô hình tổ chức có sẳn được đưa ra kiểu công thức như kinh tế tập thể mà mọi người đều rõ. Có nghĩa cái trước thì dựa vào sự kết hợp tự nhiên về lao động, cái sau thì dựa vào mô hình ý thức hệ về lao động, mặc dầu kết quả thì hai nếp cũng vào một xôi, tức đều nhằm phục vụ tối hậu cho đời sống sản xuất hay sự phát triển thiết yếu nói chung của toàn thể nền kinh tế xã hội. Nên nói cho cùng, cái cốt lõi ở đây chính là hiệu quả của sự sản xuất xã hội, tức vấn đề năng suất, mà không phải những lý luận suông, mông lung và phi thực tế.

Điều này cho thấy rõ xã hội Liên xô và các nước Đông Âu trong thời kỳ hậu xô viết, nền kinh tế xã hội vẫn phát triển nhưng theo hướng khác và theo nhịp độ khác. Điều này cũng có thể đem so sánh với nước Đức thời Đông Đức và thời Liên bang Đức, đem so sánh Triều Tiên và Hàn Quốc, đem so sánh Cu Ba sau thời kỳ cách mạng, đem so sánh Trung Quốc và Việt Nam trước và sau thời kỳ đổi mới chẳng hạn. Hay nói khác hơn, tại sao kỹ thuật tổ chức sản xuất theo kiểu tập thể và theo kiểu cá thể lại khác nhau những gì, do nguyên nhân nào khác nhau, và tại sao năng suất và kết quả cũng lại khác nhau. Đó cũng là cách nói của Đặng Tiểu Bình, mèo trắng mèo đen, mèo nào bắt chuộc được đều là tốt. Có nghĩa kinh tế tập thể hay kinh tế cá thể đều cũng chẳng qua không vượt ra khỏi sự quản lý của con người. Sự quản lý hành chánh quan liêu mệnh lệnh kiểu gia trưởng, với nhiều tốn kém, phiền hà, lạch bạch, và sự quản lý theo kiểu sinh động tự nhiên của thị trường và của quan hệ bột phát, nhất thời, linh hoạt, với sự khác biệt như thế nào thì mọi người đều có thể nhận định hay đối chiếu.

Do vậy, ai cũng thấy được sự khác nhau ở đó chính là sự khác nhau giữa tâm lý ý thức của con người. Cha chung thì không ai khóc, trong khi vì lợi ích chính đáng riêng thì mọi người đều thức khuya dậy sớm như nhau. Chính ý thức tâm lý của con người cụ thể là điều không bao giờ có thể vượt qua, cho dầu xã hội nào cũng vậy. Đó chính là quy luật khách quan ưu việt nhất mà không thể có quy luật khách quan nào tự nhiên hay ưu việt hơn. Chính sự không đếm xỉa đến yếu tố tâm lý ý thức con người như là điều khách quan tự nhiên mà mọi lý thuyết về kinh tế xã hội và lịch sử của Mác đã trở thành xa xôi, vô bổ là vốn như thế. Đặc biệt những phát kiến khoa học của con người, phần lớn là các chắt lọc tinh hoa của thiểu số trí tuệ, tài năng, thậm chí nhiều khi chỉ là sự ngẫu nhiên mà không hề là kết tinh của cách đấu tranh giai cấp hay đấu tranh kinh tế kiểu đại trà.

Chính sự không tính đến yếu tố tâm lý ý thức của con người, sự không tính đến các quy luật tự nhiên khách quan của xã hội (mặt sinh học, mặt lịch sử) mà lý thuyết Mác trở thành không tưởng, không thực tế, không đáp ứng lại một cách hiệu quả mọi ý nghĩa sinh tồn và yêu cầu phát triển khách quan, tự nhiên của mỗi cá thể con người và toàn xã hội về mặt thực tế. Cho nên Mác tự cho mình là lý thuyết khoa học tuyệt đối đúng, bởi vì ông ta quá tin cậy vào quy luật biện chứng của Hegel. Có nghĩa Mác đã triết lý hóa một cách không khách quan, không tự nhiên và không cần thiết về các ý nghĩa và thực tế của chính hiện thực kinh tế xã hội. Bởi vậy, thật sự bộ Tư bản luận của Mác thực chất không phải là một thánh thư về kinh tế xã hội cụ thể và thực tế, nhưng thật sự chỉ là một thánh thư về ý thức hệ tư biện không hơn không kém. Nhưng ai đã từng có kiên nhẫn đọc kỹ và nghiêm túc suy nghĩ về các nội dung cùng ý nghĩa trong đó đều có thể khách quan thấy ra được điều này. Thước đo của kinh tế xã hội là nguyên lý khách quan, là hiệu suất lao động, là hiệu quả phát triển chung chung nhất, đa phần nhất, là kết quả tối hậu, hay chỉ là sự suy nghĩ đắn đo về một thiểu số quá giàu và một thiểu số quá nghèo, để đưa ra những giải pháp viễn vông, vô ích, thì ngày nay cả cộng đồng thế giới đều cũng đã thấy rõ. Bởi kỹ thuật của mọi tổ chức sản xuất tập thể không phải bao giờ cũng ưu việt hay phù hợp, mà phần lớn chỉ có giá trị như những kịch bản nhất thời.

Nên nói cho cùng, có rất nhiều người nói về Mác nhưng thật sự chỉ có ít người đã thực chất đọc về Mác. Tác phẩm Mác viết thì có rất nhiều, hiện này những bộ toàn tập của Mác bằng tiếng Đức, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Việt, mỗi bộ đặt trên kệ sách có khi dài hơn cả thước. Ngay cả bộ toàn tập của Lênin cũng dài bằng na ná như vậy. Đó là các tập hợp bài viết còn để lại về nhiều phương diện. Tuy nhiên, về nội dung cũng không ngoài các ý nghĩa như trên mà ngày nay mọi người đều rõ. Chủ yếu những điều đáng nói ở đây chính là những ý tưởng, những cách tư duy, những khái niệm, và những danh từ. Tất cả những điều đó, giới học giả và những trường đại học ở Việt Nam đều đã nói nhiều. Nhưng phần lớn cũng chỉ là cách nói theo kiểu rập khuôn, giáo điều, theo kiểu một chiều, mà dầu có nói đến ngàn năm cũng không có điều gì mới mẽ hơn như thế. Đó là chưa nói những người học lý thuyết Mác theo kiểu truyền khẩu theo cách bình dân. Ngay cả như Trần Đức Thảo, một nhà trí thức danh tiếng của nước ta, thì các bài viết của ông về chủ nghĩa hay học thuyết Mác-Lênin cũng không hề đi ra ngoài sự khuôn sáo hay vết mòn như thế.

Cho dù ở phương Tây, tất nhiên từ đầu tới cuối, người ta đã viết rất nhiều, nói rất nhiều về các nội dung hay ý nghĩa tương tự, song đó cũng chỉ là cái nhìn, quan điểm hay ý kiến của người phương Tây. Chúng ta có quyền tâm đắc với họ hay không, nhưng đó cũng là sản phẩm của nước ngoài, của một phương trời khác. Riêng bài viết này, chỉ giống như bài viết của một kẻ hậu sinh ở Việt Nam, trong lúc ngẫu hứng của dịp Tết (Tân Mão) đến xuân về, bài viết như một món quà xuân nhỏ mọn gửi tới các thân hữu bạn bè, hoàn toàn vô tư, miễn phí, coi như sự thiện chí và ưu ái với cuộc đời, không nhằm đến bất kỳ mục đích nào, vì chẳng qua cũng chỉ là một sự phát biểu chủ quan, cây nhà lá vườn, một loại đặc sản chân quê, để các bạn nhận xét, thảo luận cùng nhau nếu muốn, trong một lúc trà dư tửu hậu. Bởi lẽ muốn phân tích thật sự cặn kẻ và đầy đủ nhất về học thuyết Mác, không thể chỉ một bài viết nhỏ kiểu ở đây, mà ít ra cũng là một tập sách nhiều trăm trang, nhưng điều đó ngày nay quả thực không nên hay cũng không cần thiết. Do đó, nếu một đại thi hào như tầm cỡ Nguyễn Du mà vẫn cho tuyệt tác phẩm thiên tài Truyện Kiều có một không hai của mình chỉ nhằm mua vui trong một vài trống canh, thì bài viết nhỏ nhoi này thật có đáng sá gì đâu, mà chỉ là một bài viết theo kiểu vô công ngồi rồi, để trao đổi với bạn bè có khi rãnh rỗi nhằm cùng xem, và để mọi người nào nếu đọc được cũng có thể tùy nghi nhận định hoặc sử dụng.

 

          VÕ HƯNG THANH

(16/01/2011)                                

         

**

 

NHÌN LẠI QUÁ TRÌNH LỊCH SỬ

TỪ MỘT XÃ HỘI NÔNG DÂN

 

Một số xã hội phương Đông như Trung hoa, Hàn Quốc, Việt Nam vốn có điều kiện lịch sử xuất phát từ xã hội nông dân.

Xã hội nông dân vốn gắn điều kiện sinh hoạt và đời sống với hoàn cảnh tự nhiên. Kỹ thuật trồng lúa nước nói chung là kỹ thuật đơn giản. Các ngành nghệ hoạt động khác như lâm ngư nghiệp, thủ công nghiệp, phần lớn cũng dựa vào kinh nghiệm ngàn đời, những công cụ thô sơ, mức năng xuất và hiệu quả trong sản xuất nói chung đặt nền tảng trên tài khéo.

Cơ bản của xã hội nông dân vẫn nông thôn là chính, ý nghĩa của văn hóa phần lớn là truyền thống, kinh nghiệm và cảm tính, ít có tinh thần trừu tượng, khái quát, suy lý hoặc lập luận chi ly như kiểu tập quán phương Tây.

Ngay như nước Nga cũ trước thời Lênin, chủ yếu cũng là xã hội nông dân, sự phát triển công nghiệp kỹ thuật và khoa học mọi mặt cũng còn ở mức hạn chế nào đó hơn so với các nước Tây Âu.

Trong những xã hội nông dân như thế, nền tảng tinh thần vẫn là hệ thống ý thức hệ xưa cũ vốn đã có. Ở một số các nước phương Á Châu hay Đông nam Á nói trên, cơ bản nhất vẫn là tư tưởng đạo Khổng và Phật giáo. Còn như ở Nga, đó là Cơ đốc giáo chính thống. Với đạo Khổng, hay học thuyết Khổng tử, nền tảng chính vẫn là các quan niệm về “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”, còn như ở Nga, Cơ đốc giáo thì vốn đặt cơ sở trên tinh thần nhân ái của Jesus mà giáo lý Thiên chúa giáo vẫn xem là nền móng.

Nhưng tất cả những điều đó đã đổi thay khi Lênin làm cuộc cách mạng vô sản ở Nga, và khi cuộc cách mạng đó đã lan rộng ra nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt nhất là những nước ở Châu Á hay vùng Đông nam Á như trên kia đã nói.

Cuộc cách mạng vô sản này tất nhiên đặt nền tảng trên lý thuyết Mác, chủ yếu tin vào quy luật vận động biện chứng khách quan của lịch sử, tin tưởng vào phương thức giải quyết cách mạng xã hội bằng quan điểm vô sản, đồng thời sử dụng biện pháp được cho là hiệu quả nhất là biện pháp đấu tranh giai cấp.

Tất cả niềm tin, ý hướng và biện pháp như thế rõ ràng rất xa lạ và không gắn gì với cơ bản của xã hội nông dân như trên đã phân tích. Bởi thế muốn giải quyết sự khác biệt hay mâu thuẫn đó, giải pháp và phương thức chính đó chính là biện pháp tuyên truyền. Cho nên tuyên truyền chính trị trở thành như động lực chủ yếu của cách mạng. Điều này ngay từ xuất phát điểm của nó chính bản thân của Mác cũng đã nói tới. Ông ta cho lý luận là công cụ hay lợi khí của cách mạng.

Có nghĩa những người đầu tiên hướng theo chủ thuyết Mác tất nhiên là những người xuất phát từ xã hội nông dân, rồi những người kế tục của họ cũng là những người xuất phát từ xã hội nông dân và cứ tiếp tục như thế. Và muốn thực hiện điều này một cách hiệu quả và thành công nhất, tất yếu phải đả phá, triệt hạ các ý hệ cũ, mà chủ yếu là lý thuyết Khổng tử, hay quan điểm tôn giáo, như chính Mao Trạch Đông đã làm, cũng như ngay từ đầu Mác đã cho đó là ý thức hệ tư sản và tôn giáo là thuốc phiện ru ngủ quần chúng.

Nhưng tư tưởng nông dân chủ yếu vẫn là ý thức nền tảng của con người, tức là tư tưởng hữu sản. Đó vẫn là ý thức và quy luật chủ yếu của tâm lý tự nhiên của con người nói chung, và quả thật điều này vốn đi ngược lại chủ thuyết và đường lối của Mác. Song để nhằm giải quyết sự mâu thuẩn, nghịch lý cơ bản như thế, Mác ngay từ đầu đã chủ trương một xã hội chuyên chính. Bởi chỉ có chuyên chính mới giải quyết được bản chất tâm lý tự nhiên của con người, cho dù đó chính là điều nghịch lý.

Từ những phân tích thuần túy đơn giản như trên, ngày nay nhìn lại quá trình lịch sử của những nước liên quan tất nhiên mọi người đều đã thấy rõ.

Xã hội xô viết của Liên xô cũ ngày nay rõ ràng sau bao nổ lực tuyên truyền và xây dựng, đã không tồn tại nữa, kéo theo sự sụp đổ của cả khối Đông Âu XHCN trước đây. Ngay những nước Châu Á và Đông nam Á châu như Trung Quốc, Việt Nam cũng đã phần lớn, hay hoàn toàn thay đổi. Đó là ý hướng của sự đổi mới hay trước kia được gọi là quan điểm hoặc chủ nghĩa xét lại.

Khi học thuyết Mác ra đời, đã không ngừng nổ ra bao cuộc tranh luận học thuật, triết học, khoa học từ các nước phương Tây.

Khi học thuyết Mác được đưa vào thực tế ở Liên xô và các nước khác nhiều nơi trên thế giới, đã không ngừng có những cuộc tranh luận về lý thuyết cũng như đấu tranh bằng hành động ngay trong lòng lịch thực tế của những xã hội đó.

Đã từng một thời có nhiều người hùng tuyên dương về một học thuyết bách chiến bách thắng, là chân lý tuyệt đối đúng, là lương tâm của thời đại, song đó thực chất cũng chỉ trên nền tảng tuyên truyền. Cũng có nhiều cuộc đấu tranh thực tế trong lịch sử ở nhiều nước khác nhau, nhưng thực chất tối hậu cũng chỉ để nhằm thực hiện cho bằng được chủ thuyết Mác, bởi thực tế đối với nhiều người nó vốn được coi như là lý tưởng xã hội cao nhất.

Nhưng nói chung lại, học thuyết Mác là học thuyết phát sinh từ xã hội phương Tây, khi nền kinh tế tư bản chủ nghĩa mới đi lên trong ý nghĩa và điều kiện của một xã hội giao thời. Quan điểm chủ yếu của Mác là quan điểm suy lý. Chủ yếu Mác dựa vào triết lý biện chứng luận của Hegel, là một quan điểm triết học tư biện và chưa hề được kiểm chứng tuyệt đối gì về phương diện khoa học khách quan. Ngoài cơ sở này ra, Mác còn chủ trương chuyên chính là một điều đi ngược hoàn toàn lại ý nghĩa của khoa học xã hội, nhất là Mác không hề quan tâm tới tâm lý tự nhiên của con người, nhưng chỉ ham lý luận theo kiểu tư duy tư biện. Đây chính là những lổ hổng rất sâu, rất nền tảng và rất lớn trong chủ thuyết của Mác, nên ngày nay chính thực tế thế giới đã cho thấy rằng nó hoàn toàn xa thực tế hay hoàn toàn không đúng. Điều gì được Mác từng quan niệm là ý thức giai cấp, thật ra chỉ là huyễn tưởng. Đó thực chất chỉ là do Mác đã quá say sưa với lý thuyết biện chứng của Hegel. Một chuyện đem râu ông nọ cắm cằm bà kia như nhiều lần đã nói.

Đành rằng phải công nhận thiện chí và ý thức nhân bản của Mác, song vấn đề không phải thiện chí hay ý thức là đủ, mà chủ yếu chính là ý nghĩa thực tế xã hội và ý nghĩa khoa học khách quan, chính xác thực sự. Cái thiện chí không bù lại được cái khách quan và cái sáng suốt chính là điều này.

Ngày nay thế giới đã đi vào chỗ toàn cầu hóa, khoa học kỹ thuật đã phát triển vượt bực, đó là cơ may và triển vọng khách quan tự nhiên của nhân loại, điều mà ở thời mình chính Mác không ngờ tới, chỉ vì do tính chủ quan của chính ông. Cho nên, nói khác đi, sự đóng góp của Mác vào phát triển của lịch sử nhân loại không phải ở mặt tích cực mà chính là ở mặt tiêu cực. Có nghĩa một sự đóng góp lớn lao nhưng không phải ở mặt chính diện mà là ở mặt phản diện.

Những xã hội nông dân đi vào học thuyết Mác, tất yếu chỉ bằng con đường tuyên truyền như trên kia đã nói. Sự tuyền truyền được khởi đầu từ nguồn cảm hứng mang tính tự phát của một số ít người, dần dần nó chuyển qua nhiều thế hệ như một qui trình quán tính và cứ như thế cho đến mãi ngày nay.

Nhưng than ôi, ý nghĩa không phải là sự tuyên truyền mà là tính khách quan, khoa học. Khi có trình độ tri thức, khi có ý thức thực chất, cá nhân và xã hội tự nó chuyển biến, không cần gì phải tuyên truyền. Nên mọi sự tuyên truyền cũng giống như trái giú sớm, không luôn luôn là điều tối hảo về mặt chất lượng, mà ngược lại nhiều và thường khi lại còn rất sống sượng.

Nên nói chung lại, bài toán ngày nay thực tế trong mọi xã hội là bài toán thực chất, thực tế, khoa học, khách quan, chính xác, có ý nghĩa và giá trị xác đáng, mà không thể chỉ là sự tuyên truyền. Mọi sự tuyên truyền tự nó chỉ là ấu trĩ, không chân chính, thậm chí đi ngược lại chính các ý nghĩa cùng giá trị của con người.

Xuất phát điểm chủ yếu của tâm lý nông dân phần lớn là cảm tính, niềm tin, tình cảm, và cần có chỗ dựa tinh thần nào đó. Cũng chính vì thế phải chăng đây cũng là cách thức được áp dụng để tuyền truyền cho xã hội nông dân mà nhiều nơi trên thế giới đã cho thấy trong quá khứ, và cuối cùng cái vòng luẩn quẩn cứ vẫn theo đó mà luôn luôn tiếp diễn.

Khoa học hóa xã hội nông dân, tri thức hóa xã hội nông dân, khách quan hóa xã hội nông dân, hiện đại hóa xã hội nông dân, đó là con đường hiệu quả nhất và nhanh nhất để đi lên và phát triển. Tiếc rằng phần lớn nhiều người đều không thấy điều đó. Chính vì thế mà người ta vẫn một mực cứ áp dụng theo đường lối tuyên truyền chủ thuyết, đó là điều hoàn toàn không thực tế, không khách quan và phi khoa học.

Sự tuyên tuyền tiếp tục nuôi sự tuyên truyền, đó là vết mòn quán tính, hầu như không còn lối thoát. Người ta không thể giải phóng người khác nếu không tự giải phóng được chính mình. Đó là chân lý đơn giản, chẳng có gì cao siêu cả.

Sự thông tin khoa học hoàn toàn khác với tuyên truyền chính trị. Thông tin khoa học là cốt lõi của xã hội hiện đại, vì nó khách quan, chính xác, và nhu cầu của mọi xã hội tiên tiến. Trong khi đó tuyên truyền chính trị theo kiểu tuyên truyền lý thuyết vẫn chỉ là thói quen tuyền truyền trong kiểu cách xã hội nông dân. Bởi nó không có cơ sở khoa học, không cần khách quan khoa học, mà chủ yếu hướng đến niềm tin, hướng đến sự mơ mộng, đặc biệt hướng đến các thần tượng phi tự nhiên.

Chắc nước Nga ngày nay là một nước theo khuynh hướng hiện đại, không còn áp dụng các biện pháp tuyền truyền trước kia trong thời Liên xô cũ, tuyên truyền kiểu xã hội nông dân. Thế những ở nhiều nơi khác người ta vẫn còn luyến tiếc một giấc mơ vàng son quá khứ và vẫn chưa trút bỏ được hết chính các quán tính tệ hại đã từng nhuốm phải của mình.

Nói khác đi, vấn đề xã hội vẫn chỉ là vấn đề của các cá nhân con người. Nếu những người đứng đầu của một xã hội, có vai trò và ý thức điều chỉnh xã hội, hay ít ra cũng là số đông trong xã hội đều là những người có ý thức nhân bản, có nhận thức khoa học, có ý hướng thực tế, có trình độ tri thức, xã hội đó có cơ sở phát triển. Còn ngược lại, do ở trình độ, nhận thức, ý thức, ý chí, hay do số đông mà trong ý hướng ngược lại, xã hội vẫn chỉ chuyển động luôn luôn theo vết mòn quán tính.

Vết mòn này ngay từ thời nhà Nguyễn ở Việt Nam từ cuối thế kỷ 18 vốn đã có rồi. Mọi sự phát triển lịch sử theo sự nhận thực khách quan, đó là sự phát triển theo thực chất. Còn ngược lại mọi sự phát triển lịch sử chỉ thông qua sự tuyên truyền, nhất là sự tuyên truyền theo những kiểu xã hội nông dân, thì phần lớn hay đều hoàn toàn là không có thực chất.

Mọi sự phát triển có thực chất, đó là ý nghĩa và giá trị khách quan cần nên mong đợi. Trong khi đó, những sự phát triển không thực chất, chỉ đặt trên sự tuyên tuyền, thậm chí sự khống chế, thật sự cũng đều giả tạo và không đi theo thực chất của ý nghĩa giá trị.

Khoa học cuộc đời hay khoa học chính trị thật sự chỉ là yêu cầu hoàn toàn đơn giản và hoàn toàn chính đáng. Chỉ tiếc rằng những tuyên truyền chính trị hay tuyên truyền lý thuyết lại nhiều khi không khách quan và không theo chiều hướng hay có ý hướng như thế. Song nói cho cùng, âu đó cũng chỉ là quán tính của xã hội nông dân ngàn đời còn rơi rớt lại, cho dù những công cụ đó có nằm trong tay của bất cứ ai, hoặc bất cứ tập thể hay tầng lớp xã hội nào.  

                                                                                                       VÕ HƯNG THANH           

(02/01/2011)

 

**

 

SỰ HÈN YẾU NƠI CON NGƯỜI

 

Hôm nay (7/12/2010) trong mục Thư Hàn Quốc ở trang chót, báo Tuổi Trẻ có đăng một bài khá thú vị. Bài báo nhan đề “Người trẻ tuổi không ngoảnh mặt”, do tác giả Oanh K. viết. Trong đó, có thuật chuyện một người dân Hàn Quốc bình thường, ông hàng xóm Kang, sau khi lên Seoul dự dám cưới trở về, đã chỉ tay vào một nơi để giới thiệu với tác giả là người đồng hành nói : “Đây là nơi 20 năm trước gia đình tôi đã sống. Trước đây chẳng có cái gì, vậy mà sau 20 năm tôi không còn nhận ra vì nhà cửa, khách sạn, đường phố đã mọc lên quá nhanh, quá đàng hoàng và đẹp đẽ. Nếu chiến tranh xảy ra thì tất cả đều trở về như 20 năm trước, đó là điều người dân Hàn Quốc không muốn chút nào. Lạy Chúa ! Chiến tranh đừng xảy ra !”

Bài báo cũng nói vào tuần trước đã diễn ra việc tuyển quân của lực lượng hải quân theo thông lệ hàng năm, sau vụ nã pháo của quân đội CHDCND Triều Tiên vào đảo Yeonpyeong vài ngày, số lượng thanh niên trẻ đăng ký tuyển tăng nhiều đến mức những người làm công tác tuyển quân cũng ngạc nhiên : tăng 28,5 % so với năm trước. Một thanh niên dự tuyển nói lý do mình đăng lính : “Tôi nghĩ đất nước đang gặp khó khăn nên việc đứng lên đảm nhiệm nghĩa vụ của công dân đối với đất nước là cần thiết. Chúng tôi phải bảo vệ những thành quả kinh tế của đất nước cũng như sự an toàn của những người dân”

Rồi tác giả viết tiếp : “Câu nói ấy của chàng trai trẻ khiến nhiều trái tim Hàn Quốc xúc động, kể cả tôi, không phải người Hàn Quốc. Bởi những người trẻ ấy đang được thụ hưởng một cuộc sống rất đầy đủ, sung sướng nhưng họ sẵn sàng từ bỏ cuộc sống trong nhung lụa để góp phần bảo vệ đất nước nếu điều xấu nhất xảy ra”. Bài báo cũng nói : “Hôm qua, 6-12, bắt đầu cho một tuần quân đội tập trận và bắn đạn thật trên biển. Có tới 29 điểm bắn thuộc khu vực biển tây, biển đông và biển nam. Cùng sự kiện này là thông tin 120 máy bay chiến đấu của Hàn Quốc đã sẵn sàng. Nhưng hôm qua, hôm kia và rất nhiều hôm trước nữa, người dân Hàn Quốc vẫn làm việc, đi chợ, đi chơi, trẻ con vẫn đi học, không khí lo lắng sợ hãi không còn như hôm CHDCND Triều Tiên bắn pháo vào đảo Yeonpyeyong …”

Bên cạnh bài báo này, báo Tuổi Trẻ cũng có đăng một hình ảnh các thành viên nhóm chống chiến tranh và ủng hộ thống nhất Triều Tiên biểu tình chống gửi quân tham gia tập trận bắn đạn thật trước trụ sở Bộ Quốc phòng Hàn Quốc ở Seoul ngày 6-12 trong đó có hình rất rõ nét con chim câu màu trắng hiền lành và dòng chữ màu đen to lớn NO WAR tức phản đối chiến tranh. Đây quả thật là một tương phản hài hước giữa tấm hình và câu nói tự phát của chàng thanh niên trai trẻ. Sự tương phản này cũng là sự tương phản đã từ lâu mọi người đều biết về một đất nước Bắc Hàn cha truyền con nối, với một hệ thống chính trị quân sự cưỡng bức mọi người dân, đường phố lúc nào cũng đầy những khẩu hiệu chính trị hăng hái phát động chiến tranh, các tượng đài lãnh tụ, cùng với thực chất dân tính đói khổ, ngược hẵn lại một đất nước Nam Hàn có một đời sống kinh tế phát triển vượt trội, một cuộc sống hạnh phúc mà nhiều người đều thấy.

Điều này cũng cho thấy hình ảnh con chim bồ câu và hai chữ No War vẫn thường xuất hiện trong những phong trào, những cuộc biểu tình phản đối chiến tranh từ xưa đến nay khắp mọi nơi trên thế giới mà thật sự trong bản chất của nó là hoàn toàn vô nghĩa. Bởi hình tượng đó và khẩu hiệu đó ai dùng cũng được, và dùng vào ý nghĩa, mục tiêu, hay nội dung nào cũng được. Nó cũng giống như sợi dây hay cái bịt miệng mà người ta có thể dùng để cột chặt và vô hiệu hóa địch thủ lại nhằm để đánh và tiêu diệt. Nên thật sự nó chỉ là điều mánh lới của con người. Nó cũng là thứ vũ khí nhằm lợi dụng và tuyên truyền chính trị cho những kẻ thơ ngây. Bởi rõ ràng giữa Hàn Quốc và Triều Tiên ngày nay, người sợ chiến tranh phải là Hàn Quốc mà không phải Triều Tiên cho dầu bộ máy tuyên truyền của Triều Tiên luôn luôn phải cho Hàn Quốc là kẻ hiếu chiến. Cái bị kịch của con người chính là ở đây và còn ở nhiều khía cạnh khác nữa.

Trong các chế độ xã hội độc đoán như Triều Tiên ngày nay, hay Đông Đức, Taliban, Hussein, Pôn Pốt trước đây, những chính quyền mạnh rõ ràng đều là những chính quyền chỉ dựa vào sự tuyên truyền, khủng bố và sự đàn áp. Chính yếu tố tuyên truyền chính trị mê muội kết hợp cùng sự đàn áp, khủng bố là cơ sở và nguyên lý xây dựng nên sự độc tài, độc đoán một cách hiệu quả mà ai cũng biết. Thế nhưng, mọi người đều biết mà không ai dám lên tiếng, đó chính là sự hèn yếu của con người. Thà yên thân để sống, còn hơn là phản đối để phải bị nguy hiểm, đó chính là quan niệm sống hay lẽ sống duy nhất, đơn giản nhất mà thông thường phần lớn mọi người đều chấp nhận. Thà chịu hèn yếu để chờ cho đến khi các thực tế xã hội độc tài đó bị các yếu tố hay những điều kiện từ bên trong hoặc bên ngoài, trở thành chin muồi, buộc phải đứng lên, hoặc phải can thiệp vào để lật đổ, hoặc bằng chính con đường chiến tranh, con đường can thiệp, hay con đường cách mạng.

Nên nói cho cùng, sự đấu tranh trong xã hội loài người vẫn luôn luôn có, sự đấu tranh về ý thức, về quyền lợi, tức về mục đích tinh thần hay vật chất, mà nói chung cũng chỉ là đấu tranh về điều đúng và điều sai, điều trái và điều phải, điều tốt và điều xấu một cách tự nhiên, mà không phải hay chỉ hoàn toàn là đấu tranh giai cấp như Mác đã hiểu. Bởi chỉ có mỗi con người cá nhân là thật sự cụ thể, con giai cấp chỉ là tính mơ hồ hay sự tưởng tượng. Chính các cá nhân làm thành giai cấp nếu có giai cấp, mà không phải là điều ngược lại. Cụ thể, giai cấp nếu có thì chúng vẫn cứ tồn tại, trong khi mỗi cá nhân có thể từ giai cấp này bước sang giai cấp khác trong mỗi giai đoạn cuộc đời của mình, trong mỗi hoàn cảnh và biến đổi của xã hội mà mọi người đều biết. Nên biết bao cuộc biển dâu thì giai cấp vẫn cứ còn đó, những các cá nhân con người vẫn luôn luôn thay đổi. Trong khi đó, nguyên vọng của Mác, muốn tiến lên một xã hội hoàn toàn không giai cấp để có thể xóa bỏ mọi giai cấp chỉ hoàn toàn ảo tưởng. Bởi mọi rừng cây đốt xong, triệt gốc xong, thì trên mảnh đất cày xới đầy tro tàn đó, một rừng cây mới như xưa vẫn hoàn toàn mọc lên lại. Bởi mọi cảnh quan trái đất không thể nào chỉ có đồng bằng, mà phải có núi non, sông hồ, biển cả, và mọi hình ảnh rừng cây cũng hoàn toàn như thế.

Điều đó cho thấy sự đấu tranh giữa tốt xấu, đúng sai, luôn luôn vẫn là điều thường có và luôn luôn phải có. Sự bóc lột và giá trị thặng dư, là tùy theo cách nhìn về kinh tế và xã hội, nhưng quả thật lại không thế nào không có. Do đó, sự điều chỉnh phải là từ hậu quả mà không thể từ nguồn gốc hay bản chất của chúng. Đó là ý nghĩa xã hội và tâm lý khách quan tự nhiên của con người. Nước luôn luôn phải tụ vào chỗ trũng. Không thể nào làm thay đổi bản chất của nước, nhưng người ta có thể đắp đập, khai mương để làm sap cho nước được lưu thông, được điều tiết khả quan, lợi ích, để cuối cùng được chảy vào biển cả. Cái đúng và cái sai của lý thuyết chính là ở đó mà không thể ở vào một nơi nào khác. Những sự nhìn sai, quan điểm sai về lý thuyết và thực tế xã hội, luôn luôn đưa đến những điều đáng tiếc, trong đó đại thể lại có đa phần lợi đụng. Thực tế chế độ diệt chủng của Khmer đỏ, những điều quái đản nơi Cách mạng văn hóa và Hồng vệ binh một thời ở Trung Quốc trước kia đều cho thấy rõ như thế.

Bởi thế, nếu chiến tranh là điều không thể tránh khỏi, thì nhất thiết phải để cho nó xảy ra hay bắt buộc nó phải xảy ra, mà ngày nay ở bán đảo Triều Tiên cũng phải như vậy. Điều đó đã từng xảy ra nhiều nơi, không phải ngày nay mới có. Chỉ có như vậy, lịch sử mới có thể đổi thay, con người mới thật sự hoàn toàn giải phóng. Ngày nay nếu chiến tranh xảy ra, hoặc đất nước Hàn sẽ được thống nhất như kiểu như nước Đức trước đây, trả lại mọi ý nghĩa sống và nhân phẩm cho con người, hoặc cả hai sẽ thành bình địa, hoặc Triều Tiên sẽ thắng và bao trùm lên nước Hàn thống nhất một chế độ toàn trị độc tài, vinh danh lãnh tụ.một cách vĩnh hằng và vô cùng thần thánh. Hoặc sự vĩnh viễn chia cắt lâu dài để cùng nói lên sự tương phản về kinh tế, chính trị, xã hội. Tất cả những điều đó đều có thể xảy ra nhưng không quan trọng. Sự quan trọng nhất là lẽ phải, điều đúng và tính chính đáng của con người và cuộc đời, liệu sự can đảm, quả cảm trong con người sẽ thắng hay chính sự cầu an, hèn yếu nơi con người và xã hội vẫn luôn luôn thắng. Đó chính là thân phận, ý thức của con người và xã hội nơi mỗi nước mà mọi người hãy chờ để cùng thấy rõ.

                                                                                                                VÕ HƯNG THANH

 (Sg, 07/12/2010)    

 

           **

         

SỰ COI TRỌNG BẰNG CẤP, HỮU DANH VÔ THỰC

 

Đây là tiêu đề một bài báo đầy thú vị đã được đăng lên vào ngày hôm qua 14/11/2010 ở báo Pháp luật TP. HCM. Bài báo thuật lại cuộc Hội thảo mang tính thời sự do ĐH Kinh tế - Tài chánh TP. HCM tổ chức. Cả cuộc Hội thảo và bài báo thuật lại đều mang ý nghĩa và nội dung rất quan trọng và bổ ích khi nói về “nguồn nguyên khí quốc gia” đang đặt lên vai ngành giáo dục đào tạo.

Đọc qua bài báo, người ta thấy được rằng “giáo dục ĐH ở VN phải thay đổi, phải đột phá, phải được tự chủ …”. Cùng trên quan điểm mấu chốt đó, có vị trong cuộc hội thảo còn nêu rõ “Chất lượng giáo dục sau đại học tại VN còn nhiều hạn chế. Số liệu năm 2008 cho thấy Việt Nam có số TS gấp ba lần số TS của Thái Lan, nhưng số bằng sáng chế hang năm của VN không vượt qua số 10 trong khi TL có tới 158 sáng chế, Malaysia 147 sáng chế, Philippines gần 80 sáng chế”.

Trong hội thảo cũng có vị nói rằng nhìn vào những quy định mới đây trong điều lệ thành lập trường ĐH mà Chính phủ mới ban hành, cho thấy “lời nói và việc làm không song hành”. Nói chung lại, dầu bài báo không nêu lên sự so sánh với Hàn quốc hay Nhật bản về tỉ lệ số người có bằng tiến sĩ và những bằng sáng chế, phát minh, hay các công trình khoa học các loại khác, song có nêu lên trong hội thảo có vị nhìn nhận rằng ở Việt Nam có “sự quá coi trọng về bằng cấp và chức danh (học vị, học hàm) đã LÀM LU MỜ NHIỀU TÀI NĂNG THỰC THỤ bằng sự tự đào luyện. Bệnh HÌNH THỨC và quá nặng nề về bằng cấp đã tạo ra một tâm lý CHẠY THEO HỌC VỊ để tiến thân trên con đường chính trị, địa vị xã hội”.

Nhận xét này hoàn toàn xác đáng, bên cạnh đó là sự xem nhẹ nhu cầu đào tạo đội ngũ những người lao động giỏi có đầy đủ phẩm chất, trí tuệ, tài năng. Đó là sự tương phản giữa hai hướng đào tạo chung. Còn kỹ thuật đào tạo, giáo dục trong thực tế, có ý kiến nêu rất chính xác “thực tế giáo dục VN quá nặng nề về đánh giá sức học chỉ qua điểm số và dường như Bộ GD&ĐT coi đó là tiêu chí quyết định”. Chẳng hạn, cũng có ý kiến cho rằng như cách tính đạo hàm và tích phân được dạy vô cùng kỹ, học sinh phổ thông nào không biết tính đạo hàm, tích phân thì cầm chắc rớt môn toán khi thi tốt nghiệp THPT, nhưng thử hỏi khi ra đời có bao nhiêu nhu cầu lao động bình thường phải được ứng dụng tri thức đó.

Để kết luận ý kiến cho rằng ngày nay nền kinh tế dẫn dắt bởi tri thức, tri thức trở thành nguồn vốn cơ bản được xây dựng từ một xã hội học tập, mọi người phải học tập để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về hiểu biết kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, dù ở bất cứ cương vị nào, có ý kiến trong hội thảo đề nghị “Việt Nam cần có chính sách đúng đắn trong TUYỂN DỤNG NHÂN TÀI và phải dựa trên hai yếu tố thực tài và bằng cấp. Thực tài đưa lên hàng đầu. Cần xây dựng một xã hội học tập. Đó là giải pháp tạo nguồn NGUYÊN KHÍ ĐÍCH THỰC cho đất nước trên con đường phát triển hội nhập”.

Đây là một ý kiến hoàn toàn chính xác, bao quát, nên cũng có ý kiến khác cho rằng “cái gốc của nguyên khí ở mọi thời đại vẫn là TRÍ TUỆ, ĐỨC ĐỘ vốn có ở những NGƯỜI CÓ HỌC THỨC hay tri thức”; đồng thời trong đó cũng nhấn mạnh tri thức ngày nay không còn bó hẹp ở một vài lĩnh vực hoạt động, cho một số nhân tài theo khoa cử, mà được phổ cập rộng rãi ở mọi tầng lớp do nhu cầu phát triển đa dạng trên mọi lãnh vực.

Nói chung lại, bài báo cũng nhấn mạnh ý hướng phải có của một nền giáo dục NHÂN BẢN, NHÂN VĂN. Bởi có ý kiến trong hội thảo cho rằng “nguyên khí quốc gia ở nhiều nước đi đầu trên thế giới lâu nay vốn được hun đúc và chăm bón từ vườn ươm của những NỀN GIÁO DỤC lấy CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN làm trọng, vì vậy rất cần việc xây dựng một nền giáo dục nhân bản, lấy chủ nghĩa nhân văn làm gốc. Mọi chiến lước, mục đích, phương pháp và tổ chức đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân đều phải DỰA TRÊN NỀN TẢNG CHỦ ĐẠO là CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN”.

Rõ ràng, qua cuộc hội thảo và qua đúc kết của bài báo nêu trên, người ta thấy được mọi ý kiến đều đạt được sự thống nhất và nhất trí cao như trên kia đã nói. Điều này nói lên ý nghĩa, giá trị, tầm quan trọng và sự cần thiết của cuộc hội thảo về giáo dục vừa được tổ chức. Tuy vậy, đây vẫn là cuộc hội thảo có phần nào hơi trễ tràng, bởi vì các nội dung đó đáng lẽ phải được nêu ra từ đầu, của nhiều thế hệ đi trước, cách đây có khi gần hay trên nửa thế kỷ.

Bởi vì tại sao ? Vì thật ra cái ngày nay mọi người sực nhớ đến “nhân tài là nguyên khí quốc gia” không phải là điều gì mới, nó đã được ông cha ta trân trọng ghi vào bia ký đã trên nhiều trăm năm qua. Thế sao ngày nay người ta mới lại ào ạt nói đến. Đó là do một thời gian rất lâu dài, mọi người đã quên tất cả những cái đó. Và chính hậu quả đó từ lâu nay trong đời sống thực tế xã hội đã thấy rõ và những tính cách cụ thể cũng đã được nêu ra hoàn toàn chi tiết như các ý kiến trong hội thảo đã phát biểu. Chính sự quá coi trọng về bằng cấp và chức danh (học vị, học hàm) đã LÀM LU MỜ NHIỀU TÀI NĂNG THỰC THỤ. Bệnh HÌNH THỨC và quá nặng nề về bằng cấp đã tạo ra một tâm lý CHẠY THEO HỌC VỊ để tiến thân trên con đường chính trị, địa vị xã hội. Đây là một ý kiến nêu lên khá bao quát và quan trọng. Đây cũng là ý nghĩa của ý kiến cho rằng VN cần phải có chính sách đúng đắn trong TUYỂN DỤNG NHÂN TÀI và phải dựa trên hai yếu tố thực tài và bằng cấp. Thực tài đưa lên hàng đầu.

Thực tế những điều trên đều nói lên chính tính cách của chính sách XÃ HỘI, chính sách GIÁO DỤC, và chính sách CON NGƯỜI. Cả ba chính sách này hay cả ba thực tế này thật ra rang buộc và nhân quả lẫn nhau. Chính chính sách xã hội làm ra chính sách giáo dục, chính sách giáo dục làm ra chính sách con người, và cuối cùng chính sách con người lại xoay tua trở lại mà không là gì khác. Có nghĩa do từ khởi điểm sự quá nặng, quá thiên về “ý hệ chính trị” đã làm nên hậu quả của cả ba mối quan hệ trên mà ngày nay mọi người đều thấy. Bởi khi đã ở vào trong vòng luẩn quẩn như thế, ở vào cái thế bịt bùng như thế, thì thật rất khó có lối ra, như nội dung hội thảo đã cho thấy.

Nhưng chuyện đã qua là chuyện của lịch sử. Còn chuyện của hiện tại chính là chuyện của giáo dục. Chuyện của giáo dục chính là chuyện của chính sách giáo dục và chuyện của người đứng đầu ngành giáo dục. Chính sách giáo dục NHÂN BẢN, NHÂN VĂN, chính là ý nghĩa giáo dục quan trọng nhất như trên kia đã nói, và đến ngày nay mọi người như tuồng mới thấy rõ. Đáng lẽ giáo dục làm thăng tiến chính trị, thì ngược lại trong quá khứ chính chính trị ràng buộc giáo dục, là điều không ai có thể phủ nhận.

Do vậy, ý nghĩa cuối cùng vẫn là ý nghĩa CON NGƯỜI và sự đào tạo ra con người. Có nghĩa ngành giáo dục đương nhiên phải do những con người có tâm huyết, có trình độ, có bản lĩnh, có phương pháp, có ý chí độc lập, tự chủ, mới có thể đào tạo ra những nguyên khí của quốc gia, như mọi người đều nhận thấy, và như ngày xưa chính ông cha ta đã không ngừng phát huy, củng cố, đồng thời cũng mang đến rất nhiều kết quả mà lịch sử đã chứng tỏ. Nhưng ngày nay, ngoài lực lượng con người chung đó, còn chính là tài năng của con người đứng đầu nền giáo dục, là con người đảm nhiệm cụ thể nhiệm vụ Bộ trưởng Bộ Giáo dục.

Dĩ nhiên, yêu cầu một con người như thế thì trước hết cần phải là một nhà khoa học giáo dục thật sự, một nhà giáo dục tâm huyết thật sự, một con người có tài năng và bản lĩnh thật sự, mà không phải ai lên làm Bộ trưởng cũng được. Bản lĩnh tài năng tức là người có thực tài, thực lực tự mình xây dựng nên được một sách lược giáo dục hiệu quả, ý nghĩa và giá trị thật sự, ngoài việc biết tham chiếu và huy động được mọi nguồn lực trong nước cũng như quốc tế về mặt nhận thức và thực tế để nhằm đồng hành và giúp đỡ cho mình. Người không có tài năng, tức không có sách lược tự mình, cũng không thể xứng đáng đứng đầu được nền giáo dục, cho dù bất cứ lúc nào, ở đâu, thời đại nào và đất nước nào cũng vậy.

Giáo dục nói chung chủ yếu là một KHOA HỌC, một VĂN HÓA, còn nếu nói rộng ra hơn cũng là một NGHỆ THUẬT và một KỸ THUẬT. Nhưng tất cả ý nghĩa đó trước hết vẫn là ý nghĩa NHÂN VĂN mà không chỉ là ý nghĩa chính trị. Điều này như trên đã nói, giáo dục phải là nguồn của chính trị mà hoàn toàn không thể nào ngược lại. Chính sự hiểu ngược lại một cách thô thiển, thậm chí ngây thơ, không những làm phương hại đến giáo dục, mà phương hại cả đến chính trị.

Chẳng hạn, ai có biết đến Trần Đức Thảo hay Trương Tửu tức Nguyễn Bách Khoa, thì thấy hai người này nhiều lắm cũng chỉ là những học giả, những nhà nghiên cứu, những nhà “tư tưởng” văn hóa và triết học, nhưng không thể nào có thể làm Bộ trưởng Giáo dục được. Trong khi đó, trái lại một Hoàng Xuân Hãn, một Trần Trọng Kim, thì lại hoàn toàn dư sức. Bởi vì những người sau là hạng tài năng và bản lĩnh, là những người tự mình biết đưa ra được những sách lược và chiến lược cụ thể và cần thiết cho giáo dục.

Nói điều này, cũng chỉ là nói lại ý kiến mà trong hội thảo đã nói. Tức cần những TÀI NĂNG THỰC THỤ, mà không phải các thứ bệnh HÌNH THỨC, hoặc quá nặng nề về bằng cấp, đã nên một thứ tâm lý CHẠY THEO HỌC VỊ để nhằm tiến thân trên con đường chính trị, hay địa vị xã hội. Đó chính là chính sách, ý nghĩa, giá trị, và mục tiêu đào tạo con người, mà chính nền giáo dục phải luôn luôn đảm nhận. Chân lý chỉ luôn luôn đơn giản như thế, và ý nghĩa không ngoài chính lực lượng làm giáo dục nói chung cũng như người đứng đầu ngành giáo dục, bởi vì họ chính là những nhân tố đích thực và cần thiết thật sự.

Đây cũng là một thực tế mà nhiều người đã biết. Xã hội VN trong thời kỳ trước đây đã từng có giai đoạn coi thường bằng cấp chính đáng, đồng hóa mọi người chỉ trên năng lực cảm thức. Rồi hiện tại ngày nay lại chuyển thành xã hội chạy theo cấp bằng hình thức, thậm chí bán buôn bằng cấp mà nhiều người chạy theo bằng cấp giả tạo không phải không biết. Có người mua tất có người bán, đó là quy luật của thị trường tự nhiên, mua bằng nhiều cách và bán bằng nhiều cách, điều này thực tế ngày nay không phải chỉ có ít, và chính nó làm hủy hoại tận cùng mọi ý nghĩa của giá trị bằng cấp đích thực và tài năng đích thực. Giai đoạn trước đã từng loại bỏ, làm mai một, làm chảy máu bao nhiều thực tài, còn giai đoạn sau tạo nên bao nhiều bằng cấp giả và tài năng giả.

Thật ra, bằng cấp không phải là thứ làm nên tài năng mà chỉ là thứ xác nhận tài năng, với điều kiện bằng cấp ấy phải là thực, tức có giá trị thực. Có nghĩa nếu có tài năng thực cũng chẳng cần bằng cấp, và bằng cấp thật sự cũng chỉ là thứ hỗ trợ, thứ xác nhận bề ngoài. Vả chăng, những cấp bằng sau đại học, như thạc sĩ hay tiến sĩ, thật ra chỉ là một bằng chứng xác nhận về năng lực nghiên cứu, năng lực học thuật mà không là gì khác. Năng lực làm việc tất nhiên hoàn toàn khác tài năng. Bởi tài năng có thể bẩm sinh, không cần khai sinh, còn bằng cấp là sự đào tạo, huấn luyện, với điều kiện phải có thực chất, và cần phải có khai sinh. Đương nhiên, bằng cấp có thể hỗ trợ tài năng nhưng là điều không thể hoàn toàn ngược lại.

Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Trãi, Nguyễn Trường Tộ, Phan Chu Trinh … còn vượt xa cả mọi tiến sĩ văn chương, sử học, bởi một bên là thực tài, là sáng tạo, còn bên kia chỉ là sự nghiên cứu, sự tìm tòi cái gì đã có. Tất nhiên mọi nguyên khí của quốc gia, trong toàn bộ mọi lãnh vực, đều phải là tài năng sáng tạo, là tiềm lực thật sự, mà không phải chỉ là các thành tích hay các hình thức bề ngoài. Ngô Bảo Châu chẳng hạn, tuy chưa phải là nguyên khí quốc gia, nhưng thật sự đó là TÀI LỰC quốc gia. Có nghĩa bằng tiến sĩ toán học đúng nghĩa của Ngô Bảo Châu không quan trọng bằng chính khả năng sáng tạo trong năng lực toán học của Ngô Bảo Châu. Bởi ý nghĩa hiền tài là nguyên khí quốc gia chỉ những thời gian gần đây mới được nói đến. Thật khác với từng bao nhiều năm, chỉ thấy những kẻ bồi bút lúc nào cũng chỉ ồm ào về những điều “chân lý duy nhất đúng”, “quy luật tất yếu của lịch sử”, “trí tuệ của thời đại”, “trí tuệ của loài người”, trong khi đó, thật sự ngày nay cả xã hội loài người đều chỉ cần đến các khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn xã hội về nhiều phương diện.

Cho nên chỉ những người tầm thường mới cần thiết chạy theo những bằng cấp theo kiểu hình thức tầm thường. Các bằng cấp như thế cho dù cấp tiến sĩ, thật ra nếu không có thực tài hay thực chất, cũng chỉ tương đương như một nhãn hiệu bên ngoài mà không là gì khác. Nên vấn đề không phải là chỉ tiêu đào tạo bao nhiêu tiến sĩ, mà thật sự chính là đào tạo được bao nhiêu tài năng hay năng lực sáng tạo cho xã hội nói chung. Bởi nếu bằng cách chỉ là cái cần câu địa vị, và học vị chỉ là nấc thang danh vọng, địa vị cá nhân, thì các bằng cấp và học vị đó cũng chỉ là sâu mọt của xã hội mà thực chất chỉ gây nhiễu tai hại về nhiều mặt mà không có ích lợi khả quan hay thực chất gì. Sự lạm dụng về bằng cấp, là do sự thiếu hiểu biết về ý nghĩa của bằng cấp, đó cũng là trách nhiệm của những người làm giáo dục và bắt nguồn từ một quan điểm không thích đáng về đào tạo và giáo dục, khiến nó trở thành mị dân và nhiều người chạy theo bằng cấp giả tạo.

Nên nói cho cùng, cuộc hội thảo về giáo dục vừa qua mà bài báo đã viết thật hết sức ý nghĩa, hết sức quan trọng, nói lên được nhiều điều cần thiết, lợi ích, khi mà Việt Nam đã và đang tiến mạnh trên đà hội nhập càng ngày càng sâu hơn về mọi mặt vào đời sống quốc tế toàn cầu một cách cần thiết, chính đáng, và không thể nào đảo ngược lại được, trong hiện tại, cũng như mãi mãi trong tương lai. Dù sao, bài viết này cũng chỉ để trao đổi thân mật cùng bạn bè, nó chẳng có gì quan trọng, bởi mọi điều quan trọng trong hội thảo mọi người đều đã nói cả rồi. Chính niềm vui là sự phát biểu ý kiến của mình, và nếu đó là ý kiến lợi ích thì xã hội cần quan tâm, là điều mà ở VN hiện nay rất hiếm nơi để mọi người được phát biểu ý kiến một cách thỏa mái, công khai, như chính cả những cuộc hội thảo đầy hạn chế mà cũng họa hoằn lắm mới có thể có được như cuộc hội thảo trên kia đã nói.         

  

VÕ HƯNG THANH       

(15/11/10)

 

**

 

VÀI SUY NGHĨ NHỎ QUA BA BÀI BÁO

 

Tờ Tuổi trẻ hôm nay 12/11/10 có đăng ba bài báo thật rất thú vị. Đọc ba bài này, chỉ những người vô cảm mới không suy nghĩ. Tất nhiên, những người khác thì không thể không ngứa miệng mồm và thấy cần phải phát ra điều gì đó, đó cũng là ý nghĩa của bài viết ngắn này.

Bài thứ nhất, trong mục ống kính bạn đọc, dưới nhan đề “lật tẩy một trò lừa đảo”, tác giả Đức Phú kể lại việc chẳng bõ công của mình khi sau gần hai tháng theo dõi người đàn ông có vết lở loét ở chân thường xuyên nằm lăn trước cổng chợ để xin tiền, mà thật ra đó chỉ là một trò lừa đảo.

Sáng sớm người đàn ông này được một thanh niên chỡ bằng xe máy đến trước cổng chợ, sau vài phút sửa soạn, ông ta hóa thân thành một người có bộ dạng “đáng thương” … khắp mình được quấn mổt lớp băng trắng bôi thứ thuốc đỏ tựa như máu. Lòng bàn chân người đàn ông này được trét lên một lớp keo và bôi một thứ bột màu đỏ tạo ra vết thương lở loét khiến ai nhìn cũng thấy tội nghiệp. Đang đứng trong một con hẻm, ông ta bất ngờ nằm xuống, trườn từ từ đến trước cổng chợ.

Ông ta đặt một cái xô trước mắt, phía trong có vài tờ tiền lẻ rồi bắt đầu rên rỉ thảm thương. Nhiều người đi chợ đã xuýt xoa thương cảm cho người đàn ông “khốn khổ” này, họ không ngần ngại móc ví, rút tiền bỏ vào xô. Khi mặt trời đứng bong, nắng chiều thẳng xuống mặt đường nóng ran, ông ta cầm xô tiền vào trong chợ bám chân từng người và kêu van thảm thiết hơn.

Khoảng gần trưa, ông ta trườn vào một con hẻm. Thấy không có người, ông liền bật dậy, tay cầm chiếc nạn gỗ đi lại gốc cây người đếm tiền. Ít phút sau, ông ta móc chiếc điện thoại trong túi ra gọi. Sau đó người thanh niên buổi sang xuất hiện chở thêm một người đàn ông trung niên đến. Cả ba cùng nói chuyện rồi nhảy lên xe máy đi.

Toàn bộ câu chuyện chỉ có thế, nhưng có hình chụp đăng lên và có nêu địa chỉ khu chợ rõ ràng. Câu chuyện giống như một đoạn phim ngắn thật sự phong phú, sống động, chi tiết, nói lên tính chất con người và tính chất xã hội. Tính chất con người là tính chất tận cùng của sự sa đọa nhân cách. Tính chất xã hội là tính cách của nhiều người lương thiện, rất dễ cảm thong với những người khác. Nhưng tính chất thực tế là tính chất của vài con người nào đó sẳn sang chà đạp lên chính nhân cách của mình, đóng vai khổ nhục kế để nhằm lường gạt người khác, nếu không nói có cả một “công nghệ” chăn dắt nằm phía sau người đàn ông bất lương vừa bỉ ổi đó, mà chỉ là một trong các trường hợp vẫn thấy trong xã hội hết sức đa dạng của sự lừa đảo mà báo chí đã nhiều lần phânh phui và lên án.

Nhưng nhìn chung lại, đấy chính là ý nghĩa của con người, của bản năng của dục vọng, của sự ham sống, dù là sự ham sống đầy khốn nạn nhất. Có nghĩa dù cùng khổ cách mấy, con người vẫn ham sống, sợ chết, không dám chết, dù rằng sự sống đó hoàn toàn không còn lý do và ý nghĩa. Nhưng ở đây, người đàn ông đó không phải cùng cực mà không dám chết, nhưng chỉ là bày kế, chịu nhục, để sống như sâu bọ nhằm lừa gạt người khác. Như ngay trong chiến tranh cũng vậy, có người có lý tưởng nào đó mà liều mình không sợ chết, nhưng cũng có người chỉ vì lý do bất đắc dĩ bị đẩy tới cái chết một cách hoàn toàn miễn cưỡng mà chính bản thân họ không bao giờ muốn.

Nhưng câu chuyện trên chỉ là tệ nạn xã hội, nó cho thấy bề trái của cuộc sống con người. Nói qua để nghe chơi rồi bỏ. Còn câu chuyện thứ hai là bài báo viết về đề tài “Biển Đông trở thành vấn đề quốc tế”. Đây quả là vấn đề lớn, không phải quá tầm thường, thấp kém như chuyện trước nữa, mà chính là ý nghĩa đại sự. Nghe qua không phải để bỏ, mà nhằm để luôn luôn suy nghĩ.

Tức trong hai ngày hội thảo vừa qua tại TP. HCM, nhiều học giả quốc tế đã trình bày đánh giá của họ về những diễn biến chung quanh tình hình biển Đông gần đây. Trong đó đáng lưu ý nhất là Giáo sư người Mỹ Bronson Percival cho rằng Mỹ sẽ không nhượng bộ Trung quốc về cái quái quỉ “đường đứt khúc chin đoạn, tức đường lưỡi bò” mà Trung quốc đã đưa ra khiến cho cộng đồng quốc tế phải xôn xao, nhất là khiến cho mọi người VN đều nhất thiết phải bực bội, tức tối và đau đầu. Giáo sư Mỹ này nói rõ theo ông vấn để biển Đông liên quan tới vấn đề CÓ TÍNH NGUYÊN TẮC cơ bản là TỰ DO HÀNG HẢI.

Giáo sư người Anh Geoffrey Till cho rằng Mỹ là một cường quốc toàn cầu, trong đó lợi ích cơ bản là TỰ DO HÀNG HẢI, Mỹ cho rằng mình có quyền DÙNG VŨ LỰC bảo đảm quyền đó.

Tướng Pháp về hưu Daniel Schaeffer thì cho rằng một khi không đối thoại song phương và đa phương giữa các nước trong khu vực được nữa, thì đã có TÒA ÁN QUỐC TẾ về luật biển Hamburg và Tòa án tư pháp quốc tế La Haye.

TS Nguyễn Thị Lan Anh của VN cho rằng “đường chín khúc” của TQ là KHÔNG CÓ CƠ SỞ. TS Lan Anh cũng đã nhắc lại rằng ở hội nghị San Francisco 1951, đại diện quốc gia VN lúc đó đã lên tiếng khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên Hoàng Sa và Trường Sa, và CHẲNG CÓ NƯỚC NÀO PHẢN BÁC.

GS Stein Tennesson của Viện Nghiên cứu hòa bình quốc tế (Na Uy) cho rằng biển Đông là một VẤN ĐỀ LUẬT PHÁP mà không chỉ là một vấn đề chính trị, nên giải quyết chính đáng nhất là BẰNG LUẬT PHÁP.

Rõ ràng ý nghĩa quan điểm của Stein Tennesson, Nguyễn Thị Lan Anh, Daniel Schaeffer nêu lên là hoàn toàn giống nhau hay thống nhất nhau, đó là nguyên tắc CHỦ QUYỀN của VN đã có trên các vùng biển đảo đã vốn thuộc về VN, và chỉ có thể được giải quyết theo LUẬT PHÁP QUỐC TẾ, còn không thể giải quyết theo cách nào khác. Nhưng trong thực tế, cái lý mà không đi theo sức mạnh cũng là điều đáng nói.

Riêng quan điểm của hai Giáo sư Mỹ Bronson Percival và Anh Geoffrey Till cho rằng họ phải bảo vệ nguyên tắc quốc tế TỰ DO HÀNG HẢI và có thể dùng vũ lực để bảo đảm nguyên tắc này, thì điều đó cũng chẳng hề ngược lại với ba quan điểm nêu trên. Vì nguyên tắc giao thương quốc tế về hang hải là nguyên tắc chung của cả cộng đồng quốc tế, còn CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ của vùng đảo biển của VN vẫn phải thuộc VN. Biển quốc tế mọi người đều có quyền, nhưng lãnh hải vốn có của một quốc gia thì bắt buộc mọi người đều phải tôn trọng.

Từ câu chuyện nêu trên, dẫn đến câu chuyện thứ ba là bài báo viết về Đại hội Khoa học lịch sử diễn ra ngày 11/11/10 tại Hà Nội : “Nâng cao nhận thức về chủ quyền quốc gia”. Qua đó, theo nhà sử học Dương Trung Quốc, tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử VN, có nêu lên SỰ HỤT HẪNG CƠ BẢN trong nhận thức lịch sử dân tộc của nhân dân. Ông Quốc cũng nói cần biên soạn lại sách giáo khoa lịch sử, tạo điều kiện cho các nhà sử học nghiên cứu và công bố các nghiên cứu khoa học của mình một cách thuận lợi hơn. Những điều nói này của ông Quốc, chính những người trong giới sử học cũng như trong giới giảng dạy về lịch sử thuộc thời kỳ cận đại biết rõ hơn ai hết.

Nhiều người còn nhớ, sau ngày hòa bình lập lại, thống nhất đất nước, ngay lúc đó đã có những lời phát biểu, những bài báo nói rằng kể từ đây VN sẽ mãi mãi không còn chiến tranh, không còn bất kỳ sự xâm lăng hay giặc ngoại xâm nào nữa. Nhưng sau đó không bao lâu đã xảy ra chiến tranh biên giới Tây Nam, rồi chiến tranh biên giới phía Bắc, và đến bây giờ vấn để biển Đông lại phải mở ra hội nghị quốc tế để bàn thảo đến. Thế mới biết những cảm nghĩ, cảm tính, những quan điểm chủ quan, cạn hẹp của những con người trong các điều kiện nào đó, quả thật chẳng mang tính cách, ý nghĩa hay giá trị khách quan nào đích thực cả. Có lẽ đây cũng là những khía cạnh hay những điều mà trên kia chính ông Dương Trung Quốc đã nói đến.

Đã có thời gian dài, nhiều người nông cạn chỉ biết nặng về quan điểm chính trị nhất thời trong hiện tại mà quên khuấy đi mất những ý nghĩa và tính cách lâu dài hơn về tâm lý con người, về lịch sử, về pháp lý, mà trên kia có những nhà nghiên cứu nước ngoài, những Giáo sư đã phát biểu về các ý nghĩa liên quan nơi biển Đông mà đọc qua mọi người đều nhìn thấy rõ.

Cho nên, từ ba bài báo nêu trên, được đăng trên một tờ báo, vào cùng ngày, tuy là hoàn toàn ngẫu nhiên, nhưng cả ba bài báo đều cho thấy một sự liên quan về chiều sâu nào đó về các vấn đề con người, vấn đề lịch sử, vấn đề xã hội, mà nhiều khi người ta chỉ nhìn thấy một cách hoàn toàn nông cạn và đơn giản. Có nghĩa có những sự việc xảy ra quá tầm thường, thậm chí ti tiện, nhưng không phải không phản ánh các khía cạnh tâm lý phức tạp của con người, tuy không liên quan tới ai nhiều, những không phải không làm mọi người suy nghĩ. Ngược lại, có những vấn đề rất thời sự, rất lớn lao, những có nhiều người chỉ xem như những chuyên ở đâu, ở trên trời, chẳng liên quan gì đến họ.

Bởi vậy, vẫn luôn luôn có những vấn đề về con người, về xã hội, tức các vấn đề về tâm lý cá nhân, tâm lý xã hội, về đời sống, kinh tế, văn hóa, lịch sử, chính trị, quốc gia cũng như quốc tế, vốn liên quan ràng rịt nhau, mà nếu chỉ biết nhìn một cách hời hợt, phiến diện, hay nông cạn, không bao giờ người ta thấy hết. Chẳng có điều gì hoàn toàn không quan trọng, mà cũng chẳng có vấn đề gì hoàn toàn thật sự trọng đại đối với tất cả mọi người. Hay nói cụ thể, mọi vấn đề vẫn tùy theo từng người, từ vị trí, khả năng, trình độ nhận thức, khuynh hướng, thói quen, tình cảm, ý thức và ý chí khác nhau, để cùng suy nghĩ hay trao đổi giữa nhau, như trên đã thấy. Nói cách khác đi, điều gọi là cái tốt hay cái xấu nơi cá nhân và xã hội là vô cùng, bao la phương diện, tầm thường hóa hóa hay lý tưởng hóa quá mức những điều gì đó đều chẳng khác gì như đang ngủ mê chính giữa lòng dòng đời thực tế.

 

VÕ HƯNG THANH       

(12/11/10)

 

**

 

THỬ PHÂN TÍCH BÀI VIẾT CỦA ÔNG LỮ PHƯƠNG

 

Tác giả Lữ Phương từng là một người trong cuộc, trong bài tham luận vừa rồi : “Sự xuống cấp văn hóa và đạo đức trong xã hội ngày nay ”, được đọc trong buổi họp mặt do Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh tổ chức ngày 27.11.2010 tại Hà Nội, ông đã mạnh dạn nói nhiều đối với các vấn đề mà hiện nay có nhiều người muốn nói là rất nóng bỏng. Bài viết này cũng được hiểu dưới một tên gọi khác khác : “Vì đâu nên nỗi ? hay tác động văn hoá của “đổi mới” xét như một mô thức phát triển” mà tác giả LP muốn nói đến.

Ông LP nói : vấn đề xuống cấp văn hoá và nếp sống hiện nay đã lan rộng đến mức báo động đỏ. Và cũng theo ông, đây không chỉ là sự suy thoái riêng rẽ và đơn thuần về đạo đức, văn hoá, mà thực sự bắt nguồn từ một mô thức phát triển tổng thể đã quy định về sự suy thoái thuộc các lĩnh vực này. Ông còn nhấn mạnh về tính chất trầm trọng của sự xuống cấp văn hoá đó, mà theo ông đó cũng chính là ý nghĩa phá sản trầm trọng của một mô thức phát triển mang tính chất lịch sử đã được chọn. Và mục đích bài viết của ông chính là đi tìm nguyên nhân phá sản về mặt lịch sử của mô hình đó.

Trước hết ông LP cho rằng “Đã có một sự ngộ nhận trầm trọng khi đồng nhất khái niệm “ chủ nghĩa xã hội ” mà chúng ta đã chọn lựa vào thời cách mạng giải phóng dân tộc với nội dung khái niệm “Xã hội chủ nghĩa ” mà chúng ta coi là hình thái kinh tế xã hội cần xây dựng để đưa đất nước vào con đường hiện đại hoá”. Theo ông LP, “Logic này cũng là cơ sở của luận điểm của Lenin về phong trào giải phóng dân tộc : phong trào này là một bộ phận của phong trào chống tư bản, đế quốc do quốc tế vô sản lãnh đạo nên sau khi dựa vào quốc tế vô sản hoàn thành cách mạng dân tộc rồi thì phải tiến lên xây dựng ngay chủ nghĩa xã hội, không thông qua giai đoạn phát triển tư bản để tiếp tục sự nghiệp chống đế quốc do quốc tế vô sản lãnh đạo”.

Ông nhấn mạnh “Có thể trong điều kiện lúc bấy giờ, chúng ta có nhiều lý do để xác tín vào sự chọn lựa ấy, nhưng những gì diễn ra về sau đã chứng minh rằng cái logic ấy không phù hợp thực tế”. Ông Phương cũng đề cập đến “chỗ dựa thực tế của một lực lượng ngoại tại” vào thời điểm lúc ấy, và ông cho rằng “cuộc chiến đấu chống xâm lược của chúng ta có phần phù hợp với sự chọn lựa đó”. Ông cũng nói hình như ý tưởng của nhà văn Nguyên Ngọc cũng cho rằng sự chọn lựa đó chỉ mang tính chất tình thế, một chọn lựa “ cực chẳng đã ”, chứ không phải và cũng không thể xem là một chọn lựa một lần cho mãi mãi, như một chân lý. Và tiếp theo ông cũng nói thực tế đã cung cấp nhiều bằng chứng cho biết sự chọn lựa của chúng ta không phải là một cái cẩm nang thần kỳ, và sự huyễn hoặc của sự thần kỳ này không thể viện dẫn “ lập trường ”, “ lòng tin ” hay sự “ trung thành ”… mà bảo vệ được.

Trong ý hướng đó, ông kết luận : “Cái mô thức mà chúng ta gọi là “ chủ nghĩa xã hội ”, ban đầu là một cương lĩnh xây dựng trực tiếp, sau này chuyển thành một “ định hướng ” tiến lên, lại không tìm được cơ sở nào để tự biện minh về tính chất nghiêm chỉnhkhả thi của nó, dù cho nó có được giải thích như thế nào, vận dụng cách nào đi nữa, bao lâu đi nữa”. Bởi ông cho đây không phải là quy luật sinh thành của lịch sử như chúng ta đã ngộ nhận và thuyết minh, mà chỉ là những phản ứng chính đáng, nhưng lại mang tính mộng ảo của những người trí thức bức xúc trước những bất công gay gắt của chủ nghĩa tư bản thời sơ khai, mà cũng là thời kỳ chủ nghĩa tư bản đồng hoá với chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc.

Ông cũng đả kích gay gắt chiều hướng đó, vì cho rằng không hề có phát triển vì động lực phát triển đã bị huỷ diệt. Đồng thời ông cũng cho rằng những khẩu hiệu gọi là “ do dân, vì dân, của dân ”, vốn là cơ sở của các cuộc cách mạng dân chủ đích thực, đã trở thành những hứa hẹn mị dân thô lậu, đem ra tuyên truyền, chỉ mang lại những hiệu ứng phản tác dụng. Kết quả, ông LP cũng đánh giá “không có phát triển mà cũng không có dân chủ và công bằng”.

Trong ý nghĩa đó, ông LP cũng nêu lên các luận điểm : “Có quan điểm cho rằng, mọi việc đã bắt đầu từ Đại hội Tours, năm 1920, khi Nguyễn Ái Quốc chuyển hướng từ chủ trương canh tân ôn hoà của Phan Châu Trinh sang con đường cách mạng cực đoan của Đệ tam Quốc tế. Cũng có ý kiến muốn lấy năm 1923 làm cột mốc giải thích khúc quanh cho số phận của Việt Nam khi Nguyễn Ái Quốc từ giã môi trường hoạt động khuynh tả ở nước Pháp dân chủ để sang Nga hội nhập vào mô thức chuyên chế kiểu phương Đông”.

Tuy nhiên, ông LP cũng nêu thêm một luận điểm khác : “Thời điểm 1949 khi cách mạng Trung quốc thành công nhờ đó Việt Nam tìm được một căn cứ địa trực tiếp, lâu dài, làm chỗ dựa vững chắc để củng cố và đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống thực dân, nhưng cũng từ cái cột mốc thời gian “cần thiết” sinh tử với độc lập dân tộc đó mà cách mạng Việt Nam, dưới nhiều hình thức, đã tạo điều kiện cho sự du nhập vào tổ chức của mình một hệ tư tưởng tệ hại nhất trong những hệ tư tưởng gọi là “xã hội chủ nghĩa” phản Marx nhưng vẫn nhân danh Marx để giải phóng loài người – đó là chủ nghĩa Mao, một thứ chủ nghĩa Stalin “ mang đặc điểm Trung quốc”.

Và ông LP cũng nói rõ : “Mặt xã hội, bằng khuyến dụ những cuộc tàn sát truy bức mệnh danh “ đấu tranh giai cấp ”, “ cải cách ruộng đất ”, nó đã đào bới đến tận gốc rễ nền văn hoá truyền thống của dân tộc – bằng cách đưa lên hàng chính diện các nhóm đân cư hạ đẳng nhất của xã hội, biến các tầng lớp này thành lực lượng nòng cốt thực hiện đường lối xây dựng “ xã hội mới ” theo mô thức Mao, đồng thời khuấy lên từ đáy sâu của lịch sử dân tộc các tính chất cặn bã nhất của con người là sự ngu dốt, cơ hội, ti tiện, hẹp hòi, thù hận… biến chúng thành hệ giá trị làm nền cho mọi hoạt động tinh thần mà dấu tích vẫn còn hằn sâu vào đời sống văn hoá của đất nước cho đến ngày nay, chưa biết đến bao giờ mới gột sạch được”. Và ông cũng cho đó là “Thứ chủ nghĩa xã hội phản mác xít tư biện, không tưởnggiáo điều”.

Tuy nhiên, ông Lữ Phương cũng nói : “Cho đến nay chưa bao giờ thấy xuất hiện trên hành tinh này một hình thức xã hội cộng sản nào đúng theo định nghĩa của nó cả, trong khi đó nếu có những thứ “cộng sản” có thể gây ra tội ác thật sự thì đó chỉ có thể là những thứ mang tên cụ thể như Stalin, Mao Trạch Đông, Pôn Pốt hoặc gì gì đó thôi”. Cuối cùng, ông kết luận : “Rốt cuộc thì đối với vấn đề suy thoái đạo đức, văn hoá ở Việt Nam hiện nay thiết nghĩ chúng ta không thể đem các thứ cộng sản hoặc tư bản trừu tượng ra giải thích mà phải tìm đến sự giao thoa và cộng hưởng của hai cơ sở lý luận “dỏm” dẫn xuất từ những nguồn gốc đó : đó là thứ chủ nghĩa cộng sản mạo danh, biến thái cùng với cái mặt trái của nó là thứ chủ nghĩa tư bản sơ kỳ, man rợ !”

Và giải pháp ông LP đưa ra là : “Phải tách rời hai hình thái ấy ra, không cho chúng cấu kết với nhau để nhân lên sự độc hại, rồi sau đó trong hai thứ ấy, tuỳ theo quan điểm, ta sẽ chọn lấy một, cái này hoặc cái kia, loại trừ những phần độc hại trong cái mô thức đã bị làm cho biến dạng, sửa đổi, canh tân và phục hồi lại các nguyên lý thuần nhất của nó, trau chuốt cho nó có hiệu quả hơn để áp dụng vào thực tế”. Ông cũng nói thêm : “Tôi nghĩ mặc dù hoang tưởng nhưng mấy vị này không hoàn toàn vô lý : Thứ chủ nghĩa xã hội cổ lỗ mà họ ôm ấp tuy có độc tài, trì trệ, nghèo đói, cả ác độc nữa, nhưng mọi thứ đều răm rắp đâu vào đó, tứ bề yên ổn, chay tịnh, chứ đâu có lộn xộn như thứ “ chủ nghĩa xã hội thị trường ” bây giờ ! Cứ nhìn sang Bắc Triều Tiên mà xem !”.

Tuy thế, ông LP cũng nhất thiết phản bác “Khẩu hiệu sọc dưa gọi là “ thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ”. Và ông nói “Hãy bỏ cái đuôi ấy đi cho nó đàng hoàng về phương diện lý luận và cả thể diện nữa”. Ông cũng nói : “Trong khi tạo ra một số của cải vật chất để đẩy lùi tình trạng nghèo khổ khan hiếm do thứ chủ nghĩa xã hội giáo điều, không tưởng cũ gây ra, trong khi buộc phải đổi thay theo thời thế để cứu nguy một định chế chính trị đang rơi vào khủng hoảng”. Đồng thời, có một ý mới mà ông LP cũng nêu lên : “Phải chăng vấn đề mất nước mà chúng ta tưởng đã không còn đặt ra nữa sau ngày thống nhất, nay lại lấp ló hiện ra, lần này không còn đến từ phương Tây nữa mà giống như cả ngàn năm trước, lại từ phương Bắc”.

Nhưng rồi ông kết luận “Từ ý hướng đó mà nhìn lại thì rõ ràng mô thức phát triển mệnh danh “ đổi mới ” cho đến nay đã không làm tròn được chức năng nói trên, do vậy cái chính sách nửa vời đó đã đến lúc cần phải chấm dứt – và mọi người phải có nhiệm vụ tạo áp lực cho nó sớm chấm dứt – để chuyển sang một mô thức phát triển có chất lượng tích cực hơn, phù hợp hơn với hoàn cảnh mới của xã hội và lịch sử. Nội dung của mô thức này ra sao, sẽ được hình thành như thế nào, làm sao để thực hiện, là những vấn đề lớn lao, có lẽ không phải là chỗ để bàn luận ở đây, bản thân tôi cũng không dám lạm bàn”.

Nên ông nói tiếp : “Trong nỗ lực đi tìm mô thức mới thay thế, vực dậy đời sống tinh thần cho xã hội, nếu không thanh toán cho được cơ sở lý luận cho phép người ta dựa vào các phạm trù ý thức hệ lỗi thời để thiết lập chính sách quốc gia, coi đó đã là những quyết định tối hậu, từ trên áp xuống, dựa vào những lợi ích nhất thời, cục bộ coi là giá trị để theo đuổi, cứ thế mà thực hiện, bất chấp hậu quả, bất chấp lòng dân thì cái giá phải trả, trong tình hình mới, không phải chỉ diễn ra như cũ, cũng không chỉ trên phương diện văn hoá mà có thể dẫn tới những tác hại quan trọng, không lường trước được, về mọi mặt đối với sự an nguy của đất nước”. Cuối cùng, ông nói : “Với những phần nghiêng lệch về tiêu cực như đã phân tích, chủ trương “đổi mới” với tư cách là một mô thức phát triển, rõ ràng đã không còn lý do để tiếp tục nữa. Một cách có ý thức và chủ động, nó phải được chuyển sang một mô thức mới dựa trên những nguyên tắc mới về lý luận và văn hoá, dân chủ hơn, hiện đại hơn”.

Nói tóm, bài viết của ông Lữ Phương cho thấy một sự thức tỉnh, một sự thú nhận về một ngộ nhận nào đó về quá khứ lịch sử của riêng ông cũng như của nhiều người khác. Tất nhiên, có nhận thức được như thế cũng là một điều khá tốt. Nhưng sự trăn trở của ông như vẫn chưa có lối thoát, vẫn còn mang nặng ý hướng tự bào chữa và một tinh thần chống chế nào đó. Điều này tất nhiên vừa có tính chất ý thức vừa mang tính cách vô thức, như điều tất nhiên không thể tránh khỏi. Ông cũng khao khát tìm thấy một lối thoát, một giải pháp, nhưng thật sự đến giờ ông vẫn cảm thấy bế tắt, không đề ra được, mà cũng không thấy có triển vọng đề ra được. Đây chính là ý nghĩa hụt hẫng của ý thức hệ. Một sự hụt hẫng ngay từ đầu, do từ xuất phát điểm quá thấp của năng lực nhận thức chung của xã hội, nên chính nó phải trả giá, và cho đến nay vẫn cứ rơi vào chỗ quán tính mà chưa tìm thấy một lối ra mang tính quyết đoán, sáng suốt, tự giác, hoặc có ý thức hoàn toàn tự chủ.

Tuy nhiên, qua bài viết, ông Lữ Phương cũng cho thấy rõ điều này mà ông cho là có ý nghĩa quan trọng. Ý nghĩa quan trọng về con người, về xã hội và về lịch sử. Ý nghĩa đó là ý nghĩa về mặt khoa học, mặt triết học, cũng như mặt thực tế. Bài viết của ông Lữ Phương rõ ràng có mang một ý nghĩa sám hối, nhưng trong ý nghĩa sám hối đó ông cũng nhất thiết tự biện minh hay tự bộc bạch theo một chiều hướng nào đó. Điều này không chỉ đúng đối với riêng trường hợp cá nhân của LP, mà cũng là trường hợp của nhiều người khác. Tất nhiên đó có cả những người đã chết, những người đang sống, và cả những người sẽ chết. Nên nói chung lại, đó cũng chính là một ý nghĩa của lịch sử, lịch sử của xã hội, của thế giới, hay của sự nhận thức, của hành động, và nói chung là của tất cả những cái hay cái dở luôn vốn có nơi xã hội của con người, trong đó bao gồm cả ý nghĩa của vấn đề mà trước đây vẫn được nhiều người hiểu như một học thuyết siêu đẳng hay một ý thức hệ tuyệt vời với đầy đủ những khía cạnh hết sức đa đoan của nó.

 

VÕ HƯNG THANH

(01/11/2010)       

                                                                                                                                  

**

 

NÓI VỀ SỰ ĐỒNG THUẬN TRONG XÃ HỘI

 

Báo Tuổi trẻ hôm nay 18/11/2010 có chạy tít lớn nơi trang nhất bài báo nhan đề “Tăng cường sự đồng thuận xã hội”. Bài báo có thuật lời ông Tổng bí thư, người đứng đấu cả nước hiện nay, trong bài phát biểu vừa rồi nêu rõ “Chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử. Đại đoàn kết dân tộc là một vấn đề chiến lược có ý nghĩa sống còn, lâu dài, quyết định thành bại của cách mạng, là một bộ phận hữu cơ, một tư tưởng xuyên suốt trong đường lối chiến lược cách mạng …, phù hợp với đòi hỏi khách quan của quần chúng nhân dân muốn tự giải phóng mình”.

Ông Tổng bí thư nói tiếp trong diễn văn : “Khối đại đoàn kết toàn dân tộc phải được xây dựng trên cơ sở bảo đảm những ích lợi tối cao của dân tộc và những quyền lợi cơ bản, chính đáng của nhân dân. Chỉ có tin vào dân, dựa vào dân thì mới xây dựng được khối đại đoàn kết một cách tự giác. Trong bối cảnh VN đang tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế nhanh và bền vững, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân … Lấy mục tiêu xây dựng một nước VN hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng, tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung … để tập hợp đoàn kết mọi người … tăng cường đồng thuận xã hội”.

Cùng ngày, báo Pháp luật TP. HCM trong mục ngắn ‘Theo dòng’, cũng có đăng một bài viết nhỏ với tiêu đề “Đại đoàn kết thực sự”, trong đó có viết : “Đại đoàn kết là nguồn sức mạnh xuyên suốt để dân tộc ta giành độc lập, thống nhất tổ quốc và phát triển đất nước. Dự thảo Cương lĩnh tiếp tục khẳng định một trong các phương hướng căn bản cần thực hiện để đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại là xây dựng nền dân chủ XHCN, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc … Cụ thể hóa chủ trương đúng đắn ấy, nhưng chính sách để nối kết các thành phần trong khối đại đoàn kết toàn dân cũng ngày càng được mở rộng và hoàn thiện hơn. Thế nhưng, trong nhiều cuộc hội nghị gần đây, vẫn có ý kiến băn khoăn rằng dường như vẫn còn bức tường vô hình giữa chủ trương, chính sách và thực tiễn”.

Bài báo cũng nêu thêm lời của ông Đào Công Tiến trong một buổi góp ý kiến mới đây cho văn kiện Đại hội, cũng có nêu lên việc trí thức vẫn chưa có được một môi trường thực sự thuận lợi để thỏa sức đóng góp, hố sâu giàu – nghèo đang ngày càng giãn rộng, nông dân chưa giàu trên mảnh đất của mình, công nhân thì bữa cơm chan đầy mồ hôi mà thiếu thốn vẫn luôn đeo đẳng. Trong khi đó có những chính sách phát triển đã bị méo mó đi bởi các nhóm thế lực chi phối … Ngoài ra, bài báo cũng thuật lại lời ông Võ Tòng Xuân trong một cuộc tiếp xúc nêu rằng sự phân biệt trong lý lịch hiện nay ở nước mình còn nặng nề, còn phong kiến quá ! Và điều đó khiến đất nước mất nhiều nhân tài. Sâu thẳm trong trái tim tất cả người VN luôn luôn tồn tại hai chữ VN và họ sẽ chung tay, chung tâm xây dựng đất nước nếu ta mạnh dạn khơi nguồn và có chủ trương đúng đắn và chính sách hợp lý. Cuối cùng, bài báo cũng nêu lên ý VN đang tiến ra biển lớn, hơn bao giờ hết con thuyền đất nước đang cần một sức mạnh đại đoàn kết dân tộc thật sự chứ không phải hình thức, khẩu hiệu.

Tất nhiên, nội dung hai bài báo và các ý kiến nêu trên đều cơ bản chính xác, thực tế. Tuy vậy, vấn đề không phải chỉ dừng lại ở tính cách của vấn đề, mà chính là lối ra, việc thực hiện hay áp dụng chúng trong thực tế ra sao. Đây ý nói là sách lược hay kế hoạch nhằm thực hiện chúng, đó mới là điều cần thiết phải có, bởi nếu không chúng cũng chỉ có thể dừng lại trên ý tưởng, suy nghĩ, hay chỉ là trên giấy. Điều này cũng nói lên chính phản ứng, thái độ, hay tinh thần, ý thức của mỗi người. Bởi sự đồng thuận thực tế là gì nếu không phải chính là tính cách tích cực hay yếu tố thực tế của chính những khía cạnh này. Có nghĩa mỗi cá nhân có tự giải phóng mình ra khỏi cái vỏ ốc riêng tư hay không, đó chính là giá trị hay ý nghĩa nền tảng của chính yêu cầu. Bởi không tự giải phóng ra khỏi pháo đài cá nhân này, cũng không thể nói có sự đồng thuận hay không có sự đồng thuận. Điều này cũng nói lên thái độ biểu hiện tiêu cực hay tích cực đối với người khác hay đối với xã hội. Thái độ tích cực là thái độ cởi mở, chia sẻ, tiếp thu, đón nhận. Thái độ tiêu cực là ý nghĩa ngược lại. Nói như thế, cũng có nghĩa sự đồng thuận không phải tính cách chung chung, mà chính là yêu cầu cụ thể, rõ rệt. Đó là yêu cầu của nhận thức, ý thức, tư duy, ngôn ngữ, và của hành vi biểu hiện. Bởi đồng thuận có nghĩa là sự thể hiện ra, phát biểu ra trong những khía cạnh đã nói. Đồng thuận mà làm thinh, đồng thuận một chiều, đồng thuận mà không một chút biểu hiện nào, cũng coi như không mang ý nghĩa hoặc giá trị gì, nếu không nói cũng chẳng có tác động gì. Đó cũng là ý nghĩa của sự tự giác. Bởi nếu không có sự tự giác, ý nghĩa tinh thần hay giá trị đạo đức cũng xem như rất yếu.

Bởi vậy, ý nghĩa của sự đổi mới, nhu cầu của việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, là điều chẳng có ai lại không đồng thuận. Có nghĩa mục tiêu xây dựng đất nước giàu mạnh, chính là ý nghĩa đồng thuận cao nhất mà mọi người đều có. Tất nhiên, trong ý nghĩa đó, vẫn có thể có những ý kiến khác nhau cần phải tôn trọng, miễn là nó không trái lại với lợi ích chung của dân tộc. Đây chính là ý nghĩa của chính kiến hay tư tưởng. Bởi chỉ có hành động mới được xem là trái pháp luật hay không trái pháp luật, còn chính kiến hay quan điểm là điều tất nhiên hoặc khách quan mà mọi người đều phải có. Sự đồng thuận như vậy không phải là sự khác nhau trong nhận thức, sự khác nhau trong thảo luận, mà chính là sự thống nhất về mục tiêu phải có. Chính sự khác nhau đó không phải ngăn cản sự đồng thuận mà là điều kiện và yêu cầu để tăng cường sự đòng thuận của mọi người trong xã hội. Mục đích cao nhất của sự đồng thuận là để tập hợp cao nhất sức mạnh chung mọi mặt của xã hội, của đất nước, là ý nghĩa tích cực nhất, đồng thuận là để mở rộng sự hợp tác, đồng thuận không có nghĩa chỉ có tính cách tiêu cực là sự thụ động hay hạn chế sự hợp tác. Nên đồng thuận không mang tính cách lý thuyết mà mang ý nghĩa thực tế. Những biện pháp cụ thể để tập trung hay phát huy sự đồng thuận còn quan trọng hơn nhiều mọi hình thức bề ngoài của sự đồng thuận.

Tuy nhiên, nếu ý nghĩa đưa đất nước trở thành một nước công nghiệp hiện đại, là một ý nghĩa tất cả mọi người đều đồng thuận, vì nó hoàn toàn khách quan, cụ thể, hiển nhiên và cần thiết. Trong khi đó, khái niệm nền dân chủ XHCN cho đến nay thật sự vẫn chưa được rõ ràng. Bởi vì vẫn chưa có ai đưa ra được một khái niệm chặt chẽ, bao quát, chính xác, cụ thể, toàn diện, chắc chắn và thực tế cho tới nay để mọi người đều nhất thiết phải đồng thuận. Cho nên đây chính là ý nghĩa của việc cần tiếp tục thảo luận, định nghĩa một cách đầy đủ, chính xác, cụ thể và thực tế nhất. Bởi đây không còn là ý nghĩa của cảm tính, thói quen, tình cảm, hay khuynh hướng, mà cần phải có nền tảng khoa học thật sự khách quan, chính xác, tức vấn đề cần thiết mang tính chất khoa học đúng đắn và học thuật sâu sắc cũng như bao hàm nhất. Có nghĩa đây là quan điểm đã có trong quá khứ, vẫn có trong hiện tại, hay chỉ sẽ có trong tương lai là điều phải tiếp tục suy nghĩ, cho dầu theo nguyên tắc, quá khứ, hiện tại và tương lai của một xã hội rất ít khi bị tách rời, và điều đó cũng mang ý nghĩa như sự thủ cựu, chính thống, hay tính cách của sự đổi mới. Bởi vậy, trong xã hội, mọi sự đồng thuận hay không đồng thuận thường đều biểu hiện thành ba thái độ nội dung lẫn hình thức. Sự về hùa, sự im lặng, sự bày tỏ. Trong cả ba thái độ này, chỉ có sự bày tỏ công khai ý kiến một cách tích cực, xây dựng, thẳng thắn, và đóng góp, mới là sự đồng thuận có giá trị và cần thiết nhất trong mọi trường hợp.

Đây có lẽ cũng là ý nghĩa của nhận xét về một bức tường vô hình giữa chủ trương, chính sách và thực tiễn như trên kia đã nói. Và cũng như trên kia đã nói, các vấn đề khoa học và học thuật lại chính là ý nghĩa quan trọng hay yêu cầu thiết yếu nhất của trí thức. Trí thức vẫn chưa có được một môi trường thuận lợi thì đây cũng quả là một thiếu sót chẳng phải không lớn. Vấn đề chỉ là tại sao xã hội từ trước đến nay vẫn không quan tâm. Cho nên, nếu hố sâu của sự giàu – nghèo đang ngày càng giãn rộng, cả giới nông dân và công nhân vẫn chưa có được đời sống thuận lợi, thì việc giải quyết ý nghĩa này vẫn không thể chỉ ở cảm tính mà chính là ở tri thức khoa học thật sự. Tại sao chính sách phát triển lại bị méo mó bởi các nhóm thế lực chi phối, tại sao sự phân biệt lý lịch vẫn hãy còn nặng nề, phong kiến, đó chính là ý nghĩa của vấn đề con người và vấn đề xã hội. Do vậy, sự đại đoàn kết dân tộc thực sự, hay sự đồng thuận thật sự, quả nhiên là một vấn đề nhân văn, một yêu cầu thực chất, mà không phải chỉ là hình thức hay khẩu hiệu. Bởi nếu nói một cách mở rộng hơn, ý nghĩa của khuynh hướng chính trị trong một xã hội hoặc có thể theo chiều hướng trí thức, khoa học; hoặc có thể theo chiều hướng bình dân, thông tục; hoặc theo chiều hướng song hành hay kết hợp cả hai khuynh hướng này với nhau. Điều này, cứ nhìn vào cách tuyên truyền giáo dục vẫn có trong xã hội thì mọi người có thể thấy rõ. Ngoài ra, tính cách này cũng còn nói lên chính sự kiện là hoặc nền chính trị chỉ đặt nặng về quá khứ, hoặc đặt nặng về hiện tại, hoặc chủ yếu nhằm nhấn mạnh vào tương lai. Tất nhiên, trong tất cả ý nghĩa và chiều hướng ấy, sự cần thiết cao nhất vẫn chỉ có thể là việc đặt nền tảng trên khoa học, tri thức, và chiều hướng nhấn mạnh về tương lai, vẫn luôn là phù hợp nhất, cũng như có thể dễ dàng tạo được sự đồng thuận rộng lớn và căn cơ nhất. Đây chính là điều mà hình như thường có ít người quan tâm tới.

Cũng trong những ngày qua, báo Tuổi trẻ có đăng loạt bài phóng sự “Những kiểu ‘bán sống’ con người” phơi bày dã tâm một số cá nhân thực hiện sự bóc lột sức lao động con người một cách dã man giữa rừng núi sâu mang đến cho mọi người những suy nghĩ về tính chất đặc thù của một số những cá nhân. Điều này cũng chẳng mới lạ gì, khi thỉnh thoảng có các loạt bài phóng sự trên báo Tuổi trẻ hay báo Pháp luật. TP.HCM về các tệ nạn của con người như việc chăn dắt người ăn xin, nạn đinh tặc, lâm tặc, buôn người qua biên giới, sự kiện tham nhũng v.v…Điều đó cho thấy ý nghĩa của con người và xã hội vẫn luôn là ý nghĩa thường xuyên trong cuộc sống. Tức không thể có vấn đề xã hội hoàn toàn hay tuyệt đối hoàn hảo, mà giải quyết các yếu tố con người và xã hội chỉ có thể căn cứ vào phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp luật, nói chung là ý nghĩa của khoa học, của kỹ thuật xã hội, của hệ thống pháp lý trên nền tảng thực tế và khoa học mà không là gì khác. Mọi sự suy nghĩ mang tính ảo tưởng về cảm tính, tình cảm, quán tính, bảo thủ … chỉ có thể làm chặn đứng sự phát triển xã hội, tạo điều kiện cho sự lợi dụng, lạm dụng, đưa lại mọi sự phản hiệu quả, phản thực chất không hơn không kém.

Nói khác đi, vấn đề người tốt, người xấu trong xã hội luôn luôn có. Điều này rất đa dạng và luôn dưới nhiều mức độ cũng như hình thức khác nhau không thể nói hết. Kể cả năng lực hay tài năng của mỗi người cũng vẫn luôn đa dạng và nhiều mức độ vô cùng khác nhau như thế. Điều này có nghĩa mọi giá trị trong cuộc sống hay xã hội chỉ là tương đối. Không phải đám đông những người thầm lặng đều cả thảy bất tài. Cũng không phải những người làm việc nước, việc xã hội bất kỳ thời đại hay đất nước nào cũng đều giỏi hơn những người khác. Có nghĩa mỗi cá nhân còn tùy theo khuynh hướng, mục đích, tình huống, cá tính, phận mệnh hay hoàn cảnh … khác nhau. Lịch sử luôn mang những hình thức ngẫu nhiên mà không phải bao giờ cũng tất yếu. Cho nên mọi tham vọng của con người muốn xây dựng một xã hội hoàn chỉnh đã xảy ra trong quá khứ đều chỉ là sự ngụy tín hay ấu trí. Nhưng rồi lịch sử cũng đã kinh qua, và cả thế giới cũng đã thay đổi. Ngày nay chính sự hội nhập trên toàn hành tinh là một sự đồng thuận lớn nhất cũng như thực tế nhất. Và trong sự đồng thuận bao trùm đó, sự đồng thuận trong mỗi nước cũng chỉ cần thiết theo hướng đó một cách tự nhiên.

Bởi vậy, ngày nay sự đồng thuận xã hội chỉ có thể là sự đồng thuận trên nền tảng thực tế và khoa học, mà không còn con đường đồng thuận nào khác. Sự đồng thuận nhất thiết cũng phải luôn là sự đồng thuận hai chiều, nhưng không thể chỉ là một chiều. Đồng thuận chỉ có thể cả hai phía cùng cảm thông, thống nhất ý kiến chung, mục tiêu chung, mà không thể chỉ bên nào phải đông thuận với bên nào. Nói khác đi, cơ sở của sự đồng thuận chỉ có thể là tính cách tự do, dân chủ, tự giác, có ý thức, mà không thể bằng các cách nào khác. Bởi vì, trong ý nghĩa xã hội, sự phân chia làm ba thành phần thì lúc nào và ở đâu cũng có. Thành phần số ít, tinh hoa, tích cực. Thành phần số đông cầu an, thụ động, không màu sắc đặc biệt, thiên về bản thân. Thành phần số ít tiêu cực, mang tính đi ngược lại quyền lợi chung hay những lợi ích bình thường nhất trong xã hội. Nói khác đi, ý nghĩa của mỗi cá nhân đều không đi ra khỏi mọi dấu ấn của cá tính, hoàn cảnh đời sống, điều kiện giáo dục, năng lực nhận thức, tham vọng riêng tư, cũng như truyền thống của gia đình hay các ảnh hưởng của thành phần xã hội.

Nói như vậy, cũng có nghĩa tính cách của sự đồng thuận, trong thực tế không phải là sự đồng thuận nói chung, trừu tượng, mà chính là sự đồng thuận trong thực tế, người nào đồng thuận với người nào, thành phần nào đồng thuận với ai, và tất cả mọi người cùng đồng thuận với nhau vì những mục đích nào hay vì những tính cách gì. Nói cụ thể hơn, mọi sự đồng thuận xã hội luôn biểu hiện ra theo từng ý nghĩa của các thành phần, các tầng lớp riêng của xã hội. Mà nói tổng quát, vẫn là sự đồng thuận hay không đồng thuận về các ý nghĩa, các vấn đề quan trọng nào đó trong đời sống xã hội giữa mọi tầng lớp dân chúng, hay đa phần trong các tầng lớp đó, với những người làm chính sách, những người quản lý, những người lãnh đạo hay điều hành xã hội. Có nghĩa, sự đồng thuận hay không đồng thuận có thể về mục đích chung, các chiến lược riêng, cũng các tính cách hay phương thức biểu hiện, điều hành cụ thể, thực tế nào đó.

Tất nhiên, cái chung bao giờ cũng là những cái lớn, mọi người đều dễ dàng đồng thuận nhau. Như ích lợi chung của sự phát triển xã hội, phát triển đất nước chẳng hạn. Song các ý nghĩa riêng không phải là không quan trọng. Chẳng hạn các chiến lược phát triển, các cách biểu hiện trong điều hành thực tế của đời sống xã hội. Đây là tính cách của phương pháp luận khoa học hay chỉ là tính cách của cảm tính, của vết mòn, của sự bảo thủ hoặc chuyên đoán, điều đó có thể có sự đồng thuận ở tầng lớp này nhưng lại khó có sự đồng thuận ở các tầng lớp khác. Bởi vậy, nói cho cùng, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc thật sự luôn luôn cần thiết, chính đáng, như phải có giải pháp thật sự, có chương trình, kế hoạch cụ thể, hợp lý, hiệu quả, được đề ra thực tế, mà không thể chỉ là hình thức hay khẩu khẩu hiệu, chỉ có tính chất hoàn toàn trên giấy hoặc có tính lý thuyết.

Như bài viết này chẳng hạn, cho dù chỉ nhằm bàn phiếm chơi, cũng cho thấy có một sự đồng thuận nào đó, tức là không có sự phản đối về ý nghĩa và mục đích chung. Nhưng thật sự đây chỉ là một dạng đồng thuận trong vô số dạng đồng thuận hay không đồng thuận khác nhau mà mọi người đều có thể có. Có nghĩa đồng thuận thật sự chỉ là một ý nghĩa, một thái độ, hay một tinh thần nào đó. Và chính từ ý nghĩa và thái độ đó, người ta mới có thể đi đến được sự đồng thuận trong hành động. Ý nghĩa và thái độ, đó là sự biểu hiện đầu tiên trong mỗi con người. Cho nên đám đông thầm lặng, không biểu hiện điều gì, đó chưa hẳn là sự đồng thuận hoặc là sự đồng thuận đáng mong muốn. Nói cách khác, sự đồng thuận có thể tự giác hay không tự giác, và một sự đồng thuận không tự giác, tức sự đồng thuận theo cách bó buộc hoặc tiêu cực, thật sự lại không phải là sự đồng thuận theo đúng nghĩa của nó. Nên nói cho cùng, sự đồng thuận của mỗi người hay không vẫn còn là sự đánh giá, sự đánh giá khách quan hoặc chủ quan của mỗi con người khác, hay của những bộ phận xã hội nào đó. Nên nói cho cùng, mọi sự đồng thuận mang ý nghĩa và giá trị nhất vẫn là một tiềm năng đồng thời là một sự biểu hiện cụ thể nhất định trên cơ sở mục tiêu hay phương thức thực hành một ý nghĩa nào đó. Chính sự đồng thuận thực chất, bình đẳng, dân chủ, trí thức, khoa học, cũng như cùng hướng về chính lợi ích và tương lai chung của xã hội, đất nước, mới thật sự là sự đồng thuận quan trọng và đáng nói nhất.

 

VÕ HƯNG THANH

(Sg, 18/11/2010)

 

  **

PHẦN DANH MỤC CÁC BÀI VIẾT NGẮN,

CHỚP NHOÁNG (II) – (17)

 

CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN (23/01/2011)

BẢN CHẤT CỦA XÃ HỘI DÂN CHỦ VÀ NỀN CHUYÊN CHÍNH

                                                          ĐỘC TÀI (22/01/2011)

BẢN CHẤT SÂU XA CỦA CHỦ NGHĨA QUỐC TẾ VÔ SẢN

                                                     (18/01/2011) 

ĐIỀU CỐT LÕI CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN (16/01/2011)

NHÌN LẠI QUÁ TRÌNH LỊCH SỬ TỪ MỘT XÃ HỘI NÔNG DÂN 

                              (02/01/2011)

SỰ HÈN YẾU NƠI CON NGƯỜI  (07/12/2010)

SỰ COI TRỌNG BẰNG CẤP, HỮU DANH VÔ THỰC (15/11/10)

VÀI SUY NGHĨ NHỎ QUA BA BÀI BÁO (12/11/10)

THỬ PHÂN TÍCH BÀI VIẾT CỦA ÔNG LỮ PHƯƠNG (01/11/2010)

 NÓI VỀ SỰ ĐỒNG THUẬN TRONG XÃ HỘI (18/11/2010)

 

**

 

No comments:

Post a Comment