NHỮNG
BÀI PHÓNG BÚT NGẮN, CHỚP NHOÁNG (TẬP II) - (17)
**
CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN
Đây không phải là vấn đề lập
thuyết mà là ý nghĩa của sự phát huy và chia sẻ. Lập thuyết có nghĩa là đưa ra
một lý thuyết mới. Sự chơi trội như vậy dù hoàn toàn vô tư hay thiện chí, thật
sự cũng chỉ thừa, bởi vì mọi hiểu biết và ý hướng trên thế gian này quả đã có rất
nhiều rồi. Chủ nghĩa nhân văn thật sự không phải ý hướng gì mới, không phải mục
tiêu, lý tưởng hay ý nghĩa gì mới, đây chỉ là vấn đề đào sâu, đúc kết, hay phát
huy thêm tất cả mọi suy nghĩ đã có của lịch sử con người. Không ai là tác giả
đích thực của lý thuyết này. Đây chỉ là sự cảm hứng mà mọi người đều có thể có,
có thể hài lòng, đồng ý, tức có thể cùng nhau chia sẻ và cùng nhau phát huy lên
được.
Mọi sự bổ sung, mọi sự tham
dự, mọi sự đào sâu, suy nghĩa thêm, mọi sự quãng diễn và phát triển ra tất
nhiên đều luôn luôn cần thiết và tất cả mọi người, bất cứ ai, bất cứ ở đâu, bất
cứ trong tính chất và ý nghĩa như thế nào đều có thể tham gia thực hiện, chia sớt,
và cùng góp phần thêm vào đó được.
Vậy chủ nghĩa nhân văn là gì
? Đúng ra nó cũng không phải là “chủ nghĩa” theo các cách hiểu thông thường. Thực
sự đây chỉ là một quan điểm sống, một quan niệm thực hành trong đời sống, đúng
hơn đây chỉ là ý hướng mà bất kỳ ai đều có thể chấp nhận như quan điểm của
chính mình, chia sẽ cùng mọi người, hay trở thành một quan điểm hoàn toàn gần
gũi của xã hội nói chung.
Ý nghĩa nhân văn thật sự chỉ
là ý nghĩa văn hóa, tinh thần mà không là gì khác. Nhân văn có nghĩa là nhân bản,
lấy con người làm nền tảng, lấy xã hội làm nền tảng, nhưng không phải chỉ hoàn
toàn đơn sơ hay giản ước như vậy. Con người đương nhiên là nền tảng, xã hội
đương nhiên là cơ sở, nhưng điều đó không phải chỉ dừng lại ở cái ban đầu. Chủ
nghĩa nhân bản (humanism) từ lâu vốn đã có rồi. Ý nghĩa này hoàn toàn đúng đắn
và cần thiết. Nó nói lên cơ sở của con người, căn bản của xã hội, nhưng đó vẫn
còn chưa phải là ý nghĩa của chủ nghĩa nhân văn. Nói rộng ra, ngay kể cả chủ
nghĩa nhân đạo cũng thế. Nó vốn từ lâu cũng đã có rồi, đó là giá trị cũng như ý
nghĩa đúng đắn của tất cả mọi hoạt động trong đời sống của con người, nhưng nó
vẫn còn dừng lại ở quan niệm đạo đức, cho đầu giá trị và yêu cầu đạo đức, phẩm
hạnh vẫn là yêu cầu mang ý nghĩa cần thiết hàng đầu của tất cả mỗi cá nhân con
người hay của toàn xã hội. Nhân đạo là lòng yêu thương và tinh thần giúp đỡ mọi
người.
Ý nghĩa của chủ nghĩa hay
quan điểm nhân văn lại có một phần nào đó khác hơn. Nhân văn là tính chất tinh
thần, văn minh, văn hóa mà tất cả mọi người đều cần vun trồng, bảo tồn và phát
triển. Nó là căn bản, là mục tiêu trước hết của mỗi cá nhân, và như thế nó cũng
đồng thời là mục tiêu, ý nghĩa và giá trị của mọi người, hay của toàn xã hội.
Nhân nói nôm na là con người.
Văn nói nôm na là văn hóa. Con người có nền tảng hay cơ sở từ tự nhiên. Nhưng
văn hóa chính là ý nghĩa phát triển về tinh thần, về giá trị, về kết quả phát
triển của chiều cao trong ý thức, cùng những thành tựu thực tế, cụ thể qua lịch
sử của thời gian, qua không gian đặc thù của xã hội, đó chính là tính cách hay
ý nghĩa của văn hóa.
Con người có tồn tại thể lý
là thiên nhiên, không thể tách ly mọi nền tảng của tự nhiên. Nhưng thực tế, ý
nghĩa của con người vẫn phải luôn là tinh thần và ý thức. Đó chính là thành tựu
của lịch sử và xã hội. Và đó cũng trở thành tài sản, giá trị, hay ý nghĩa chung
nhất của toàn thể nền tảng xã hội. Thế thì, con người trong xã hội và lịch sử
không phải thuần túy là con người của tự nhiên nữa, mà con người của nhân văn,
tức con người của chính nền văn minh và văn hóa.
Văn minh, văn hóa chính là ý
nghĩa và mục đích của giá trị tinh thần. Chính đây cũng là cơ sở, mục tiêu, ý
nghĩa, giá trị của khái niệm nhân văn nói chung. Cho nên nhân văn cũng có nghĩa
bao hàm mọi thành tựu của các nền văn hóa, không loại trừ mọi sự dị biệt mà bao
hàm chung như là kết quả của toàn bộ trong đó. Có nghĩa đây là sự hòa hợp theo
thời gian, không gian, cũng như chứa đựng và bao hàm toàn thể mọi mục đích.
Trong ý nghĩa đó, nhân văn cũng không phân biệt chủng tộc, giới tính, nguồn gốc,
hoàn cảnh hay điều kiện xã hội của mọi người khắp nơi, tức không hề có ý niệm
phân biệt về tính chất lẫn ý nghĩa của mọi không gian và thời gian.
Ý nghĩa nhân văn như vậy có
nghĩa là do mọi người cùng làm ra và hướng đến phục vụ hay cũng nhằm đáp ứng hết
cho tất cả mọi người. Ý nghĩa của nhân văn như vậy không còn chỉ khu biệt trong
phương diện cá nhân, phương diện cục bộ, phương diện địa phương, mà hướng đến
toàn bộ cả cộng đồng nhân loại.
Nhưng đây là quan điểm thực
tế, không phải chỉ là ý nghĩa lý thuyết hoặc tính cách trừu tượng, mơ hồ. Nó là
ý nghĩa đời sống thực tế của mỗi nước và trên toàn thế giới, không phải nhân loại
kiểu chung chung, huyền hoặc. Bởi đơn vị xã hội và lịch sử chính là đơn vị mỗi
cá nhân con người. Đó là những con người hoàn toàn cụ thể, thực tế trong đời sống
cụ thể, có các cá tính, hoàn cảnh, điều kiện hay tính chất riêng, không thể xóa
nhòa ranh giới, cũng không thể luôn luôn hoặc nhất thiết tách biệt hoàn toàn.
Ý nghĩa của con người như vậy
chính là ý nghĩa của những cộng đồng cụ thể. Toàn thế giới nhân loại chính là tập
hợp của tất cả mọi cộng đồng cụ thể. Tính cách của xã hội nhân văn là hướng đến
bất kỳ ai, không bỏ sót bất kỳ ai bất cứ khi nào hoàn cảnh tự nhiên, khách quan
hoàn toàn cho phép. Chủ nghĩa nhân văn cũng chính là chủ nghĩa thực tế, mang ý
nghĩa kinh tế, tinh thần và văn hóa, không phải chỉ nói suông hay hoàn toàn lý
thuyết.
Tính cách nhân văn là ý
nghĩa giá trị cũng như ý hướng tốt đẹp của con người. Hiểu thấp về giá trị hay
triệt tiêu về ý hướng cao đẹp cũng không còn mang ý nghĩa của tính cách nhân
văn. Chính nhờ giá trị mà con người biết hướng đến nhau làm ích cho nhau. Chính
nhờ ý nghĩa nhân văn mà giá trị và ý hướng này có chiều sâu, có tính cách thiết
thực và có kết quả tốt đẹp.
Con người sinh ra đời là để
sống, sống cho bản thân mình và cũng là sống cho toàn xã hội, không thể đặt cái
nào cao hay thấp hơn cái nào, bởi vì cả hai cũng đều có giá trị, có ý nghĩa bổ
sung, cần thiết cho nhau, nên ý nghĩa nhân văn hoàn toàn là ý nghĩa bao quát
cũng như hoàn toàn thực tế nhất.
Nhu cầu đời sống cho mình và
cho người khác hay cho tất cả mọi người, đó là ý nghĩa hoàn thiện của tính chất
hay nền tảng của chủ nghĩa nhân văn. Con người không thể sống không có kinh tế,
xã hội, ý nghĩa văn minh, văn hóa và ý thức, tinh thần, đó chính là quan điểm
chủ đạo về yêu cầu của xã hội nhân văn. Phát triển kinh tế là phát triển của
khoa học kỹ thuật, của tạo tác, của sáng tạo, của tạo nên vật chất và sản phẩm,
nói chung đó là tính chất, yêu cầu, mục đích hay ý nghĩa của đời sống kinh tế.
Nhưng tính chất của con người không phải chỉ dừng lại ở vật chất, mà nhất thiết
phải vươn lên sự phát triển của văn hóa, tinh thần, ý thức, đó chính là giá trị,
ý nghĩa và mục tiêu sau cùng yêu cầu và tính cách nhân văn như đã nói.
Như thế, chủ nghĩa nhân văn
lấy kinh tế làm cơ bản, nền tảng, thừa nhận quyền tư hữu như là yêu cầu cần thiết,
chính đáng của tất cả mọi người. Kinh tế là nền tảng, nhưng văn hóa, tinh thần
mới là ý nghĩa, giá trị sâu xa, nếu không muốn nói thật sự là đích điểm. Trong
tính cách đó, chủ nghĩa nhân văn cũng loại bỏ đấu tranh giai cấp mà chủ trương
hòa hợp giai cấp. Bởi vì, thật ra giai cấp kinh tế hay xã hội chỉ thực chất là
bề ngoài, có thể luôn luôn thay đổi đối với mọi cá nhân, nên tính cách của nó
chỉ là tương đối. Tất nhiên sự hòa hợp giai cấp không có nghĩa là bảo vệ giai cấp,
đặt nặng giai cấp, mà chỉ thấy nơi đó cơ bản vẫn luôn luôn chỉ là những cá nhân
con người. Nói khác đi hòa hợp giai cấp chỉ là sự hòa hợp giữa những con người
với nhau, ý nghĩa chủ động và chủ thể vẫn luôn là những cá nhân con người mà
không phải địa vị con người theo các giai cấp hay giai tầng xã hội. Có nghĩa chủ
nghĩa nhân văn đặt ý nghĩa cá nhân con người làm trung tâm mà không phải chỉ
nhìn duy nhất vào tính chất hay ý nghĩa của xã hội. Bởi cá nhân đích thật mới
là đơn vị của xã hội, làm nên xã hội, mà hoàn toàn không phải chỉ có điều ngược
lại. Trong tính cách đó, chủ nghĩa nhân văn cũng chính là chủ nghĩa hòa hợp xã
hội, mà không phải chỉ nhằm phi cá nhân hóa trong xã hội. Chỉ nghĩa cá nhân
theo tính ích kỷ, dĩ nhiên phải bị lên án, bị loại trừ. Nhưng mọi giá trị cá
nhân riêng biệt, chính đáng trái lại luôn luôn là điều gì thiêng liêng, chính
đáng nhất, phải tất yếu cần thiết được bảo vệ.
Phát huy mọi giá trị tốt đẹp
nơi cá nhân, đó chính là một trong những ý nghĩa căn cơ nhất của chủ nghĩa nhân
văn. Đỉnh cao nhất nơi mọi cá nhân chính là các tài năng riêng nơi mỗi cá nhân.
Bởi tài năng của cá nhân không phải chỉ là lợi ích chính đáng của mỗi cá nhân
mà cũng là tài sản, ý nghĩa, lợi ích và giá trị chung của tất cả mọi người hay
của toàn xã hội. Đương nhiên, tài năng, nhất là tài năng đặc biệt nổi trội nơi
mỗi con người vẫn hoàn toàn ngẫu nhiên. Lý do dù các nguyên nhân, thành tựu của
tài năng là như thế nào, chính các tài năng đó rơi vào mỗi cá nhân nào đều không
hoàn toàn tính trước được, nên đó cũng chỉ coi được như sự ngẫu nhiên. Niềm
hãnh diện và ích lợi của tài năng chính là của chung toàn thể xã hội mà không
phải chỉ là của riêng nơi bất kỳ cá nhân nào. Phát huy, nuôi dưỡng, vận dụng
tài năng nơi tất cả mọi cá nhân đó cũng chính là ưu tiên hàng đầu hay thiết yếu
của chủ nghĩa nhân văn như đã nói.
Thế nhưng không thể lẫn lộn
chủ nghĩa nhân văn và chủ nghĩa xã hội thông thường như người ta vẫn hiểu. Bởi
chủ nghĩa xã hội phần lớn chỉ đặt nặng xã hội là chính, coi xã hội là mục tiêu
thứ nhất hay thậm chí là duy nhất, trong khi ngược lại chủ nghĩa nhân văn luôn
nhấn mạnh đến ý nghĩa chính đáng của cá nhân con người, coi đó là mục đích tiên
quyết, còn xem xã hội là nền tảng cần thiết không bao giờ có thể coi nhẹ. Chủ
nghĩa xã hội như vậy chỉ có thể lồng chứa trong chủ nghĩa nhân văn mà nhất thiết
không hề ngược lại.
Sự hòa hợp giai cấp, sự nhấn
mạnh kinh tế, do vậy khiến chủ nghĩa nhân văn cũng là chủ nghĩa hòa hợp xã hội,
cũng là chủ nghĩa phát huy và khuếch trương kinh tế. Có nghĩa vẫn chỉ coi kinh
tế là phương tiện, là công cụ, là nền tảng tối ư của xã hội, mà không bao giờ
chỉ coi đó mới là mục đích tối hậu. Chủ nghĩa nhân văn như vậy cũng rõ ràng là
chủ nghĩa về con người, về ý nghĩa và giá trị nhân văn, tinh thần, mà không phải
chỉ là chủ nghĩa về vật chất hay thuần túy duy vật.
Trong tính cách ấy chủ nghĩa
nhân văn gắn liền với ý nghĩa xã hội nhưng không bao giờ để xã hội nuốt chửng
cá nhân hay ngược lại. Có nghĩa chủ nghĩa nhân văn cũng chủ trương sự độc lập,
tự do, dân chủ thật của tất cả mọi người trong xã hội. Như thế mọi sự phân công
trong xã hội đều luôn luôn hoàn toàn tự nhiên, cần thiết, tùy hoàn cảnh xã hội,
tùy tài năng và ý muốn cá nhân mà hoàn toàn không chịu bất cứ những sự khiên cưỡng
giả tạo nào của toàn xã hội. Sự phân công đó hoàn toàn bị chi phối bởi ý nghĩa,
hoàn cảnh khách quan, bởi tài năng và sở thích riêng của mỗi cá nhân, đó chính
là tính cách kinh tế và văn hóa mọi mặt mà chủ nghĩa nhân văn luôn luôn đề cao,
bảo vệ hay quan tâm đến.
Từ đó chủ nghĩa nhân văn
cũng rất quan tâm đến ý nghĩa của vấn đề tiền tệ. Tiền tệ cho dầu luôn luôn là
huyết mạch đời sống của cá nhân và xã hội, nhưng thật sự tiền tệ bao giờ cũng
chỉ là phương tiện mà không hề là mục đích. Tiền tệ chính là công cụ hiệu quả
và đắc lực nhất về mọi mặt cho mỗi cá nhân cũng như xã hội. Cho nên vận dụng một
chính sách tiền tệ, một kỹ thuật tiền tệ như thế nào đó là hiệu quả, thuận lợi,
hợp lý nhất cho mỗi cá nhân và xã hội đó chính là yêu cầu khoa học và kỹ thuật
trong đời sống mà chủ nghĩa nhân văn luôn luôn nhấn mạnh và để tâm tới.
Nói như vậy cũng để thấy rằng
chủ nghĩa nhân văn luôn luôn hướng đến lợi ích của khoa học kỹ thuật, song vẫn
không sa lầy vào chính bản thân máy móc, vô tình của ý nghĩa khoa học và kỹ thuật.
Có nghĩa đây không phải là quan điểm thuần túy duy khoa học hay duy kỹ thuật mà
chính là quan điểm, mục đích, ý nghĩa nhân văn vẫn hoàn toàn tối hậu. Khoa học
kỹ thuật là công cụ đắc lực phục vụ nhân văn, phục vụ xã hội, nhưng nó không phải
là cựu cánh tự nhiên hay duy nhất.
Điều này cũng có nghĩa chủ
nghĩa nhân văn luôn luôn rất đề cao tất cả mọi nghiên cứu khoa học, tự nhiên,
nhân văn cũng như xã hội. Bởi ý nghĩa của khoa học là phát triển vô hạn về chiều
sâu cũng như chiều rộng, đó chính là mục tiêu ưu tiên hang đầu mà chính chủ
nghĩa nhân văn luôn quan tâm nhất. Vì con người phát triển về tinh thần không
phải chỉ có nghĩa phát triển về đời sống, mà nhất thiết còn là phát triển trong
nghiên cứu, áp dụng, thực hiện khoa học, nghệ thuật, hay mọi giá trị liên quan khác
nói chung.
Chính vì thế mà chủ nghĩa
nhân văn cũng là chủ nghĩa hoàn toàn thực tế. Có nghĩa chủ nghĩa nhân văn chỉ
đóng khung chính yếu trong đời sống thực tiển hay hiện thực của cá nhân và xã hội
mà không vượt quá hay đi ra ngoài phạm vi này một cách hoàn toàn không cần thiết.
Có nghĩa chủ nghĩa nhân văn chỉ nhấn mạnh về ý nghĩa văn minh, văn hóa, ý nghĩa
của đời sống tinh thần, ý thức của cá nhân và xã hội ngay trong cuộc sống mà
không là gì khác. Tức chủ nghĩa nhân văn không đi quá xa về các lãnh vực siêu
hình, tôn giáo, triết học, hoặc các lý thuyết khoa học cơ bản khác nhau. Tất cả
mọi điều đó được dành riêng cho các lãnh vực chuyên môn, các quyền hạn đặc thù,
có thể dùng để tham khảo, hiểu biết, nhưng hoàn toàn không thể lấn lướt hay tuyệt
đối thay thế, ảnh hưởng quyết định được tới các phạm vi, phạm trù chính yếu của
thực tại xã hội và đời sống hiện thực.
Sự tách rời cái thực tại và
cái phi thực tại của cuộc đời, sự tách rời mọi nguyên lý trừu tượng và các nhu
cầu khách quan hoàn toàn cụ thể và hiện thực, đó cũng là một nét chủ yếu của
chính chủ nghĩa nhân văn. Chủ nghĩa nhân văn có ý nghĩa xã hội nhưng không hoàn
toàn là chủ nghĩa xã hội theo tính chất phổ dụng hoặc ý nghĩa tầm thường nào.
Chủ nghĩa nhân văn bao hàm tất cả nhưng vượt lên tất cả. Chủ nghĩa nhân văn
không phủ nhận vật chất, nhưng coi vật chất luôn luôn chỉ là yếu tố cần thiết
những không bao giờ là yếu tố tối hậu hay tiên quyết. Cho nên chủ nghĩa nhân
văn hoàn toàn không mâu thuẫn với khoa học hay tôn giáo, trái lại chỉ luôn luôn
là sự phân công cũng như trong yêu cầu cần thiết bổ sung và hòa hợp.
Cũng chính trong ý nghĩa đó
mà chủ nghĩa nhân văn phủ nhận đấu tranh giai cấp, loại bỏ đấu tranh giai cấp nếu
có, nhưng chủ trương sự hòa hợp, hòa điệu của tất cả mọi cá nhân con người. Điều
này hoàn toàn không phải ảo tưởng hay phi lý, bởi chủ nghĩa nhân văn đề cáo ý
thức, sự nhận thức, trình độ hiểu biết của chính cá nhân con người cũng như
toàn xã hội. Bởi nói cho cùng, cái quyết định tối hậu nơi con người chính là ý
thức, là sự hiểu biết mà không là gì khác. Con người xuất phát từ tự nhiên,
nhưng giá trị và ý nghĩa con người là do giáo dục, do phát triển của văn minh
văn hóa, do sự chủ động về ý thức, tinh thần, lại chính là điều quyết định và
quan trọng hơn hết.
Trên cơ sở như thế, chủ nghĩa
nhân văn chủ trương hướng thiện, chủ trương thăng tiến, chủ trương sự giải
phóng và sự tự do hóa chính đáng mỗi cá nhân con người. Con người không thể bị
đồng loại của mình khống chế hay o ép bất kỳ về phương diện nào, tinh thần, đời
sống, vật chất cũng như ý thức. Con người không khống chế sai trái lẫn nhau mà
chỉ có thể cạnh tranh một cách đúng đắn, khách quan, tự nhiên và hữu lý. Chính
sự hỗ trợ, hòa hợp, bổ sung cho nhau, là ý nghĩa chính yếu, cần thiết cũng như
chính đáng nhất trong tương quan xã hội mà chủ nghĩa nhân văn hướng đến. Sự cạnh
tranh chính đáng, hợp pháp luôn luôn là điều cần thiết. Bởi vậy quan điểm của
chủ nghĩa nhân văn cũng chính là quan điểm kinh tế thị trường, kinh tế tự do,
nhưng chủ trương đề cao và vận dụng pháp luật một cách luôn luôn khoa học, cần
thiết và chính đáng. Bởi thị trường, luật pháp chính là hai yếu tố hay hai phạm
trù hoàn toàn tự nhiên, khách quan, cần thiết, chính đáng, không thể bất ý loại
bỏ của chính bản thân xã hội con người. Sự phi bạo lực, hòa dịu, hòa hợp, ý thức
đạo đức và trách nhiệm lẫn nhau giữa người và người, tất cũng phải nằm trong ý
hướng, chủ trương của chủ nghĩa nhân văn đúng nghĩa. Không khuynh loát một cách
sai trái, không khống chế một cách ích kỷ, không thù hận tầm thường lẫn nhau,
đó cũng là ý nghĩa của ý thức, tinh thần phải có.
Bởi bạo lực chỉ cần thiết
khi thiểu số chống lại đa số, nhưng khi ý hướng tốt đã trở thành đa số, hay của
toàn thể mọi người, tất nhiên mọi ý nghĩa bạo lực cũng không cần đặt ra bởi vì
nó đã hoàn toàn bị hóa giải. Cũng trong ý nghĩa đó, quan điểm nhân văn vừa là
quan điểm nhân loại vừa là quan điểm dân tộc, cũng vừa là quan điểm quyền tự chủ
chính đáng của mỗi cá nhân con người. Cả ba phạm vi này là bất tương xâm, chỉ
có thể lồng vào nhau, hòa hợp, phát triển cùng nhau nhưng không thể xâm hại hay
trái ngược lẫn nhau. Mọi cá nhân đều có quyền tự vệ, mọi dân tộc đều có quyền tự
vệ. Đó chính là quan điểm sống thực tế, cần thiết và chính đáng nhất. Không chủ
động tấn công nhưng luôn luôn có quyền chủ động tự bảo vệ mình chính đáng, đó
là nguyên lý hoàn toàn cụ thể, thực tế, khách quan, cần thiết và cũng hoàn toàn
hiện thực mà quan điểm nhân văn nhấn mạnh và đề cao trong mọi tình huống. Quyền
tự vệ chính đáng luôn luôn là quyền tự nhiên, cần thiết của mọi con người. Chủ
nghĩa nhân văn có tinh thần, ý thức từ bi của Phật giáo, có tinh thần, ý thức
bác ái của Thiên chúa giáo, vốn đã có từ nhiều ngàn năm qua, có tinh thần, ý thức
nhân văn thực tế của toàn lịch sử nhân loại, điều này không có gì mới mà chỉ là
ý nghĩa kế thừa, phát huy và bảo lưu cần thiết trong tất cả mọi ý nghĩa cao cả
nhất của đời sống cá nhân và xã hội con người.
Cũng trong ý nghĩa như thế,
quan điểm nhân văn chủ trương một ý nghĩa chính trị tự do, nghĩa là chính trị
được xã hội hóa một cách cần thiết, tự nhiên, không hề giả tạo, cũng không hề o
ép, phiến diện, khiên cưỡng, biệt phái hay nói tóm là mọi tính hạn hẹp, đặc
thù. Xã hội hóa chính trị đó cũng là ý nghĩa cần thiết và chính đáng của tất cả
mọi quyền tự do dân chủ thực tế, tự nhiên và đúng nghĩa nhất. Cá nhân, dân tộc,
nhân loại hay quốc tế hòa hợp, đó chính là ý nghĩa chính trị bao quát và rộng lớn
nhất. Không thể có yếu tố nào hi sinh, lép vế cho yếu tố nào, những tất cả cùng
được tôn trọng, phát triển, hòa hợp và nếu cần đi đến thống nhất như nhau. Đây
là quan điểm toàn diện mà không hề phiến diện, quan điểm thực tế mà không hề là
ảo tưởng hay ảo ảnh. Bởi vì nó không đặt nặng cái nào mà xem nhẹ cái nào. Bởi tất
cả đều chính đáng, cần thiết, cần được bảo vệ mà không thể loại trừ hay hủy diệt
lẫn nhau.
Quan niệm thực tế như thế
chính là quan điểm khoa học. Có nghĩa chỉ có thể dùng khoa học, tức tri thức
đúng đắn, hữu lý; dùng kỹ thuật, tức các giải pháp khôn ngoan, cần thiết; dùng
ý thức, tinh thần, ý nghĩa, giá trị nhân văn để giải quyết mọi mối quan hệ hòa
hợp về mọi mặt trong chính đời sống xã hội con người. Sự phát triển của nó là sự
phát triển của tri thức, của trí thông minh, của lịch sử xã hội thực tế, hoàn
toàn hiện thực mà không hề mang tính cách một chút viễn mơ hay ảo tưởng phi thực
tế nào. Quan điểm hiện thực như vậy cũng chính là quan điểm khoa học, hợp lý tự
nhiên mà không hề ngụy biện, ngụy tín, phi thực tế hay chỉ là hư ảo. Có nghĩa
quan điểm nhân văn vẫn luôn luôn là ý nghĩa khoa học, tinh thần, của ý thức văn
minh và văn hóa. Chủ nghĩa nhân văn cũng chính là chủ nghĩa văn hóa, tức luôn
luôn hết sức đề cao văn hóa trong mọi ý nghĩa và tương quan hiện thực tự nhiên
trong mọi khía cạnh, lãnh vực của đời sống con người.
Nên chủ nghĩa nhân văn có thể
có chứa đựng trong lòng nó những thành phần cần thiết, chính đáng của các chủ
nghĩa chân chính nào đó có trước nó, nhưng không phải chỉ là những chủ nghĩa
đó. Nó chủ trương thoát ra hay vươn lên trên tất cả mọi cái cá biệt, cục bộ, đặc
thù để trở thành phổ biến nhất. Nó giữ lại các giá trị và ý nghĩa thông minh của
những quan điểm hay chủ nghĩa khác nhưng nhất thiết không sa lầy hay đắm đuối
trong bất kỳ những yếu tố thô thiển hay thật sự bất hợp lý nào. Nói cho cùng, từ
bản thân nó thật sự cũng không hề là một thứ chủ nghĩa theo ý nghĩa dung tục và
thông thường nhất của các ý hướng chủ nghĩa mà lịch sử nhân loại đã từng biết.
Nói đúng hơn, đây chỉ là một thứ quan điểm hay một thứ quan niệm. Trong ý nghĩa
đó nó cũng chủ trương hội nhập nhân loại, hội nhập lịch sử, hội nhập toàn cầu,
và giải thể tất cả mọi thứ chủ nghĩa, mọi thứ ý thức hệ giả tạo nào mà nhân loại
đã trải qua hay hiện thời còn có. Cho nên, thực sự nó cũng không phải là tác phẩm,
công trình, hay ý hướng chủ quan, riêng biệt của bất cứ cá nhân nào. Cũng không
phải nó là sản phẩm tham khảo, kết tinh, đúc kết, tổng hợp, sao chép, hay thậm
chí thay thế cho tất cả mọi thành quả nào đã có.
Sự chấp bút ở đây chỉ là sự
chấp bút ngẫu nhiên, tùy hứng của một con người, và điều đó cũng hoàn toàn
không quan trọng. Bởi quan trọng nhất, nó có thể cũng chính là ý tưởng của tất
cả mọi người, tuy chưa từng nói ra, chưa từng viết ra, nhưng hoàn toàn có trong
tư duy, hay trong tâm thức vẫn luôn luôn đã có, không ngoại trừ bất cứ ai, bất
cứ ở đâu và bất cứ thời nào. Cho nên nó có thể cứ coi là sản phẩm của chung, sản
phẩm vô danh, vô tác giả, bởi vì bất kỳ ai cũng có thể là tác giả của nó, có thể
chia sẻ, tâm đắc, đồng quan điểm, bảo lưu, phát huy, bổ sung, phát triển, và kể
cả góp phần hiện thực hóa cho chính nó. Một nội dung, một ý hướng bao quát như
vậy mà chỉ được chấp bút trong một khoảnh khắc ngắn và chứa đựng trong vài bat
rang thì quả thật hoàn toàn còn phiến diện, thiếu sót, hay còn chưa đủ. Cho nên
sự phát triển tự thân nó sau này biết đâu cũng có thể là một điều thiết yếu. Bởi
vì nếu nó có thể được cả bao nhiêu người viết thêm theo ý mình, như là sự đóng
góp của riêng mình, viết thành hàng nhiều trăm trang phát triển và đào sâu hơn
nữa về sau này, đó cũng là tính cách của ý hướng cộng đồng, xã hội hay tập thể
nói chung. Bởi rõ ràng một sự đặt tên cho nó, một tên gọi chính thức, đúng
nghĩa của nó, là quan điểm hay chủ nghĩa nhân văn, một thứ chủ nghĩa hay quan
điểm văn hóa (culturalism) hay một thứ quan điểm hoặc chủ nghĩa về văn minh của
đời sống con người (civilisationism) vẫn chưa hề tìm thấy có trong từ điển.
VÕ HƯNG THANH
(23/01/2011)
**
BẢN CHẤT CỦA XÃ HỘI DÂN CHỦ
VÀ NỀN CHUYÊN CHÍNH ĐỘC TÀI
Mọi cá nhân sinh ra đều bình
đẳng, tự do. Nhận định đó tưởng chừng đơn giản, dễ hiểu, nhưng thật ra đó là một
ý tưởng hết sức sâu xa, phong phú, hiển nhiên và cùng cần thiết vô cùng, bởi đó
thật sự luôn luôn là một chân lý khách quan mà không phải ai ai cũng để ý đến.
Mỗi người sinh ra đều bình đẳng,
bởi vì ai cũng chỉ do cha mẹ mình sinh ra, không phải sinh ra do bất kỳ người
nào khác, do vậy sự ngang hàng, bình đẳng là sự tự nhiên, và đó cũng chính là
điều cơ bản hay nền tảng quyền tự do của tất cả mọi người.
Song nói cho cùng, tuy bình
đẳng, tự do, nhưng thật sự không phải ai ai cũng như nhau, muốn làm gì thì làm,
bởi vì cá tính mỗi người khác nhau, điều kiện mỗi người khác nhau, hoàn cảnh, mục
đích mỗi người khác nhau, cho nên sự điều hòa và mọi trật tự cần thiết trong đời
sống xã hội tất yếu vẫn là điều không thể nào tránh được.
Thế nhưng, điều gì là quyết
định nhất cho mỗi cá nhân cũng như cho toàn thể xã hội ? Rất nhiều người cho rằng
đó là nền tảng vật chất và kinh tế. Nói như thế hoàn toàn đúng, như mới chỉ là
điều kiện ban đầu. Ý nghĩa cuối cùng vẫn chính là trình độ nhận thức, khả năng
hiểu biết, hay nói chung lại là trình độ và ý thức.
Có nghĩa mỗi cá nhân chỉ có
thể trở thành con người hoàn chỉnh, trong một xã hội có trình độ hiểu biết, đó
là do văn hóa, nhận thức, hay nói chung là văn hóa cũng như sự phát triển đi
lên qua lịch sử của toàn xã hội.
Thuở con người con ăn lông ở
lổ, tức trong các trạng thái xã hội bán khai, đời sống đó là đời sống bộ lạc, tất
nhiên ý nghĩa dân chủ đúng nghĩa và thật sự cũng chưa thể được đặt ra. Kết quả
của đời sống đó chỉ do thử thách qua kinh nghiệm. Người tù trưởng có thể là người
được bầu lên, hay được nắm quyền trực tiếp trong tay là do những nguyên nhân
khách quan, cụ thể, hoặc đặc thù nào đó. Như do sự khôn ngoan, do kinh nghiệm,
do tài trí, do sức mạnh thân xác và vật chất, hay do một hoàn cảnh riêng biệt,
đặc thù nào đó chẳng hạn.
Sự phát triển đi lên của xã
hội loài người từ hoang dã, bộ lạc, đến phong kiến, quân chủ cũng chỉ theo ý
nghĩa và con đường như vậy. Lộ trình đó hoàn toàn tất yếu và khách quan. Đó
cũng là ý nghĩa của luật pháp và trật tự xã hội nói chung. Bởi tính cách hoàn cảnh
bên ngoài của mỗi cá nhân tất yếu vẫn khác nhau, và tính cách nội tâm của mỗi
cá nhân cũng đương nhiên như vậy, cho nên nếu không có trật tự, nền nếp xã hội,
không có pháp luật, đời sống tập thể hay cộng đồng đương nhiên phải loạn.
Cho nên luật pháp phát triển
là theo với sự phát triển của xã hội, tức sự phát triển của đời sống vật chất,
kinh tế, văn hóa, ý thức, và giáo dục nói chung. Đó cũng là lý do tại sao nền
văn minh của nhân loại đã trải qua các thời kỳ phong kiến, quân chủ, và cuối
cùng là nền cộng hòa dân chủ phổ biến trên khắp thế giới ngày nay. Con đường đó
là con đường đi lên khách quan, phải trình tự tiến lên, không quyền gì để lên
án những giai đoạn xã hội quá khứ nào đó hay đặc biệt ca ngợi hoặc xiển dương
những giai đoạn đặc thù nào đó.
Từ xã hội phong kiến chuyển
lên xã hội quân chủ chỉ là lẽ đương nhiên. Bởi xã hội phong kiến thì chia lẻ,
manh mún, không tập trung, trong khi yêu cầu phát triển của xã hội là ngược lại,
cần có sự kết hợp và thống nhất, đó là ý nghĩa hình thành đương nhiên của các
xã hội quân chủ là như thế. Xã hội quân chủ đương nhiên là xã hội độc đoán, đó
là quyền lực tập trung duy nhất vào trong tay nhà vua, trong tay vị hoàng đế.
Quyền lực đó là để nhằm ổn định toàn thể xã hội, sự chuyên chế là đỉnh cao của
trật tự xã hội khi chưa có điều kiện nào để phát triển được tốt hơn.
Nhưng mọi sự vật bao giờ
cũng có mặt trái của nó. Tính lạm quyền cá nhân luôn luôn tất yếu phải xảy ra.
Những nhà độc tài sắt máu của phương Tây, những ông vua tàn ác ở phương Đông,
đó chính là những trường hợp điển hình như thế. Cũng từ đó mà đi đến các hiện
tượng lịch sử tranh bá đồ vương, sự thiết lập nên các đế quốc khổng lồ, một thời
từng là sự thống nhất vinh quang, mà thực chất không phải không luôn luôn có
nhiều mặt trái. Bởi chế độ cha truyền con nối, chế độ tập quyền của giới quan lại
thống trị, tính cách truyền ngôi báu hay quyền lực xã hội theo kiểu ngẫu nhiên,
đưa đến những hoạn quan bất tài, những tì thiếp ban đầu vẫn có thể soán ngôi
hoàng đế, thu tém mọi sức mạnh vũ lực và vật chất vào riêng trong tay mình, đó
là thực tế tất yếu, tự nhiên của rất nhiều những giai đoạn xã hội quân chủ và
phong kiến.
Tất nhiên trình độ phát triển
vật chất, kinh tế của xã hội vẫn luôn đi theo với ý nghĩa phát triển của nhận
thức và văn hóa. Đó là lý do tại sao hang ngàn năm xã hội con người không thoát
ra được nền tảng phong kiến, quân chủ độc đoán nói chung, và chỉ đến đầu thế kỷ
19 tư tưởng dân chủ và thể chế dân chủ mới thật sự nở rộ ở phương Tây.
Trong xã hội phong kiến và
quân chủ, các chế độ đó phần lớn phải dựa vào thần quyền để làm cơ sở, nền tảng
cho sự hiện diện hay quyền lực cai trị của mình. Ý nghĩa quý tộc là do những đặc
điểm ưu việt nào đó riêng của các cá nhân con người. Ý nghĩa của nền quân chủ
là vua thay trời trị dân, hoặc được Chúa che chở trong các chế độ quân chủ thần
quyền.
Chỉ khi bước vào kỷ nguyên của
nền dân chủ, tính chất của con người mới trở về được ý nghĩa nguyên thủy ban đầu,
tức mọi người sinh ra đều hoàn toàn tự do và bình đẳng. Tất nhiên con đường trở
về xuất phát đó không phải dễ dàng gì, mà rất nhiều tầng lớp trí thức hay những
người có ý thức trong nhân dân đã phải trả giá đắt, hi sinh, bỏ ra muôn vàn nổ
lực về tất cả các mặt mới giành lại được một cách vẽ vang, ý nghĩa, cần thiết
cho toàn bộ xã hội loài người.
Đến khi Karl Marx (1818 -
83) xuất hiện, ông lại đưa ra một học thuyết mới, phủ nhận mọi chế độ dân chủ
đã có, mệnh danh chung đó là chế độ dân chủ tư sản, để chỉ chủ trương chế độ vô
sản với nền tảng là nền độc tài chuyên chính vô sản (Diktatur des Proletariats)
nhằm tiến tới thiết lập một xã hội không còn tư sản, không còn giai cấp, một xã
hội hoàn toàn lý tưởng theo ông quan niệm.
Sứ mạng lịch sử đó, Marx cho
rằng là của giai cấp công nhân, và điều quan trọng theo ông nhằm tiến tới xây dựng
được xã hội đó chính là ý thức giai cấp hay cụ thể là ý thức của giai cấp công
nhân. Nhưng đó mới chỉ là lý thuyết của một cá nhân đầu tiên đưa ra. Người đầu
tiên đưa vào thực hiện các ý tưởng đó chính là Nicolai Lenin (Vladimir Ilych
Ulyanov, 1870 - 1924). Đó là cuộc cách mạng vô sản ở Nga năm 1917 thành lập nên
đất nước Liên bang Xô viết, với nguyên lý chủ đạo là nền kinh tế tập thể, và
sau đó thể chế chính trị này đã phát triển ra nhiều nơi trên toàn thế giới, để
cuối cùng vẫn là thực tế của thế giới hội nhập toàn cầu ngày nay mà ai cũng rõ.
Thế thì sự tranh luận hay sự
đấu tranh cốt lõi của xã hội con người ngày nay rút lại vẫn chỉ là nền dân chủ
tư sản hay nền dân chủ vô sản, ít ra cũng là về mặt nguyên tắc hay lý thuyết.
Đó chính là di sản của Mác và Lênin để lại, mà thông thường mọi người vẫn gọi
đó là học thuyết chính trị hay chủ nghĩa Mác-Lênin.
Sự tranh luận này nói cho
cùng vẫn là nền tảng của học thuyết Mác. Đó là nền tảng của khái niệm đấu tranh
giai cấp, mà cốt lõi của nó vẫn là quy luật biện chứng (Dialektik) lấy từ quan
điểm học thuyết triết học của nhà triết học duy tâm người Đức là Hegel (Georg
Wilhelm Friedrich, 1770 - 1831) mà ra. Đúng ra, hình thức của lý thuyết Mác là
hình thức phân tích kinh tế xã hội, nhưng động lực sâu xa chủ yếu của nó vẫn là
tư tưởng biện chứng của Hegel. Bởi nếu không có động lực căn cơ này, lý thuyết
của Mác cũng không mang tính quy luật theo ông quan niệm được. Đây chính là điều
mà ông hoàn toàn xác nhận trong bộ sách cơ bản của ông về kinh tế chính trị, đó
là cuốn Tư bản luận (das Kapital) mà mọi người đều biết.
Cho nên phê phán mọi ý nghĩa
của lý thuyết Mác thực chất và sâu xa nhất cũng chỉ là phê phán quan điểm biện
chứng luận về mặt triết học của nhà triết học Hegel mà không là gì khác. Điều
này tác giả bài viết này cũng đã từng phân tích, nhận xét rất nhiều, không cần
phải thảo luận thêm chi tiết ở đây nữa.
Vậy thì rút cuộc lại, ý
nghĩa của sự tranh luận hay đấu tranh về khái niệm dân chủ từ thời kỳ cận đại đến
nay trên toàn thế giới vẫn là sự tranh chấp tính cách khác nhau giữa nền dân chủ
tư sản và nền dân chủ vô sản. Nền dân chủ tư sản dựa chủ yếu trên công cụ hay
phương tiện sản xuất kinh tế xã hội thuộc tư nhân. Nền dân chủ vô sản, tức nền
dân chủ tập trung, lý tưởng toàn trị chuyên chính do Mác đưa ra và Lênin thực
hiện, đó là chế độ Bolchevik, ngày nay còn được áp dụng ở vài nơi trên thế giới.
Thật ra, trừ phi con người
muốn đi vào những học thuyết triết học hoàn toàn xa thực tế, tức phi thực tế,
thì xã hội hiện thực của con người vẫn luôn luôn là xã hội thực tế, đó là chân
lý khách quan, hay một mặt nào đó của chân lý toàn diện và khách quan vốn vẫn
luôn luôn như vậy. Bởi vì đơn vị cụ thể của xã hội loài người vẫn là con người
thực tế bằng xương bằng thịt, tức con người thân xác và ý thức tâm lý, là điều
hoàn toàn không thể phủ nhận. Nói khác đi, đó là con người chịu ảnh hưởng trực
tiếp, tự nhiên của các quy luật tâm sinh lý, tức quy luật sinh học, quy luật xã
hội, và quy luật lịch sử hoàn toàn cụ thể và thật sự khách quan.
Đó cũng là ý nghĩa đã nêu ra
ngay từ đầu tức mọi người sinh ra đều hoàn toàn bình đẳng và tự do, và đó cũng
chính là nền tảng của mọi quyền tự do thật sự. Tất nhiên, sự tự do cũng có
nghĩa là quyền làm người, tức là nhân quyền, và dân chủ cũng có nghĩa là yêu cầu
chính đáng, cần thiết, khách quan của con người, đó là dân quyền. Điều này cũng
có nghĩa khi đặt một lý thuyết, hay được nôm na gọi là một ý thức hệ, nào đó
lên trên xã hội con người, điều đầu tiên là phải xuất phát từ quan điểm dân chủ,
có nghĩa phải hỏi ý kiến dân thật sự dân chủ. Đây chính là điều mà cuộc cách mạng
vô sản hoàn toàn phủ nhận. Bởi nếu hỏi ý kiến dân thì còn gì là ý hướng hay yêu
cầu của cách mạng nữa. Đó cũng chính là lý do tài sao chính bản thân Mác lại chủ
trương chuyên chính vô sản. Thế thì xuất phát điểm ở đây là xuất phát điểm lịch
sử khách quan hay chỉ là xuất phát điểm chủ quan theo nhận thức của Mác, là điều
mà mọi người có quyền tự do suy nghĩ. Điều đó cũng còn gắn với bản thân của ý
niệm hữu sản và ý niệm vô sản trong cuộc sống hoàn toàn cụ thể, thực tế, mà chắc
mọi người ngày nay đều hoàn toàn rõ.
Vậy nên rút lại, trừ phi con
người đứng trên quan điểm chuyên chính nào đó, bản thân của nền dân chủ xã hội
vẫn luôn luôn phải là sự tự do và tính bình đẳng. Hai ý niệm này hoàn toàn ăn
khớp, cần thiết, hay bổ sung cho nhau, bởi vì nếu không có cái này cũng không
thể có cái kia. Nói khác đi, nền tảng thật sự của dân chủ và tự do vẫn không thể
khác gì hơn là nền tảng của ý thức và nhận thức. Điều này hoàn toàn đúng trong
thực tế xã hội. Nói dân chủ tự do thực tế vẫn là nói cho những thành phần chọn
lọc tự nhiên nào đó trong xã hội, mặc dầu ý nghĩa và nguyên tắc của nó vẫn là ý
nghĩa nói chung cho toàn xã hội hay cho tất cả mọi người.
Có nghĩa, đối với những người
hay những cá nhân con người không có ý thức về sự dân chủ, tự do, thì điều này
đối với họ cũng hoàn toàn thừa thải hay vô nghĩa. Đó là tính cách khách quan thực
tế mà bất cứ người nào muốn phủ nhận cũng không thể nào phủ nhận được. Đó chính
là tính chất nói chung của số đông, tức chỉ biết làm ăn, lo làm ăn cụ thể, thực
tế trong đời sống cá nhân, ngoài ra không còn để ý hay không còn lo gì xa xôi
hơn như thế. Tính chất này cho thấy ý nghĩa của dân chủ, tự do là ý nghĩa
nguyên lý của toàn xã hội, nhưng chưa hẳn là ý nghĩa của mọi cá nhân. Sự khác
nhau ở đây chính là yếu tố ý thức tinh thần, hay nói cụ thể là trình độ nhận thức,
sự hiểu biết, nhất là ý nghĩa của tinh thần hay ý thức nói chung về xã hội mà
thật sự những cá nhân cụ thể vẫn có thể có hay không có.
Tất nhiên, lịch sử luôn biến
chuyển, về phương diện chung của xã hội cũng như phương diện đặc thù riêng bản
thân mỗi cá nhân. Mỗi trình độ hiểu biết, nhận thức, ý thức của mỗi con người
không phải luôn đứng yên mà vẫn chắc chắn đổi thay như thế. Hay nói khác đi, chất
lượng của số đông vẫn là chất lượng quyết định cho tất cả. Thời kỳ dân tộc VN
phải chịu sự cai trị của người Pháp, trình độ nói chung của mọi người dân còn
thấp, sự đấu tranh bằng bạo lực vẫn không thể không xảy ra, nhưng Phan Chu Trinh
là người sáng suốt muốn nâng cao dân trí, dân khí, dân tâm, vẫn chính là điều
đó.
Vậy thì nói cho cùng, ý
nghĩa của dân chủ và tự do vẫn không gì hơn chính là vấn đề bản thân của toàn
xã hội. Đây là vấn đề nguyên tắc mà đồng thời cũng là vấn đề thực tế. Nguyên tắc
bởi nó là ý nghĩa căn bản của quyền làm người, của nhân phẩm và giá trị nói
chung nơi mọi con người, nhưng thực tế bởi vì nó có được số đông nhận thức yêu
cầu cần thiết hay không lại là chuyện khác.
Vậy nên, mọi sự tranh cãi
hay đấu tranh nhau, ngoài trừ phương diện quyền lợi kinh tế, vật chất cụ thể
(luôn luôn là của đám đông), thì trong thực tế xã hội, thực chất nó vẫn chỉ xảy
ra nơi số ít của những thành phần chọn lọc, những phần tử có ý thức và có nhận
thức, có tri thức hiểu biết trong xã hội loài người. Điều này đúng trong mỗi nước
và đúng trong toàn bộ lịch sử thế giới từ nguyên thủy đến ngày nay trải qua mọi
chế độ, giai đoạn phát triển trong từng xã hội.
Đó cũng là lý do tại sao ý
niệm dân chủ tập trung (hay tập trung dân chủ) và ý niệm dân chủ phổ biến là
hoàn toàn khác. Bởi dân chủ tập trung chỉ là dân chủ hạn chế, dân chủ khu biệt,
dân chủ trong nội bộ. Một tập thể hay tập hợp cá nhân con người nào đó, có quy
luật vận động, lý thuyết, mục đích, ý nghĩa tổ chức riêng, đó là chính là nền dân
chủ tập trung, nó phải tuân theo mọi ý nghĩa và khuôn khổ đặc thù, nội bộ,
riêng biệt của nó mà không là gì khác. Nhưng bất kỳ một nhóm, một tập hợp, một
cá nhân nào cũng chỉ là những thành phần riêng của xã hội mà không phải là toàn
thể xã hội, đó là ý nghĩa của bản thân nền dân chủ phổ biến là như thế. Cho nên
dân chủ tập trung quy kết lại vẫn chỉ là ý nghĩa dân chủ theo quan điểm đấu
tranh giai cấp của Mác. Nó được coi là ý nghĩa của sự đại diện cho giai cấp,
còn thực tế khách quan nó là ý thức của, mục đích của giai cấp, của những thành
phần cá nhân, hay của toàn thể lịch sử xã hội như một tiêu biểu hoàn toàn đúng
nghĩa lại là chuyện khác.
Vậy thì kết luận lại, điều
gì quyết định nhất trong xã hội loài người, đó chính là sự hiểu biết, ý thức,
và cái còn lại chính là quyền lực. Đương nhiên quyền lực ở đây là quyền lực
công cộng. Quyền lực công cộng đặt nền tảng trên toàn sự tổ chức của xã hội. Nắm
quyền tức nắm được toàn bộ sự tổ chức, điều hành, hay toàn bộ guồng máy vận động
khách quan và tự động của toàn xã hội. Điều này cũng giống như người lái xe,
lái tàu, người lái xe lô, xe ủi, thiết giáp xa, xe tăng bánh xích cũng vậy. Bởi
ý nghĩa của quyền lực luôn luôn mù quáng và tự động. Con người thân xác vẫn
luôn chỉ sợ nhau qua công cụ vật chất hay vũ khí mà người khác có trong tay. Về
quyền lực xã hội người ta sợ nhau cũng chỉ vì có người nắm quyền lực và người
hoàn toàn không có quyền lực. Nhất là khi quyền lực đó được tổ chức một cách chặt
chẽ và toàn diện nhất, trong đó mọi cá nhân đều không còn phương tiện tự vệ.
Trong khi đó, đối với xã hội tự giác và có hiểu biết, con người kính trọng nhau
là vì đạo đức, vì trình độ nhận thức, vì giá trị của chân lý, sự thật khách
quan. Bởi vậy, trong khía cạnh nào đó thì quyền lực độc đoán cũng giống như
tình trạng chen chấn nơi đám đông. Hãy tưởng tượng một vụ kẹt xe ở đầu cầu, nơi
đường hẹp, đông người, mạnh ai nấy chen nấy lấn, nguồn nguy hiểm và thiệt hại
gây nên rất bội phần, ai cũng chỉ muốn thoát thân ra nhưng vô tính lại làm kẹt
cho những người khác, đó là tình trạng hổn loạn, lùng nhùng không có lối thoát,
cho tới khi cảnh sát đến hay có người nào đó có sự khôn khéo, có thiện chí, có
điều kiện nào đó để đứng ra vẫn hồi lại chính trật tự bình thường. Kinh nghiệm
này tất cả mọi người hẳn đều biết nên chắc chắn là đều suy nghĩ sâu sắc.
Thế nên, vấn đề ý nghĩa của
tự do dân chủ đích thực, nói cho cùng vẫn chính là vấn đề về ý thức, hiểu biết
và trách nhiệm. Tức mỗi người có thật sự hiểu biết, có thật sự thấy sự cần thiết,
khách quan của ý niệm tự do dân chủ cho toàn xã hội hay không. Nếu không thấy
được, hay chỉ thấy theo cách cục bộ, biệt phái, đặc thù nào đó, không thể nào
có ý thức thực hiện, đấu tranh hay tranh thủ cho ý niệm dân chủ tự do một cách
hoàn toàn phổ biến được. Bởi ý nghĩa tối hậu của dân chủ tự do phổ biến chắc chắn
và luôn luôn phải xây dựng trên sự phổ thông đầu phiếu. Không có sự phổ thông bỏ
phiếu, tức sự thể hiện ý kiến công khai, khách quan của tất cả mọi người về bất
kỳ những vấn đề quan trọng nào đó, không vì bất cứ lý do gì và không bất kỳ một
ai có thể có quyền tự quyết định thay cho họ, cũng không thể nào có được nền tự
do dân chủ phổ biến một cách hoàn toàn đúng nghĩa và khách quan được. Bởi vậy nền
dân chủ tự do phổ biến thì khai thác, tập hợp được mọi tinh hoa của toàn xã hội,
còn nền dân chủ cục bộ hay độc tài thì đó nhiều lắm cũng chỉ là tinh hoa của một
thành phần thiểu số. Tự do nói cho cùng là mọi cá nhân con người không bị áp đặt,
vì nhân danh điều gì, làm trái lại sự nhận thức khách quan hay ý muốn hợp lý của
họ. Còn dân chủ cũng là sự đối đãi bình đẳng nhau giữa tất cả mọi người cũng
theo ý hướng đó.
Cho nên chân lý và quy luật
vẫn là hai vấn đề hay hai ý nghĩa mấu chốt, quan trọng và khách quan nhất trong
xã hội loài người mà không phải ai ai cũng thấy. Giống như nếu có người cao hứng
làm ra một chiếc xe có bánh vuông, tất nhiên nó không thể chạy được ngon lành
hay không vận động được theo đúng quy luật. Với một chiếc xe bánh vuông như thế,
nếu mọi người cùng hè nhau đẩy, tất nhiên nó vẫn xê dịch, nhưng đó vẫn không phải
là cách chạy xe, không phải xe tự chạy, mà chính do lực người cùng bị bắt buộc
phải hè nhau đẩy. Nói về mặt kỹ thuật và mặt kinh tế, đó không phải là yêu cầu
hợp lý, tiết kiệm, và thậm chí kém khôn ngoan trong thực tế cho dù có tự mệnh
danh đó là điều ưu việt đi chăng nữa. Thế nhưng, mọi người có ý thức, khả năng,
ý muốn phê phán, phê bình, hay phát biểu nhận xét về cái xe đó hay không lại là
chuyện khác. Chẳng hạn, vì cần phải lo riêng, cũng chẳng ai thèm để ý đến nó.
Hoặc sợ mếch lòng, hay sợ xô xát, sợ hậu quả, kể cả chỉ sợ lời qua tiếng lại
không cần thiết, cũng chẳng ai muốn chỏ miệng vào. Đó cũng chỉ là tâm lý thụ động
khách quan tự nhiên của phần lớn người hay kể cả nói chung trong toàn xã hội
nào đó cụ thể.
Ý nghĩa của dân chủ tự do
cũng chính là thế. Đó cũng còn là do chỗ sáng suốt, mù quáng, có ý thức, vô ý
thức, có hiểu biết, kém hiểu biết, có trách nhiệm, vô trách nhiệm, có năng động,
không năng động, có chủ động hay chỉ thụ động, là tâm lý bàng quan hay ý thức dấn
thân của tất cả mọi người. Cái gì là ý nghĩa chung, cái gì là ý nghĩa riêng,
cái gì là cục bộ, cái gì là phổ biến, cái gì là khách quan, cái gì là chủ quan,
cái gì là thực tế, cái gì là viễn mơ, cái gì là quy luật, cái gì không phải là
quy luật, cái gì là giả tạo, cái gì là thực chất, cái gì có ý nghĩa và giá trị,
cái gì không ý nghĩa và không giá trị, cái gì là niềm tin giáo điều, cái gì là
chân lý khách quan thực tế v.v… và v.v…, đó chính là tính mục đích, tính ý thức,
tính hiểu biết, tính điều kiện, và nói chung là tính hiệu lực và ý nghĩa văn minh,
văn hóa, tinh thần cần thiết, chính đáng, bao quát, đích thực nhất của sự tự do
dân chủ phổ biến nhất trong toàn xã hội.
VÕ HƯNG THANH
(22/01/2011)
**
NÓI VỀ BẢN CHẤT SÂU XA CỦA CHỦ NGHĨA
QUỐC TẾ VÔ SẢN
Chủ nghĩa quốc tế vô sản
ngày nay không còn là vấn đề gì quan trọng trên khắp thế giới nữa. Tuy nhiên,
trên TV vừa rồi vẫn còn có người nhắc đến nó một cách say mê nhiệt tình; hoặc
có thể chỉ là một biểu hiện bề ngoài, nhưng cũng có thể là một thật lòng được
nuôi dưỡng từ những tình cảm, niềm tin, hay cảm xúc quá khứ nào đó.
Từ ý nghĩa đó, tác giả bài
viết này cũng cần nên phát biểu riêng tư một đôi điều thêm về chủ nghĩa quốc tế
vô sản vốn đã có từ lâu để mọi người cùng nhận xét, phê phán hoặc thưởng lãm.
Thật ra chủ nghĩa quốc tế vô
sản cũng là bản thân, khởi điểm và mục đích của chủ nghĩa Mác-Lênin mà không là
gì khác. Cả hai là một nhưng tính chất vận dụng và tiến trình nắm bắt đối với
nhiều người có thể khác nhau.
Khởi đầu của học thuyết Mác
là nổi bức xúc về tình cảnh thợ thuyền và giai cấp công nhân Anh nói riêng và
phương Tây nói chung trong thời kỳ tiền tư bản chủ nghĩa. Từ đó kết hợp lý thuyết
biện chứng trong triết học của Hegel, những tìm hiểu nghiên cứu phần nào về
kinh tế xã hội của mình, nói cụ thể là các lý thuyết kinh tế cổ điển Anh, những
lý thuyết cách mạng xã hội Pháp, Mỹ lúc đương thời, cùng với những mục tiêu thực
tiển trong hoạt động cách mạng của bản thân, ông mới đúc kết lại, hình thành
nên toàn bộ các nội dung lý thuyết của mình.
Cho dù như vậy, cái cốt lõi
nhất trong học thuyết của Mác vẫn chính là quy luật biện chứng trong quan niệm
của Hegel, bởi nếu không có cái cốt lõi này, ý nghĩa và dự kiến của học thuyết
Mác cũng không thể nào đạt được. Đó chính là điều mà Mác từng nói ông lật ngược
hệ thống Hegel lại, bởi theo Mác, Hegel là con người đi bằng đầu, ông cần phải
lật ngược lại để Hegel đi được bằng chân.
Cái đi được bằng chân đó chính
là nguyên lý biện chứng áp dụng vào cho kinh tế chính trị học, tức là quy luật
mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn để tiến lên và hoàn thành toàn bộ cuộc cách mạng
xã hội. Con người khởi thủy là vô sản trong xã hội cộng sản nguyên thủy, tất
nhiên xã hội loài người cũng là xã hội vô sản trong xã hội cộng sản khoa học
nơi xã hội tương lai.
Mác nhất thiết cho học thuyết
của mình là học thuyết khoa học, bởi vì ông tin chắc chắn quy luật biện chứng của
thực tại do Hegel đưa ra là chân lý khách quan, bao trùm, nên hoàn toàn và chắc
chắn duy nhất đúng. Đó là cơ sở của quan điểm cộng sản khoa học mà Mác luôn
luôn nhấn mạnh. Bởi trên cơ sở của quy luật biện chứng khách quan và thực tại
đó, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa tự nó chứa đựng mâu thuẫn, tự nó sẽ đào mồ
chôn nó, tự nó tiến đến chỗ dẫy chết, để cuối cùng chuyển sang nền kinh tế cộng
sản khoa học.
Ý nghĩa của mâu thuẫn đó nói
rút lại là mâu thuẫn trong quan hệ sản xuất, mâu thuẫn trong xã hội tư sản, mâu
thuẫn trong hàng hóa và tiền tệ, mâu thuẫn trong diễn biến số lượng giữa giai cấp
công nhân và giai cấp chủ tư bản, để cuối cùng lượng sẽ dẫn đến chất, lượng sẽ
làm chuyển biến, thay đổi chất, đưa đến tiến hành và hoàn thành cuộc đại cách mạng
xã hội, và cuối cùng là thiết lập nên xã hội vô sản, tức xã hội cộng sản khoa học.
Trong bản Tuyên ngôn cộng sản
Mác có nói xã hội loài người từ khởi thủy đến nay là xã hội đấu tranh giai cấp.
Đấu tranh giai cấp vì có phân chia giai cấp. Nguồn gốc của phân chia giai cấp
theo Mác chính là tư hữu. Có tư hữu nên cũng phát sinh ra sản xuất hàng hóa,
phát sinh ra giao dịch mua bán, phát sinh ra tiền tệ. Như vậy để thực hiện được
xã hội cộng sản tương lai, tất cũng đi đến dẹp bỏ tư hữu, dẹp bỏ xã hội sản xuất
hàng hóa, dẹp bỏ phân công lao động tự phát, dẹp bỏ thương mại và tiền tệ, xã hội
chỉ còn thuần là giai cấp công nhân, không còn chủ tư bản, đó chính là nền kinh
tế hiệp đồng, sản xuất tự giác theo kế hoạch, sản phẩm tuông ra dồi dào được
phân phối tùy thích, tức làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu. Ở xã hội này mọi
con người mới thật sự giải phóng, không còn tư sản, không cần tư hữu, tức chỉ sống
bằng tinh thần, tình yêu thương nhau và sở thích.
Có nghĩa theo Mác, tư hữu,
giai cấp, tiền tệ là những phạm trù tội lỗi của lịch sử loài người. Đó là gốc
phát sinh ra mọi tệ nạn của xã hội. Phải cần tiến lên dẹp bỏ mọi nguyên nhân thực
tế này, cuộc đại cách mạng xã hội cũng sẽ được hoàn tất, hay thực sự mới có thể
thực hiện được.
Nguyên lý biện chứng của lịch
sử và nguyên lý kinh tế xã hội trong học thuyết Mác chủ yếu là như thế. Kết hợp
quan điểm duy vật tuyệt đối với quan điểm biện chứng của học thuyết (duy tâm)
Hegel, Mác đưa ra quan điểm về biện chứng duy vật và biện chứng lịch sử của
mình như đã nói trên. Có nghĩa không có lý thuyết biện chứng cũng không thể có
học thuyết Mác, và nguyên tắc nổi bật nhất trong lý thuyết biện chứng của Hegel
chính là nguyên lý lượng biến thành chất.
Thật ra nguyên lý lượng biến
thành chất của nhà đại triết học Hegel (1770 – 1831) chỉ là nhận xét khập khiễng.
Bởi lượng của một chất và bản chất của chất đó hoàn toàn khác nhau. Đó là hai
phạm vi hay hai phạm trù riêng biệt không thể nhập nhằng và hoàn toàn đồng hóa
vào nhau được. Nước nhiều hay nước ít thì bản chất của nước vẫn là lưu chảy. Đá
nhiều hay đá ít thì bản chất của đã vẫn là đứng yên. Còn nói nước nhiều thì chảy
mạnh hơn, đá nhiều thì nặng cân hơn, đó lại là chuyển sang ý nghĩa một tính chất
khác, một phạm trù khác chẳng còn liên quan gì đến ý nghĩa hay bản chất ban đầu.
Sự nhập nhằng, sự hàm hồ ở đây chính là ở đó. Quan điểm của Hegel đã chuyển từ
một nhận xét thực tại trở thành một ý nghĩa của phán đoán tinh thần. Phạm trù vật
thể khách quan trở thành phạm trù ý thức, phán đoán hay nhận thức chủ quan. Đấy
cái nguyên lý lượng biến thành chất trong thực chất nó chỉ là như thế.
Nhưng chính từ trên quan điểm
lượng biến thành chất đó mà Mác đã vội vã xây dựng nên toàn bộ học thuyết của
mình. Tức khi ý thức giai cấp công nhân thay đổi, cuộc đại cách mạng nhất định
phải nổ ra, ý thức công nhân trở thành làm chủ lấy mình, làm chủ lịch sử, đó là
tiền đề của tương lai xã hội cộng sản khoa học.
Tuy nhiên, Mác vẫn quên một
điều, quan điểm biện chứng của Hegel dầu sao vẫn là quan điểm trong một toàn bộ
hệ thống duy tâm. Nguyên lý duy tâm là nền tảng hay cơ sở của thuyết biện chứng.
Thế nhưng quan điểm của Mác ngược lại là quan điểm hoàn toàn hay tuyệt đối duy
vật. Như vậy có nghĩa nếu áp dụng nguyên lý biện chứng thì hoặc lý thuyết Mác
đã trở thành duy tâm, hoặc đó chỉ là một sự áp dụng không tương thích hay hoàn
toàn trái khoáy. Có lẽ sự quá bức xúc của Mác về tình cảnh đau khổ của thợ thuyền,
mà gặp quan được điểm biện chứng của Hegel ông giống như người vớ được phải cọc,
khiến trào dâng lên một quan điểm lý thuyết đầy cảm hứng, đầy cảm xúc mà mất đi
tính cách trầm tĩnh của ý thức khoa học chính xác và khách quan chăng.
Đó là chưa nói cho dù là người
công nhân hay người chủ tư bản chăng nữa, họ đều cũng là những con người như
nhau, có nghĩa vẫn phải luôn chịu nhưng quy luật, những áp lực tự nhiên của tâm
lý ý thức mà mọi người đều có tương đối như nhau. Tức những nhu cầu tự nhiên về
sinh tâm lý, các khuynh hướng, bản năng, cá tính, các tình trạng bản thân và
môi trường, các hoàn cảnh khách quan và điều kiện lịch sử bản thân cũng như của
xã hội, các cơ may, các nổ lực, thói quen, các năng lực riêng, hay các thành tựu
của kết quả của đào tạo, giáo dục v.v… Do vậy sự đối lập giữa các cá nhân con
người cụ thể, linh hoạt thành những phạm trù trừu tượng, cứng nhắc là điều chưa
hẳn đã hoàn toàn hợp lý. Hơn thế, hoàn cảnh mỗi con người, vị thế mỗi con người
đều luôn luôn có thể hoán đổi nhau một khi có hoàn cảnh thay đổi, có nghĩa mỗi
người đều vẫn là sản phẩm lịch sử riêng của mình cũng như sản phẩm của hoàn cảnh
lịch sử chung, họ thật sự có gì nhất thiết là thần thánh hay đáng trách.
Sự bất công xã hội nếu có, sự
không hợp lý hay chưa phù hợp trong những điều kiện hoàn cảnh kinh tế đời sống
nào đó của những số ít hay số đông con người, đáng lẽ ra chỉ cần giải quyết một
cách đơn giản bằng các biện pháp xã hội hay pháp lý một cách tiết kiệm, thông
minh, cần thiết hoặc hiệu quả, đâu có cần gì phải tính đến những chuyện động trời
hay long trời lở đất. Tất cả những tồn tại đó, ngay cả đến trong các xã hội
ngày nay trên toàn thế giới, người ta vẫn còn phải tiếp tục giải quyết mà vẫn tồn
đọng, chưa xong, có gì đâu là lạ, bởi vì lịch sử khách quan vẫn luôn giống như
một dòng chảy không ngừng, có những cái mới vẫn nảy sinh ra, có những cái cũ vẫn
tiếp tục biến thiên, có khi nào mà hoàn chỉnh hay kết thúc được mọi sự.
Bởi vậy xã hội loài người từ
chỗ hoang dã đến chỗ phát triển đi lên, thật ra do rất nhiều yếu tố, có những yếu
tố đã biết, nhưng vẫn còn những yếu tố chưa biết. Hành tinh xanh của chúng ta
thật ra chỉ là một hạt bụi rất nhỏ bé trong không gian vô hạn giữa các thiên
hà. Một cái vô cùng nhỏ so với cái vô cùng lớn, có gì đâu mà có vai trò tiêu biểu,
toàn diện, tổng thể, hay quyết định. Đó quả là một sự lạc quan quá đáng. Đó chỉ
là một sự suy diễn nặng phần tư biện về toàn bộ lịch sử khách quan. Ngay như
trong môi trường tự nhiên của địa cầu cũng có thể có những yếu tố ngoại lai bất
ngờ tác động, ảnh hưởng quyết định đến dòng biến thiên của lịch sử loài người,
đừng nói tới bao quy luật hay ngẫu biến xảy ra bất ngờ trong thiên hà hay trong
toàn vũ trụ.
Trở về với thực tế cuộc đời,
xã hội con người cộng đồng nguyên thủy là xã hội sơ khai tự nhiên, đêm gán ép
vào với khái niệm xã hội cộng sản nguyên thủy là một điều khiên cưỡng, giả tạo,
không khách quan hoặc không tự nhiên. Ý nghĩa tài sản hay tư hữu chỉ là ý nghĩa
về sau này khi đời sống thực sự phát triển. Đó là sự diễn tiến tự nhiên, không
thể chê trách, phê phán hay kết án gì được. Bởi không một cá nhân hay tầng lớp
nào tạo ra nó, mà là diễn tiến của toàn thể lịch sử nói chung. Giữa cái chưa
có, cái đã có, và cái sẽ có là hoàn toàn khác nhau. Bức vách giữa chúng là khoảng
trống vắng, là số 0, là cái hư vô, đó không hoàn toàn là sự diễn tiến của cái
continum trong khái niệm toán học. Do đó từ xã hội cộng đồng nguyên thủy, qua
xã hội phong kiến (có những nơi có xã hội nô lệ), đến xã hội quân chủ, rồi xã hội
tư sản dân quyền chỉ là điều hoàn toàn khách quan, đã có và tự nhiên. Lịch sử
phải tiến lên không ngừng nhưng cũng không khi nào có thể lùi lại. Lên án những
giai đoạn lịch sử xã hội đã qua, xiển dương những ý nghĩa xã hội chưa tới, quả
là điều chỉ mang tính lý thuyết suy luận máy móc kiểu tư biện trừu tượng mà
không phải hoàn toàn thực tế.
Con người là sinh vật có lý
trí. Với lý trí và sự hiểu biết của mình, có nhiều vấn đề thuộc xã hội và lịch
sử con người vẫn có thể giải quyết được trong thực tế một cách thông minh và hiệu
lực, kết quả, chẳng phải cần gì đến những giải pháp mơ hồ, huyễn mộng. Tất
nhiên, lịch sử là kết quả của toàn thể mà không phải của cá nhân, của số đông
mà không phải của chỉ vài người, mặc dầu trong ngắn hạn nào đó, vẫn có thể có
những yếu tố khách quan bất ngờ nào đó của tự nhiên, của xã hội, thậm chí của một
vài cá nhân đặc thù nào đó tác động đến nhất thời khiến làm thay đổi, biến chuyển
thoáng qua những bước phát triển tổng thể, tự nhiên của toàn xã hội.
Nhưng có điều quan trọng, mọi
sự phát triển quyết định nhất của lịch sử vẫn là do những phát kiến, những khám
phá, do trí tuệ con người, không phải thuần túy đơn giản do mối quan hệ con người,
hay mối quan hệ đấu tranh giai cấp như Mác đã nói. Bởi lẽ chính sự khám phá ra
lửa, sự phát kiến ra nam châm, dòng điện, máy hơi nước, máy điện, rồi điện toán
ngày nay … mới chính là những dấu mốc vĩ đại của lịch sử nhân loại mà không là
gì khác. Bởi vì mối quan hệ con người, hay quan hệ sản xuất, nhiều lắm cũng chỉ
là những hình thái xã hội chính trị nào đó, như bộ lạc, phong kiến, quân chủ,
tư bản … mà chẳng gì mới. Chính khi nào có sự tích lũy về các kết quả kỹ thuật
quan trọng, khi đó thực tiển xã hội mới buộc phải hoàn toàn thay đổi. Xã hội
hái lượm nhiều lắm chỉ đánh nhau bằng tay chân, cây, đá. Nhưng khi phát minh ra
lửa, ra cung tên, dáo mác … rồi ngày nay là kỹ thuật hạt nhân, thì đó hoàn toàn
lại là chuyện khác. Hoặc nhân loại sẽ phải chuyển biến hoàn toàn, hoặc phải đi
đến chỗ tự hủy diệt.
Thế cho nên, mối quan hệ giữa
con người và con người, hay trong các giai cấp, chẳng qua cũng chỉ giống mối
quan hệ giữa những gợn sóng trên hồ, trên sông hay trên biển. Đó là những mối
quan hệ bình thường, trừ khi có những yếu tố tác động từ bên ngoài gây nên những
đợt triều lớn. Thổi phồng các mối quan hệ bình thường này là điều quá đáng, vì
những biến động chính yếu của lịch sử cơ bản không phải ở đó mà chỉ có thể do
những nguyên nhận thực tế khác quyết định hoặc kích thêm vào.
Vả chăng, nếu tư hữu là
khuynh hướng khách quan, tự nhiên của mọi loài sinh vật, thì tiền tệ chính là một
khám phá vĩ đại của lịch sử loài người. Rõ ràng điều này là đúng vì phải cần
phân biệt giữa phương tiện và mục đích. Mục đích của mọi sinh vật là sự sống và
phát triển, nâng cao sự sống, còn các yếu tố phục vụ cho điều đó thật sự hay thực
chất đều chỉ là phương tiện. Con sư tử no rồi thì chẳng thèm săn mồi. Nhưng con
báo khi được mồi thường phải đem lên cây để giấu nhằm riêng hưởng được phần
mình. Yêu cầu tư hữu như vậy là yêu cầu tiện dụng, tiện nghi, lợi ích, sự cần
thiết khách quan mà không là gì khác. Con cái lớn lên đều cần phải có các sở hữu
riêng tư, đó là các thực tế của gia đình cũng như của xã hội. Nguyên tắc quyền
sử dụng và quyền di sản thừa kế cũng là ý nghĩa hay yêu cầu tự nhiên trong pháp
luật mà nghìn đời vẫn luôn thừa nhận.
Thế nên lên án, đả kích quyền
tư hữu là điều hoàn toàn không đúng, nó hàm chứa tính đố kỵ, sự bất chấp trong
đời sống, tính cách phi trách nhiệm nói chung. Bởi vì nói cho cùng ý nghĩa của
sự tư hữu cơ bản vẫn chỉ luôn là phương tiện, điều tiện ích, mà không phải là mục
đích hay ý nghĩa sau cùng của cuộc sống. Cho nên không thể vì ý nghĩ sai lệch của
số ít, của đặc thù những cá nhân mà lên án, chỉ trích, chê bai, cốt nhằm triệt
tiêu hay loại bỏ sự tư hữu. Bởi vì nếu muốn, nếu thấy có những phân hóa quá
đáng trong thực tế đời sống về thực tế này, luật pháp chỉ cần đưa ra các biện
pháp hạn chế thông minh nào đó, như thuế khóa, chính sách, để nhằm chế ngự, điều
hòa một cách hợp lý, hiệu quả, mà chẳng cần gì phải vận dụng đến những điều đao
to búa lớn.
Vậy thì điều còn lại cuối
cùng chỉ là quyền tư hữu trong tư liệu sản xuất. Cốt lõi của học thuyết Mác
chính là lên án và tập trung giải quyết chính ý nghĩa gai góc này. Mác cho rằng
tư hữu trong sản xuất chính là nguyên nhân, nguồn gốc của mọi sự, như sự làm
phát sinh ra giai cấp, tạo ra cơ chế sản xuất hang hóa, làm phát sinh tiền tệ,
cho nên dẹp bỏ nó cũng dẹp bỏ được tất cả, giải quyết nó cũng là giải quyết được
tất cả. Xã hội sẽ tuyệt đối lý tưởng, tròn đầy nếu hoàn toàn không có, không
còn nó. Và cũng nhằm để giải quyết điều này mà Lênin đã áp dụng quan điểm làm
ăn, sản xuất tập thể ở Nga từ cuộc cách mạng 1917 khi Liên xô thành lập mà ai
cũng biết. Kết quả những công nông trường ban đầu sụp đổ và Lênin đã phải đối
phó lại bằng các chính sách kinh tế mới.
Thế cho nên, tâm lý ý thức
con người vẫn là cái ngưỡng khó vượt qua, vẫn là điều gì tự nhiên, khách quan,
chính đáng nhất. Đó là tâm lý an toàn, tâm lý tự vệ, tâm lý phòng xa, thậm lý
tâm lý kèn cựa, đố kỵ, tâm lý đối phó, tâm lý cạnh tranh v.v… bởi vì chung qui
lại vẫn chỉ do bản năng tự nhiên về sinh tồn, phát triển, tự chủ, tự do và tự lập
… mà nói chung ai ai cũng có. Đó không phải tâm lý ích kỹ mà chỉ là nhu cầu, ý
thức tự nhiên, thậm chí bất kỳ loài sinh vật nào đều có. Có nghĩa sự khôn ngoan
sắc sảo của con người chính là thích ứng với tự nhiên một cách thông minh mà
không phải đi ngược, đi ngoài, hay phản lại tự nhiên.
Bởi vậy, đời sống của xã hội
là luôn luôn phải sản xuất và phân phối. Nhưng cơ chế nào là cơ chế tự nhiên,
năng suất, hiệu quả và hợp lý nhất, đó mới thật là điều đáng nói. Tất nhiên cơ
chế nào phù hợp với các yêu cầu, tâm lý tự nhiên của cá nhân vẫn phải là cơ chế
khách quan, cần thiết, đúng đắn, hữu lý nhất. Nguyên lý liên kết tập thể chỉ có
thể là những kịch bản nhỏ, nhất thời, khu biệt, nhưng không thể là cơ chế đại
trà, tự nhiên, hằng cửu của toàn xã hội. Bởi vì xã hội là kết tập của những cá
nhân con người. Nhưng cá nhân này luôn luôn thay đổi về số lượng, chất lượng, đến
và đi, có và hết, còn và mất trong xã hội, đó là một yếu tố động, linh hoạt, một
biến số tự nhiên, nên mọi phương trình giải quyết nó cũng phải hoàn toàn là một
chuỗi các hệ thống phương trình hoàn toàn tự nhiên và sinh động. Phản ứng tự
nhiên chính là phản ứng tự phát hợp lý nói chung của các sinh vật, từ hạt nhân
tế báo, các vi thể trong tế bào, đến các con vật đơn bào, đa bào, cá thể con
người và toàn bộ xã hội nói chung. Điều này các quy luật trong lý thuyết sinh học,
tiến hóa, phân tử đều đã biết nhiều, không cần nhắc tới.
Nói khác đi, quy tắc hay quy
luật xã hội không thể vượt ngoài quy tắc hay quy luật sinh học vẫn luôn luôn là
điều cần thiết, hữu lý, và hoàn toàn chính đáng. Xã hội con người thực chất là
một quần thể sinh học trong chính môi trường tự nhiên. Các quy luật tác động
qua lại, nội tại cũng như bên ngoài đều luôn luôn khách quan và cũng luôn luôn
là cơ chế có phần tự động hóa. Có nghĩa mọi sự can thiệp thông minh của con người
chỉ có thể là sự can thiệp bổ sung, điều tiết hay điều chỉnh mà không thể là sự
can thiệp hoàn toàn thay thế.
Chính vậy mà mọi sự thay thế
bằng cách duy ý chí trong quá khứ rõ ràng đã thất bại, gây biết bao nhiêu hậu
quả tệ hại cho bản thân cá thể cũng như cho toàn thể xã hội cũng những nguy hiểm
biết bao cho xã hội con người. Nhưng rồi tất cả những gì phiến diện, vô lý cũng
đã bị chính lịch sử đào thải và cũng đã đi qua. Ngày nay sự đổi mới của nhiều
nơi cũng như sự hội nhập toàn cầu nói chung chính là con đường tất yếu không ai
có thể đi ngược hay đảo ngược lại được nữa.
Vả chăng ý nghĩa của cách
làm ăn hay sản xuất theo kiểu tập thể mà Lênin quan niệm là nhằm để xóa quyền
tư hữu trong sản xuất, tức xóa bóc lột và thặng dư giá trị mà Mác đã quan niệm.
Điều này quả thật Mác vẫn có khuynh hướng nhìn kinh tế xã hội trên bình diện vi
mô, cả lẻ, mà không nhấn mạnh về khía cạnh hay ý nghĩa vĩ mô, toàn cục. Quan niệm
về sự bóc lột thật ra là một quan niệm toán học mang tính cứng nhắc. Mác đã
dùng cả một phương trình toán học cổ điển và cơ bản để nhằm chứng minh cho lập
luận này của mình. Nhưng trong phương trình đó Mác quên đưa vào các biến số hay
thông số về lịch sử, tâm lý cũng như xã hội. Tóm lại là một phương trình quá
đơn giản, loại biệt, giản ước và chưa thật sự hoàn toàn bao quát hay toàn diện.
Bởi vì mọi mối quan hệ xã hội luôn luôn là mối quan hệ nghịch đảo, song phương,
đa chiều, mà không phải chỉ đơn giản là mối quan hệ đơn phương hay chỉ một chiều.
Cho nên hoàn cảnh xã hội, yếu tố kỹ thuật, thông số chỉ tiêu, các ngoại biến số
khác phần lớn đều không được Mác tính đến. Đó là chưa nói đến yêu cầu tái đầu
tư, mở rộng sản xuất trong kinh tế xã hội, là điều hình như Mác đã phớt lờ,
không quan tâm, hay chỉ giải thích cố ý theo quan điểm lập luận riêng của mình.
Nói khác đi, bộ Tư bản luận
của Mác như Mác nói không phải dành cho những nhà kinh tế cổ điển thông thường,
mà chính là dành riêng cho ý nghĩa và mục tiêu cách mạng. Có nghĩa cơ sở của nó
là cơ sở phép biện chứng (lịch sử) của Hegel được mang áp dụng vào nhưng không
phải các ý nghĩa nội dung khoa kinh tế học khách quan của bản thân chính nó.
Nói theo lối ẩn dụ, Mác giống như gọt chân cho vừa giầy trong kinh tế học nơi bộ
Tư bản luận mà không là gì khác. Đó cũng là lý do có những nhà kinh tế học thật
sự đọc vào thấy hết sức khó hiểu là như thế, bởi vì có khi hay có nhiều chỗ nó
không phải ngôn ngữ khách quan, tự nhiên của kinh tế học.
Cho nên, điều cuối cùng quan
trọng hay điều mà Mác không để ý hay chẳng quan tâm đến, đó là tính cách phương
tiện xã hội của chính bản thân nhà tư bản. Mác lên án lợi nhuận, lên án tiền tệ,
bởi vì coi đó là mục đích của nhà tư bản. Thật ra giữa mục đích và chức năng
cũng là điều cần nên cân nhắc. Mục đích hay chức năng của nhà tư bản cũng đều
chỉ là lợi nhuận. Đó không những là chức năng xã hội mà cũng là ý nghĩa hay yêu
cầu bản thân của họ. Bởi lợi nhuận là điều kiện, là cơ sở của mọi hoạt động sản
xuất. Nó là yêu cầu cho mọi chi phí, đặc biệt chi phí cho tồn tại của hoạt động,
cho tái sản suất, mở rộng đầu tư và phát triển sản xuất. Nguyên tắc cạnh tranh
trên thị trường là thực tế tự nhiên và không tránh khỏi. Vô hình chung người
công nhân và cả chủ tư bản cũng đều trở nên như phương tiện chung của toàn thể
cộng đồng xã hội. Một bên bỏ sức lao động thể xác của mình ra, một bên bỏ khả
năng và tài nghệ quản lý, điều khiển của mình ra. Kết quả cuối cùng cũng chỉ là
hàng hóa càng ngày càng mở rộng, gia tăng hơn cả về mặt số lượng và chất lượng,
đáp ứng yêu cầu tiêu dùng chung cho cả xã hội. Như thế, nền sản xuất xã hội
cũng giống như một cái mô đun, một hộp đen tự điều tiết tự động, theo nhu cầu
hàng hóa và giá cả thị trường. Tính cách tự điều chỉnh đó hoàn toàn linh hoạt
và chính xác. Đầu vào gián tiếp là lao động liên đới của tất cả mọi người,
trong đó trực tiếp có giới công nhân và chủ tư bản. Đầu ra trực tiếp cũng nhằm
đến tất cả mọi người, trong đó kể cả những công nhân và các chủ tư bản. Bởi vì
hàng hóa là yêu cầu tiêu dùng cần thiết chung nhất không ngoại trừ bất cứ một
ai. Vả chăng sự tiêu thụ về năng lượng sinh học cũng như các yêu cầu thiết cốt
cho đời sống hang ngày thật ra mọi người cũng đều không chênh lệch hay khác
nhau là bao nhiêu, có thể khác nhau về chất lượng hay tính cách, nhưng cái
chính vẫn là đáp ứng yêu cầu tùy theo hoàn cảnh và bản thân. Cho nên quy luật
tái phân phối lợi tức, tái phân phối hưởng dụng, quy luật kế thừa quyền quản lý
cũng chỉ là thông lệ chung trong toàn xã hội. Cả nhiều khi sự hưởng thụ về đời
sống của những nhà tư bản thật sự cũng không hơn gì người bình thường là mấy.
Giống như câu ngạn ngữ nói người thợ giầy thường phải mang giầy rách, và người
thợ làm hòm thường chết phải bó chiếu. Mặt khác, sự nộp thuế và những đáp ứng từ
thiện, đó cũng là sự phân bố lại hay sự chia sẻ phần nào các lợi nhuận nhà tư bản
thu về trên một phương diện khác. Nói chung mọi dòng sông đều quy về biển, và
nước lại bốc hơi đổ xuống các dòng sông, đó vẫn là quy luật tự nhiên chung của
mọi sự vật khách quan không loại trừ bất cứ khía cạnh đặc thù nào.
Thế cho nên, cái cuối cùng vẫn
là quan niệm sống, quan điểm làm việc, đóng góp hay thụ hưởng nơi tất cả mỗi
con người. Thông thường sự trì lực tự nhiên của mỗi cá nhân vẫn làm cho họ
không muốn lao động nếu không có nhu cầu hấp lực hay kích thích. Sự kích thích
nơi mọi người lao động bình thường chính là điều kiện của cuộc sống, sự kích
thích nơi những người chủ tư bản chính là lợi nhuận. Như thế mọi sự đòi hỏi
công bằng hay lý tưởng xã hội không phải chỉ đòi hỏi nơi người quản lý sản xuất
mà thật sự là nghĩa vụ góp phần giải quyết của tất cả mọi người. Cho nên khoa học
kỹ thuật, văn hóa, tri thức, chính là những nhân tố mạnh mẽ, hiệu quả góp phần
to lớn cho chính các yêu cầu này. Sự khác nhau giữa năng suất lao động cơ bắp của
con người không phải đặc thù lắm, nhưng sự khác nhau giữa trí tuệ, ý thức, thói
quen hay trách nhiệm giữa các con người mới thật sự là nhiều. Một ngàn người
nông dân, một vạn người công nhân, tuy về giá trị và ý nghĩa con người thì giống
nhau, nhưng tính chất của hiệu quả trí tuệ vẫn không so được với vài cá nhân tầm
cỡ của những nhà khoa học. Những con người như Edison, Newton, Einstein … thì lại
hoàn toàn không thể so sánh.
Cho nên bài toán kinh tế xã
hội là bài toán chung cho toàn xã hội, kể cả cho phát triển lịch sử, mà không
phải chỉ thu gọn vào trong cá nhân, giai cấp, hay kể cả những giai tầng xã hội
nào. Sự chan hòa và hiệu quả trong xã hội chính là yêu cầu thực tế mà toàn bộ
loài người phải luôn hướng đến. Đó cũng là lý do tại sao quy luật khách quan vẫn
luôn luôn là yêu cầu thiết yếu cho tất cả mọi hoạt động của xã hội con người. Vận
động hợp quy luật chính là vận động có kết quả, nếu không chỉ hoàn toàn ngược lại.
Chiếc xe chạy nhanh được bởi vì nhờ hai bánh hình tròn, hợp với quy luật chuyển
động tròn. Thử hỏi nếu hai bánh là vuông, hay có những bánh xe trong một guồng
máy là vuông, tất nhiên sẽ thành tắt tị và nhất thiết phản lại hiệu quả. Bởi vậy
mọi quy luật của xã hội, của tâm lý con người, của lịch sử nói chung, cũng phải
đều là những quy luật có thật, khách quan, tự nhiên, mà không thể chỉ là những
quy luật tưởng tượng, áp đặt, huyền hoặc hoặc thiếu khách quan.
Mác đã đưa ra những quy luật
về lịch sử xã hội, được nhiều người cho là tất yếu và duy nhất đúng, nhưng những
quy luật ấy ngày nay đã tỏ ra không thành thực tế, và có lẽ cũng chẳng bao giờ
có thể trở thành thực tế, bởi vì lịch sử sẽ không thể nào quay lại chỗ cũ bao
giờ. Cho nên phần lớn những điều Mác nói đều có tính hấp dẫn bởi vì nó vượt xa
lên trên mọi sự hiểu biết của những con người bình thường hàng ngày. Chính vì vậy
người ta khó bẽ lại nó, cũng như thấy nó hoàn toàn hấp dẫn hoặc thuyết phục.
Nhưng đó chỉ do tính lười suy nghĩ và chẳng thích đào sâu. Bởi khoa học và học
thuật vẫn luôn yêu cầu các tinh thần, các đầu óc trầm tính, khách quan, và quyết
ý tìm tòi. Đó là của giới chuyên môn, không phải của tất cả mọi người trong
bàng dân thiên hạ. Đó cũng là lý do khoa học không thể truyền miệng mà phải là
sự lập chí của mỗi một con người.
Nhưng điều oái oăm nhất là Mác
quá tin chắc vào lý thuyết “biện chứng” của Hegel, nên cũng tin tưởng vào lý
thuyết lịch sử của mình là tuyệt đối đúng, nên ông cũng chủ trương sự độc tài
quyền lực hay sự chuyên chính vô sản (Diktatur des Proletariats). Nhưng chính
điều này dẫn đến chỗ không phát huy,
không tập hợp được mọi tài năng, mọi tinh hoa, sáng kiến của xã hội, do đó mà
nó cũng trở thành trở ngại cho mọi sự phát huy, phát triển nói chung của toàn
xã hội. Đó là một thực tế mà ngày nay ai cũng thấy, và đó cũng chính là nhu cầu
của mọi sự đổi mới và mọi mục tiêu dân chủ hóa.
Nói chung lại, học thuyết của
Mác đúng là một sự cao hứng, một sự bồng bột, say sưa có phần quá đáng. Sở dĩ
ít có người bác bẽ lại Mác, bởi vì ông chủ trương chuyên chính, các lý luận của
ông vượt lên trên tầm hiểu biết chung của nhiều người, nhất là lý tưởng của ông
quá cao vời, đẹp đẽ (tuy không thực tế), nên phần lớn gây nên mặc cảm tự ti, thấp
kém, nếu có những người nào thật sự muốn công khai phân tích, nhận xét hay đánh
giá lý thuyết của ông. Do vậy, những người vận dụng, nghiên cứu học thuyết của
ông từ xưa này phần lớn đều chỉ rập khuôn, minh họa, sao chép thụ động theo, mà
họ gọi là “lý luận”, điều đó không ngoại trừ cả Nguyễn Bách Khoa (Trương Tửu),
Trần Đức Thảo … cùng nhiều người khác.
Cho nên, cái gì của César cần
trả lại cho César, cái gì của khoa học, học thuật cũng nên trả về cho khoa học,
học thuật. Do vậy, nói rút lại, sự không tách bạch rạch ròi giữa ý nghĩa phương
tiện và ý nghĩa mục đích có lẽ là điều dễ thấy nhất trong Mác. Chẳng hạn, hàng
hóa và tiền tệ là yêu cầu phổ biến, tự nhiên và thiết yếu trong xã hội phát triển,
tì ngay từ đầu Mác đã gắt gao lên án, muốn dẹp bỏ, cho là nguồn gốc của mọi tệ
nạn xã hội, và muốn quay về tình trạng sản xuất vật phẩm trực tiếp để phân phối,
không phải qua trung gian của thị trường và tiền tệ. Điều này ai đọc sâu vào bộ
Tư bản luận của ông đều nhất thiết phải thấy. Cũng chính vì thế mà Mác chủ
trương một xã hội vô sản trong tương lai, tức mọi của cải tài sản chỉ còn là
tài sản của cộng đồng chung, nhất là các phương tiện sản xuất trong kinh tế. Đó
là một xã hội hoàn toàn đồng thuận, tự nguyện, tự giác, tự đề ra kế hoạch sản
xuất và phân phối cho nhau giữa tất cả mọi người không phân biệt, không còn và
cũng không cần thông qua thị trường bán buôn và tiền tệ. Một xã hội quá khác
thường, thần thánh như vậy quả thật cũng là một điều rất lạ, bởi vì Mác hầu như
đã quên mất chính quy luật vật chất và tự nhiên vẫn chi phối mọi người trên cơ
sở của chủ thuyết duy vật. Như thế đúng là trên cơ sở duy vật như là nguyên lý
được chấp nhận, Mác lại xây dựng một phạm trù xã hội hết sức duy tâm, quả là điều
nghịch lý và mâu thuẫn lại chính nền tảng cơ sở ban đầu của lý thuyết mình. Vả
chăng, nếu theo đúng quan điểm lý thuyết biện chứng, xã hội vẫn phải luôn biện
chứng, biến đổi không ngừng, vậy thì những mô thức hoàn thiện, bất biến như vậy
trong tương lai liệu có phải tự nghịch lý với chính nó hay không.
Thật ra, mọi nền sản xuất
trong kinh tế xã hội tự nó chẳng bao giờ nhất thiết ổn định hay bất di bất dịch.
Bởi vì yếu tố đầu vào, yếu tố đầu ra, yếu tố phân phối luôn luôn tự nó là những
biến số. Tập hợp con người trong bất kỳ không gian hay thời gian nào đó không
khi nào tuyệt đối bất biến. Đó là một tập hợp biến chuyển. Sự phát triển khoa học
kỹ thuật cũng luôn không ngừng đổi mới. Yếu tố tài nguyên thiên nhiên cũng
không phải luôn luôn ổn định. Do vậy mọi bài toán quy hoạch mà không theo
phương thức xác suất ở đây là hoàn toàn không đủ cơ sở. Đó không những là yếu tố
của tương lai, mà cả chính yếu tố trong hiện tại cũng như trong quá trình phát
triển kinh tế trong quá khứ trên toàn thế giới của nhân loại nói chung.
Chẳng hạn có những kỹ thuật
sản xuất trước kia không có mà ngày nay đã có, và trong tương lai cũng sẽ còn
nhiều bước ngoạn mục như thế. Đó cũng là lý do phải luôn luôn nên xem mọi thể
chế xã hội, mọi cơ chế của nền kinh tế đều luôn luôn chỉ là phương tiện mà
không bao giờ là cứu cánh tối hậu của chính xã hội con người. Cứu cánh đó không
gì khác hơn là đời sống, là văn hóa, là tinh thần, mà không bao giờ là tiền tệ
hay hàng hóa, bởi vì chúng vẫn chỉ là các vật chất, các phương tiện, cho dù
hoàn toàn hiện thực, thiết yếu và luôn luôn cần thiết.
Bởi vậy ý nghĩa giai cấp của
Mác cũng luôn luôn nặng về tính biện chứng theo công thức của Hegel, tiền đề -
phản đề - hợp đề, mà không nhìn thuần túy trên thực tế luôn luôn chuyển biến tự
nhiên trong toàn xã hội. Bởi vì nếu khởi đầu giai cấp nông dân là nhiều nhất, rồi
đến giai cấp công nhân, vì đó là những lực lượng lao động trực tiếp của con người
khai thác tài nguyên đất đai, tài nguyên tự nhiên, và các yêu cầu chế biến, tạo
tác ra các sản vật nói chung trong toàn xã hội. Nhưng khi kỹ thuật thay đổi,
phát triển, năng suất lao động nâng cao, tất nhiên sức lao động giản đơn, cơ bắp
được giải phóng nhiều hơn, đó là kết quả của nền kinh tế tri thức mà không phải
là của kết quả trong tiến trình đấu tranh giai cấp. Quả là Mác vẫn luôn luôn bị
buộc chặt trong hoàn cảnh thời đại của mình nhưng lại phóng một cái nhìn hết sức
quá chừng viễn tưởng.
Nên nói chung lại, quan điểm
của Mác hình như quá nhiều chỗ còn nhập nhòe giữa phương tiện và cứu cánh. Tiền
tệ và hàng hóa thật sự là phương tiện hiệu quả nhất trong mọi giao dịch, quan hệ
cần thiết, tự nhiên nhất của nhân loại, lại bị ông lên án, coi như những phương
thức quá độ của tiến trình lịch sử. Thật sự đó là sự tiết kiệm nhất trong giao
dịch, sự tiện nghi nhất trong nhu cầu, sự hoàn thiện nhất trong phát triển và
tích lũy về mọi mặt, là cuộc cách mạng lớn lao nhất thay thế cho sự trao đổi
hoán vật trực tiếp của quá khứ, thì ông lại cho đó là bước thụt lùi, phản động
trong lịch sử nhân loại. Tính ưu việt trong các chức năng của tiền tệ, cũng như
tính tiết kiệm, hiệu lực trong sản xuất hàng hóa, rõ ràng là sự tiện ích không
thể phủ nhận của đời sống thực tế mọi mặt của xã hội con người, vậy mà muốn trở
nên một xã hội không còn hàng hóa, không còn tiền tệ trong tương lai, thì thật
sự đó là bước thụt lùi hay phát triển.
Cho nên bài viết này cũng chỉ
là sự bổ sung cho bài viết trước, nó không khác nhau mà thật sự chỉ giống nhau,
có điều được nhìn ở một số khía cạnh phần nào khác hẳn. Tựu trung lại, sự phân
biệt của Mác là hết sức rạch ròi, dứt khoát giữa xã hội tư sản và xã hội vô sản.
Xã hội tư sản là xã hội đặt nền sản xuất trên tư hữu, hàng hóa, tiền tệ, thị
trường, còn xã hội vô sản là xã hội hoàn toàn loại bỏ tất cả mọi thứ trên.
Nhưng ở đây rõ ràng là giữa hai xã hội đó, xã hội nào là phát triển tự nhiên,
khách quan, hiện thực, hiệu quả, mang lại nhiều tiện ích, tiết kiệm, hiệu lực
cho con người, đó chính là một chủ đề cần để so sánh. Sự so sánh này chính con
người cũng đã thực hiện nhiều trong thực tế. Vì tất cả đều không thể không
thông qua chính nhân tố quản lý và quan hệ giữa con người và con người. Trong
khi đó, sự phân biệt về giai cấp của Mác lại hết sức rành rọt. Ông cho rằng chỉ
có hai giai cấp cơ bản là giai cấp vô sản và giai cấp hữu sản, tức giai cấp tư
sản hay tư bản. Ông không thừa nhận có ranh giới tập mờ trung gian nào giữa hai
lằn mức. Tức hoặc chỉ có những người làm chủ, hoặc chỉ có những người làm thuê
trong xã hội tư sản. Bởi vì chỉ trên nền tảng phân hóa, đối nghịch giai cấp dứt
khoát như, thì tính chất biện chứng mới có ý nghĩa, tức sự đối kháng tạo nên và
hoàn thành chính cuộc cách mạng vô sản. Một xã hội vô sản chính là một xã hội
giải quyết được tiền đề tư sản, phản đề vô sản, để đi đến hợp đề phi giai cấp của
toàn xã hội mà ông nhất thiết tiên báo. Nhưng một xã hội như thế trên toàn thế
giới, có nghĩa là phải xóa bài để làm lại tất cả, quả thật nếu không phải là
quy luật tự nhiên, khách quan của trời đất, thì không phải sức mọi người đều có
thể làm nổi. Đó là chưa nói nó suýt đưa nhân loại đến chỗ diệt vong trong cuộc
khủng hoảng đối đầu trước kia trong thời kỳ chiến tranh lạnh về ý thức hệ vô sản,
phi vô sản ở tại Cu Ba.
Thật ra trong tự nhiên có những
thực tại không hoàn toàn mang tính chất biện chứng như Hegel quan niệm. Chẳng hạn
giống tính, như nam nữ, đực cái, vẫn là quy luật phổ biến tự nhiên, cụ thể và
khách quan trong phần lớn các loài sinh vật. Điều ấy không thể cho là hai trạng
thái đối lập để cùng đấu tranh loại bỏ nhau theo như ý nghĩa cơ bản của biện chứng.
Sự phân cực của trái đất hay của thanh nam châm, đó là do cấu trúc vật lý về từ
tính của thành phần cấu tạo mà không liên quan gì đến sự đấu tranh giữa hai mặt
đối lập buộc tuân theo trong công thức của lý thuyết biện chứng được Hegel nêu
ra cả. Chưa nói đến quan điểm phân tâm học ngày nay, cõi siêu thức nơi tâm lý bản
năng con người, trong đó có bản năng phá hoại và bản năng quyền lực cũng là điều
rất nên được nói đến.
Nói sơ qua thế để thấy rằng
thật sự còn rất nhiều vấn đề đáng nói mà không thể nào nói hết. Do đó có rất
nhiều sách viết về lý thuyết Mác mà đúng nghĩa đó chỉ là thói quen sao chép,
minh họa, chấp nhận một chiều, điều đó phỏng có ích gì cho học thuật, khoa học,
hay sự phát triển chân lý của thực tại khách quan. Bởi thế bài viết này trong
chừng ấy trang cũng gọi là vừa, bởi vì tuy không đầy đủ những nó cũng đã cố gắng
gói ghém vào đó tất cả những nội dung và ý nghĩa cốt lõi nhất không thể nào
không nói đến. Trong ý nghĩa đó, đây cũng có thể coi là bài viết sau rót của
tác giả trong loạt bài phân tích về các vấn đề căn cơ và bao quát nhất trong lý
thuyết của Mác. Điều này cũng coi được như sự tạm khép lại những tranh luận có
phần bổ ích, cần thiết, mà trong non hai thế kỷ quả ở khắp nơi trên toàn thế giới
không biết bao nhiêu người bàn thảo trên khía cạnh này hoặc khía cạnh khác.
Song đó vẫn là việc của xứ người, là các sản phẩm của xứ người, có thể có nhiều
điều chúng ta không hề biết tới. Bởi vậy đây cũng chỉ là một sản phẩm thuần túy
của Việt Nam, được thể hiện chính trong hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam. Dầu
sao cây nhà lá vườn, tuy thô sơ những vẫn thấy hết sức mát lòng và hoàn toàn an
ủi.
VÕ HƯNG THANH
(18/01/2011)
**
ĐIỀU CỐT LÕI CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
Giữa thế kỷ 19 Các Mác đưa
ra học thuyết của mình phê phán gắt gao xã hội tư bản chủ nghĩa. Cơ sở của sự đả
kích này là tình trạng kinh tế xã hội tư bản thời kỳ phôi thai, mới chuyển từ nền
sản xuất manh mún của xã hội phong kiến sang nền sản xuất tập trung của xã hội
tư bản chủ nghĩa.
Từ những nhận xét ban đầu của
nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, Mác kết luận nền sản xuất này chỉ là thời kỳ quá
độ để tiến tới nền sản xuất trong xã hội cộng sản chủ nghĩa. Cơ sở và lý do của
tình trạng quá độ này được Mác đưa ra là tình trạng người bóc lột người và xã hội
bị phân chia thành giai cấp. Bởi vậy ý hướng của Mác trong xã hội cộng sản chủ
nghĩa trong tương lai là không còn tình trạng người bóc lột người và xã hội
không còn giai cấp.
Ngoài nhiều bài viết và tác
phẩm đả kích xã hội tư bản, bộ sách chủ yếu và cao điểm nhất của Mác phân tích
nhằm đả phá xã hội và nền kinh tế tư bản chủ nghĩa chính là bộ Tư bản luận (das
Kapital). Trong bộ sách này Mác tuyên bố sự dẫy chết của xã hội tư bản để tiến
tới nền kinh tế cộng sản chủ nghĩa.
Như vậy cơ bản của học thuyết
Mác chính là ý niệm bóc lột trong kinh tế tư bản chủ nghĩa, ý nghĩa phân chia
giai cấp trong quá khứ của xã hội loài người, và ý nghĩa đấu tranh giai cấp như
động lực và lịch sử của cuộc cách mạng toàn diện cho thế giới.
Nguồn gốc của bóc lột Mác
cho rằng đó là do quyền tư hữu. Nhưng quan trọng hơn cả, ý nghĩa của đấu tranh
giai cấp là Mác rút ra từ quan điểm biện chứng (die Dialektik) của hệ thống triết
học Hegel. Điều này bắt nguồn từ sự kiện Mác là một người trẻ theo thuyết Hegel
trong thời đại của ông ta. Bởi đấu tranh giai cấp không theo Mác không phải chỉ
là hiện tượng bề ngoài và tự nhiên trên bình diện khách quan của kinh tế xã hội,
mà nền tảng sâu xa chính là quy luật biện chứng như là quy luật thiết yếu bao
trùm toàn thể tồn tại.
Tất nhiên Hegel là nhà triết
học duy tâm, hệ thống Hegel là hệ thống duy tâm, “phép biện chứng” của Hegel
cũng là “phép biện chứng” duy tâm, thế mà Mác lại đưa vào hệ tư tưởng hoàn toàn
duy vật của mình, chính là điều đầu tiên không ổn, chẳng khác gì râu ông nọ cằm
bà kia, nên đây là chỗ trái khoáy không phải nhiều người thấy được hoặc muốn thấy.
Thế nên cái cốt lõi còn lại
chính là sự tư hữu và khái niệm bóc lột. Mác nói xã hội loài người nguyên thủy
là xã hội không có tư hữu nên cũng không thể có bóc lột, đó là xã hội cộng sản
nguyên thủy, tức làm ăn tập thể. Nhưng khi nói điều này Mác đã không phân biệt
cái đã có và cái chưa có. Thật ra xã hội nguyên thủy không phải là xã hội cộng
sản như Mác quan niệm mà chỉ là xã hội sơ khai. Ngay cả khái niệm tài sản riêng
ở đây cũng chưa có, nói gì là ý niệm cộng sản. Đánh đồng cái chưa có và cái có ở
đây chính là một suy nghĩ còn lờ mờ của Mác. Giữa con số 0 và số ε (epsilon)
trong toán học vẫn cách xa một trời một vực, giống tư cánh hoa tàn và mầm trái
mới nhú là hoàn toàn khác nhau.
Cho nên Mác vì quá say mê và
tin chắc tuyệt đối vào thuyết biện chứng của Hegel, khiến trở thành chỉ nặng về
lý luận tư biện (spekulatives Argument) mà quên đi chính thực tế tự nhiên của
cuộc đời và xã hội. Từ đó Mác cũng quên mất điều phân biệt giữa ý niệm cứu cánh
và ý niệm phương tiện về mặt ý nghĩa của tư hữu. Bởi nói chung, xét cho cùng, về
mặt sinh học và xã hội, thì sự tư hữu luôn luôn chỉ là phương tiện mà không hề
bao giờ là cứu cánh cả. Bởi quy luật sinh học và xã hội vẫn luôn luôn là sự
phát triển, cho nên tư hữu vẫn trở thành quy luật phổ biến, vì là công cụ và tiện
ích tối cần cho mỗi cá thể (không phân biệt thuộc phạm vi nào) tồn tại phát triển
đi lên, mà không bao giờ là cứu cánh tối hậu như một cách nhìn hời hợt.
Mác cho rằng vì tư hữu là
nguồn gốc của bóc lột, của giai cấp, nên triệt tiêu sự phát sinh ra hai hệ quả
này cũng đồng thời triệt tiêu giai cấp, tiệt tiêu đấu tranh giai cấp, để đi đến
xã hội không còn bóc lột, không còn giai cấp. Trên nền tảng đó, Mác cũng cho rằng
nhà nước là công cụ của đấu tranh giai cấp, pháp luật là ý hệ của đấu tranh
giai cấp, tức thuộc thượng tầng kiến trúc, nên một xã hội cộng sản hoàn toàn lý
tưởng trong tương lai cũng không còn nhà nước, không còn pháp luật, vì không
còn giai cấp. Mác cũng mô tả xã hội lý tưởng trong tương lai đó mọi người đều
làm ăn tập thể, tự nguyện tự giác sản xuất, người công nhân được giải phóng
hoàn toàn, buổi sáng có thể đi câu cá, buổi chiều có thể vào xưởng thợ, buổi tối
có thể đi chơi tùy thích, bởi vì lúc đó mọi người đều làm theo năng lực và hưởng
theo nhu cầu, triệt tiêu tiền tệ, vì tiền tệ là nguồn gốc của giai cấp và bóc lột,
nên cũng triệt tiêu luôn cả mọi sự phân công tự nhiên, khách quan của xã hội.
Chỉ còn lại một xã hội hoàn toàn tự quản, hoàn toàn phân phối mọi thành quả lao
động cho nhau. Quả thật là hết sức không tưởng, quên mất đi mọi yếu tố trì lực,
khuynh hướng sinh học, hay bản năng vật chất, yếu tố nọa tính tự nhiên, của tâm
lý con người.
Mác cho rằng học thuyết của
mình là học thuyết khoa học duy nhất đúng, bởi ông ta tin chắc vào quy luật biện
chứng của Hegel như là quy luật phổ biến khách quan tự nhiên của vũ trụ, nên niềm
xác tín đó khiến Mác luôn luôn trụ vững trong mọi khía cạnh khác nhau nơi học
thuyết lịch sử, xã hội của mình. Có nghĩa Mác cũng đã “triết lý hóa” theo kiểu
tư biện những khái niệm hoàn toàn thực tế, khách quan, cụ thể và tự nhiên của
những con người bằng xương bằng thịt nơi thế gian cụ thể và hoàn toàn sống thực
của lịch sử xã hội. Quy luật phát triển đi lên của xã hội từ nguyên thủy đến hiện
đại, qua các giai đoạn lịch sử khác nhau là hoàn toàn khách quan, tự nhiên, có
khi đột biến hay ngẫu biến là những trạng thái cá biệt. Phạm trù hóa vào các
hình thái xã hội liên tiếp nhau cách tất yếu là điều Mác đã làm một cách khiên
cưỡng, tràn đầy suy diễn theo kiểu chủ quan. Do vậy sự lên án giai đoạn này hay
giai đoạn khác đã qua của lịch sử cũng hoàn toàn phi lý.
Bởi con người nói cho cùng
là con người sinh học và tâm lý. Con người là thực thể sinh học, nên quần thể
xã hội thực chất cũng là quần thể sinh học. Nó luôn luôn chịu sự tác động qua lại
của môi trường thế giới tự nhiên ở chung quanh. Điều này ngày nay trên khắp thế
giới mọi người đều thấy rõ kết quả của tác động môi trường là như thế nào.
Chính mỗi cá thể sống đều là một thực thể sinh học, cho nên tâm lý ý thức tự
nhiên của cá nhân và xã hội con người vẫn phải coi tư hữu là phương tiện thiết
yếu không thể nào khác và cũng không phải gì khác. Như thế chủ trương loại bỏ
óc tư hữu, loại bỏ quyền tư hữu là hoàn toàn trái khách quan, trái tự nhiên và
không thực tế. Đây là một ảo tưởng phi khách quan và phi khoa học của chính
Mác.
Mặt khác, quy luật cấu trúc
của muôn vật vẫn là quy luật khách quan và tự nhiên. Mọi sự tồn tại đều có cấu
trúc hay thuộc về một cấu trúc, đó là điều chắc chắc. Trong thế giới vi mô của
những hạt cơ bản, đến thế giới vĩ mô của các thiên hà, đến xã hội và lịch sử
phát triển xã hội của loài người, ý nghĩa này luôn luôn là một thực tại. Nên
nói thẳng ra, giai cấp hay giai tầng xã hội phải luôn luôn có, vì đó là thực tế
khách quan, là kết quả của sự cọ xát về mọi phương diện tâm lý, ý thức và năng
lực tự nhiên của mỗi cá nhân con người. Nói một xã hội không giai cấp cũng như
nói một tồn tại phi cấu trúc, đó là điều hoàn toàn vô lý.
Cho nên ý nghĩa của giai cấp
hay giai tầng xã hội không nên nhìn theo khía cạnh tiêu cực mà nên nhìn theo ý
hướng tích cực. Khía cạnh tiêu cực là khía cạnh phản lại con người, phản lại xã
hội, tức ý thức phân biệt giai cấp theo kiểu ích kỷ, kiểu kỳ thị, kiểu phân biệt
đối xử. Đó là quan điểm phản nhân bản. Trái lại, ý hướng tích cực là ý hướng
khách quan, khoa học, mỗi cá nhân và xã hội đều luôn luôn cần phải thăng tiến,
cải thiện, hoàn thiện chính bản than của mình, nhằm làm cho cấu trúc tự nhiên của
xã hội càng ngày càng phù hợp, khách quan, hiệu quả, tốt đẹp, lý tưởng hơn. Cho
nên, chính sự khác nhau về quan điểm, về cái nhìn khiến người ta có quan niệm
sai lệch, có cái nhìn thiển cận, thù địch với ý nghĩa khách quan, mà không phải
đó là thái độ hay là điều hoàn toàn hợp lý.
Vì thế quan điểm duy vật lịch
sử của Mác là bắt nguồn từ quan điểm duy vật biện chứng nhưng không phải là
quan điểm khoa học xã hội hoàn toàn khách quan và thực tế. Nhưng có điều đã là
quan điểm duy vật, cũng không thể nào có quy luật biện chứng theo đúng nghĩa. Bởi
quy luật biện chứng luôn gắn liền với tiềm lực (duy tâm) và cứu cánh luận (cũng
duy tâm nốt), nên quan điểm duy vật thuần túy mà lại gắn với tính biện chứng chỉ
có nghĩa là niềm tin cảm tính mà hoàn toàn không có ý nghĩa khách quan khoa học
hay hoàn toàn triết học. Cũng từ đó mà khái niệm các hình thái xã hội, tức sự
phát triển tự nhiên khách quan của xã hội loài người từ cộng sản nguyên thủy,
sang tư hữu phong kiến, sang tư hữu tư bản chủ nghĩa, cuối cùng sang công hữu cộng
sản chủ nghĩa chỉ hoàn toàn là suy luận trừu tượng kiểu tư biện của lý thuyết
biện chứng mà tuyệt nhiên không phải những dữ kiện khách quan khoa học lịch sử
và xã hội thật sự.
Nói cách khác, quần thể xã hội
loài người cũng là một quần thể sinh học, cho nên sự tác động của các quy luật sinh
học vẫn là điều cơ bản và khách quan tự nhiên. Có thể kể tóm lược các quy luật
cơ bản đó là quy luật đấu tranh sinh tồn, quy luật cộng hợp tồn tại, và quy luật
biến thiên phát triển. Các quy luật này thuyết tiến hóa và thực tại tiến hóa của
lịch sử khách quan đã cho thấy nhiều, cả phương diện sinh học tổng thể lẫn
phương diện sinh học phân tử ngày này, đồng thời có rất nhiều khía cạnh bổ sung
của chúng như khía cạnh đột biến, khía cạnh chọn lọc tự nhiên chẳng hạn.
Do đó sự phân hóa thực tế
trong xã hội vẫn là sự phân hóa tự nhiên, không thể nào ngăn chặn hiệu quả được
sự phân hóa này. Giống như mầm cây phát triển thành cây là sự phân hóa tự
nhiên. Nên cây cho ra hạt chính là hạt khác, không phải trở lại cái hạt ban đầu
như cách lý luận của Mác cho rằng từ xã hội cộng sản nguyên thủy, phát triển
theo quy trình lịch sử, lại quay về xã hội cộng sản khoa học. Bởi vậy, vấn đề
không ngăn được sự phân hóa tự nhiên trong xã hội, phải làm sao cho sự phân hóa
đó thật sự là hoàn toàn khách quan mà không phải giả tạo. Quan điểm loại bỏ nhà
nước, không có pháp luật, là quan điểm hoàn toàn phi lý. Trong khi đó, những thực
tế nhà nước bất lực, tiêu cực, lẫn pháp luật không hiệu quả trong việc quản lý
xã hội một cách tốt đẹp cũng hoàn toàn trái lẽ và phi lý.
Nhưng cũng từ trên các quan
điểm chung nhất đó của Mác mà Lênin (từ cuộc cách mạng vô sản 1917) đã đi sâu
và cụ thể vào quan điểm và tổ chức xã hội Liên bang Xô viết theo kiểu tập thể
hóa của mình. Hay nói rút lại, học thuyết hay chủ nghĩa Mác-Lênin chính là chủ
trương tập thể hóa xã hội. Tập thể hóa xã hội chính là chủ trương kiểu cách làm
ăn tập thể, là kinh tế tập thể, kinh tế nhà nước, thay vì kinh tế cá thể, kinh
tế tư bản chủ nghĩa. Bởi Lênin cho rằng chỉ có làm như thế mới tránh được mọi bất
công xã hội, mới đấu tranh loại bỏ giai cấp và xây dựng được xã hội thuần túy
xã hội chủ nghĩa rồi cộng sản chủ nghĩa.
Kinh tế tập thể là kinh tế
hướng mạnh vào sự tập trung của quản lý nhà nước, đó là các kế hoạch ngắn hạn
hay dài hạn nhiều năm, loại bỏ quyền tư hữu, đẩy mạnh quyền công hữu, nền kinh
tế theo sự chỉ đạo, sự phân công, theo kiểu cách sản xuất tập thể trong các nhà
máy, các công nông trường quốc doanh mà chính Liên xô và các nước XHCN Đông Âu
trước kia đã từng áp dụng.
Tất nhiên trong các hoàn cảnh
cụ thể của xã hội như thiên tai, chiến tranh, sự tập trung tổ chức, chỉ đạo
luôn luôn tỏ ra hiệu quả, có sức mạnh, nhưng đó chỉ là tạm thời, không thể cứ
kéo dài vô hạn hoặc vĩnh viễn. Bởi mặt phải là như thế, song mặt trái là sự hi
sinh mọi quyền tự do cơ bản của cá nhân con người, sự phản lại tâm lý tự nhiên
trong dài ngày, sự phát sinh ra các tiêu cực không thể tránh trong lòng xã hội
về rất nhiều mặt, mà đôi khi hậu quả của nó còn nặng nề hơn chính các kết quả
mang lại. Điều này kinh qua lịch sử quá khứ, mọi người đều có thể nhìn thấy, và
đó cũng là kết cục của sự sụp đổ khách quan, tự nhiên của Liên xô và phe XHCN
trước đây.
Thế nên, ý nghĩa của kinh tế
xã hội chẳng qua chỉ là ý nghĩa của khoa học kỹ thuật và ý nghĩa của tâm lý ý
thức con người. Điều quan trọng nhất là ý niệm bóc lột và giá trị thặng dư
trong học thuyết Mác phần nào mang tính chất phiến diện và chỉ nhìn trên bình
diện cá thể. Có nghĩa khái niệm bóc lột chủ yếu có liên quan đến tương quan và
tính khí cá nhân, lại được khái quát hóa, trừu tượng hóa thành ý niệm đấu tranh
giai cấp toàn diện. Đây là cách nhìn vừa mang tính cách trừu tượng toán học vừa
mang tính cách khái quát hóa hay tổng thể hóa theo quan điểm biện chứng duy vật.
Bởi thật ra, tình trạng bóc lột nếu có, còn mang tính cách cá biệt, tính cách
tương quan, và tính cách tính khí của các chủ thể cá nhân con người trong từng
trường hợp.
Sự thổi phồng giai cấp, sự
khắc họa hay tô đậm đấu tranh giai cấp đúng là ý nghĩa trừu tượng hóa, khái
quát hóa, vượt xa trên thực tế. Gọi là chủ thể A bóc lột chủ thể B có nghĩa chủ
thể A là kẻ ác ôn, phi đạo đức, và chủ thể B là nạn nhân đáng thương trong xã hội.
Thế, nhưng nếu hoán vị hay đổi chỗ giữa hai chủ thể, chưa hẳn tình trạng đã khá
hơn nhưng còn tệ hơn, nếu tính khí tâm lý của B còn tệ hơn của A. Như vậy, yếu
tố ý thức tâm lý, ý thức đạo đức, trình độ khả năng nhận thức, kết quả giáo dục,
cá tính riêng, là một trong những nguyên nhân hay nhân tố quan trọng mà chính
Mác không quan tâm đến. Điều này cũng có nghĩa những sự kiện xảy ra trong đấu
tranh giai cấp theo kiểu khái quát hóa về giai cấp trong thời Liên xô, hay trước
kia ở Trung quốc, ở Khmer đỏ, và nhiều nơi khác, những sự khắc nghiệt quá mức
và phi nhân tính thì ai cũng rõ.
Bởi sự công bằng một cách
chính xác theo kiểu toán học là điều hoàn toàn không thực tế, không thể có
trong xã hội. Cho nên sự công bằng tương đối trong kinh tế hay trong thực tiển
đời sống xã hội là điều hoàn toàn khách quan và tự nhiên. Người nào có chút hiểu
biết về kinh tế học có thể hiểu rằng ý nghĩa bóc lột và giá trị thặng dư mà Mác
nói về kinh tế tư sản, cá thể, hay kinh tế tư bản chủ nghĩa thật sự vẫn đi đôi
với ý nghĩa an toàn cá thể, sự dự phòng cá thể, và đi đôi với sự tích lũy tư bản
nói chung. Tâm lý an toàn, tâm lý dự phòng, đó là tâm lý đời sống có tính hiển
nhiên nơi con người hay thậm chí nơi mọi sinh vật nói chung. Câu chuyện con sóc
giấu quả thì ai cũng biết, tâm lý tiết kiệm lo xa cũng là tâm lý tự nhiên của mọi
con người.
Cho nên nếu nhìn đại thể, sự
tích lũy tư bản không phải xấu, mà là điều kiện tự nhiên để phát triển kinh tế
xã hội. Bởi nếu lao động xã hội được làm ra đều chi tiêu hết trong hiện tại, đều
trang bằng ra cho tất cả mọi người, cũng không thể còn điều kiện tái đầu tư để
phát triển chung cho tương lai và cả hiện tại của xã hội. Vả chăng, sự tích lũy
này cũng còn là điều kiện thiết yếu, tự nhiên để phát triển khoa học kỹ thuật
nói chung mà mọi người đều rõ. Khoa học kỹ thuật không thể có nếu không có quá
trình tích lũy đầu tư về nhiều mặt trong lịch sử xã hội, đó là điều hoàn toàn
chắc chắn.
Cho nên nhìn ý nghĩa lao động
và hưởng thụ trong xã hội, Mác chỉ thấy một mà không thấy hai là như thế. Sự
tiêu thụ năng lượng thực phẩm hàng ngày của một chủ tư bản thật ra cũng không
thể dôi lên vô hạn so với điều đó ở một công nhân, kể cả cho rằng ý nghĩa và chất
lượng nội dung ở cuộc sống giữa họ là hoàn toàn khác. Thế thì ý nghĩa của tích
lũy lao động, của tái đầu tư sản xuất chính là ở đây. Sự công bằng xã hội theo
nghĩa tương đối cũng chính là ở đây, nếu nó không vượt quá khuôn khổ của luật
pháp, của đạo đức xã hội, của những điều hợp lý tự nhiên cho phép.
Thế nhưng điều quan trọng
khác nữa của phát triển lịch sử và xã hội chính là khoa học kỹ thuật hay sự
phát kiến của con người, mà không phải chỉ là đấu tranh giai cấp như Mác đã quá
suy nghĩ thiên lệch. Bởi con người thuở ban đầu ăn tươi nuốt sống, nếu không
phát kiến ra lửa, tình trạng đó chắc muôn đời vẫn vậy. Thế thì từ lửa đến rèn
đúc, đến chế tác vẫn là con đường phát triển tất nhiên. Rồi con người phát minh
ra chuyển động tròn, phát kiến ra la bàn, ra thuốc nổ, ra điện, điện toán và
tin học ngày nay, quả là những dấu mốc quyết định, những bước tiến không lồ của
nhân loại mà không là gì khác. Ví thử nếu không có những phát kiến, những tiến
bộ khoa học kỹ thuật đó, sự đấu tranh giai cấp thuần túy, tức sự giành giật lẫn
nhau về các quyền lợi kinh tế có sẳn, liệu có thể dẫn tới đâu không. Đó quả là
điều chỉ thấy lá, thấy cây mà chẳng thấy rừng của Mác. Sự xác định sai hay
không chính xác nguyên nhân và động lực chủ yếu hay cốt lõi của lịch sử chính
là điều đã chủ thuyết Mác trở nên không thực tế và xa lạ với hiện thực. Đó cũng
là nói tồn tại của vũ trụ quả thật còn quá nhiều bí ẩn hơn chỉ là quan niệm duy
vật quá giản lược, cạn hẹp và đơn thuẩn như kiểu của Mác nghĩ tưởng.
Điều này thực tế của xã hội
cũng như những trải nghiệm của từng cá nhân vẫn hoàn toàn thấy rõ, hoặc giả
cũng đã trả lời được hoàn toàn chính xác. Kinh tế cá thể hay kinh tế tư bản chủ
nghĩa nếu muốn nói như vậy, chủ yếu dựa vào sự phát triển tự nhiên, khách quan
của xã hội con người, mà không phải theo những mô hình tổ chức có sẳn được đưa
ra kiểu công thức như kinh tế tập thể mà mọi người đều rõ. Có nghĩa cái trước
thì dựa vào sự kết hợp tự nhiên về lao động, cái sau thì dựa vào mô hình ý thức
hệ về lao động, mặc dầu kết quả thì hai nếp cũng vào một xôi, tức đều nhằm phục
vụ tối hậu cho đời sống sản xuất hay sự phát triển thiết yếu nói chung của toàn
thể nền kinh tế xã hội. Nên nói cho cùng, cái cốt lõi ở đây chính là hiệu quả của
sự sản xuất xã hội, tức vấn đề năng suất, mà không phải những lý luận suông,
mông lung và phi thực tế.
Điều này cho thấy rõ xã hội
Liên xô và các nước Đông Âu trong thời kỳ hậu xô viết, nền kinh tế xã hội vẫn
phát triển nhưng theo hướng khác và theo nhịp độ khác. Điều này cũng có thể đem
so sánh với nước Đức thời Đông Đức và thời Liên bang Đức, đem so sánh Triều
Tiên và Hàn Quốc, đem so sánh Cu Ba sau thời kỳ cách mạng, đem so sánh Trung Quốc
và Việt Nam trước và sau thời kỳ đổi mới chẳng hạn. Hay nói khác hơn, tại sao kỹ
thuật tổ chức sản xuất theo kiểu tập thể và theo kiểu cá thể lại khác nhau những
gì, do nguyên nhân nào khác nhau, và tại sao năng suất và kết quả cũng lại khác
nhau. Đó cũng là cách nói của Đặng Tiểu Bình, mèo trắng mèo đen, mèo nào bắt
chuộc được đều là tốt. Có nghĩa kinh tế tập thể hay kinh tế cá thể đều cũng chẳng
qua không vượt ra khỏi sự quản lý của con người. Sự quản lý hành chánh quan
liêu mệnh lệnh kiểu gia trưởng, với nhiều tốn kém, phiền hà, lạch bạch, và sự
quản lý theo kiểu sinh động tự nhiên của thị trường và của quan hệ bột phát, nhất
thời, linh hoạt, với sự khác biệt như thế nào thì mọi người đều có thể nhận định
hay đối chiếu.
Do vậy, ai cũng thấy được sự
khác nhau ở đó chính là sự khác nhau giữa tâm lý ý thức của con người. Cha
chung thì không ai khóc, trong khi vì lợi ích chính đáng riêng thì mọi người đều
thức khuya dậy sớm như nhau. Chính ý thức tâm lý của con người cụ thể là điều
không bao giờ có thể vượt qua, cho dầu xã hội nào cũng vậy. Đó chính là quy luật
khách quan ưu việt nhất mà không thể có quy luật khách quan nào tự nhiên hay ưu
việt hơn. Chính sự không đếm xỉa đến yếu tố tâm lý ý thức con người như là điều
khách quan tự nhiên mà mọi lý thuyết về kinh tế xã hội và lịch sử của Mác đã trở
thành xa xôi, vô bổ là vốn như thế. Đặc biệt những phát kiến khoa học của con
người, phần lớn là các chắt lọc tinh hoa của thiểu số trí tuệ, tài năng, thậm
chí nhiều khi chỉ là sự ngẫu nhiên mà không hề là kết tinh của cách đấu tranh
giai cấp hay đấu tranh kinh tế kiểu đại trà.
Chính sự không tính đến yếu
tố tâm lý ý thức của con người, sự không tính đến các quy luật tự nhiên khách
quan của xã hội (mặt sinh học, mặt lịch sử) mà lý thuyết Mác trở thành không tưởng,
không thực tế, không đáp ứng lại một cách hiệu quả mọi ý nghĩa sinh tồn và yêu
cầu phát triển khách quan, tự nhiên của mỗi cá thể con người và toàn xã hội về
mặt thực tế. Cho nên Mác tự cho mình là lý thuyết khoa học tuyệt đối đúng, bởi
vì ông ta quá tin cậy vào quy luật biện chứng của Hegel. Có nghĩa Mác đã triết
lý hóa một cách không khách quan, không tự nhiên và không cần thiết về các ý
nghĩa và thực tế của chính hiện thực kinh tế xã hội. Bởi vậy, thật sự bộ Tư bản
luận của Mác thực chất không phải là một thánh thư về kinh tế xã hội cụ thể và
thực tế, nhưng thật sự chỉ là một thánh thư về ý thức hệ tư biện không hơn
không kém. Nhưng ai đã từng có kiên nhẫn đọc kỹ và nghiêm túc suy nghĩ về các nội
dung cùng ý nghĩa trong đó đều có thể khách quan thấy ra được điều này. Thước
đo của kinh tế xã hội là nguyên lý khách quan, là hiệu suất lao động, là hiệu
quả phát triển chung chung nhất, đa phần nhất, là kết quả tối hậu, hay chỉ là sự
suy nghĩ đắn đo về một thiểu số quá giàu và một thiểu số quá nghèo, để đưa ra
những giải pháp viễn vông, vô ích, thì ngày nay cả cộng đồng thế giới đều cũng
đã thấy rõ. Bởi kỹ thuật của mọi tổ chức sản xuất tập thể không phải bao giờ
cũng ưu việt hay phù hợp, mà phần lớn chỉ có giá trị như những kịch bản nhất thời.
Nên nói cho cùng, có rất nhiều
người nói về Mác nhưng thật sự chỉ có ít người đã thực chất đọc về Mác. Tác phẩm
Mác viết thì có rất nhiều, hiện này những bộ toàn tập của Mác bằng tiếng Đức,
tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Việt, mỗi bộ đặt trên kệ sách có khi dài hơn cả
thước. Ngay cả bộ toàn tập của Lênin cũng dài bằng na ná như vậy. Đó là các tập
hợp bài viết còn để lại về nhiều phương diện. Tuy nhiên, về nội dung cũng không
ngoài các ý nghĩa như trên mà ngày nay mọi người đều rõ. Chủ yếu những điều
đáng nói ở đây chính là những ý tưởng, những cách tư duy, những khái niệm, và
những danh từ. Tất cả những điều đó, giới học giả và những trường đại học ở Việt
Nam đều đã nói nhiều. Nhưng phần lớn cũng chỉ là cách nói theo kiểu rập khuôn,
giáo điều, theo kiểu một chiều, mà dầu có nói đến ngàn năm cũng không có điều
gì mới mẽ hơn như thế. Đó là chưa nói những người học lý thuyết Mác theo kiểu
truyền khẩu theo cách bình dân. Ngay cả như Trần Đức Thảo, một nhà trí thức
danh tiếng của nước ta, thì các bài viết của ông về chủ nghĩa hay học thuyết
Mác-Lênin cũng không hề đi ra ngoài sự khuôn sáo hay vết mòn như thế.
Cho dù ở phương Tây, tất
nhiên từ đầu tới cuối, người ta đã viết rất nhiều, nói rất nhiều về các nội
dung hay ý nghĩa tương tự, song đó cũng chỉ là cái nhìn, quan điểm hay ý kiến của
người phương Tây. Chúng ta có quyền tâm đắc với họ hay không, nhưng đó cũng là
sản phẩm của nước ngoài, của một phương trời khác. Riêng bài viết này, chỉ giống
như bài viết của một kẻ hậu sinh ở Việt Nam, trong lúc ngẫu hứng của dịp Tết
(Tân Mão) đến xuân về, bài viết như một món quà xuân nhỏ mọn gửi tới các thân hữu
bạn bè, hoàn toàn vô tư, miễn phí, coi như sự thiện chí và ưu ái với cuộc đời,
không nhằm đến bất kỳ mục đích nào, vì chẳng qua cũng chỉ là một sự phát biểu
chủ quan, cây nhà lá vườn, một loại đặc sản chân quê, để các bạn nhận xét, thảo
luận cùng nhau nếu muốn, trong một lúc trà dư tửu hậu. Bởi lẽ muốn phân tích thật
sự cặn kẻ và đầy đủ nhất về học thuyết Mác, không thể chỉ một bài viết nhỏ kiểu
ở đây, mà ít ra cũng là một tập sách nhiều trăm trang, nhưng điều đó ngày nay
quả thực không nên hay cũng không cần thiết. Do đó, nếu một đại thi hào như tầm
cỡ Nguyễn Du mà vẫn cho tuyệt tác phẩm thiên tài Truyện Kiều có một không hai của
mình chỉ nhằm mua vui trong một vài trống canh, thì bài viết nhỏ nhoi này thật
có đáng sá gì đâu, mà chỉ là một bài viết theo kiểu vô công ngồi rồi, để trao đổi
với bạn bè có khi rãnh rỗi nhằm cùng xem, và để mọi người nào nếu đọc được cũng
có thể tùy nghi nhận định hoặc sử dụng.
VÕ
HƯNG THANH
(16/01/2011)
**
NHÌN LẠI QUÁ TRÌNH LỊCH SỬ
TỪ MỘT XÃ HỘI NÔNG DÂN
Một số xã hội phương Đông
như Trung hoa, Hàn Quốc, Việt Nam vốn có điều kiện lịch sử xuất phát từ xã hội
nông dân.
Xã hội nông dân vốn gắn điều
kiện sinh hoạt và đời sống với hoàn cảnh tự nhiên. Kỹ thuật trồng lúa nước nói
chung là kỹ thuật đơn giản. Các ngành nghệ hoạt động khác như lâm ngư nghiệp,
thủ công nghiệp, phần lớn cũng dựa vào kinh nghiệm ngàn đời, những công cụ thô
sơ, mức năng xuất và hiệu quả trong sản xuất nói chung đặt nền tảng trên tài
khéo.
Cơ bản của xã hội nông dân vẫn
nông thôn là chính, ý nghĩa của văn hóa phần lớn là truyền thống, kinh nghiệm
và cảm tính, ít có tinh thần trừu tượng, khái quát, suy lý hoặc lập luận chi ly
như kiểu tập quán phương Tây.
Ngay như nước Nga cũ trước
thời Lênin, chủ yếu cũng là xã hội nông dân, sự phát triển công nghiệp kỹ thuật
và khoa học mọi mặt cũng còn ở mức hạn chế nào đó hơn so với các nước Tây Âu.
Trong những xã hội nông dân
như thế, nền tảng tinh thần vẫn là hệ thống ý thức hệ xưa cũ vốn đã có. Ở một số
các nước phương Á Châu hay Đông nam Á nói trên, cơ bản nhất vẫn là tư tưởng đạo
Khổng và Phật giáo. Còn như ở Nga, đó là Cơ đốc giáo chính thống. Với đạo Khổng,
hay học thuyết Khổng tử, nền tảng chính vẫn là các quan niệm về “nhân, lễ,
nghĩa, trí, tín”, còn như ở Nga, Cơ đốc giáo thì vốn đặt cơ sở trên tinh thần
nhân ái của Jesus mà giáo lý Thiên chúa giáo vẫn xem là nền móng.
Nhưng tất cả những điều đó
đã đổi thay khi Lênin làm cuộc cách mạng vô sản ở Nga, và khi cuộc cách mạng đó
đã lan rộng ra nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt nhất là những nước ở Châu Á
hay vùng Đông nam Á như trên kia đã nói.
Cuộc cách mạng vô sản này tất
nhiên đặt nền tảng trên lý thuyết Mác, chủ yếu tin vào quy luật vận động biện
chứng khách quan của lịch sử, tin tưởng vào phương thức giải quyết cách mạng xã
hội bằng quan điểm vô sản, đồng thời sử dụng biện pháp được cho là hiệu quả nhất
là biện pháp đấu tranh giai cấp.
Tất cả niềm tin, ý hướng và
biện pháp như thế rõ ràng rất xa lạ và không gắn gì với cơ bản của xã hội nông
dân như trên đã phân tích. Bởi thế muốn giải quyết sự khác biệt hay mâu thuẫn
đó, giải pháp và phương thức chính đó chính là biện pháp tuyên truyền. Cho nên
tuyên truyền chính trị trở thành như động lực chủ yếu của cách mạng. Điều này
ngay từ xuất phát điểm của nó chính bản thân của Mác cũng đã nói tới. Ông ta
cho lý luận là công cụ hay lợi khí của cách mạng.
Có nghĩa những người đầu
tiên hướng theo chủ thuyết Mác tất nhiên là những người xuất phát từ xã hội
nông dân, rồi những người kế tục của họ cũng là những người xuất phát từ xã hội
nông dân và cứ tiếp tục như thế. Và muốn thực hiện điều này một cách hiệu quả
và thành công nhất, tất yếu phải đả phá, triệt hạ các ý hệ cũ, mà chủ yếu là lý
thuyết Khổng tử, hay quan điểm tôn giáo, như chính Mao Trạch Đông đã làm, cũng
như ngay từ đầu Mác đã cho đó là ý thức hệ tư sản và tôn giáo là thuốc phiện ru
ngủ quần chúng.
Nhưng tư tưởng nông dân chủ
yếu vẫn là ý thức nền tảng của con người, tức là tư tưởng hữu sản. Đó vẫn là ý
thức và quy luật chủ yếu của tâm lý tự nhiên của con người nói chung, và quả thật
điều này vốn đi ngược lại chủ thuyết và đường lối của Mác. Song để nhằm giải
quyết sự mâu thuẩn, nghịch lý cơ bản như thế, Mác ngay từ đầu đã chủ trương một
xã hội chuyên chính. Bởi chỉ có chuyên chính mới giải quyết được bản chất tâm
lý tự nhiên của con người, cho dù đó chính là điều nghịch lý.
Từ những phân tích thuần túy
đơn giản như trên, ngày nay nhìn lại quá trình lịch sử của những nước liên quan
tất nhiên mọi người đều đã thấy rõ.
Xã hội xô viết của Liên xô
cũ ngày nay rõ ràng sau bao nổ lực tuyên truyền và xây dựng, đã không tồn tại nữa,
kéo theo sự sụp đổ của cả khối Đông Âu XHCN trước đây. Ngay những nước Châu Á
và Đông nam Á châu như Trung Quốc, Việt Nam cũng đã phần lớn, hay hoàn toàn
thay đổi. Đó là ý hướng của sự đổi mới hay trước kia được gọi là quan điểm hoặc
chủ nghĩa xét lại.
Khi học thuyết Mác ra đời,
đã không ngừng nổ ra bao cuộc tranh luận học thuật, triết học, khoa học từ các
nước phương Tây.
Khi học thuyết Mác được đưa
vào thực tế ở Liên xô và các nước khác nhiều nơi trên thế giới, đã không ngừng
có những cuộc tranh luận về lý thuyết cũng như đấu tranh bằng hành động ngay
trong lòng lịch thực tế của những xã hội đó.
Đã từng một thời có nhiều
người hùng tuyên dương về một học thuyết bách chiến bách thắng, là chân lý tuyệt
đối đúng, là lương tâm của thời đại, song đó thực chất cũng chỉ trên nền tảng
tuyên truyền. Cũng có nhiều cuộc đấu tranh thực tế trong lịch sử ở nhiều nước
khác nhau, nhưng thực chất tối hậu cũng chỉ để nhằm thực hiện cho bằng được chủ
thuyết Mác, bởi thực tế đối với nhiều người nó vốn được coi như là lý tưởng xã
hội cao nhất.
Nhưng nói chung lại, học
thuyết Mác là học thuyết phát sinh từ xã hội phương Tây, khi nền kinh tế tư bản
chủ nghĩa mới đi lên trong ý nghĩa và điều kiện của một xã hội giao thời. Quan
điểm chủ yếu của Mác là quan điểm suy lý. Chủ yếu Mác dựa vào triết lý biện chứng
luận của Hegel, là một quan điểm triết học tư biện và chưa hề được kiểm chứng
tuyệt đối gì về phương diện khoa học khách quan. Ngoài cơ sở này ra, Mác còn chủ
trương chuyên chính là một điều đi ngược hoàn toàn lại ý nghĩa của khoa học xã
hội, nhất là Mác không hề quan tâm tới tâm lý tự nhiên của con người, nhưng chỉ
ham lý luận theo kiểu tư duy tư biện. Đây chính là những lổ hổng rất sâu, rất nền
tảng và rất lớn trong chủ thuyết của Mác, nên ngày nay chính thực tế thế giới
đã cho thấy rằng nó hoàn toàn xa thực tế hay hoàn toàn không đúng. Điều gì được
Mác từng quan niệm là ý thức giai cấp, thật ra chỉ là huyễn tưởng. Đó thực chất
chỉ là do Mác đã quá say sưa với lý thuyết biện chứng của Hegel. Một chuyện đem
râu ông nọ cắm cằm bà kia như nhiều lần đã nói.
Đành rằng phải công nhận thiện
chí và ý thức nhân bản của Mác, song vấn đề không phải thiện chí hay ý thức là
đủ, mà chủ yếu chính là ý nghĩa thực tế xã hội và ý nghĩa khoa học khách quan,
chính xác thực sự. Cái thiện chí không bù lại được cái khách quan và cái sáng
suốt chính là điều này.
Ngày nay thế giới đã đi vào
chỗ toàn cầu hóa, khoa học kỹ thuật đã phát triển vượt bực, đó là cơ may và triển
vọng khách quan tự nhiên của nhân loại, điều mà ở thời mình chính Mác không ngờ
tới, chỉ vì do tính chủ quan của chính ông. Cho nên, nói khác đi, sự đóng góp của
Mác vào phát triển của lịch sử nhân loại không phải ở mặt tích cực mà chính là ở
mặt tiêu cực. Có nghĩa một sự đóng góp lớn lao nhưng không phải ở mặt chính diện
mà là ở mặt phản diện.
Những xã hội nông dân đi vào
học thuyết Mác, tất yếu chỉ bằng con đường tuyên truyền như trên kia đã nói. Sự
tuyền truyền được khởi đầu từ nguồn cảm hứng mang tính tự phát của một số ít
người, dần dần nó chuyển qua nhiều thế hệ như một qui trình quán tính và cứ như
thế cho đến mãi ngày nay.
Nhưng than ôi, ý nghĩa không
phải là sự tuyên truyền mà là tính khách quan, khoa học. Khi có trình độ tri thức,
khi có ý thức thực chất, cá nhân và xã hội tự nó chuyển biến, không cần gì phải
tuyên truyền. Nên mọi sự tuyên truyền cũng giống như trái giú sớm, không luôn
luôn là điều tối hảo về mặt chất lượng, mà ngược lại nhiều và thường khi lại
còn rất sống sượng.
Nên nói chung lại, bài toán
ngày nay thực tế trong mọi xã hội là bài toán thực chất, thực tế, khoa học,
khách quan, chính xác, có ý nghĩa và giá trị xác đáng, mà không thể chỉ là sự
tuyên truyền. Mọi sự tuyên truyền tự nó chỉ là ấu trĩ, không chân chính, thậm
chí đi ngược lại chính các ý nghĩa cùng giá trị của con người.
Xuất phát điểm chủ yếu của
tâm lý nông dân phần lớn là cảm tính, niềm tin, tình cảm, và cần có chỗ dựa
tinh thần nào đó. Cũng chính vì thế phải chăng đây cũng là cách thức được áp dụng
để tuyền truyền cho xã hội nông dân mà nhiều nơi trên thế giới đã cho thấy
trong quá khứ, và cuối cùng cái vòng luẩn quẩn cứ vẫn theo đó mà luôn luôn tiếp
diễn.
Khoa học hóa xã hội nông
dân, tri thức hóa xã hội nông dân, khách quan hóa xã hội nông dân, hiện đại hóa
xã hội nông dân, đó là con đường hiệu quả nhất và nhanh nhất để đi lên và phát
triển. Tiếc rằng phần lớn nhiều người đều không thấy điều đó. Chính vì thế mà
người ta vẫn một mực cứ áp dụng theo đường lối tuyên truyền chủ thuyết, đó là
điều hoàn toàn không thực tế, không khách quan và phi khoa học.
Sự tuyên tuyền tiếp tục nuôi
sự tuyên truyền, đó là vết mòn quán tính, hầu như không còn lối thoát. Người ta
không thể giải phóng người khác nếu không tự giải phóng được chính mình. Đó là
chân lý đơn giản, chẳng có gì cao siêu cả.
Sự thông tin khoa học hoàn
toàn khác với tuyên truyền chính trị. Thông tin khoa học là cốt lõi của xã hội
hiện đại, vì nó khách quan, chính xác, và nhu cầu của mọi xã hội tiên tiến.
Trong khi đó tuyên truyền chính trị theo kiểu tuyên truyền lý thuyết vẫn chỉ là
thói quen tuyền truyền trong kiểu cách xã hội nông dân. Bởi nó không có cơ sở
khoa học, không cần khách quan khoa học, mà chủ yếu hướng đến niềm tin, hướng đến
sự mơ mộng, đặc biệt hướng đến các thần tượng phi tự nhiên.
Chắc nước Nga ngày nay là một
nước theo khuynh hướng hiện đại, không còn áp dụng các biện pháp tuyền truyền
trước kia trong thời Liên xô cũ, tuyên truyền kiểu xã hội nông dân. Thế những ở
nhiều nơi khác người ta vẫn còn luyến tiếc một giấc mơ vàng son quá khứ và vẫn
chưa trút bỏ được hết chính các quán tính tệ hại đã từng nhuốm phải của mình.
Nói khác đi, vấn đề xã hội vẫn
chỉ là vấn đề của các cá nhân con người. Nếu những người đứng đầu của một xã hội,
có vai trò và ý thức điều chỉnh xã hội, hay ít ra cũng là số đông trong xã hội
đều là những người có ý thức nhân bản, có nhận thức khoa học, có ý hướng thực tế,
có trình độ tri thức, xã hội đó có cơ sở phát triển. Còn ngược lại, do ở trình
độ, nhận thức, ý thức, ý chí, hay do số đông mà trong ý hướng ngược lại, xã hội
vẫn chỉ chuyển động luôn luôn theo vết mòn quán tính.
Vết mòn này ngay từ thời nhà
Nguyễn ở Việt Nam từ cuối thế kỷ 18 vốn đã có rồi. Mọi sự phát triển lịch sử
theo sự nhận thực khách quan, đó là sự phát triển theo thực chất. Còn ngược lại
mọi sự phát triển lịch sử chỉ thông qua sự tuyên truyền, nhất là sự tuyên truyền
theo những kiểu xã hội nông dân, thì phần lớn hay đều hoàn toàn là không có thực
chất.
Mọi sự phát triển có thực chất,
đó là ý nghĩa và giá trị khách quan cần nên mong đợi. Trong khi đó, những sự
phát triển không thực chất, chỉ đặt trên sự tuyên tuyền, thậm chí sự khống chế,
thật sự cũng đều giả tạo và không đi theo thực chất của ý nghĩa giá trị.
Khoa học cuộc đời hay khoa học
chính trị thật sự chỉ là yêu cầu hoàn toàn đơn giản và hoàn toàn chính đáng. Chỉ
tiếc rằng những tuyên truyền chính trị hay tuyên truyền lý thuyết lại nhiều khi
không khách quan và không theo chiều hướng hay có ý hướng như thế. Song nói cho
cùng, âu đó cũng chỉ là quán tính của xã hội nông dân ngàn đời còn rơi rớt lại,
cho dù những công cụ đó có nằm trong tay của bất cứ ai, hoặc bất cứ tập thể hay
tầng lớp xã hội nào.
VÕ HƯNG THANH
(02/01/2011)
**
SỰ HÈN YẾU NƠI CON NGƯỜI
Hôm nay (7/12/2010) trong mục
Thư Hàn Quốc ở trang chót, báo Tuổi Trẻ có đăng một bài khá thú vị. Bài báo
nhan đề “Người trẻ tuổi không ngoảnh mặt”, do tác giả Oanh K. viết. Trong đó,
có thuật chuyện một người dân Hàn Quốc bình thường, ông hàng xóm Kang, sau khi
lên Seoul dự dám cưới trở về, đã chỉ tay vào một nơi để giới thiệu với tác giả
là người đồng hành nói : “Đây là nơi 20 năm trước gia đình tôi đã sống. Trước
đây chẳng có cái gì, vậy mà sau 20 năm tôi không còn nhận ra vì nhà cửa, khách
sạn, đường phố đã mọc lên quá nhanh, quá đàng hoàng và đẹp đẽ. Nếu chiến tranh
xảy ra thì tất cả đều trở về như 20 năm trước, đó là điều người dân Hàn Quốc
không muốn chút nào. Lạy Chúa ! Chiến tranh đừng xảy ra !”
Bài báo cũng nói vào tuần
trước đã diễn ra việc tuyển quân của lực lượng hải quân theo thông lệ hàng năm,
sau vụ nã pháo của quân đội CHDCND Triều Tiên vào đảo Yeonpyeong vài ngày, số
lượng thanh niên trẻ đăng ký tuyển tăng nhiều đến mức những người làm công tác
tuyển quân cũng ngạc nhiên : tăng 28,5 % so với năm trước. Một thanh niên dự
tuyển nói lý do mình đăng lính : “Tôi nghĩ đất nước đang gặp khó khăn nên việc
đứng lên đảm nhiệm nghĩa vụ của công dân đối với đất nước là cần thiết. Chúng
tôi phải bảo vệ những thành quả kinh tế của đất nước cũng như sự an toàn của những
người dân”
Rồi tác giả viết tiếp : “Câu
nói ấy của chàng trai trẻ khiến nhiều trái tim Hàn Quốc xúc động, kể cả tôi,
không phải người Hàn Quốc. Bởi những người trẻ ấy đang được thụ hưởng một cuộc
sống rất đầy đủ, sung sướng nhưng họ sẵn sàng từ bỏ cuộc sống trong nhung lụa để
góp phần bảo vệ đất nước nếu điều xấu nhất xảy ra”. Bài báo cũng nói : “Hôm
qua, 6-12, bắt đầu cho một tuần quân đội tập trận và bắn đạn thật trên biển. Có
tới 29 điểm bắn thuộc khu vực biển tây, biển đông và biển nam. Cùng sự kiện này
là thông tin 120 máy bay chiến đấu của Hàn Quốc đã sẵn sàng. Nhưng hôm qua, hôm
kia và rất nhiều hôm trước nữa, người dân Hàn Quốc vẫn làm việc, đi chợ, đi
chơi, trẻ con vẫn đi học, không khí lo lắng sợ hãi không còn như hôm CHDCND Triều
Tiên bắn pháo vào đảo Yeonpyeyong …”
Bên cạnh bài báo này, báo Tuổi
Trẻ cũng có đăng một hình ảnh các thành viên nhóm chống chiến tranh và ủng hộ
thống nhất Triều Tiên biểu tình chống gửi quân tham gia tập trận bắn đạn thật
trước trụ sở Bộ Quốc phòng Hàn Quốc ở Seoul ngày 6-12 trong đó có hình rất rõ
nét con chim câu màu trắng hiền lành và dòng chữ màu đen to lớn NO WAR tức phản
đối chiến tranh. Đây quả thật là một tương phản hài hước giữa tấm hình và câu
nói tự phát của chàng thanh niên trai trẻ. Sự tương phản này cũng là sự tương
phản đã từ lâu mọi người đều biết về một đất nước Bắc Hàn cha truyền con nối, với
một hệ thống chính trị quân sự cưỡng bức mọi người dân, đường phố lúc nào cũng
đầy những khẩu hiệu chính trị hăng hái phát động chiến tranh, các tượng đài
lãnh tụ, cùng với thực chất dân tính đói khổ, ngược hẵn lại một đất nước Nam
Hàn có một đời sống kinh tế phát triển vượt trội, một cuộc sống hạnh phúc mà
nhiều người đều thấy.
Điều này cũng cho thấy hình ảnh
con chim bồ câu và hai chữ No War vẫn thường xuất hiện trong những phong trào,
những cuộc biểu tình phản đối chiến tranh từ xưa đến nay khắp mọi nơi trên thế
giới mà thật sự trong bản chất của nó là hoàn toàn vô nghĩa. Bởi hình tượng đó
và khẩu hiệu đó ai dùng cũng được, và dùng vào ý nghĩa, mục tiêu, hay nội dung
nào cũng được. Nó cũng giống như sợi dây hay cái bịt miệng mà người ta có thể
dùng để cột chặt và vô hiệu hóa địch thủ lại nhằm để đánh và tiêu diệt. Nên thật
sự nó chỉ là điều mánh lới của con người. Nó cũng là thứ vũ khí nhằm lợi dụng
và tuyên truyền chính trị cho những kẻ thơ ngây. Bởi rõ ràng giữa Hàn Quốc và
Triều Tiên ngày nay, người sợ chiến tranh phải là Hàn Quốc mà không phải Triều
Tiên cho dầu bộ máy tuyên truyền của Triều Tiên luôn luôn phải cho Hàn Quốc là
kẻ hiếu chiến. Cái bị kịch của con người chính là ở đây và còn ở nhiều khía cạnh
khác nữa.
Trong các chế độ xã hội độc đoán
như Triều Tiên ngày nay, hay Đông Đức, Taliban, Hussein, Pôn Pốt trước đây, những
chính quyền mạnh rõ ràng đều là những chính quyền chỉ dựa vào sự tuyên truyền,
khủng bố và sự đàn áp. Chính yếu tố tuyên truyền chính trị mê muội kết hợp cùng
sự đàn áp, khủng bố là cơ sở và nguyên lý xây dựng nên sự độc tài, độc đoán một
cách hiệu quả mà ai cũng biết. Thế nhưng, mọi người đều biết mà không ai dám
lên tiếng, đó chính là sự hèn yếu của con người. Thà yên thân để sống, còn hơn
là phản đối để phải bị nguy hiểm, đó chính là quan niệm sống hay lẽ sống duy nhất,
đơn giản nhất mà thông thường phần lớn mọi người đều chấp nhận. Thà chịu hèn yếu
để chờ cho đến khi các thực tế xã hội độc tài đó bị các yếu tố hay những điều
kiện từ bên trong hoặc bên ngoài, trở thành chin muồi, buộc phải đứng lên, hoặc
phải can thiệp vào để lật đổ, hoặc bằng chính con đường chiến tranh, con đường
can thiệp, hay con đường cách mạng.
Nên nói cho cùng, sự đấu
tranh trong xã hội loài người vẫn luôn luôn có, sự đấu tranh về ý thức, về quyền
lợi, tức về mục đích tinh thần hay vật chất, mà nói chung cũng chỉ là đấu tranh
về điều đúng và điều sai, điều trái và điều phải, điều tốt và điều xấu một cách
tự nhiên, mà không phải hay chỉ hoàn toàn là đấu tranh giai cấp như Mác đã hiểu.
Bởi chỉ có mỗi con người cá nhân là thật sự cụ thể, con giai cấp chỉ là tính mơ
hồ hay sự tưởng tượng. Chính các cá nhân làm thành giai cấp nếu có giai cấp, mà
không phải là điều ngược lại. Cụ thể, giai cấp nếu có thì chúng vẫn cứ tồn tại,
trong khi mỗi cá nhân có thể từ giai cấp này bước sang giai cấp khác trong mỗi
giai đoạn cuộc đời của mình, trong mỗi hoàn cảnh và biến đổi của xã hội mà mọi
người đều biết. Nên biết bao cuộc biển dâu thì giai cấp vẫn cứ còn đó, những
các cá nhân con người vẫn luôn luôn thay đổi. Trong khi đó, nguyên vọng của
Mác, muốn tiến lên một xã hội hoàn toàn không giai cấp để có thể xóa bỏ mọi
giai cấp chỉ hoàn toàn ảo tưởng. Bởi mọi rừng cây đốt xong, triệt gốc xong, thì
trên mảnh đất cày xới đầy tro tàn đó, một rừng cây mới như xưa vẫn hoàn toàn mọc
lên lại. Bởi mọi cảnh quan trái đất không thể nào chỉ có đồng bằng, mà phải có
núi non, sông hồ, biển cả, và mọi hình ảnh rừng cây cũng hoàn toàn như thế.
Điều đó cho thấy sự đấu
tranh giữa tốt xấu, đúng sai, luôn luôn vẫn là điều thường có và luôn luôn phải
có. Sự bóc lột và giá trị thặng dư, là tùy theo cách nhìn về kinh tế và xã hội,
nhưng quả thật lại không thế nào không có. Do đó, sự điều chỉnh phải là từ hậu
quả mà không thể từ nguồn gốc hay bản chất của chúng. Đó là ý nghĩa xã hội và
tâm lý khách quan tự nhiên của con người. Nước luôn luôn phải tụ vào chỗ trũng.
Không thể nào làm thay đổi bản chất của nước, nhưng người ta có thể đắp đập,
khai mương để làm sap cho nước được lưu thông, được điều tiết khả quan, lợi
ích, để cuối cùng được chảy vào biển cả. Cái đúng và cái sai của lý thuyết
chính là ở đó mà không thể ở vào một nơi nào khác. Những sự nhìn sai, quan điểm
sai về lý thuyết và thực tế xã hội, luôn luôn đưa đến những điều đáng tiếc,
trong đó đại thể lại có đa phần lợi đụng. Thực tế chế độ diệt chủng của Khmer đỏ,
những điều quái đản nơi Cách mạng văn hóa và Hồng vệ binh một thời ở Trung Quốc
trước kia đều cho thấy rõ như thế.
Bởi thế, nếu chiến tranh là
điều không thể tránh khỏi, thì nhất thiết phải để cho nó xảy ra hay bắt buộc nó
phải xảy ra, mà ngày nay ở bán đảo Triều Tiên cũng phải như vậy. Điều đó đã từng
xảy ra nhiều nơi, không phải ngày nay mới có. Chỉ có như vậy, lịch sử mới có thể
đổi thay, con người mới thật sự hoàn toàn giải phóng. Ngày nay nếu chiến tranh
xảy ra, hoặc đất nước Hàn sẽ được thống nhất như kiểu như nước Đức trước đây,
trả lại mọi ý nghĩa sống và nhân phẩm cho con người, hoặc cả hai sẽ thành bình
địa, hoặc Triều Tiên sẽ thắng và bao trùm lên nước Hàn thống nhất một chế độ
toàn trị độc tài, vinh danh lãnh tụ.một cách vĩnh hằng và vô cùng thần thánh.
Hoặc sự vĩnh viễn chia cắt lâu dài để cùng nói lên sự tương phản về kinh tế,
chính trị, xã hội. Tất cả những điều đó đều có thể xảy ra nhưng không quan trọng.
Sự quan trọng nhất là lẽ phải, điều đúng và tính chính đáng của con người và cuộc
đời, liệu sự can đảm, quả cảm trong con người sẽ thắng hay chính sự cầu an, hèn
yếu nơi con người và xã hội vẫn luôn luôn thắng. Đó chính là thân phận, ý thức
của con người và xã hội nơi mỗi nước mà mọi người hãy chờ để cùng thấy rõ.
VÕ
HƯNG THANH
(Sg, 07/12/2010)
**
SỰ COI TRỌNG BẰNG CẤP, HỮU DANH VÔ THỰC
Đây là tiêu đề một bài báo đầy
thú vị đã được đăng lên vào ngày hôm qua 14/11/2010 ở báo Pháp luật TP. HCM.
Bài báo thuật lại cuộc Hội thảo mang tính thời sự do ĐH Kinh tế - Tài chánh TP.
HCM tổ chức. Cả cuộc Hội thảo và bài báo thuật lại đều mang ý nghĩa và nội dung
rất quan trọng và bổ ích khi nói về “nguồn nguyên khí quốc gia” đang đặt lên
vai ngành giáo dục đào tạo.
Đọc qua bài báo, người ta thấy
được rằng “giáo dục ĐH ở VN phải thay đổi, phải đột phá, phải được tự chủ …”.
Cùng trên quan điểm mấu chốt đó, có vị trong cuộc hội thảo còn nêu rõ “Chất lượng
giáo dục sau đại học tại VN còn nhiều hạn chế. Số liệu năm 2008 cho thấy Việt
Nam có số TS gấp ba lần số TS của Thái Lan, nhưng số bằng sáng chế hang năm của
VN không vượt qua số 10 trong khi TL có tới 158 sáng chế, Malaysia 147 sáng chế,
Philippines gần 80 sáng chế”.
Trong hội thảo cũng có vị
nói rằng nhìn vào những quy định mới đây trong điều lệ thành lập trường ĐH mà
Chính phủ mới ban hành, cho thấy “lời nói và việc làm không song hành”. Nói
chung lại, dầu bài báo không nêu lên sự so sánh với Hàn quốc hay Nhật bản về tỉ
lệ số người có bằng tiến sĩ và những bằng sáng chế, phát minh, hay các công
trình khoa học các loại khác, song có nêu lên trong hội thảo có vị nhìn nhận rằng
ở Việt Nam có “sự quá coi trọng về bằng cấp và chức danh (học vị, học hàm) đã
LÀM LU MỜ NHIỀU TÀI NĂNG THỰC THỤ bằng sự tự đào luyện. Bệnh HÌNH THỨC và quá nặng
nề về bằng cấp đã tạo ra một tâm lý CHẠY THEO HỌC VỊ để tiến thân trên con đường
chính trị, địa vị xã hội”.
Nhận xét này hoàn toàn xác
đáng, bên cạnh đó là sự xem nhẹ nhu cầu đào tạo đội ngũ những người lao động giỏi
có đầy đủ phẩm chất, trí tuệ, tài năng. Đó là sự tương phản giữa hai hướng đào
tạo chung. Còn kỹ thuật đào tạo, giáo dục trong thực tế, có ý kiến nêu rất
chính xác “thực tế giáo dục VN quá nặng nề về đánh giá sức học chỉ qua điểm số
và dường như Bộ GD&ĐT coi đó là tiêu chí quyết định”. Chẳng hạn, cũng có ý
kiến cho rằng như cách tính đạo hàm và tích phân được dạy vô cùng kỹ, học sinh
phổ thông nào không biết tính đạo hàm, tích phân thì cầm chắc rớt môn toán khi
thi tốt nghiệp THPT, nhưng thử hỏi khi ra đời có bao nhiêu nhu cầu lao động
bình thường phải được ứng dụng tri thức đó.
Để kết luận ý kiến cho rằng
ngày nay nền kinh tế dẫn dắt bởi tri thức, tri thức trở thành nguồn vốn cơ bản
được xây dựng từ một xã hội học tập, mọi người phải học tập để đáp ứng yêu cầu
ngày càng cao về hiểu biết kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, dù ở bất cứ cương
vị nào, có ý kiến trong hội thảo đề nghị “Việt Nam cần có chính sách đúng đắn
trong TUYỂN DỤNG NHÂN TÀI và phải dựa trên hai yếu tố thực tài và bằng cấp. Thực
tài đưa lên hàng đầu. Cần xây dựng một xã hội học tập. Đó là giải pháp tạo nguồn
NGUYÊN KHÍ ĐÍCH THỰC cho đất nước trên con đường phát triển hội nhập”.
Đây là một ý kiến hoàn toàn
chính xác, bao quát, nên cũng có ý kiến khác cho rằng “cái gốc của nguyên khí ở
mọi thời đại vẫn là TRÍ TUỆ, ĐỨC ĐỘ vốn có ở những NGƯỜI CÓ HỌC THỨC hay tri thức”;
đồng thời trong đó cũng nhấn mạnh tri thức ngày nay không còn bó hẹp ở một vài
lĩnh vực hoạt động, cho một số nhân tài theo khoa cử, mà được phổ cập rộng rãi ở
mọi tầng lớp do nhu cầu phát triển đa dạng trên mọi lãnh vực.
Nói chung lại, bài báo cũng
nhấn mạnh ý hướng phải có của một nền giáo dục NHÂN BẢN, NHÂN VĂN. Bởi có ý kiến
trong hội thảo cho rằng “nguyên khí quốc gia ở nhiều nước đi đầu trên thế giới
lâu nay vốn được hun đúc và chăm bón từ vườn ươm của những NỀN GIÁO DỤC lấy CHỦ
NGHĨA NHÂN VĂN làm trọng, vì vậy rất cần việc xây dựng một nền giáo dục nhân bản,
lấy chủ nghĩa nhân văn làm gốc. Mọi chiến lước, mục đích, phương pháp và tổ chức
đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân đều phải DỰA TRÊN NỀN TẢNG CHỦ ĐẠO là
CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN”.
Rõ ràng, qua cuộc hội thảo
và qua đúc kết của bài báo nêu trên, người ta thấy được mọi ý kiến đều đạt được
sự thống nhất và nhất trí cao như trên kia đã nói. Điều này nói lên ý nghĩa,
giá trị, tầm quan trọng và sự cần thiết của cuộc hội thảo về giáo dục vừa được
tổ chức. Tuy vậy, đây vẫn là cuộc hội thảo có phần nào hơi trễ tràng, bởi vì
các nội dung đó đáng lẽ phải được nêu ra từ đầu, của nhiều thế hệ đi trước,
cách đây có khi gần hay trên nửa thế kỷ.
Bởi vì tại sao ? Vì thật ra
cái ngày nay mọi người sực nhớ đến “nhân tài là nguyên khí quốc gia” không phải
là điều gì mới, nó đã được ông cha ta trân trọng ghi vào bia ký đã trên nhiều
trăm năm qua. Thế sao ngày nay người ta mới lại ào ạt nói đến. Đó là do một thời
gian rất lâu dài, mọi người đã quên tất cả những cái đó. Và chính hậu quả đó từ
lâu nay trong đời sống thực tế xã hội đã thấy rõ và những tính cách cụ thể cũng
đã được nêu ra hoàn toàn chi tiết như các ý kiến trong hội thảo đã phát biểu.
Chính sự quá coi trọng về bằng cấp và chức danh (học vị, học hàm) đã LÀM LU MỜ
NHIỀU TÀI NĂNG THỰC THỤ. Bệnh HÌNH THỨC và quá nặng nề về bằng cấp đã tạo ra một
tâm lý CHẠY THEO HỌC VỊ để tiến thân trên con đường chính trị, địa vị xã hội.
Đây là một ý kiến nêu lên khá bao quát và quan trọng. Đây cũng là ý nghĩa của ý
kiến cho rằng VN cần phải có chính sách đúng đắn trong TUYỂN DỤNG NHÂN TÀI và
phải dựa trên hai yếu tố thực tài và bằng cấp. Thực tài đưa lên hàng đầu.
Thực tế những điều trên đều
nói lên chính tính cách của chính sách XÃ HỘI, chính sách GIÁO DỤC, và chính
sách CON NGƯỜI. Cả ba chính sách này hay cả ba thực tế này thật ra rang buộc và
nhân quả lẫn nhau. Chính chính sách xã hội làm ra chính sách giáo dục, chính
sách giáo dục làm ra chính sách con người, và cuối cùng chính sách con người lại
xoay tua trở lại mà không là gì khác. Có nghĩa do từ khởi điểm sự quá nặng, quá
thiên về “ý hệ chính trị” đã làm nên hậu quả của cả ba mối quan hệ trên mà ngày
nay mọi người đều thấy. Bởi khi đã ở vào trong vòng luẩn quẩn như thế, ở vào
cái thế bịt bùng như thế, thì thật rất khó có lối ra, như nội dung hội thảo đã
cho thấy.
Nhưng chuyện đã qua là chuyện
của lịch sử. Còn chuyện của hiện tại chính là chuyện của giáo dục. Chuyện của
giáo dục chính là chuyện của chính sách giáo dục và chuyện của người đứng đầu
ngành giáo dục. Chính sách giáo dục NHÂN BẢN, NHÂN VĂN, chính là ý nghĩa giáo dục
quan trọng nhất như trên kia đã nói, và đến ngày nay mọi người như tuồng mới thấy
rõ. Đáng lẽ giáo dục làm thăng tiến chính trị, thì ngược lại trong quá khứ
chính chính trị ràng buộc giáo dục, là điều không ai có thể phủ nhận.
Do vậy, ý nghĩa cuối cùng vẫn
là ý nghĩa CON NGƯỜI và sự đào tạo ra con người. Có nghĩa ngành giáo dục đương
nhiên phải do những con người có tâm huyết, có trình độ, có bản lĩnh, có phương
pháp, có ý chí độc lập, tự chủ, mới có thể đào tạo ra những nguyên khí của quốc
gia, như mọi người đều nhận thấy, và như ngày xưa chính ông cha ta đã không ngừng
phát huy, củng cố, đồng thời cũng mang đến rất nhiều kết quả mà lịch sử đã chứng
tỏ. Nhưng ngày nay, ngoài lực lượng con người chung đó, còn chính là tài năng của
con người đứng đầu nền giáo dục, là con người đảm nhiệm cụ thể nhiệm vụ Bộ trưởng
Bộ Giáo dục.
Dĩ nhiên, yêu cầu một con
người như thế thì trước hết cần phải là một nhà khoa học giáo dục thật sự, một
nhà giáo dục tâm huyết thật sự, một con người có tài năng và bản lĩnh thật sự,
mà không phải ai lên làm Bộ trưởng cũng được. Bản lĩnh tài năng tức là người có
thực tài, thực lực tự mình xây dựng nên được một sách lược giáo dục hiệu quả, ý
nghĩa và giá trị thật sự, ngoài việc biết tham chiếu và huy động được mọi nguồn
lực trong nước cũng như quốc tế về mặt nhận thức và thực tế để nhằm đồng hành
và giúp đỡ cho mình. Người không có tài năng, tức không có sách lược tự mình,
cũng không thể xứng đáng đứng đầu được nền giáo dục, cho dù bất cứ lúc nào, ở
đâu, thời đại nào và đất nước nào cũng vậy.
Giáo dục nói chung chủ yếu
là một KHOA HỌC, một VĂN HÓA, còn nếu nói rộng ra hơn cũng là một NGHỆ THUẬT và
một KỸ THUẬT. Nhưng tất cả ý nghĩa đó trước hết vẫn là ý nghĩa NHÂN VĂN mà
không chỉ là ý nghĩa chính trị. Điều này như trên đã nói, giáo dục phải là nguồn
của chính trị mà hoàn toàn không thể nào ngược lại. Chính sự hiểu ngược lại một
cách thô thiển, thậm chí ngây thơ, không những làm phương hại đến giáo dục, mà
phương hại cả đến chính trị.
Chẳng hạn, ai có biết đến Trần
Đức Thảo hay Trương Tửu tức Nguyễn Bách Khoa, thì thấy hai người này nhiều lắm
cũng chỉ là những học giả, những nhà nghiên cứu, những nhà “tư tưởng” văn hóa
và triết học, nhưng không thể nào có thể làm Bộ trưởng Giáo dục được. Trong khi
đó, trái lại một Hoàng Xuân Hãn, một Trần Trọng Kim, thì lại hoàn toàn dư sức.
Bởi vì những người sau là hạng tài năng và bản lĩnh, là những người tự mình biết
đưa ra được những sách lược và chiến lược cụ thể và cần thiết cho giáo dục.
Nói điều này, cũng chỉ là
nói lại ý kiến mà trong hội thảo đã nói. Tức cần những TÀI NĂNG THỰC THỤ, mà
không phải các thứ bệnh HÌNH THỨC, hoặc quá nặng nề về bằng cấp, đã nên một thứ
tâm lý CHẠY THEO HỌC VỊ để nhằm tiến thân trên con đường chính trị, hay địa vị
xã hội. Đó chính là chính sách, ý nghĩa, giá trị, và mục tiêu đào tạo con người,
mà chính nền giáo dục phải luôn luôn đảm nhận. Chân lý chỉ luôn luôn đơn giản
như thế, và ý nghĩa không ngoài chính lực lượng làm giáo dục nói chung cũng như
người đứng đầu ngành giáo dục, bởi vì họ chính là những nhân tố đích thực và cần
thiết thật sự.
Đây cũng là một thực tế mà
nhiều người đã biết. Xã hội VN trong thời kỳ trước đây đã từng có giai đoạn coi
thường bằng cấp chính đáng, đồng hóa mọi người chỉ trên năng lực cảm thức. Rồi
hiện tại ngày nay lại chuyển thành xã hội chạy theo cấp bằng hình thức, thậm
chí bán buôn bằng cấp mà nhiều người chạy theo bằng cấp giả tạo không phải không
biết. Có người mua tất có người bán, đó là quy luật của thị trường tự nhiên,
mua bằng nhiều cách và bán bằng nhiều cách, điều này thực tế ngày nay không phải
chỉ có ít, và chính nó làm hủy hoại tận cùng mọi ý nghĩa của giá trị bằng cấp
đích thực và tài năng đích thực. Giai đoạn trước đã từng loại bỏ, làm mai một,
làm chảy máu bao nhiều thực tài, còn giai đoạn sau tạo nên bao nhiều bằng cấp
giả và tài năng giả.
Thật ra, bằng cấp không phải
là thứ làm nên tài năng mà chỉ là thứ xác nhận tài năng, với điều kiện bằng cấp
ấy phải là thực, tức có giá trị thực. Có nghĩa nếu có tài năng thực cũng chẳng
cần bằng cấp, và bằng cấp thật sự cũng chỉ là thứ hỗ trợ, thứ xác nhận bề
ngoài. Vả chăng, những cấp bằng sau đại học, như thạc sĩ hay tiến sĩ, thật ra
chỉ là một bằng chứng xác nhận về năng lực nghiên cứu, năng lực học thuật mà
không là gì khác. Năng lực làm việc tất nhiên hoàn toàn khác tài năng. Bởi tài
năng có thể bẩm sinh, không cần khai sinh, còn bằng cấp là sự đào tạo, huấn luyện,
với điều kiện phải có thực chất, và cần phải có khai sinh. Đương nhiên, bằng cấp
có thể hỗ trợ tài năng nhưng là điều không thể hoàn toàn ngược lại.
Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm,
Nguyễn Trãi, Nguyễn Trường Tộ, Phan Chu Trinh … còn vượt xa cả mọi tiến sĩ văn
chương, sử học, bởi một bên là thực tài, là sáng tạo, còn bên kia chỉ là sự
nghiên cứu, sự tìm tòi cái gì đã có. Tất nhiên mọi nguyên khí của quốc gia,
trong toàn bộ mọi lãnh vực, đều phải là tài năng sáng tạo, là tiềm lực thật sự,
mà không phải chỉ là các thành tích hay các hình thức bề ngoài. Ngô Bảo Châu chẳng
hạn, tuy chưa phải là nguyên khí quốc gia, nhưng thật sự đó là TÀI LỰC quốc
gia. Có nghĩa bằng tiến sĩ toán học đúng nghĩa của Ngô Bảo Châu không quan trọng
bằng chính khả năng sáng tạo trong năng lực toán học của Ngô Bảo Châu. Bởi ý
nghĩa hiền tài là nguyên khí quốc gia chỉ những thời gian gần đây mới được nói
đến. Thật khác với từng bao nhiều năm, chỉ thấy những kẻ bồi bút lúc nào cũng
chỉ ồm ào về những điều “chân lý duy nhất đúng”, “quy luật tất yếu của lịch sử”,
“trí tuệ của thời đại”, “trí tuệ của loài người”, trong khi đó, thật sự ngày
nay cả xã hội loài người đều chỉ cần đến các khoa học tự nhiên và khoa học nhân
văn xã hội về nhiều phương diện.
Cho nên chỉ những người tầm
thường mới cần thiết chạy theo những bằng cấp theo kiểu hình thức tầm thường.
Các bằng cấp như thế cho dù cấp tiến sĩ, thật ra nếu không có thực tài hay thực
chất, cũng chỉ tương đương như một nhãn hiệu bên ngoài mà không là gì khác. Nên
vấn đề không phải là chỉ tiêu đào tạo bao nhiêu tiến sĩ, mà thật sự chính là
đào tạo được bao nhiêu tài năng hay năng lực sáng tạo cho xã hội nói chung. Bởi
nếu bằng cách chỉ là cái cần câu địa vị, và học vị chỉ là nấc thang danh vọng,
địa vị cá nhân, thì các bằng cấp và học vị đó cũng chỉ là sâu mọt của xã hội mà
thực chất chỉ gây nhiễu tai hại về nhiều mặt mà không có ích lợi khả quan hay
thực chất gì. Sự lạm dụng về bằng cấp, là do sự thiếu hiểu biết về ý nghĩa của
bằng cấp, đó cũng là trách nhiệm của những người làm giáo dục và bắt nguồn từ một
quan điểm không thích đáng về đào tạo và giáo dục, khiến nó trở thành mị dân và
nhiều người chạy theo bằng cấp giả tạo.
Nên nói cho cùng, cuộc hội
thảo về giáo dục vừa qua mà bài báo đã viết thật hết sức ý nghĩa, hết sức quan
trọng, nói lên được nhiều điều cần thiết, lợi ích, khi mà Việt Nam đã và đang
tiến mạnh trên đà hội nhập càng ngày càng sâu hơn về mọi mặt vào đời sống quốc
tế toàn cầu một cách cần thiết, chính đáng, và không thể nào đảo ngược lại được,
trong hiện tại, cũng như mãi mãi trong tương lai. Dù sao, bài viết này cũng chỉ
để trao đổi thân mật cùng bạn bè, nó chẳng có gì quan trọng, bởi mọi điều quan
trọng trong hội thảo mọi người đều đã nói cả rồi. Chính niềm vui là sự phát biểu
ý kiến của mình, và nếu đó là ý kiến lợi ích thì xã hội cần quan tâm, là điều
mà ở VN hiện nay rất hiếm nơi để mọi người được phát biểu ý kiến một cách thỏa
mái, công khai, như chính cả những cuộc hội thảo đầy hạn chế mà cũng họa hoằn lắm
mới có thể có được như cuộc hội thảo trên kia đã nói.
VÕ HƯNG THANH
(15/11/10)
**
VÀI SUY NGHĨ NHỎ QUA BA BÀI BÁO
Tờ Tuổi trẻ hôm nay 12/11/10
có đăng ba bài báo thật rất thú vị. Đọc ba bài này, chỉ những người vô cảm mới
không suy nghĩ. Tất nhiên, những người khác thì không thể không ngứa miệng mồm
và thấy cần phải phát ra điều gì đó, đó cũng là ý nghĩa của bài viết ngắn này.
Bài thứ nhất, trong mục ống
kính bạn đọc, dưới nhan đề “lật tẩy một trò lừa đảo”, tác giả Đức Phú kể lại việc
chẳng bõ công của mình khi sau gần hai tháng theo dõi người đàn ông có vết lở
loét ở chân thường xuyên nằm lăn trước cổng chợ để xin tiền, mà thật ra đó chỉ
là một trò lừa đảo.
Sáng sớm người đàn ông này
được một thanh niên chỡ bằng xe máy đến trước cổng chợ, sau vài phút sửa soạn,
ông ta hóa thân thành một người có bộ dạng “đáng thương” … khắp mình được quấn
mổt lớp băng trắng bôi thứ thuốc đỏ tựa như máu. Lòng bàn chân người đàn ông
này được trét lên một lớp keo và bôi một thứ bột màu đỏ tạo ra vết thương lở
loét khiến ai nhìn cũng thấy tội nghiệp. Đang đứng trong một con hẻm, ông ta bất
ngờ nằm xuống, trườn từ từ đến trước cổng chợ.
Ông ta đặt một cái xô trước
mắt, phía trong có vài tờ tiền lẻ rồi bắt đầu rên rỉ thảm thương. Nhiều người
đi chợ đã xuýt xoa thương cảm cho người đàn ông “khốn khổ” này, họ không ngần
ngại móc ví, rút tiền bỏ vào xô. Khi mặt trời đứng bong, nắng chiều thẳng xuống
mặt đường nóng ran, ông ta cầm xô tiền vào trong chợ bám chân từng người và kêu
van thảm thiết hơn.
Khoảng gần trưa, ông ta trườn
vào một con hẻm. Thấy không có người, ông liền bật dậy, tay cầm chiếc nạn gỗ đi
lại gốc cây người đếm tiền. Ít phút sau, ông ta móc chiếc điện thoại trong túi
ra gọi. Sau đó người thanh niên buổi sang xuất hiện chở thêm một người đàn ông
trung niên đến. Cả ba cùng nói chuyện rồi nhảy lên xe máy đi.
Toàn bộ câu chuyện chỉ có thế,
nhưng có hình chụp đăng lên và có nêu địa chỉ khu chợ rõ ràng. Câu chuyện giống
như một đoạn phim ngắn thật sự phong phú, sống động, chi tiết, nói lên tính chất
con người và tính chất xã hội. Tính chất con người là tính chất tận cùng của sự
sa đọa nhân cách. Tính chất xã hội là tính cách của nhiều người lương thiện, rất
dễ cảm thong với những người khác. Nhưng tính chất thực tế là tính chất của vài
con người nào đó sẳn sang chà đạp lên chính nhân cách của mình, đóng vai khổ nhục
kế để nhằm lường gạt người khác, nếu không nói có cả một “công nghệ” chăn dắt nằm
phía sau người đàn ông bất lương vừa bỉ ổi đó, mà chỉ là một trong các trường hợp
vẫn thấy trong xã hội hết sức đa dạng của sự lừa đảo mà báo chí đã nhiều lần
phânh phui và lên án.
Nhưng nhìn chung lại, đấy
chính là ý nghĩa của con người, của bản năng của dục vọng, của sự ham sống, dù
là sự ham sống đầy khốn nạn nhất. Có nghĩa dù cùng khổ cách mấy, con người vẫn
ham sống, sợ chết, không dám chết, dù rằng sự sống đó hoàn toàn không còn lý do
và ý nghĩa. Nhưng ở đây, người đàn ông đó không phải cùng cực mà không dám chết,
nhưng chỉ là bày kế, chịu nhục, để sống như sâu bọ nhằm lừa gạt người khác. Như
ngay trong chiến tranh cũng vậy, có người có lý tưởng nào đó mà liều mình không
sợ chết, nhưng cũng có người chỉ vì lý do bất đắc dĩ bị đẩy tới cái chết một
cách hoàn toàn miễn cưỡng mà chính bản thân họ không bao giờ muốn.
Nhưng câu chuyện trên chỉ là
tệ nạn xã hội, nó cho thấy bề trái của cuộc sống con người. Nói qua để nghe
chơi rồi bỏ. Còn câu chuyện thứ hai là bài báo viết về đề tài “Biển Đông trở
thành vấn đề quốc tế”. Đây quả là vấn đề lớn, không phải quá tầm thường, thấp
kém như chuyện trước nữa, mà chính là ý nghĩa đại sự. Nghe qua không phải để bỏ,
mà nhằm để luôn luôn suy nghĩ.
Tức trong hai ngày hội thảo
vừa qua tại TP. HCM, nhiều học giả quốc tế đã trình bày đánh giá của họ về những
diễn biến chung quanh tình hình biển Đông gần đây. Trong đó đáng lưu ý nhất là
Giáo sư người Mỹ Bronson Percival cho rằng Mỹ sẽ không nhượng bộ Trung quốc về
cái quái quỉ “đường đứt khúc chin đoạn, tức đường lưỡi bò” mà Trung quốc đã đưa
ra khiến cho cộng đồng quốc tế phải xôn xao, nhất là khiến cho mọi người VN đều
nhất thiết phải bực bội, tức tối và đau đầu. Giáo sư Mỹ này nói rõ theo ông vấn
để biển Đông liên quan tới vấn đề CÓ TÍNH NGUYÊN TẮC cơ bản là TỰ DO HÀNG HẢI.
Giáo sư người Anh Geoffrey
Till cho rằng Mỹ là một cường quốc toàn cầu, trong đó lợi ích cơ bản là TỰ DO
HÀNG HẢI, Mỹ cho rằng mình có quyền DÙNG VŨ LỰC bảo đảm quyền đó.
Tướng Pháp về hưu Daniel
Schaeffer thì cho rằng một khi không đối thoại song phương và đa phương giữa
các nước trong khu vực được nữa, thì đã có TÒA ÁN QUỐC TẾ về luật biển Hamburg
và Tòa án tư pháp quốc tế La Haye.
TS Nguyễn Thị Lan Anh của VN
cho rằng “đường chín khúc” của TQ là KHÔNG CÓ CƠ SỞ. TS Lan Anh cũng đã nhắc lại
rằng ở hội nghị San Francisco 1951, đại diện quốc gia VN lúc đó đã lên tiếng khẳng
định chủ quyền của Việt Nam trên Hoàng Sa và Trường Sa, và CHẲNG CÓ NƯỚC NÀO PHẢN
BÁC.
GS Stein Tennesson của Viện
Nghiên cứu hòa bình quốc tế (Na Uy) cho rằng biển Đông là một VẤN ĐỀ LUẬT PHÁP
mà không chỉ là một vấn đề chính trị, nên giải quyết chính đáng nhất là BẰNG LUẬT
PHÁP.
Rõ ràng ý nghĩa quan điểm của
Stein Tennesson, Nguyễn Thị Lan Anh, Daniel Schaeffer nêu lên là hoàn toàn giống
nhau hay thống nhất nhau, đó là nguyên tắc CHỦ QUYỀN của VN đã có trên các vùng
biển đảo đã vốn thuộc về VN, và chỉ có thể được giải quyết theo LUẬT PHÁP QUỐC
TẾ, còn không thể giải quyết theo cách nào khác. Nhưng trong thực tế, cái lý mà
không đi theo sức mạnh cũng là điều đáng nói.
Riêng quan điểm của hai Giáo
sư Mỹ Bronson Percival và Anh Geoffrey Till cho rằng họ phải bảo vệ nguyên tắc
quốc tế TỰ DO HÀNG HẢI và có thể dùng vũ lực để bảo đảm nguyên tắc này, thì điều
đó cũng chẳng hề ngược lại với ba quan điểm nêu trên. Vì nguyên tắc giao thương
quốc tế về hang hải là nguyên tắc chung của cả cộng đồng quốc tế, còn CHỦ QUYỀN
LÃNH THỔ của vùng đảo biển của VN vẫn phải thuộc VN. Biển quốc tế mọi người đều
có quyền, nhưng lãnh hải vốn có của một quốc gia thì bắt buộc mọi người đều phải
tôn trọng.
Từ câu chuyện nêu trên, dẫn
đến câu chuyện thứ ba là bài báo viết về Đại hội Khoa học lịch sử diễn ra ngày
11/11/10 tại Hà Nội : “Nâng cao nhận thức về chủ quyền quốc gia”. Qua đó, theo
nhà sử học Dương Trung Quốc, tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử VN, có nêu lên SỰ
HỤT HẪNG CƠ BẢN trong nhận thức lịch sử dân tộc của nhân dân. Ông Quốc cũng nói
cần biên soạn lại sách giáo khoa lịch sử, tạo điều kiện cho các nhà sử học
nghiên cứu và công bố các nghiên cứu khoa học của mình một cách thuận lợi hơn.
Những điều nói này của ông Quốc, chính những người trong giới sử học cũng như
trong giới giảng dạy về lịch sử thuộc thời kỳ cận đại biết rõ hơn ai hết.
Nhiều người còn nhớ, sau
ngày hòa bình lập lại, thống nhất đất nước, ngay lúc đó đã có những lời phát biểu,
những bài báo nói rằng kể từ đây VN sẽ mãi mãi không còn chiến tranh, không còn
bất kỳ sự xâm lăng hay giặc ngoại xâm nào nữa. Nhưng sau đó không bao lâu đã xảy
ra chiến tranh biên giới Tây Nam, rồi chiến tranh biên giới phía Bắc, và đến bây
giờ vấn để biển Đông lại phải mở ra hội nghị quốc tế để bàn thảo đến. Thế mới
biết những cảm nghĩ, cảm tính, những quan điểm chủ quan, cạn hẹp của những con
người trong các điều kiện nào đó, quả thật chẳng mang tính cách, ý nghĩa hay
giá trị khách quan nào đích thực cả. Có lẽ đây cũng là những khía cạnh hay những
điều mà trên kia chính ông Dương Trung Quốc đã nói đến.
Đã có thời gian dài, nhiều
người nông cạn chỉ biết nặng về quan điểm chính trị nhất thời trong hiện tại mà
quên khuấy đi mất những ý nghĩa và tính cách lâu dài hơn về tâm lý con người, về
lịch sử, về pháp lý, mà trên kia có những nhà nghiên cứu nước ngoài, những Giáo
sư đã phát biểu về các ý nghĩa liên quan nơi biển Đông mà đọc qua mọi người đều
nhìn thấy rõ.
Cho nên, từ ba bài báo nêu
trên, được đăng trên một tờ báo, vào cùng ngày, tuy là hoàn toàn ngẫu nhiên,
nhưng cả ba bài báo đều cho thấy một sự liên quan về chiều sâu nào đó về các vấn
đề con người, vấn đề lịch sử, vấn đề xã hội, mà nhiều khi người ta chỉ nhìn thấy
một cách hoàn toàn nông cạn và đơn giản. Có nghĩa có những sự việc xảy ra quá tầm
thường, thậm chí ti tiện, nhưng không phải không phản ánh các khía cạnh tâm lý
phức tạp của con người, tuy không liên quan tới ai nhiều, những không phải
không làm mọi người suy nghĩ. Ngược lại, có những vấn đề rất thời sự, rất lớn
lao, những có nhiều người chỉ xem như những chuyên ở đâu, ở trên trời, chẳng
liên quan gì đến họ.
Bởi vậy, vẫn luôn luôn có những
vấn đề về con người, về xã hội, tức các vấn đề về tâm lý cá nhân, tâm lý xã hội,
về đời sống, kinh tế, văn hóa, lịch sử, chính trị, quốc gia cũng như quốc tế, vốn
liên quan ràng rịt nhau, mà nếu chỉ biết nhìn một cách hời hợt, phiến diện, hay
nông cạn, không bao giờ người ta thấy hết. Chẳng có điều gì hoàn toàn không
quan trọng, mà cũng chẳng có vấn đề gì hoàn toàn thật sự trọng đại đối với tất
cả mọi người. Hay nói cụ thể, mọi vấn đề vẫn tùy theo từng người, từ vị trí, khả
năng, trình độ nhận thức, khuynh hướng, thói quen, tình cảm, ý thức và ý chí
khác nhau, để cùng suy nghĩ hay trao đổi giữa nhau, như trên đã thấy. Nói cách
khác đi, điều gọi là cái tốt hay cái xấu nơi cá nhân và xã hội là vô cùng, bao
la phương diện, tầm thường hóa hóa hay lý tưởng hóa quá mức những điều gì đó đều
chẳng khác gì như đang ngủ mê chính giữa lòng dòng đời thực tế.
VÕ HƯNG THANH
(12/11/10)
**
THỬ PHÂN TÍCH BÀI VIẾT CỦA ÔNG LỮ PHƯƠNG
Tác giả Lữ Phương từng
là một người trong cuộc, trong bài tham luận vừa rồi : “Sự xuống cấp văn hóa và đạo đức trong xã hội ngày nay ”, được đọc trong buổi họp mặt do Quỹ Văn hóa
Phan Châu Trinh tổ chức ngày 27.11.2010 tại Hà Nội, ông đã mạnh dạn nói nhiều đối
với các vấn đề mà hiện nay có nhiều người muốn nói là rất nóng bỏng. Bài viết
này cũng được hiểu dưới một tên gọi khác khác : “Vì đâu nên nỗi ? hay tác động văn hoá của “đổi mới” xét như một mô thức phát triển”
mà tác giả LP muốn nói đến.
Ông LP nói : vấn đề xuống
cấp văn hoá và nếp sống hiện nay đã lan rộng đến mức báo động đỏ. Và cũng theo
ông, đây không chỉ là sự suy thoái riêng rẽ và đơn thuần về đạo đức, văn hoá, mà
thực sự bắt nguồn từ một mô thức phát triển tổng thể đã quy định về sự suy
thoái thuộc các lĩnh vực này. Ông còn nhấn mạnh về tính chất trầm trọng của sự
xuống cấp văn hoá đó, mà theo ông đó cũng chính là ý nghĩa phá sản trầm trọng của
một mô thức phát triển mang tính chất lịch sử đã được chọn. Và mục đích bài viết
của ông chính là đi tìm nguyên nhân phá sản
về mặt lịch sử của mô hình đó.
Trước hết ông LP
cho rằng “Đã có một sự ngộ nhận trầm trọng
khi đồng nhất khái niệm “ chủ nghĩa xã hội ” mà chúng ta đã chọn lựa vào thời
cách mạng giải phóng dân tộc với nội dung khái niệm “Xã hội chủ nghĩa ” mà
chúng ta coi là hình thái kinh tế xã hội cần xây dựng để đưa đất nước vào con
đường hiện đại hoá”. Theo ông LP, “Logic này cũng là cơ sở của luận điểm của
Lenin về phong trào giải phóng dân tộc : phong trào này là một bộ phận của phong trào chống tư bản, đế quốc do quốc
tế vô sản lãnh đạo nên sau khi dựa vào quốc tế vô sản hoàn thành cách mạng dân
tộc rồi thì phải tiến lên xây dựng ngay chủ nghĩa xã hội, không thông qua giai
đoạn phát triển tư bản để tiếp tục sự nghiệp chống đế quốc do quốc tế vô sản
lãnh đạo”.
Ông nhấn mạnh
“Có thể trong điều kiện lúc bấy giờ,
chúng ta có nhiều lý do để xác tín vào sự chọn lựa ấy, nhưng những
gì diễn ra về sau đã chứng minh rằng cái logic
ấy không phù hợp thực tế”. Ông Phương cũng đề cập đến “chỗ dựa thực tế của
một lực lượng ngoại tại” vào thời điểm lúc ấy, và ông cho rằng “cuộc chiến đấu
chống xâm lược của chúng ta có phần phù hợp với sự chọn lựa đó”. Ông cũng
nói hình như ý tưởng của nhà văn Nguyên Ngọc cũng cho rằng sự chọn lựa đó chỉ
mang tính chất tình thế, một chọn lựa “ cực chẳng đã ”, chứ không phải và cũng
không thể xem là một chọn lựa một lần cho mãi mãi, như một chân lý. Và tiếp
theo ông cũng nói thực tế đã cung cấp
nhiều bằng chứng cho biết sự chọn lựa của chúng ta không phải là một cái cẩm nang thần kỳ, và sự huyễn hoặc của sự thần
kỳ này không thể viện dẫn “ lập trường ”, “ lòng tin ” hay sự “ trung thành ”…
mà bảo vệ được.
Trong ý hướng
đó, ông kết luận : “Cái mô thức mà chúng ta gọi là “ chủ nghĩa xã hội ”, ban đầu
là một cương lĩnh xây dựng trực tiếp, sau này chuyển thành một “ định hướng ”
tiến lên, lại không tìm được cơ sở nào
để tự biện minh về tính chất nghiêm chỉnh
và khả thi của nó, dù cho nó có được
giải thích như thế nào, vận dụng cách nào đi nữa, bao lâu đi nữa”. Bởi ông cho
đây không phải là quy luật sinh thành
của lịch sử như chúng ta đã ngộ nhận
và thuyết minh, mà chỉ là những phản ứng chính đáng, nhưng lại mang tính mộng ảo của những người trí thức bức xúc
trước những bất công gay gắt của chủ nghĩa tư bản thời sơ khai, mà cũng là thời
kỳ chủ nghĩa tư bản đồng hoá với chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc.
Ông cũng đả kích
gay gắt chiều hướng đó, vì cho rằng không hề có phát triển vì động lực phát triển đã bị huỷ diệt. Đồng
thời ông cũng cho rằng những khẩu hiệu gọi là “ do dân, vì dân, của dân ”, vốn
là cơ sở của các cuộc cách mạng dân chủ đích thực, đã trở thành những hứa hẹn mị dân thô lậu, đem ra tuyên
truyền, chỉ mang lại những hiệu ứng phản tác dụng. Kết quả, ông LP cũng đánh
giá “không có phát triển mà cũng không
có dân chủ và công bằng”.
Trong ý nghĩa
đó, ông LP cũng nêu lên các luận điểm : “Có quan điểm cho rằng, mọi việc đã bắt
đầu từ Đại hội Tours, năm 1920, khi Nguyễn Ái Quốc chuyển hướng từ chủ trương
canh tân ôn hoà của Phan Châu Trinh sang con đường cách mạng cực đoan của Đệ tam Quốc tế. Cũng có ý kiến muốn lấy năm
1923 làm cột mốc giải thích khúc quanh cho số phận của Việt Nam khi Nguyễn Ái
Quốc từ giã môi trường hoạt động khuynh tả ở nước Pháp dân chủ để sang Nga hội
nhập vào mô thức chuyên chế kiểu
phương Đông”.
Tuy nhiên, ông
LP cũng nêu thêm một luận điểm khác : “Thời điểm 1949 khi cách mạng Trung quốc
thành công nhờ đó Việt Nam tìm được một
căn cứ địa trực tiếp, lâu dài, làm chỗ dựa vững chắc để củng cố và đẩy mạnh
cuộc kháng chiến chống thực dân, nhưng cũng từ cái cột mốc thời gian “cần thiết”
sinh tử với độc lập dân tộc đó mà cách mạng Việt Nam, dưới nhiều hình thức, đã
tạo điều kiện cho sự du nhập vào tổ chức của mình một hệ tư tưởng tệ hại nhất
trong những hệ tư tưởng gọi là “xã hội chủ nghĩa” phản Marx nhưng vẫn nhân danh Marx để giải phóng loài người – đó là
chủ nghĩa Mao, một thứ chủ nghĩa Stalin “ mang đặc điểm Trung quốc”.
Và ông LP cũng
nói rõ : “Mặt xã hội, bằng khuyến dụ những cuộc tàn sát truy bức mệnh danh “ đấu
tranh giai cấp ”, “ cải cách ruộng đất ”, nó đã đào bới đến tận gốc rễ nền văn
hoá truyền thống của dân tộc – bằng cách đưa lên hàng chính diện các nhóm đân
cư hạ đẳng nhất của xã hội, biến các tầng lớp này thành lực lượng nòng cốt thực
hiện đường lối xây dựng “ xã hội mới ” theo mô thức Mao, đồng thời khuấy lên từ đáy sâu của lịch sử dân tộc
các tính chất cặn bã nhất của con người là sự ngu dốt, cơ hội, ti tiện, hẹp
hòi, thù hận… biến chúng thành hệ giá trị
làm nền cho mọi hoạt động tinh thần mà dấu tích vẫn còn hằn sâu vào đời sống
văn hoá của đất nước cho đến ngày nay, chưa biết đến bao giờ mới gột sạch được”.
Và ông cũng cho đó là “Thứ chủ nghĩa xã hội phản mác xít tư biện, không tưởng và giáo
điều”.
Tuy nhiên, ông Lữ
Phương cũng nói : “Cho đến nay chưa bao giờ thấy xuất hiện trên hành tinh này một
hình thức xã hội cộng sản nào đúng theo định nghĩa của nó cả, trong khi đó nếu
có những thứ “cộng sản” có thể gây ra
tội ác thật sự thì đó chỉ có thể là những thứ mang tên cụ thể như Stalin, Mao
Trạch Đông, Pôn Pốt hoặc gì gì đó thôi”. Cuối cùng, ông kết luận : “Rốt cuộc
thì đối với vấn đề suy thoái đạo đức, văn hoá ở Việt Nam hiện nay thiết nghĩ
chúng ta không thể đem các thứ cộng sản hoặc tư bản trừu tượng ra giải thích mà
phải tìm đến sự giao thoa và cộng hưởng của hai
cơ sở lý luận “dỏm” dẫn xuất từ những nguồn gốc đó : đó là thứ chủ nghĩa cộng
sản mạo danh, biến thái cùng với cái mặt trái của nó là thứ chủ nghĩa tư bản sơ
kỳ, man rợ !”
Và giải pháp ông
LP đưa ra là : “Phải tách rời hai hình thái ấy ra, không cho chúng cấu kết với
nhau để nhân lên sự độc hại, rồi sau đó trong hai thứ ấy, tuỳ theo quan điểm,
ta sẽ chọn lấy một, cái này hoặc cái
kia, loại trừ những phần độc hại trong cái mô thức đã bị làm cho biến dạng, sửa
đổi, canh tân và phục hồi lại các nguyên lý thuần nhất của nó, trau chuốt cho
nó có hiệu quả hơn để áp dụng vào thực tế”. Ông cũng nói thêm : “Tôi nghĩ mặc
dù hoang tưởng nhưng mấy vị này không hoàn toàn vô lý : Thứ chủ nghĩa xã hội cổ lỗ mà họ ôm ấp tuy có độc tài, trì trệ,
nghèo đói, cả ác độc nữa, nhưng mọi thứ đều răm rắp đâu vào đó, tứ bề yên ổn,
chay tịnh, chứ đâu có lộn xộn như thứ “ chủ nghĩa xã hội thị trường ” bây giờ !
Cứ nhìn sang Bắc Triều Tiên mà xem !”.
Tuy thế, ông LP
cũng nhất thiết phản bác “Khẩu hiệu sọc dưa gọi là “ thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ”. Và ông nói “Hãy bỏ cái đuôi ấy đi cho nó đàng hoàng về phương diện
lý luận và cả thể diện nữa”. Ông cũng nói : “Trong khi tạo ra một số của cải vật
chất để đẩy lùi tình trạng nghèo khổ khan hiếm do thứ chủ nghĩa xã hội giáo điều,
không tưởng cũ gây ra, trong khi buộc phải đổi thay theo thời thế để cứu nguy một
định chế chính trị đang rơi vào khủng hoảng”. Đồng thời, có một ý mới mà ông LP
cũng nêu lên : “Phải chăng vấn đề mất
nước mà chúng ta tưởng đã không còn đặt ra nữa sau ngày thống nhất, nay lại lấp
ló hiện ra, lần này không còn đến từ phương Tây nữa mà giống như cả ngàn năm
trước, lại từ phương Bắc”.
Nhưng rồi ông kết
luận “Từ ý hướng đó mà nhìn lại thì rõ ràng mô thức phát triển mệnh danh “ đổi
mới ” cho đến nay đã không làm tròn được chức năng nói trên, do vậy cái chính
sách nửa vời đó đã đến lúc cần phải chấm dứt – và mọi người phải có nhiệm vụ tạo
áp lực cho nó sớm chấm dứt – để chuyển sang một mô thức phát triển có chất lượng
tích cực hơn, phù hợp hơn với hoàn cảnh mới của xã hội và lịch sử. Nội dung của
mô thức này ra sao, sẽ được hình thành như thế nào, làm sao để thực hiện, là những vấn đề lớn lao, có lẽ không phải
là chỗ để bàn luận ở đây, bản thân tôi cũng không
dám lạm bàn”.
Nên ông nói tiếp
: “Trong nỗ lực đi tìm mô thức mới thay thế, vực dậy đời sống tinh thần cho xã
hội, nếu không thanh toán cho được cơ sở lý luận cho phép người ta dựa vào các
phạm trù ý thức hệ lỗi thời để thiết lập chính sách quốc gia, coi đó đã là những
quyết định tối hậu, từ trên áp xuống, dựa vào những lợi ích nhất thời, cục bộ
coi là giá trị để theo đuổi, cứ thế mà thực hiện, bất chấp hậu quả, bất chấp
lòng dân thì cái giá phải trả, trong tình hình mới, không phải chỉ diễn ra như
cũ, cũng không chỉ trên phương diện văn hoá mà có thể dẫn tới những tác hại
quan trọng, không lường trước được, về mọi mặt đối với sự an nguy của đất nước”.
Cuối cùng, ông nói : “Với những phần nghiêng lệch về tiêu cực như đã phân tích,
chủ trương “đổi mới” với tư cách là một mô thức phát triển, rõ ràng đã không
còn lý do để tiếp tục nữa. Một cách có ý thức và chủ động, nó phải được chuyển
sang một mô thức mới dựa trên những
nguyên tắc mới về lý luận và văn hoá, dân chủ hơn, hiện đại hơn”.
Nói tóm, bài viết
của ông Lữ Phương cho thấy một sự thức tỉnh, một sự thú nhận về một ngộ nhận
nào đó về quá khứ lịch sử của riêng ông cũng như của nhiều người khác. Tất
nhiên, có nhận thức được như thế cũng là một điều khá tốt. Nhưng sự trăn trở của ông như vẫn chưa có lối
thoát, vẫn còn mang nặng ý hướng tự bào chữa và một tinh thần chống chế nào đó. Điều này tất nhiên vừa
có tính chất ý thức vừa mang tính cách vô thức, như điều tất nhiên không thể
tránh khỏi. Ông cũng khao khát tìm thấy một lối thoát, một giải pháp, nhưng thật
sự đến giờ ông vẫn cảm thấy bế tắt,
không đề ra được, mà cũng không thấy có triển vọng đề ra được. Đây chính là ý
nghĩa hụt hẫng của ý thức hệ. Một sự hụt hẫng ngay từ đầu, do từ xuất phát điểm quá thấp của năng lực nhận thức
chung của xã hội, nên chính nó phải trả giá, và cho đến nay vẫn cứ rơi vào chỗ quán tính mà chưa tìm thấy một lối ra
mang tính quyết đoán, sáng suốt, tự giác, hoặc có ý thức hoàn toàn tự chủ.
Tuy nhiên, qua
bài viết, ông Lữ Phương cũng cho thấy rõ điều này mà ông cho là có ý nghĩa quan
trọng. Ý nghĩa quan trọng về con người, về xã hội và về lịch sử. Ý nghĩa đó là
ý nghĩa về mặt khoa học, mặt triết học, cũng như mặt thực tế. Bài viết của ông
Lữ Phương rõ ràng có mang một ý nghĩa sám
hối, nhưng trong ý nghĩa sám hối đó ông cũng nhất thiết tự biện minh hay tự bộc bạch theo một chiều hướng nào đó. Điều này không chỉ đúng đối với
riêng trường hợp cá nhân của LP, mà cũng là trường hợp của nhiều người khác. Tất
nhiên đó có cả những người đã chết,
những người đang sống, và cả những
người sẽ chết. Nên nói chung lại, đó
cũng chính là một ý nghĩa của lịch sử,
lịch sử của xã hội, của thế giới, hay của sự nhận thức, của hành động, và nói
chung là của tất cả những cái hay cái dở luôn vốn có nơi xã hội của con người,
trong đó bao gồm cả ý nghĩa của vấn đề mà trước đây vẫn được nhiều người hiểu
như một học thuyết siêu đẳng hay một ý thức hệ tuyệt vời với đầy đủ những
khía cạnh hết sức đa đoan của nó.
VÕ HƯNG THANH
(01/11/2010)
**
NÓI VỀ SỰ ĐỒNG THUẬN TRONG XÃ HỘI
Báo Tuổi trẻ hôm nay
18/11/2010 có chạy tít lớn nơi trang nhất bài báo nhan đề “Tăng cường sự đồng
thuận xã hội”. Bài báo có thuật lời ông Tổng bí thư, người đứng đấu cả nước hiện
nay, trong bài phát biểu vừa rồi nêu rõ “Chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử. Đại đoàn kết dân
tộc là một vấn đề chiến lược có ý nghĩa sống còn, lâu dài, quyết định thành bại
của cách mạng, là một bộ phận hữu cơ, một tư tưởng xuyên suốt trong đường lối
chiến lược cách mạng …, phù hợp với đòi hỏi khách quan của quần chúng nhân dân
muốn tự giải phóng mình”.
Ông Tổng bí thư nói tiếp
trong diễn văn : “Khối đại đoàn kết toàn dân tộc phải được xây dựng trên cơ sở
bảo đảm những ích lợi tối cao của dân tộc và những quyền lợi cơ bản, chính đáng
của nhân dân. Chỉ có tin vào dân, dựa vào dân thì mới xây dựng được khối đại
đoàn kết một cách tự giác. Trong bối
cảnh VN đang tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công
cuộc đổi mới, phát triển kinh tế nhanh và bền vững, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân … Lấy mục tiêu xây dựng một nước VN
hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh làm điểm tương đồng, tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc;
đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung … để tập hợp đoàn
kết mọi người … tăng cường đồng thuận
xã hội”.
Cùng ngày, báo Pháp luật TP.
HCM trong mục ngắn ‘Theo dòng’, cũng có đăng một bài viết nhỏ với tiêu đề “Đại
đoàn kết thực sự”, trong đó có viết : “Đại đoàn kết là nguồn sức mạnh xuyên suốt
để dân tộc ta giành độc lập, thống nhất tổ quốc và phát triển đất nước. Dự thảo
Cương lĩnh tiếp tục khẳng định một trong các phương hướng căn bản cần thực hiện
để đưa nước ta trở thành một nước công
nghiệp hiện đại là xây dựng nền dân
chủ XHCN, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc … Cụ thể hóa chủ trương đúng
đắn ấy, nhưng chính sách để nối kết các thành phần trong khối đại đoàn kết toàn
dân cũng ngày càng được mở rộng và hoàn thiện hơn. Thế nhưng, trong nhiều cuộc
hội nghị gần đây, vẫn có ý kiến băn khoăn rằng dường như vẫn còn bức tường vô hình giữa chủ trương, chính
sách và thực tiễn”.
Bài báo cũng nêu thêm lời của
ông Đào Công Tiến trong một buổi góp ý kiến mới đây cho văn kiện Đại hội, cũng
có nêu lên việc trí thức vẫn chưa có được
một môi trường thực sự thuận lợi để thỏa sức đóng góp, hố sâu giàu – nghèo đang ngày càng giãn rộng, nông dân chưa giàu
trên mảnh đất của mình, công nhân thì bữa cơm chan đầy mồ hôi mà thiếu thốn vẫn
luôn đeo đẳng. Trong khi đó có những
chính sách phát triển đã bị méo mó đi bởi các nhóm thế lực chi phối … Ngoài
ra, bài báo cũng thuật lại lời ông Võ Tòng Xuân trong một cuộc tiếp xúc nêu rằng
sự phân biệt trong lý lịch hiện nay ở
nước mình còn nặng nề, còn phong kiến quá ! Và điều đó khiến đất nước mất nhiều
nhân tài. Sâu thẳm trong trái tim tất cả người VN luôn luôn tồn tại hai chữ VN
và họ sẽ chung tay, chung tâm xây dựng đất nước nếu ta mạnh dạn khơi nguồn và
có chủ trương đúng đắn và chính sách hợp lý. Cuối cùng, bài báo cũng nêu lên ý
VN đang tiến ra biển lớn, hơn bao giờ hết con thuyền đất nước đang cần một sức
mạnh đại đoàn kết dân tộc thật sự chứ
không phải hình thức, khẩu hiệu.
Tất nhiên, nội dung hai bài
báo và các ý kiến nêu trên đều cơ bản chính xác, thực tế. Tuy vậy, vấn đề không
phải chỉ dừng lại ở tính cách của vấn đề, mà chính là lối ra, việc thực hiện
hay áp dụng chúng trong thực tế ra sao. Đây ý nói là sách lược hay kế hoạch nhằm
thực hiện chúng, đó mới là điều cần thiết phải có, bởi nếu không chúng cũng chỉ
có thể dừng lại trên ý tưởng, suy nghĩ, hay chỉ là trên giấy. Điều này cũng nói
lên chính phản ứng, thái độ, hay tinh thần, ý thức của mỗi người. Bởi sự đồng
thuận thực tế là gì nếu không phải chính là tính cách tích cực hay yếu tố thực
tế của chính những khía cạnh này. Có nghĩa mỗi cá nhân có tự giải phóng mình ra
khỏi cái vỏ ốc riêng tư hay không, đó chính là giá trị hay ý nghĩa nền tảng của
chính yêu cầu. Bởi không tự giải phóng ra khỏi pháo đài cá nhân này, cũng không
thể nói có sự đồng thuận hay không có sự đồng thuận. Điều này cũng nói lên thái
độ biểu hiện tiêu cực hay tích cực đối với người khác hay đối với xã hội. Thái
độ tích cực là thái độ cởi mở, chia sẻ, tiếp thu, đón nhận. Thái độ tiêu cực là
ý nghĩa ngược lại. Nói như thế, cũng có nghĩa sự đồng thuận không phải tính
cách chung chung, mà chính là yêu cầu cụ thể, rõ rệt. Đó là yêu cầu của nhận thức,
ý thức, tư duy, ngôn ngữ, và của hành vi biểu hiện. Bởi đồng thuận có nghĩa là
sự thể hiện ra, phát biểu ra trong những khía cạnh đã nói. Đồng thuận mà làm
thinh, đồng thuận một chiều, đồng thuận mà không một chút biểu hiện nào, cũng
coi như không mang ý nghĩa hoặc giá trị gì, nếu không nói cũng chẳng có tác động
gì. Đó cũng là ý nghĩa của sự tự giác. Bởi nếu không có sự tự giác, ý nghĩa
tinh thần hay giá trị đạo đức cũng xem như rất yếu.
Bởi vậy, ý nghĩa của sự đổi
mới, nhu cầu của việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, là
điều chẳng có ai lại không đồng thuận. Có nghĩa mục tiêu xây dựng đất nước giàu
mạnh, chính là ý nghĩa đồng thuận cao nhất mà mọi người đều có. Tất nhiên,
trong ý nghĩa đó, vẫn có thể có những ý kiến khác nhau cần phải tôn trọng, miễn
là nó không trái lại với lợi ích chung của dân tộc. Đây chính là ý nghĩa của
chính kiến hay tư tưởng. Bởi chỉ có hành động mới được xem là trái pháp luật
hay không trái pháp luật, còn chính kiến hay quan điểm là điều tất nhiên hoặc
khách quan mà mọi người đều phải có. Sự đồng thuận như vậy không phải là sự
khác nhau trong nhận thức, sự khác nhau trong thảo luận, mà chính là sự thống
nhất về mục tiêu phải có. Chính sự khác nhau đó không phải ngăn cản sự đồng thuận
mà là điều kiện và yêu cầu để tăng cường sự đòng thuận của mọi người trong xã hội.
Mục đích cao nhất của sự đồng thuận là để tập hợp cao nhất sức mạnh chung mọi mặt
của xã hội, của đất nước, là ý nghĩa tích cực nhất, đồng thuận là để mở rộng sự
hợp tác, đồng thuận không có nghĩa chỉ có tính cách tiêu cực là sự thụ động hay
hạn chế sự hợp tác. Nên đồng thuận không mang tính cách lý thuyết mà mang ý nghĩa thực tế. Những biện pháp cụ thể để tập trung hay phát
huy sự đồng thuận còn quan trọng hơn nhiều mọi hình thức bề ngoài của sự đồng
thuận.
Tuy nhiên, nếu ý nghĩa đưa đất
nước trở thành một nước công nghiệp hiện đại, là một ý nghĩa tất cả mọi người đều
đồng thuận, vì nó hoàn toàn khách quan, cụ thể, hiển nhiên và cần thiết. Trong
khi đó, khái niệm nền dân chủ XHCN
cho đến nay thật sự vẫn chưa được rõ ràng. Bởi vì vẫn chưa có ai đưa ra được một
khái niệm chặt chẽ, bao quát, chính xác, cụ thể, toàn diện, chắc chắn và thực tế
cho tới nay để mọi người đều nhất thiết phải đồng thuận. Cho nên đây chính là ý
nghĩa của việc cần tiếp tục thảo luận, định nghĩa một cách đầy đủ, chính xác, cụ
thể và thực tế nhất. Bởi đây không còn là ý nghĩa của cảm tính, thói quen, tình
cảm, hay khuynh hướng, mà cần phải có nền tảng khoa học thật sự khách quan,
chính xác, tức vấn đề cần thiết mang tính chất khoa học đúng đắn và học thuật
sâu sắc cũng như bao hàm nhất. Có nghĩa đây là quan điểm đã có trong quá khứ, vẫn
có trong hiện tại, hay chỉ sẽ có trong tương lai là điều phải tiếp tục suy
nghĩ, cho dầu theo nguyên tắc, quá khứ, hiện tại và tương lai của một xã hội rất
ít khi bị tách rời, và điều đó cũng mang ý nghĩa như sự thủ cựu, chính thống,
hay tính cách của sự đổi mới. Bởi vậy, trong xã hội, mọi sự đồng thuận hay
không đồng thuận thường đều biểu hiện thành ba thái độ nội dung lẫn hình thức.
Sự về hùa, sự im lặng, sự bày tỏ. Trong cả ba thái độ này, chỉ có sự bày tỏ
công khai ý kiến một cách tích cực, xây dựng, thẳng thắn, và đóng góp, mới là sự
đồng thuận có giá trị và cần thiết nhất trong mọi trường hợp.
Đây có lẽ cũng là ý nghĩa của
nhận xét về một bức tường vô hình giữa chủ trương, chính sách và thực tiễn như
trên kia đã nói. Và cũng như trên kia đã nói, các vấn đề khoa học và học thuật lại chính là ý nghĩa quan trọng hay yêu cầu thiết
yếu nhất của trí thức. Trí thức vẫn chưa có được một môi trường thuận lợi thì
đây cũng quả là một thiếu sót chẳng phải không lớn. Vấn đề chỉ là tại sao xã hội
từ trước đến nay vẫn không quan tâm. Cho nên, nếu hố sâu của sự giàu – nghèo
đang ngày càng giãn rộng, cả giới nông dân và công nhân vẫn chưa có được đời sống
thuận lợi, thì việc giải quyết ý nghĩa này vẫn không thể chỉ ở cảm tính mà
chính là ở tri thức khoa học thật sự.
Tại sao chính sách phát triển lại bị méo mó bởi các nhóm thế lực chi phối, tại
sao sự phân biệt lý lịch vẫn hãy còn nặng nề, phong kiến, đó chính là ý nghĩa của
vấn đề con người và vấn đề xã hội. Do
vậy, sự đại đoàn kết dân tộc thực sự, hay sự đồng thuận thật sự, quả nhiên là một
vấn đề nhân văn, một yêu cầu thực chất,
mà không phải chỉ là hình thức hay khẩu hiệu. Bởi nếu nói một cách mở rộng
hơn, ý nghĩa của khuynh hướng chính trị trong một xã hội hoặc có thể theo chiều hướng trí thức, khoa học; hoặc có
thể theo chiều hướng bình dân, thông tục;
hoặc theo chiều hướng song hành hay kết hợp cả hai khuynh hướng này với
nhau. Điều này, cứ nhìn vào cách tuyên truyền giáo dục vẫn có trong xã hội thì
mọi người có thể thấy rõ. Ngoài ra, tính cách này cũng còn nói lên chính sự kiện
là hoặc nền chính trị chỉ đặt nặng về quá
khứ, hoặc đặt nặng về hiện tại,
hoặc chủ yếu nhằm nhấn mạnh vào tương lai.
Tất nhiên, trong tất cả ý nghĩa và chiều hướng ấy, sự cần thiết cao nhất vẫn chỉ
có thể là việc đặt nền tảng trên khoa học,
tri thức, và chiều hướng nhấn mạnh về tương lai, vẫn luôn là phù hợp nhất,
cũng như có thể dễ dàng tạo được sự đồng thuận rộng lớn và căn cơ nhất. Đây
chính là điều mà hình như thường có ít người quan tâm tới.
Cũng trong những ngày qua,
báo Tuổi trẻ có đăng loạt bài phóng sự “Những kiểu ‘bán sống’ con người” phơi
bày dã tâm một số cá nhân thực hiện sự bóc lột sức lao động con người một cách
dã man giữa rừng núi sâu mang đến cho mọi người những suy nghĩ về tính chất đặc
thù của một số những cá nhân. Điều này cũng chẳng mới lạ gì, khi thỉnh thoảng
có các loạt bài phóng sự trên báo Tuổi trẻ hay báo Pháp luật. TP.HCM về các tệ
nạn của con người như việc chăn dắt người ăn xin, nạn đinh tặc, lâm tặc, buôn
người qua biên giới, sự kiện tham nhũng v.v…Điều đó cho thấy ý nghĩa của con
người và xã hội vẫn luôn là ý nghĩa thường xuyên trong cuộc sống. Tức không thể
có vấn đề xã hội hoàn toàn hay tuyệt đối hoàn hảo, mà giải quyết các yếu tố con
người và xã hội chỉ có thể căn cứ vào phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp
luật, nói chung là ý nghĩa của khoa học, của kỹ thuật xã hội, của hệ thống
pháp lý trên nền tảng thực tế và khoa học mà không là gì khác. Mọi sự suy
nghĩ mang tính ảo tưởng về cảm tính, tình cảm, quán tính, bảo thủ … chỉ có thể
làm chặn đứng sự phát triển xã hội, tạo điều kiện cho sự lợi dụng, lạm dụng,
đưa lại mọi sự phản hiệu quả, phản thực chất không hơn không kém.
Nói khác đi, vấn đề người tốt,
người xấu trong xã hội luôn luôn có. Điều này rất đa dạng và luôn dưới nhiều mức
độ cũng như hình thức khác nhau không thể nói hết. Kể cả năng lực hay tài năng
của mỗi người cũng vẫn luôn đa dạng và nhiều mức độ vô cùng khác nhau như thế.
Điều này có nghĩa mọi giá trị trong cuộc sống hay xã hội chỉ là tương đối.
Không phải đám đông những người thầm lặng đều cả thảy bất tài. Cũng không phải
những người làm việc nước, việc xã hội bất kỳ thời đại hay đất nước nào cũng đều
giỏi hơn những người khác. Có nghĩa mỗi cá nhân còn tùy theo khuynh hướng, mục
đích, tình huống, cá tính, phận mệnh hay hoàn cảnh … khác nhau. Lịch sử luôn
mang những hình thức ngẫu nhiên mà
không phải bao giờ cũng tất yếu. Cho nên mọi tham vọng của con người muốn xây dựng
một xã hội hoàn chỉnh đã xảy ra trong quá khứ đều chỉ là sự ngụy tín hay ấu
trí. Nhưng rồi lịch sử cũng đã kinh qua, và cả thế giới cũng đã thay đổi. Ngày
nay chính sự hội nhập trên toàn hành tinh là một sự đồng thuận lớn nhất cũng
như thực tế nhất. Và trong sự đồng thuận
bao trùm đó, sự đồng thuận trong mỗi nước cũng chỉ cần thiết theo hướng đó
một cách tự nhiên.
Bởi vậy, ngày nay sự đồng
thuận xã hội chỉ có thể là sự đồng thuận trên nền tảng thực tế và khoa học, mà không còn con đường đồng thuận nào
khác. Sự đồng thuận nhất thiết cũng phải luôn là sự đồng thuận hai chiều, nhưng
không thể chỉ là một chiều. Đồng thuận chỉ có thể cả hai phía cùng cảm thông,
thống nhất ý kiến chung, mục tiêu chung, mà không thể chỉ bên nào phải đông thuận
với bên nào. Nói khác đi, cơ sở của sự đồng thuận chỉ có thể là tính cách tự
do, dân chủ, tự giác, có ý thức, mà không thể bằng các cách nào khác. Bởi vì,
trong ý nghĩa xã hội, sự phân chia làm ba thành phần thì lúc nào và ở đâu cũng
có. Thành phần số ít, tinh hoa, tích cực. Thành phần số đông cầu an, thụ động,
không màu sắc đặc biệt, thiên về bản thân. Thành phần số ít tiêu cực, mang tính
đi ngược lại quyền lợi chung hay những lợi ích bình thường nhất trong xã hội.
Nói khác đi, ý nghĩa của mỗi cá nhân đều không đi ra khỏi mọi dấu ấn của cá
tính, hoàn cảnh đời sống, điều kiện giáo dục, năng lực nhận thức, tham vọng
riêng tư, cũng như truyền thống của gia đình hay các ảnh hưởng của thành phần
xã hội.
Nói như vậy, cũng có nghĩa
tính cách của sự đồng thuận, trong thực tế không phải là sự đồng thuận nói
chung, trừu tượng, mà chính là sự đồng thuận trong thực tế, người nào đồng thuận
với người nào, thành phần nào đồng thuận với ai, và tất cả mọi người cùng đồng
thuận với nhau vì những mục đích nào hay vì những tính cách gì. Nói cụ thể hơn,
mọi sự đồng thuận xã hội luôn biểu hiện ra theo từng ý nghĩa của các thành phần,
các tầng lớp riêng của xã hội. Mà nói tổng quát, vẫn là sự đồng thuận hay không
đồng thuận về các ý nghĩa, các vấn đề quan trọng nào đó trong đời sống xã hội
giữa mọi tầng lớp dân chúng, hay đa phần trong các tầng lớp đó, với những người
làm chính sách, những người quản lý, những người lãnh đạo hay điều hành xã hội.
Có nghĩa, sự đồng thuận hay không đồng thuận có thể về mục đích chung, các chiến
lược riêng, cũng các tính cách hay phương thức biểu hiện, điều hành cụ thể, thực
tế nào đó.
Tất nhiên, cái chung bao giờ
cũng là những cái lớn, mọi người đều dễ dàng đồng thuận nhau. Như ích lợi chung
của sự phát triển xã hội, phát triển đất nước chẳng hạn. Song các ý nghĩa riêng
không phải là không quan trọng. Chẳng hạn các chiến lược phát triển, các cách
biểu hiện trong điều hành thực tế của đời sống xã hội. Đây là tính cách của
phương pháp luận khoa học hay chỉ là tính cách của cảm tính, của vết mòn, của sự
bảo thủ hoặc chuyên đoán, điều đó có thể có sự đồng thuận ở tầng lớp này nhưng
lại khó có sự đồng thuận ở các tầng lớp khác. Bởi vậy, nói cho cùng, sức mạnh đại
đoàn kết dân tộc thật sự luôn luôn cần
thiết, chính đáng, như phải có giải pháp
thật sự, có chương trình, kế hoạch cụ thể, hợp lý, hiệu quả, được đề ra thực
tế, mà không thể chỉ là hình thức hay khẩu khẩu hiệu, chỉ có tính chất hoàn
toàn trên giấy hoặc có tính lý thuyết.
Như bài viết này chẳng hạn,
cho dù chỉ nhằm bàn phiếm chơi, cũng
cho thấy có một sự đồng thuận nào đó, tức là không có sự phản đối về ý nghĩa và
mục đích chung. Nhưng thật sự đây chỉ là một dạng đồng thuận trong vô số dạng đồng
thuận hay không đồng thuận khác nhau mà mọi người đều có thể có. Có nghĩa đồng
thuận thật sự chỉ là một ý nghĩa, một thái độ, hay một tinh thần nào đó. Và
chính từ ý nghĩa và thái độ đó, người ta mới có thể đi đến được sự đồng thuận
trong hành động. Ý nghĩa và thái độ, đó là sự biểu hiện đầu tiên trong mỗi con
người. Cho nên đám đông thầm lặng,
không biểu hiện điều gì, đó chưa hẳn là sự đồng thuận hoặc là sự đồng thuận
đáng mong muốn. Nói cách khác, sự đồng thuận có thể tự giác hay không tự giác,
và một sự đồng thuận không tự giác, tức sự đồng thuận theo cách bó buộc hoặc
tiêu cực, thật sự lại không phải là sự đồng thuận theo đúng nghĩa của nó. Nên
nói cho cùng, sự đồng thuận của mỗi người hay không vẫn còn là sự đánh giá, sự
đánh giá khách quan hoặc chủ quan của mỗi con người khác, hay của những bộ phận
xã hội nào đó. Nên nói cho cùng, mọi sự đồng thuận mang ý nghĩa và giá trị nhất
vẫn là một tiềm năng đồng thời là một sự biểu hiện cụ thể nhất định trên cơ sở
mục tiêu hay phương thức thực hành một ý nghĩa nào đó. Chính sự đồng thuận thực chất, bình đẳng, dân chủ, trí thức,
khoa học, cũng như cùng hướng về chính lợi ích và tương lai chung của xã hội,
đất nước, mới thật sự là sự đồng thuận quan trọng và đáng nói nhất.
VÕ HƯNG THANH
(Sg, 18/11/2010)
**
PHẦN DANH MỤC CÁC BÀI VIẾT NGẮN,
CHỚP NHOÁNG (II) – (17)
CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN
(23/01/2011)
BẢN CHẤT CỦA XÃ HỘI DÂN CHỦ
VÀ NỀN CHUYÊN CHÍNH
ĐỘC TÀI (22/01/2011)
BẢN CHẤT SÂU XA CỦA CHỦ
NGHĨA QUỐC TẾ VÔ SẢN
(18/01/2011)
ĐIỀU CỐT LÕI CỦA CHỦ NGHĨA
MÁC-LÊNIN (16/01/2011)
NHÌN LẠI QUÁ TRÌNH LỊCH SỬ TỪ
MỘT XÃ HỘI NÔNG DÂN
(02/01/2011)
SỰ HÈN YẾU NƠI CON NGƯỜI (07/12/2010)
SỰ COI TRỌNG BẰNG CẤP, HỮU
DANH VÔ THỰC (15/11/10)
VÀI SUY NGHĨ NHỎ QUA BA BÀI
BÁO (12/11/10)
THỬ PHÂN TÍCH BÀI VIẾT CỦA ÔNG
LỮ PHƯƠNG (01/11/2010)
NÓI VỀ SỰ ĐỒNG THUẬN TRONG XÃ HỘI (18/11/2010)
**
No comments:
Post a Comment