NHỮNG BÀI PHÓNG BÚT
NGẮN, CHỚP NHOÁNG (TẬP II) - (18)
**
NÓI
VỀ SỰ YẾU KÉM, NÔNG CẠN, HAY TÍNH CHẤT ẤU TRĨ
CỦA
MỘT HỌC THUYẾT KHOA HỌC
Có một chủ thuyết được mệnh danh là lý
thuyết khoa học, nhưng trải qua một thời kỳ dài áp dụng vào hoàn cảnh xã hội ở
một số nơi nhất định, đã chứng tỏ không đạt kết quả. Thế nhưng, nó vẫn được một
số người nào đó, vì những lý do đặc thù riêng biệt, hay các ý thức chủ quan
khác nhau, thường hết sức xiển dương và thần thánh hóa theo kiểu một chiều, rập
khuôn bất chấp ý nghĩa khoa học, để nhằm thổi phồng một cách quá đáng, vô điều
kiện, theo kiểu thông thường của hiệu ứng đám đông, hoặc giả, cũng có thể như một
mệnh lệnh định sẳn, một nguyên tắc bó buộc tuân thủ, để phải xem như một chân
lý tối hậu, theo ý nghĩa cứu tinh của toàn thể nhân loại, trong tính cách tín
điều như một quy luật tuyệt đối duy nhất đúng, vân vân và vân vân, y như kiểu một
giá trị thiêng liêng có tính vạn năng, một học thuyết thiên tài, mang ý nghĩa
siêu việt thần thánh, mà nhất thiết toàn thể loài người, hay mỗi dân tộc, đất
nước liên quan nào đó, phải bị bó buộc noi theo, nhất thiết không thể không
tuân thủ hay không hướng tới được.
Kiểu thần thánh hóa đến độ quá mức, kiểu
rập khuôn mù quáng, theo cách tôn thờ quá đáng bằng chính sự cường điệu một chiều,
kiểu tuyệt đối hóa vô điều kiện, vô trách nhiệm, bất chấp mọi điều gì liên quan
khác, chẳng cần tranh luận, mà nếu tranh cãi thì cũng chỉ cả vú lấp miệng em,
và cuối cùng, chính các kiểu cách đó trở thành một sức nặng quán tính đè lên
toàn thể xã hội, gây ra bao nhiêu hậu quả nhiều khi rất khốc liệt ở nhiều nơi,
nhiều quốc gia trong nhiều thời kỳ, khiến phải gánh chịu biết bao nhiêu hậu quả
có liên quan đến, hay phát sinh ra, trong một thời kỳ lâu dài của quá khứ, mà
suốt một giai đoạn lịch sử già hơn nửa thế kỷ đã chứng minh, một cách hoàn toàn
vô tội vạ, nên thật sự là rất đáng tiếc. Nó đã tạo nên một sự ô nhiễm về ý thức,
một sự nhiễu loạn về mặt tinh thần và nhận thức khoa học, mà tất cả mọi người
làm khoa học, hay mọi con người ngay thẳng, chân chính, thật thà nhất thật khó
thể có thể chịu đựng cũng như chấp nhận.
Để tạo nên một yêu cầu cân bằng hóa lại
theo cách đúng mức đối với mọi tính chất muốn thổi phồng quá đáng như nói trên
về chân lý khách quan, cũng như trong ý nghĩa thực tiển, của chính thực tế về mặt
lịch sử và xã hội, khi mà tính chất khách quan, sự trung thực, và điều thẳng thắn
đã bị đi chệch quá đáng, thiết tưởng có khi cũng cần nên nói hơi quá một chút,
nhằm làm thức tỉnh lại đối với ít nhiều người. Đó là sự mạnh dạn, thẳng thắn
nêu lên các khái niệm như mức độ hời hợt, tính cách nông cạn, thậm chí phần nào
lạm ngôn, khi phải dùng đến từ ngữ nhảm nhí, nhằm phê phán đối với vài khía cạnh
liên quan của một học thuyết, nhưng vẫn có chứng minh đầy đủ, nhằm cốt để mang
lại chính sự trầm tĩnh, hay một thái độ dè dặt, cũng như một sự chừng mực, sự
thận trọng và khách quan hơn về ý nghĩa khoa học, cũng như trong ý thức tích cực
xây dựng, nhằm vào chính lợi ích chung của xã hội, trên cơ sở tình người, và sự
đúng đắn giữa nhau, nơi tất cả mọi người chính trong lòng xã hội. Bởi chân lý
khách quan luôn luôn là nhu cầu chính đáng, cần thiết, là tài sản chung quý giá
của tất cả mọi người, một ý nghĩa cũng như một giá trị cao cả của cả lịch sử và
của xã hội; mà nhất thiết không thể chỉ thuộc đặc quyền nhận thức mang tính độc
đoán của bất cứ ai, hay bất cứ chủ thuyết nào.
Quả vậy, bất kỳ một học thuyết nào,
khi đưa ra cho xã hội và công chúng, tác giả của nó cần phải tuyệt đối có thái
độ trung thực, có ý thức khách quan, có sự cẩn trọng và khiêm tốn, chí ít cũng
trong cách diễn đạt, để nhằm làm cho mọi người sáng suốt, tỉnh táo. Trái lại, nếu
một học thuyết trái lại chỉ xây dựng phần lớn trên các chính nền tảng tranh luận
theo kiểu bút chiến, mang tính cảm tính nhất thời, chỉ muốn nhanh chóng đốn hạ
đối phương theo kiểu phủ đầu, tuy lập luận vẫn còn nhiều thiếu sót, lệch lạc,
chưa đạt thật đạt đến các chiều sâu và sự bao quát, hay nói chung còn còn nhiều
hời hợt, nông nổi, nhất là hay nghiêng về tính ngụy biện, ức đoán, chủ quan, độc
đoán, để nhằm đàn áp đối thủ về cả mặt ý thức và tư duy, thì quả tình có phần
nào càn dở, vô trách nhiệm, và đó cũng chính là điều yếu kém đầu tiên cần phải
nói đến trước nhất. Một thái độ chính trị trở thành như một ý nghĩa mang tính
khoa học và triết học thì thậm chí thật sự hoàn toàn phi lý và vô căn cứ. Chính
một lý thuyết tự xác quyết chỉ có mình là tuyệt đối đúng, ai ngược lại hay nói
khác, là hoàn toàn sai, hay xấu xa, tiêu cực, chẳng khác gì bôi bẩn, chụp mũ,
hay trói chặc đối thủ lại trước khi đánh, vẫn đã làm chùn bước mọi yêu cầu phê
phán khoa học đúng đắn, cần thiết, và ngay tình khác nhau.
Mặt khác, một học thuyết nhằm xây dựng
cơ sở cho chính mình, nhưng lại bằng nguyên lý của một học thuyết khác, hoàn
toàn khác xa và ngược hẳn lại, như một học thuyết duy vật thuần túy, nhưng lại
dựa vào, hay đặt trên nền tảng của một học thuyết duy tâm thuần túy; lấy cơ sở
và bản chất của một học thuyết duy tâm khác, để làm thành cái cốt lõi, để tạo
nên nguyên lý có tính động lực và chủ đạo cho học thuyết hoàn toàn mang tính chất
duy vật của mình; đó quả chính là điều hời hợt, nông cạn thứ hai. Đó cũng thật
sự là một điều hoàn toàn tự mâu thuẫn và nghịch lý, thậm chí có tính ấu trĩ và
ngụy biện, chỉ tiếc có rất nhiều người lại không nhận thức ra được điều đó.
Nguyên lý biện chứng mang tính duy tâm thuần túy của một học thuyết, lại được cấy
vảo vào cho học thuyết duy vật thuần túy, thật quả là điều mang tính chất hoàn
toàn trái khoáy, không thể làm sao quan niệm một cách lô-gích hữu lý. Lật ngược
một cơ cấu duy tâm để nhằm biến thành một quy luật duy vật cũng quả là điều
hoàn toàn vô lý không kém.
Chẳng những thế, từ sự khởi điểm mang
tính chất khập khiểng như vậy, lại chủ quan tự nhận mình như là quy luật khách
quan, nhất thiết tuyệt đối đúng, như là chân lý tất yếu tối hậu của lịch sử,
thì quả thật hết sức lạ lùng; đặc biệt cho rằng bất cứ ai không tuân phục theo
quan điểm của mình đều là sai lầm, đều là ý thức thù địch, đều mang tính phản động,
tức đều là sự chống đối về giai cấp, nói chung đều xấu xa, càn quấy, đều thuộc
ý thức tư sản, thì quả thật hoàn toàn quá đáng, có tính úp chụp, áp đặt, mất hết
cả tinh thần khách quan khoa học, thiếu mất mọi sự tôn trọng tự do về ý thức và
quyền nhận thức tự nhiên của người khác. Đó chính là một sự bạo hành trong ý thức;
tức có nghĩa một lý thuyết tự cho mình là khoa học, lại mang nhiều tính chất,
quan điểm, lập luận phi khoa học, vì bởi tính không khách quan, kém thận trọng,
không công nhận quyền cách trao đổi, đối thoại, mà ngược lại, chỉ cho thấy rõ rệt
sự độc đoán, một chiều, tính độc tôn, và quá khích thái thậm. Đó cũng chính là
một điều nông nổi, cạn hẹp, hay có thể gọi được một cách không quá đáng lắm, là
sự yếu kém trong ý thức khách quan, hay điều nhảm nhí thứ ba.
Hơn thế, về mặt cốt lõi, đó là một học
thuyết cho rằng lịch sử phổ quát của xã hội loài người được phát triển qua ba
trạng thái; trạng thái ban đầu là trạng thái lý tưởng, nguyên thủy, nhưng thấp
kém; kế đến trạng thái trung gian ở giữa, là trạng thái suy thoái, do xuất hiện
tính đấu tranh giai cấp; rồi để cho cuối cùng, trạng thái đích điểm hay cao nhất,
hoàn toàn giống lại trạng thái giống ban đầu, nhưng được tạo lập và nâng lên
hơn, có tính lý tưởng nhờ vào chính ý chí và ý thức chủ động của con người,
thông qua chính kết quả của quy luật đấu tranh giai cấp diễn ra bằng sức mạnh bạo
lực. Điều này được xem như một quy luật khách quan, một triển vọng mang tính chất
thiết yếu, đồng thời cũng là một giá trị hoàn hảo nhất. Đây là tính ấu trĩ
trong nhận thức, hay gọi được là một quan điểm nhảm nhí thứ tư, như một khái niệm
thụt lùi phản tiến hóa. Lý do bởi vì lịch sử phổ quát thực chất luôn phát triển
theo khách quan, không phụ thuộc vào bất kỳ thành phần nội tại, hay hạn hẹp nào
của nó, để có thể nhất thiết cai quản, chỉ huy được nó. Điều đơn giản dễ thấy,
là mọi yếu tố thành phần, chắc chắn không thể nào khống chế, chi phối lên cái tổng
thể một cách bao quát và vĩnh viễn; nên đó chỉ là kiểu cách suy đoán theo lối
chủ quan, mơ hồ, trừu tượng, hoặc chỉ là một cách khẳng định mang tính ức đoán.
Có nghĩa hoàn toàn không có cơ sở thực tế lô-gích nào cả. Chẳng những vậy, vận
dụng và đề cao một yếu tố tiêu cực của xã hội để giải quyết một yếu tố tiêu cực
khác là điều thậm chí phi lý nếu không nói là nghịch lý.
Vả lẽ, một học thuyết chủ trương giải
phóng con người, giải phóng nhân loại, nhưng lại không được xây dựng trên chính
cơ sở tâm lý thực tế, khách quan của chính tâm lý con người và xã hội, của quy
luật phát triển khách quan tự nhiên của lịch sử nói chung, lại thực chất chỉ nhằm
suy đoán theo kiểu tư duy trừu tượng, mang tính tư biện, cảm tính, chủ quan, và
đầy tính cách ức đoán. Đó là chưa nói sự chủ trương phương thức chuyên chính đã
tự mâu thuẫn với tiền đề đặt ra và mục đích nhắm tới; bởi vì nhằm đi đến tự do,
giải phóng, lại trở ngược lại bằng con đường gò bó, chuyên đoán, thì quả thật
là quan điểm nghịch lý, phi khoa học, phản phi thực tế; đó cũng chính là tính
chất ấu trí trong nhận thức, hay nói được là sự nhảm nhí thứ năm. Vì điều này
chẳng khác gì cách lập luận cho ràng muốn tiến tới thì phải bước thụt lùi, muốn
tự do thì phải cần buộc chặt. Bởi nó đi ngược lại các khuynh hướng tâm lý tự
nhiên của con người. Và đây quả là một cách lý luận nghịch lý trong tư duy, một
sự mâu thuẫn nội tại trong lập luận khoa học, khiến không thể nào tin nổi. Giống
như tính cách người ngồi thuyền lại có thể nhất bổng được thuyền lên, cần bao
kín mầm cây lại để giúp nó phát trỉển, quả là điều mà thật sự lô-gích thông thường
không thể nào quan niệm được.
Thật ra, quy luật đấu tranh tự nhiên vẫn
là quy luật chung của vạn vật. Như mọi sự va chạm, cọ xát thực tế vẫn phải xảy
ra một cách tự nhiên trong thế giới vô cơ. Hay cả sự đấu tranh sinh tồn và phát
triển vẫn nhất thiết phải xảy ra trong thế giới hữu cơ. Đó cũng còn là sự đấu
tranh giữa điều đúng và điều sai, giữa cái tốt và cái xấu, điều thiện và cái
ác, trong ý thức con người, nơi xã hội, đời sống, kể cả trong sự phát triển của
lịch sử. Đây cũng là con đường phát triển đi lên tất yếu của xã hội con người,
giữa cái tiêu cực và cái tích cực, giữa điều thiện và điều ác một cách tự
nhiên. Thế nhưng, nếu chỉ thuần túy quy về một cách duy nhất và tiêu cực cho sự
đấu tranh giai cấp trong kinh tế, trên cơ sở hay nền tảng của khái niệm biện chứng,
theo như kiểu suy đoán duy tâm, để nhằm cho rằng đó là quy luật thiết yếu của
kinh tế xã họi, thì quả thật mặc cho nó các ý niệm võ đoán, sự áp đặt lập luận
phi cơ sở thực tế, thiếu căn cứ khoa học, và đó quả thực là một điều ấu trĩ lớn
lao, hay cũng gọi được là điều nhảm nhí thứ sáu. Mọi sự đấu tranh phát triển tự
nhiên và cần thiết của mỗi cá nhân trong xã hội và lịch sử chỉ được giản lược
và quy về duy nhất sự đấu tranh giai cấp như hai yếu tố đối lập một cách giả ảo,
gượng ép, khiên cưỡng, kiểu cắt chân cho vừa chiếc giầy biện chứng.
Tuy dầu, thực tế trong cuộc sống mỗi
cá nhân con người, cũng như cả xã hội loài người, vật chất nói chung bao giờ
cũng chính là yếu tố khách quan, thiết yếu. Thế nhưng, ý nghĩa của vật chất thực
sự luôn vẫn chỉ là phương tiện, nhằm phục vụ cho mọi mục đích khác nhau, trong
mọi mặt nhu cầu của đời sống, nhưng chính nó lại không thể bao giờ là mục đích
sau cùng, mang tính chất tối hậu và duy nhất cả. Cho nên, đưa các yếu tố vật chất,
kinh tế trở thành như một yếu tố cốt lõi, mang tính quyết định độc tôn duy nhất,
để nhằm giải thích các mặt ý nghĩa khác nhau của ý thức con người, xã hội, và lịch
sử, theo kiểu quan điểm duy vật trừu tượng, mà thực chất vẫn mang tính duy tâm
trá hình; tức tư duy tư biện được hiểu như một thứ biện chứng hoàn toàn trừu tượng,
tưởng tượng thuần túy, thì quả thật hoàn toàn không khách quan, phi thực tế, thậm
chí có thể nói là sự phịa đặt, huyễn tưởng, mang đầy tính chất suy đoán, áp đặt
thiếu căn cứ. Đây quả là một sự ấu trĩ, hời hợt, hay cũng có thể nói được là sự
nhảm nhí thứ bảy.
Vả chăng, thiết yếu, lịch sử xã hội
loài người luôn phát triển đi lên, tuy nhiên, vẫn có thể có những giai đoạn thụt
lùi, suy biến, kể cả có những lịch sử cục bộ nào đó, vẫn có thể suy thoái, đào
thải, do các hoàn cảnh đặc thù riêng biệt. Điều đó, chính yếu vẫn là nhờ kết quả
của ý thức nhận thức, nhất là nhờ các thành quả nói chung của mọi phát triển sự
khoa học kỹ thuật, là yếu tố và động lực quan trọng nhất. Thế nhưng, chính yếu
không phải chỉ ở trong mối quan hệ giai cấp, hay quan hệ sản xuất giữa người và
người trong xã hội. Sự quá cường điều quan hệ sản xuất, nhằm để phù hợp với ý
nghĩa biện chứng như muốn có trong ý thức, quả là một sự gượng ép, ngụy tạo. Bởi
quan hệ sản xuất, về mặt khách quan, thật sự chẳng qua vẫn chỉ là một cơ chế phụ
thuộc, bị động, là sản phẩm của các kết quả phát triển xã hội, nhưng không bao
giờ là nền tảng hay động lực duy nhất mang yếu tố quyết định; đây là một sự võ
đoán trong cách suy luận về kinh tế và lịch sử, như quan điểm duy vật về lịch sử
được nêu ra một cách chủ quan, hạn hẹp, để chỉ nhằm phục vụ cho việc lý giải
theo cách suy đoán tư biện trừu tượng. Đây chính yếu là sự ấu trĩ trong việc nhận
thức về kinh tế xã hội hay có thể nó được là sự nhảm nhí thứ tám.
Vả chăng, bởi vì hiện thực tồn tại của
thế giới vật chất vẫn là khách quan và luôn luôn biến đổi, nhưng đó vẫn luôn
luôn thật sự là một hiện thực mang tính phức tạp, đa dạng, như một sự chuyển
hóa thay đổi không ngừng, nên đây cũng là tính chất khách quan của lịch sử xã hội
loài người. Tâm lý cá nhân, tâm lý xã hội, hay thực tế xã hội nói chung do vậy
luôn luôn chuyển biến, thay đổi, phát triển theo hoàn cảnh, phù hợp theo cùng với
các điều kiện hiện thực khách quan luôn phát sinh, phát triển, diễn tiến trong
từng lúc của nó. Bởi vậy, ý niệm thiết lập một xã hội, một thế giới hoàn toàn đồng
đẳng, thuần nhất, có tính lý tưởng vĩnh cửu, chỉ cần thiết kế cho một lần, bằng
chính ý chí, nhận thức, và ý thức tự giác có tính chất chủ quan, duy ý chí của
con người, thì thật sự không những chỉ là một ý tưởng viễn vông, không tưởng, một
điều phi thực tế, phản hiện thực, mang tính ảo tưởng, mà đó còn chính là sự ấu
trĩ về nhận thức đối với thế giới và lịch sử hiện thực, một quan điểm phi cấu
trúc phản lại tự nhiên, không có nền tảng, hay cũng nói được là sự nhảm nhí thứ
chín. Một học thuyết mang tính hấp dẫn, hào nhoáng bề ngoài, nhưng thực chất
bên trong đầy các lỗ hổng lô-gích, lại kèm theo ý thức bạo hành, nên hệ quả là
làm cho người khác bị mặc cảm, kể cả thiếu quả cảm khi phê phán, công kích, và
vì thế mà đồng thời cũng chận đứng, làm cản ngại các lý thuyết khoa học thật sự
hữu lý, cần thiết, mới mẽ, hiệu lực và khách quan khác.
Cuối cùng, xã hội luôn luôn là một tập
hợp đông đảo các cá thể, luôn luôn biến chuyển trong hoàn cảnh môi trường thực
tế mỗi lúc, bởi vậy mọi sự phân công xã hội trong kinh tế sản xuất và trong đời
sống mọi mặt nói chung là hoàn toàn tự nhiên, cần thiết và tất yếu. Điều đó
cũng nói lên một cơ chế xã hội luôn luôn cần thiết, không thể không có. Quan điểm
một xã hội không cần có sự phân công khách quan, nhưng chỉ còn có sự tự nguyện
làm việc theo kiểu tự do, tự giác trong cung cách chủ quan, một xã hội nhằm triệt
tiêu mọi cơ chế nhà nước, mọi ý thức triết học (điều hoàn toàn vô lý), một xã hội
mà nơi đó mọi cá nhân đều hiện thực mình một cách toàn hảo, hay hoàn toàn lý tưởng,
được thỏa mãn tối đa tất cả mọi điều kiện tuyệt đối tự phát và tự do, thì đó quả
thật là một quan điểm hết sức phi hiện thực, ảo giác, phi thực tại, thậm chí
phi xã hội; bởi vì vừa tự phủ nhận quan điểm duy vật, vừa hư vô hóa các thực tế
vật chất, kinh tế; trở thành như một ý nghĩa rỗng không, hoàn toàn và tuyệt đối
phi thực tế, phản kinh tế học học hay phản khoa học. Đây quả là sự nông cạn, ấu
trĩ bao trùm nhất về chính mặt hiện thực cụ thể, hay cũng có thể nói được là sự
nhảm nhí thứ mười.
Bởi vậy, qua mười điều đại lược như thế,
một lý thuyết mà qua chính thực tế hiện thực lịch sử cụ thể và thực tế của xã hội
với một thời gian dài trong quá khứ ở một số nước trên thế giới, cho thấy là
hoàn toàn không đúng, không thể hiện các ý nghĩa và giá trị khách quan, cũng
không mang lại được các thành quả lý tưởng nào như chủ trường và mong muốn, mà
ngược lại, thật sự chỉ là một sự áp đặt, gò bó, làm cản ngại các đà tiến hoàn
toàn tự nhiên của xã hội, làm chận đứng nhiều mặt về sự phát triển của xã hội
và về tính cách của con người nói chung, thực tế có khi còn đi ngược lại một số
mặt do mình chủ trương, chưa nói đến nhiều sự hi sinh, mất mát qua chiến tranh
cũng như sự thù địch giả tạo giữa cá nhân con người và con người và phần nào đó
trong toàn xã hội, tạo nên sự gò bó, tầm thường hóa về mặt ý thức, về tính cách
của con người về nhiều mặt, có khi có thể nói được trong một số trường hợp tồi
tệ nhất trong lịch sử thực tế, kể cả làm bế tắt về mọi hướng ra và các giải
pháp tích cực, hiệu quả khác nhau của xã hội, nhất là vì tính chất đề cao bạo lực,
cũng như sự thực hành bạo lực quá khích, mà trong quá khứ lịch sử ở nhiều nơi
đã từng cho thấy, kể cả đã từng đưa lại nguy cơ một cuộc chiến tranh hủy diệt
nhân loại giữa hai khối trong thời kỳ cao điểm chiến tranh lạnh của nó trong
quá khứ. Tức ngay từ đầu đã đặt chính con người và nhân loại vào các đổ vỡ,
xung đột, để nhằm thực hiện một sự hoàn thiện có tính ảo tưởng nào đó trong
tương lai, thay vì chỉ đơn giản dùng khoa học kỹ thuật và pháp luật một cách thực
tế về mọi mặt để giải quyết các vấn đề cần thiết một cách nhẹ nhàng, hiệu quả
và thoải mái nhất. Bởi ý nghĩa phát triển của cá nhân con người và xã hội là yếu
tố tri thức cũng như đạo đức, không phải ý niệm phát triển giai cấp mang đầy
tính huyền hoặc, thậm chí là mê tín.
Bao quát hơn nữa, còn chính là sự yếu
kém về chỗ các mặt ý thức lý thuyết triết học và khoa học, sự kết luận hàm hồ tồn
tại vũ trụ khi cho duy nhất chỉ là vật chất đơn thuần thuần túy, quả là một
quan điểm nhận thức có phần non kém, nông cạn, đầy tính ức đoán, thơ ngây, phiến
diện, bởi vì vẫn quên đi hay còn chưa thấy hết ra việc vẫn còn quá nhiều các
tính chất bí mật kỳ diệu của vũ trụ, mà chính cả khoa học cũng như triết học
cho đến ngày nay vẫn còn chưa lý giải hết, hay chưa giải quyết được hết về mặt
sự lô-gích trong nhận thức. Bởi vì, cả về mặt vũ trụ học, nhận thức luận, và tồn
tại luận, vẫn hãy còn quá nhiều các ẩn số, các bí ẩn, mà chính tri thức phát
triển mới nhất ngày nay của con người vẫn còn chưa dò được ra hết, hay vẫn còn
chưa thấy hết được, do vẫn bao nhiêu điều bí ẩn, và bao nhiêu sự nghịch lý còn
chưa vượt qua hết được. Đó cũng chính là sự yếu kém hay ấu trĩ, kể cả điều nhảm
về mặt nhận thức mang tính chất chủ quan, mơ hồ, phiến diện, thiếu sót, hay
cũng có thể nói được là một sự nhảm nhí bao trùm, vì chính bởi sự võ đoán, chủ
quan, cũng tính chất độc đoán trong sự nhận thức thật là hết sức tệ hại.
Dĩ nhiên, các điều trên đây cũng chỉ
là những gì cơ bản nhất, và mọi người, qua các trải nghiệm cùng suy nghĩ, nhận
thức của mình, đều có thể nêu thêm một cách chi tiết hóa hơn, hoặc dúc kết lại
theo cách cô đọng, giản dị, nhằm để được gọn ghẽ hơn, có căn cơ, và sâu sắc
hơn. Tất nhiên cũng có thể nhận xét, phê phán, phản biện, thậm chí đả kích, hoặc
biết đâu bổ trợ, lý giải, hay bổ khuyết thêm các ý; nhưng tuyệt đối thật sự
không nên bạo hành, dù chỉ về phương diện ngôn ngữ hoặc ý thức, bởi vì chính mọi
sự bạo lực cũng sẽ là điều nghịch lý, hay kể cả điều tệ hại cũng như phi lý nhất,
trong mọi chiều hướng của yêu cầu tìm ra các ý nghĩa chân lý đúng đắn, khách
quan mặt khoa học cũng như triết học. Một lý thuyết mà thật tế trong hiện thực
chỉ mang lại cho con người, xã hội, và thậm chí cả nhân loại, nếu nó trở có cơ
may trở thành thực hiện được, một sự nô lệ tuyệt đối về mặt ý thức, một sự cứng
đờ, sợ hãi, thúc thủ về mặt xã hội, thì quả thật không thể đổ thừa rằng lý thuyết
không thể sai, chủ trương thực hiện vẫn luôn luôn đúng, chỉ có các cá con người
mới làm sai, thì thật sự cũng chỉ là một lý lẽ che đậy, ngụy biện, giống như điều
đó vẫn vốn khá phổ biến trong thực tế, về nhiều mặt, trong lòng thực tế lịch sử
cụ thể để nhằm thực hiện nó, cũng như ngay từ đầu, cả trong chính khởi điểm của
bản thân nó.
VÕ HƯNG THANH
(Sg, 01/5/2010)
**
Ý
NGHĨA VIỆC TỔNG KẾT VÀ ĐÁNH GIÁ VỀ LỊCH SỬ
Sau một giai đoạn lịch sử nhất định
nào đó, những người hiểu biết có thể tổng kết, đánh giá, nhằm rút ra được một
giá trị, một ý nghĩa nào đó cho mình và cho mọi người. Đó chính là bài học lịch
sử đã qua, bài học của quá khứ, nó không thay đổi được điều gì đã có, nhưng có
thể góp phần cho hiện tại và tạo các điều kiện tốt đẹp hơn cho tương lai.
Mọi sự tổng kết và đánh giá như thế đều
có thể có những mặt chủ quan và khách quan, do bị ảnh hưởng bởi cảm tính, tình
cảm, cảm xúc, trình độ, khả năng, ý nghĩa, năng lực, dữ liệu, cũng như các
phương cách của nhận thức v.v…
Nhưng nếu việc tổng kết, đánh giá đó về
một giai đoạn lịch sử chỉ trong tính cách riêng tư, cục bộ, hay cá lẽ, thì cũng
không có vấn đề gì đáng nói.
Trái lại, nếu việc đánh giá được đưa
ra công khai, tất nhiên luôn vấp phải mọi sự cản ngại tự nhiên của môi trường
xã hội, bầu khí xã hội khách quan đang tồn tại, tức những rào cản chủ quan nhất
định, mà nếu không ở trong môi trường hay điều kiện vượt qua được điều đó, vấn
đề trở nên bị cản trở, khó khăn, khó có thể nào thực hiện một cách đúng mức được.
Có nghĩa việc đánh giá, tổng kết lịch
sử đích thực nhất cần phải chờ cho các hoàn cảnh thực tế của giai đoạn lịch sử
đó đã lùi xa trong quá khứ. Chính yếu tố thời gian và hoàn cảnh cụ thể đã xóa
nhòa đi hết mọi góc cạnh tương phản, mọi phản ứng chủ quan cản ngại, khi đó mọi
sự tổng kết và đánh giá khách quan mới thật sự hoàn toàn cho phép.
Tất nhiên, mọi sự đánh giá, tổng kết lịch
sử như thế, cũng cần xuất phát từ các nhà nghiên cứu chuyên môn, những người
tâm huyết và khách quan thật sự, nói chung là những nhà sử học đích thực và
chân chính, còn nếu những người chỉ dừng lại ở mọi cảm tính xoàng xỉnh, mọi thiển
cận và thiên lệch, thì còn lâu ý nghĩa khoa học và khách quan thực sự trong việc
tổng kết và đánh giá lịch sử mới có thể với tới được.
Lấy ví dụ, hãy tổng kết và đánh giá
giai đoạn lịch sử của Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 chẳng hạn.
Tất nhiên, đó là một thời gian dài
đúng ba thập niên, với bao nhiêu biến chuyển nhỏ lớn khác nhau xảy ra có liên
quan, hoặc góp phần vào đó, nhưng vẫn không thể không nói đến chính các giai đoạn
tiền thân của nó, trong ý nghĩa như là các tiền đề khách quan, vốn được làm bối
cảnh và cơ sở cho mọi sự việc xảy đến.
Nói cụ thể, đó là kết quả của một quá
trình tranh đấu giành độc lập trong suốt một thời gian lâu dài, ngay từ khi người
Pháp qua xâm chiếm Việt Nam, của chính người Việt Nam; tiếp theo đó, là các hệ
luận nhất định của hai cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, và lần thứ hai;
và cả sự xuất hiện của cuộc Cách mạng tháng Mười Nga, mà nhà nước Liên xô cùng
một số nhà nước khác cùng tính cách đó trong khối, đã được thành lập; mà sát gần
Việt Nam nhất, phải nói đến Trung quốc.
Do đó, kết quả phải nói đến trong giai
đoạn lịch sử cụ thể của Việt Nam từ 1945 đến 1975, là một giai đoạn lịch sử rất
khó phân biệt rạch ròi giữa tinh thần quốc gia - dân tộc cùng với tinh thần quốc
tế - ý thức hệ (hay học thuyết) nói chung. Đây chính là một sự trộn lẫn, trong
các mức độ nào đó, ở cả ngay trong lòng chiến tuyến của mỗi bên đang chiến đấu.
Điều này, thật sự xảy ra vừa theo kiểu
vô ý thức, vừa theo kiểu có ý thức, tức vừa theo kiểu tích cực và chủ động,
cũng như vừa theo kiểu tiêu cực và thụ thụ động, trong mỗi thành phần hay cá
nhân cụ thể vốn có mặt trong mỗi bên.
Và lẽ dĩ nhiên, khi nói đến lịch sử,
nhất là lịch sử trong các thời chiến, hay là lịch sử của các cuộc chiến tranh,
cũng cần phải nói đến tất cả mọi sự mất mát, đau đớn, và hi sinh ở trong đó mà
tất cả các bên có liên quan đều phải gánh chịu.
Những sự mất mát, đau đớn và hi sinh
đó, vừa cả về mặt vật chất, vừa cả về mặt tinh thần, hay có thể nói là mọi mặt
trong thực tế nói chung, của từng mỗi cá nhân, cũng như của toàn thể xã hội
liên quan tới nó.
Chỉ có sự thật là sau khi chiến tranh
kết thúc, khi mà đời sống bình thường đã được lập lại, thì khi đó, mọi cái gì
được và cái gì mất thật sự trên phương diện cục bộ, riêng lẻ, cá nhân, đặc thù
… mới thật sự rơi vào chính trong mỗi trường hợp cá thể, riêng tư, cụ thể nhất
định.
Nhưng trong khi đó, sự mất mát chung của
toàn thể xã hội, chính là sự mất mát về thời gian, về công sức, về nhân lực vật
lực tài lực, về các cơ hội lịch sử khác nhau đã qua đi nào đó. Còn mặt được,
cũng tùy theo từng mỗi quan điểm cách nhìn, sự đánh giá riêng tư, theo những
chiều hướng nhất định khác nhau. Mà nói chung, chẳng khác gì một bản kết toán tổng
thể, bao quát về mọi mặt, để so sánh, đúc kết, cân lượng, hay gộp chung về mọi
cái gì mất và mọi cái gì được.
Song cũng chính những cái mất mát và
những cái được tổng thể chung đó ở đây, không phải chỉ trong ý nghĩa so sánh với
hiện tại và trong hiện tại, mà nhất thiết còn phải so sánh với cả các ý nghĩa của
quá khứ cũng như với cả các ý nghĩa của tương lai.
Cũng chính vì lẽ đó, mà các việc tổng
kết và đánh giá về lịch sử, luôn luôn cũng bao gồm cả phương pháp luận của những
điều khẳng định và cả những điều giả định.
Điều khẳng định, chính là mọi sự kiện
khách quan, thực tế đã thực sự xảy ra, đã trở thành lịch sử hay cái đã diễn ra,
đã trở thành quá khứ những những cái gì đã có, tức không còn thể nào thay đổi,
hay làm khác đi được, đối với các tính chất đã xảy ra xong của nó được nữa.
Điều giả định, có nghĩa là sự giả thiết
ước gì lịch sử đã không hề xảy ra theo cách như thế, tức theo nhiều yếu tố,
cùng với các dữ kiện cụ thể, quan trọng, hoặc mang ý nghĩa hay tính chất quyết
định, trong các chiều hướng nào đó khác nhau như đã xảy ra trong quá khứ.
Điều này, cũng chính là trên cơ sở của
sự tổng kết khách quan, thực tế, một khi cùng đối chiếu giữa các ý nghĩa và các
mục tiêu khởi đầu, của một giai đoạn lịch sử quá khứ đã xảy ra, cùng với các kết
quả hay thực tế, trong chính hiện thực cụ thể, đang do chính hiện tại, như là sản
phẩm của quá khứ đó, đã mang lại, hay đã có bằng chứng để chứng minh.
Chẳng hạn, đặt giả thiết, nếu đã không
từng có các vấn đề, hay yếu tố về ý thức hệ quốc tế đã có mặt trong cuộc chiến
tranh, cùng với những hệ lụy của nó, đã được phát sinh ra, thì liệu cuộc chiến,
trong một thực trạng như thế, vẫn có thể xảy ra không ? Hay nếu không xảy ra,
thì liệu cuộc chiến đã có các tính chất và thực trạng khác hẳn lại hay không ?
Đối với điều này, chắc hẳn không thể nào có được câu trả lời thống nhất hay thỏa
đáng đối với cả hai bên tham chiến, cũng như đối với nhiều người, hay cả mỗi cá
nhân đã phải đi vào cuộc chiến một cách bó buộc, do chính giai đoạn lịch sử có
liên quan về điều đó quyết định, và giai đoạn đó thực sự vẫn hãy còn chưa trôi
qua hoàn toàn xa hẳn. Và câu trả lời này, tất nhiên sẽ phải thuộc hẳn vào tương
lai, khi mà mọi điều gì có liên quan đều đã được lắn xuống, đã được dịu đi,
cũng như không còn bất kỳ những màu sắc, hay mọi cảm xúc và tình cảm chủ quan,
hay thiên lệch nào nữa.
Cho nên, tất yếu mọi giai đoạn lịch sử
đã qua, đều là kết quả của mọi hành vi của con người. Mọi hành vi xã hội thực
chất đều là tổng thể của mọi hành vi cá nhân họp lại. Đó là kết quả của mọi ý
thức hữu thức tức tự giác và mọi ý thức vô thức tức không tự giác, của mọi điều
lành mạnh và mọi điều không lành mạnh, của mọi sự ép uổng và mọi sự tự nguyện,
của mọi sự có ý thức và mọi sự không có ý thức, của mọi sự tích cực chủ động và
mọi sự tiêu cực thụ động, của mọi sự sáng suốt và mọi sự mù quáng, của mọi sự
chủ động thúc đẩy và mọi sự thụ động bị thúc đẩy v.v… nói chung của mọi nguyên
nhân và kết quả liên quan, của mọi lợi lộc và mọi hi sinh mất mát của mọi cá
nhân về nhiều mặt.
Mọi cá nhân đều là sản phẩm của lịch sử,
ít ra cũng là của từng giai đoạn lịch sử cụa thể và xác định. Cũng vậy, mỗi
giai đoạn lịch sử cụ thể, xác dịnh lại là sản phẩm của các giai đoạn lịch sử
dài hơn, bao quát hơn, và cứ như thế. Và chính cái thuộc về giai doạn cụ thể
nào đó lại được phân tích nhỏ ra, thuộc về mọi hành vi cụ thể của từng cá nhân
trong thực tế gộp lại, do chính yếu tố thích nghi của mỗi cá nhân đó theo với
chính hoàn cảnh, điều kiện của yếu tố môi trường xã hội trong đó họ đang sống.
Bởi cái gì thuộc về những giai đoạn lịch
sử bao quát hơn, do lịch sử phổ quát hơn tạo nên, và cũng tạo nên từ chính các
yếu tố thành phần của các giai đoạn lịch sử khách quan cụ thể được bao hàm
trong đó. Có nghĩa, lịch sử thực tế hay lịch sử hiện thực, đều thuộc về sự mọi
sự diễn tiến bao quát nhất của tổng thể xã hội về tất cả mọi mặt nói chung.
Nhưng nếu chỉ dừng lại đúng ở thời điểm 30-4-1975, nếu không sợ chủ quan, có thể
cho cái được là cái được của miền Bắc, cái được của sự thống nhất đất nước, cái
mất là cái mất của miền Nam; cái thắng là việc thắng của một ý thức hệ quốc tế
của thế giới vào chính lúc đó, còn cái thua là thua của tất cả những ai chống lại
nó. Kết quả tiếp theo không ai phủ nhận, chính là gần 15 năm của ý nghĩa chính
trị và kinh tế bao cấp tiếp theo đó mà tất cả mọi người và toàn xã hội hầu như
đều trắng tay về mọi phương diện.
Trong tính cách đó, ý nghĩa của việc tổng
kết và đánh giá lịch sử cụ thể luôn thuộc nhiệm vụ của những nhà nghiên cứu lịch
sử cụ thể, những nhà sử học, những nhà viết sử. Còn ý nghĩa của việc tổng kết
và đánh giá lịch sử bao quát hay phổ quát, vẫn thuộc trách nhiệm của những nhà
nghiên cứu khoa học lịch sử, những nhà tư tưởng, những nhà triết học, trên bình
diện thực tại và triết học. Và nói chung, đây có thể là một kết luận mà có lẽ
khả dĩ giúp được mọi người phần nào đó đồng ý và thỏa mãn. Còn thực sự mọi điều
gì đó khác, trong việc tổng kết và đánh giá về giai đoạn lịch sử Việt Nam
1945-1975 một cách thật sự hoàn toàn bao quát, khách quan, toàn diện, cụ thể,
và chính xác, thì vượt lên hơn cả điều này, cũng như dĩ nhiên, chỉ có thể dành
lại cho các nhà sử học cụ thể, thực sự và đích thực nhất của xã hội trong tương
lai.
VÕ HƯNG THANH
(30/4/2010)
**
Ý
THỨC XÃ HỘI VÀ “CHỦ NGHĨA XÃ HỘI”
Cá nhân con người trong không gian xã
hội giống như một nguyên tử trong không gian tự nhiên. Gia đình cũng chính là
phân tử của mỗi nguyên tử tự nhiên đó.
Cuộc đời của mỗi cá nhân chẳng khác gì
đường biểu diễn f của một hàm số C.
Lịch sử xã hội là một hàm số F trong không gian C của tổng số các hàm
fn khác nhau, theo các
thông số lịch sử khác nhau của từng giai đoạn lịch sử xã hội nhất định.
Nói khác lịch sử xã hội là một không
gian phức do nhiều biến số khác nhau hợp lại, trong đó có yếu tố môi trường tự
nhiên, môi trường xã hội và tổ hợp các hàm fn
như trên đã nói.
Bởi vậy các cường điệu về giai cấp, về
đấu tranh giai cấp, về biện chứng lịch sử v.v… chỉ là các ý niệm nông cạn, hời
hợt, phi khoa học đa từng làm đảo điên xã hội nhân loại và xã hội một số quốc
gia trong một thời nhất định.
Nhưng rồi lịch sử cũng đã sáng trang.
Mọi chân lý khoa học khách quan ngày
này đã rõ ràng.
Tính ngụy trang về mặt triết học là
hoàn toàn không khách quan, không đúng đắn.
Mọi lý thuyết phi khoa học nhưng nhân
danh khoa học là hoàn toàn mang ý đồ lệch lạc, không đáp ứng các nhu cầu lịch sử
khách quan, mà thật sự còn rất tai hại.
Xã hội là kết hợp mọi cá nhân.
Mỗi cá nhân tự nhiên có ý thức cá nhân
mạnh mẽ. Đó là quy luật khách quan tự nhiên.
Tuy nhiên, sự phát triển của giáo dục,
của văn minh văn hóa, của kinh nghiệm cá nhân, khiến mọi người thấy ý thức xã hội
là cần thiết và đúng đắn.
Các ý thức về tôn giáo, về khoa học, về
đạo đức và giáo dục, không nằm ngoài chính nhu cầu và ý thức cần thiết này. Đó
là khuynh hướng xã hội tự nhiên, và kết quả tự nhiên của mọi nhu cầu văn hóa, của
mọi nền văn hóa, và của mọi ý thức văn hóa chân chính nhất. Đây cũng là ý thức
và nhu cầu xã hội về mặt khoa học tự nhiên và khách quan nhất.
Các quan điểm về “biện chứng”, về đấu
tranh giai cấp, về chuyên chính v.v… thực chất chỉ là các ý niệm phi khoa học,
không khách quan, hay chỉ là các ý đồ chính trị nào đó của một thời kỳ, một
giai đoạn lịch sử nhất định. mà từng có một thời, cả nhân loại hay từng xã hội,
và một số đất nước nào đó đã từng phải trải qua.
Nhưng rồi sau cơn mưa trời lại sáng.
Con đường phát triển đúng đắn của nhân
loại và từng quốc gia nhất thiết là tự nhiên, khách quan và không giả tạo.
Mọi ý thức hệ giả tạo rồi từ phải bị
đào thải.
Những người làm triết học, làm khoa học
mà thiếu chín chắn rồi cũng phơi bày hết mọi nông cạn, nông nổi, hay sự thiếu
trách nhiệm của mình. Cho dầu đó là ai, cho dầu đó là một số người đã từng được
mệnh danh là “thiên tài” của nhân loại.
Nha khoa học chân chính, nhà triết học
chân chính phải có sự hiểu biết chân chinh và có lòng quả cảm nói lên chân lý
khách quan cho mọi người được biết.
Mọi con người bình thường chỉ biết sống
theo cảm tình, theo lợi lộc bản thân, thậm chí vô trách nhiệm với xã hội và lịch
sử nói chung cũng chỉ là lẽ tự nhiên.
Đó là sự khác nhau giữa cái bình thường
và cái phát triển.
Hay sự đấu tranh giữa yếu tố tích cực
và yếu tố tiêu cực vẫn là điều thường xảy ra trong lịch sử xã hội, ngay trong lịch
sử ý thức bản thân mỗi cá nhân.
Cái tầm thường, cái bình thường, và
cái cao cả, là sự khác nhau giữa khoa học, triết học chân chính với cái phi
khoa học, phi triết học, hay cái khoa học và triết học ngụy tạo và không chân
chính.
Nói tóm, ý thức xã hội luôn luôn cần
thiết còn mọi cái được coi là “chủ nghĩa” chỉ là sự giả tạo hoặc hời hợt của một
thời.
Lịch sử là sự phát triển khách quan,
phù hợp với xu thế đi lên tự nhiên của xã hội.
Mọi ý tưởng tự phát, giả tạo, tưởng tượng,
cho dù mệnh danh là khoa học đều phi khoa học và phản triết học.
Người sáng suốt là người biết nhận thức
được chân lý khách quan tự nhiên của xã hội, còn không thì ngược lại.
Một xã hội tự do là xã hội với ý thức tự
do của mọi cá nhân, không bị o ép, gò bó theo bất kỳ các ý thức chủ quan nào.
Một xã hội tự do là một xã hội dân chủ
cũng như ngược lại.
Ý nghĩa xã hội là ý thức xã hội và sự
hỗ trợ tin yêu lẫn nhau.
Mọi ý nghĩa ngược lại dù nhân danh bất
cứ cái gì cũng không phải là ý thức xã hội, thậm chí phản lịch sử và phản xã hội.
Chỉ có ý thức xã hội là chân chính và
luôn luôn cần thiết.
Mọi cái gọi là chủ nghĩa hay ý hệ đều
chỉ là sự manh động về mặt ý thức hay thực tế của một thời.
Bất cứ tư tưởng khoa học hay triết học
nào mà lô-gích khách quan, tự nhiên trong tư duy, suy nghĩ của con người chân
chính chứng minh là không đúng, kinh nghiệm lịch sử khách quan, cụ thể chứng
minh là không đúng, đều không phải của một nhà khoa học hay triết học thật sự
mang ý nghĩa.
Nói cho cùng chỉ có ý thức xã hội là
quan trọng.
Mọi công thức về chủ nghĩa xã hội chỉ
là những cường điều hay tư duy o ép của một thời.
Mỗi cá nhân phải có ý thức sáng suốt về
bản thân mình, bản thân mọi người và ý nghĩa xã hội nói chung. Mọi điều gì
không sáng suốt hay mù quáng đều là vô trách nhiệm và xoàng xỉnh.
Ý thức xã hội cũng là sự trách nhiệm đối
với xã hội.
Mọi thứ chủ nghĩa chẳng qua chỉ là sự
nhân danh ý thức xã hội.
Nhưng chỉ có ý thức xã hội là cần thiết,
còn mọi chủ nghĩa xã hội theo công thức nào đó do từ các tư duy cá nhân tạo ra,
cho dù người đó một thời dược cơi lên như là “thiên tài” của nhân loại, thì về
mặt khoa học đều không đáng tin.
Không có bất kỳ công thức giả tạo nào
đóng khung được sự phát triển tự nhiên của lịch sử khách quan và chính đáng.
Mọi công thức chì mang tính suy nghĩ
nông cạn và ấu trĩ về lịch sử nói chung.
Chỉ có ý thức xã hội là điều nền tảng
nhất vượt lên mọi công thức, vì nó chính là tinh thần thiết yếu nhất của không
gian xã hội hoàn toàn cần thiết và tự nhiên, làm nên cho mọi cá nhân, mọi xã hội,
cũng như mọi nhà nước, dân tộc hay quốc gia hoạt động một cách chân chính và hợp
lẽ tự nhiên nhất.
Võ Hưng Thanh
(01/4/2010)
**
MƯỜI
LỔ HỔNG NGHIÊM TRỌNG
TRONG
HỌC THUYẾT MÁC
Quốc
gia hưng vong, thất phu hữu trách. Câu nói này là nền
tảng tinh thần của cha ông ta, đã giúp cho toàn dân giữ nước và dựng đất nước
trong suốt hàng ngàn năm. Ngày nay, tất nhiên ý nghĩa này vẫn đúng; tuy nhiên,
trách nhiệm chung đối với đất nước, dân tộc, vẫn phải là của Nhà nước, của mọi
công dân, mà không phải chỉ riêng những người nào mới phải chịu trách nhiệm nhận
lãnh được. Trong ý nghĩa đó, tôi nhận thấy riêng mình cũng chỉ có thể bỏ ra được
mươi, mười phút, ngồi trước máy tính, để viết và gửi bằng thư điện tử, đến các
Báo Tuổi trẻ, và báo Pháp luật TP. HCM, riêng một bài viết ngắn này, mà không
thể nào bỏ ra được thời gian cả hàng tháng, hay một vài tháng, để viết thành một
cuốn sách, nhằm phân tích thật sự đầy đủ về những điều đang nói, trừ phi nếu được
Nhà nước, hoặc một cơ quan liên quan, hay một nhà mạnh thường quân nào đó muốn
tìm hiểu xem như điều nói như thế có thật sự chính xác hoặc hoàn toàn khách
quan không, tài trợ để có thể làm được chính công việc dài hơi cũng như tốn kém
công sức về khá nhiều mặt này.
Đó là còn chưa nói đến, nếu như trước
đây, cần phải viết trên giấy, rồi lại phải gởi bằng thư, qua đường Bưu diện, mới
đến được địa chỉ các Báo như đã nói, thì cả tôi, hoặc giả bất kỳ những người
nào đó khác, cũng chẳng thèm viết làm làm gì; bởi vì, trước hết, biết đâu phải
phạm vào điều cấm kỵ; nên thà cứ như
người xưa đã nói, cho dầu chỉ phải nhổ một sợi lông nhỏ để được lợi cho thiên hạ,
cũng chẳng thèm làm; huống hồ, nếu cặm cụi trong bao nhiêu lâu, đến khi viết ra
một cuốn sách mà lại không thể nào xuất bản được, thì thật uổng công vô ích.
Đây quả thật là sự tiện lợi của thời đại điện tử, nên dầu có làm công việc của
dã tràng, thật sự cũng không sai. Cho nên, bàn về những lổ hổng lớn hay nghiêm
trọng của học thuyết Mác, như đã nói, theo tôi, cho dầu chỉ vắn tắt về mặt
khách quan, khoa học, cũng là điều cần phải nên làm. Bởi biết mà không nói, nếu
chỉ yên lặng, hóa ra cũng là điều đáng tiếc. Mà phải cũng nói ra, người khác mới
có thể nhận xét được là mình biết hay không biết, nói sai hay đúng.
Và cũng chỉ có như thế, mới có thể đón
nhận được những ý kiến phản biện nghiêm
túc, nếu có, sẽ có thể đến được từ mọi nhà thức giả trong hay ngoài nước,
cho dù họ ở vị trí hay quyền lực xã hội như thế nào, nếu vì nhờ một lý do nào
đó, mà bài viết ngắn này sẽ có thể đến được với họ (bởi vì tôi không có chủ
trương gửi cho ai khác, ngoài chính Ban biên tập các Báo như đã nói). Mặt khác,
cũng chỉ cần nói đến mười lổ hổng
quan trọng nhất thôi, bởi vì đây chính là một con số rất dễ nhớ, nhưng cũng
không cần phải đề cập đến một con số khác nhiều hơn, hoặc ngắn hơn, vì như thế,
rất có thể quá rườm rà, hoặc lại không thể hoàn toàn đầy đủ. Cho nên, mười lổ hổng
quan trọng nhất đó, rút cuộc, xin có thể xin được trình bày ra một cách hết sức
vắn tắt, đơn giản nhất, là như thế này :
1/ Quan điểm duy vật : Quan
điểm triết học duy vật, hay quan điểm triết học duy tâm, đúng ra cũng chỉ là những
quan điểm triết học hoàn toàn trừu tượng, không liên quan trực tiếp gì đến mọi
khía cạnh đời sống hiện thực, bởi chúng không hề là những nội dung khoa học cụ thể, do đó đáng lẽ cũng
không nên đưa vào trong các phạm vi xã hội, kinh tế, hay chính trị theo kiểu
chính thức nào đó, bởi vì chúng vốn không có một nền tảng khoa học khách quan, cụ thể nào để chứng minh chỉ
có duy vật hay duy tâm mới hoàn toàn là đúng
đắn hoặc chính xác cả. Có nghĩa, niềm tin triết học, hay niềm tin tôn giáo,
chỉ nên có thể chỉ dừng lại trong chính phạm vi triết học hay tôn giáo, nhưng
không có quyền vận dụng, hoặc lạm dụng,
vào các lãnh vực công cộng thực tiễn nào khác, vì làm như vậy là hoàn toàn
không chính xác, không đủ cơ sở khách quan, và cũng không ổn. Vả lại, ngay cả
ngày nay, khoa học càng phát triễn, thì quan điểm duy vật lại càng bị đẩy lùi
xa hơn, bởi vì toàn thể vũ trụ thực tại lại càng cho thấy vẫn còn có quá nhiều
điều hãy còn bí ẩn, huyền vi hơn, và cho dầu như thế, vẫn không ai quá, ngờ nghệch,
ngây thơ, để có thể dễ dàng đồng hóa giữa khoa học, tôn giáo, và cả triết học nữa.
Đó là chưa nói, khi quan điểm duy vật càng được đề cao một cách công khai, vô
trách nhiệm, hay càng được tâng bốc và tô
đậm nét bởi các quan điểm ấu trĩ, xu thời, thì thật sự lại càng không làm lợi
gì cho chính tinh thần của con người, hay cho ích lợi của xã hội, mà ngược lại,
trong thực tế, điều đó chỉ thật sự làm băng hoại đi các ý nghĩa tinh thần và
giá trị xã hội vốn có từ nhiều ngàn năm, khiến xã hội càng nhiều lộn xộn và hổn
loạn hơn. Nên đây, có thể nói cũng chính là một lổ hổng nghiêm trọng đầu tiên hết
của lý thuyết Mác.
2/ Quan niệm biện chứng : Quan niệm biện chứng (Dialektik)
trong quan điểm triết học duy vật của Mác, thật ra cũng chỉ là quan điểm biện
chứng trong triết học duy tâm của
Hegel. Thế nhưng, ý nghĩa, hay quy luật
biện chứng trong thuyết triết của Hegel, lại chỉ có thể áp dụng được một cách
duy nhất chính trong triết thuyết này, tức triết học Hegel, mà không thể nào mang sang để áp dụng được
cho một triết học khác, nhất là một triết học hoàn toàn đối ngược lại, tức là triết học duy
vật theo như quan điểm của Mác. Cho nên, đây chẳng qua đây chỉ là một việc
làm của râu ông nọ được cắm sang cằm bà kia; điều đó không những phi lý, phi
tác dụng, mà lại còn hoàn toàn phản hiệu quả nữa. Điều đó cũng chẳng khác gì việc
chuyển đổi chính nguyên lý của lửa thành nguyên lý của nước, hay ngược lại. Tức
đem nước bỏ vào lửa, hay đem lửa bỏ vào nước, thì thật sự chẳng qua đó cũng chỉ
là điều gượng gạo, ngụy tạo, nếu
không muốn nói mang tính cách hoàn toàn ngụy biện, bởi vì làm như thế, chúng
cũng chỉ có thể triệt tiêu lẫn nhau mà thôi. Điều này, nếu không phải chính Mác
đã nhầm lẫn, thì hoặc ông ta cũng đã không thành thật với mình, hoặc đã không
nghiêm túc với khoa học, hay thành thật với mọi người. Và cũng trên cơ sở đó,
thì cả quan điểm duy vật biện chứng
(materialistische Dialektik), và quan điểm duy
vật lịch sử (historische Dialektik) cũng vẫn đều cũng chỉ là gượng gạo, ngụy
tạo, hay chỉ là niềm tin hoàn toàn gượng
gạo, hay hoàn toàn không thật sự có cơ sở khách quan khoa học, nếu không
nói, đó cũng chỉ là một phương pháp chứng minh khoa học theo kiểu cách gọt chân
cho được vừa giầy mà chính Mác đã áp dụng. Do vậy, đây cũng có thể gọi được là
một lổ hổng quan trọng thứ hai của lý thuyết Mác.
3/ Quan điểm về ý thức hệ : Mác xuất thân từ một gia đình thuộc
giai cấp tiểu tư sản người Do Thái, có đạo Do Thái; trong khi đó, Engels lại có
gia đình thuộc thành phần giai cấp tư sản. Thế nhưng, Mác lại cho rằng chỉ có học
thuyết của mình mới là học thuyết của giai
cấp vô sản, còn mọi học thuyết xã hội cùng loại khác, đều chỉ là học thuyết
của giai cấp tư sản để nhằm chống lại giai cấp vô sản. Đây có vẻ chỉ như một điều
cả vú lấp miệng em; vừa nghịch lý, vừa mâu thuẫn, một quan điểm như mang tính
chất độc tôn, không thể hiện tính chất khách quan, kể cả điều đó có thể làm chận
đứng mọi sự phát triễn khoa học xã hội thuộc các lãnh vực khác nhau, nhất là ở
trong những xã hội đã từng áp dụng học thuyết Mác một cách hoàn toàn độc đoán,
giáo điều, hoàn toàn cứng nhắc, máy móc và chặt chẽ. Điều này, cũng chính là nền
tảng thuận lợi, để giúp cho những kẻ cơ hội, xu thời, sẵn sàng vận dụng, nhằm để
trục lợi, và chụp mũ đối với những người nào khác không hùa theo các lập trường
hay các ý đồ riêng tư nào đó của họ. Điều này cũng có nghĩa, chỉ vì Mác muốn lấy
quan điểm duy vật về lịch sử của chính mình nhằm làm quan điểm thống soái đối với
ý thức con người và xã hội, nên đã phê phán theo cách áp đảo và làm triệt tiêu đi mọi quan điểm nào không giống
hay ngược lại. Nên đây cũng chính là một điều mang tính chất hà khắc và chủ
quan trên bình diện ý thức, cả ý thức cá nhân cũng như ý thức của xã hội, mà
đích thực Mác muốn hướng đến. Và như thế, chính điều này cũng có thể được coi
như là một lổ hổng thứ ba trong lý thuyết của Mác.
4/ Quan điểm đấu tranh giai cấp : Điều tích cực duy nhất của Mác, là việc
phê phán tình cảnh thực tế của giai cấp thợ thuyền, công nhân lao động ở Anh,
hay tại châu Âu lúc đó, và ý thức muốn đấu tranh cho mục đích công bằng xã hội.
Tiếc rằng, ngay từ đầu, Mác đã xa rời chính quan điểm xã hội cụ thể, thuần túy,
vì đã triết lý hóa nó, cũng như đã quy luật hóa chính mục đích đấu tranh
giai cấp hoàn toàn đó, nhằm phù hợp theo chính quan điểm biện chứng của mình. Bởi vậy, quan điểm đấu tranh giai cấp của Mác
đã không còn thuần túy chie là sự đấu tranh kinh tế hay đấu tranh xã hội theo
cách cụ thể, thực tế nữa, mà đã trở thành ý nghĩa đấu tranh trên cơ sở và mục
đích triết học, mang tính chất hết sức mơ
hồ, trừu tượng. Nó đã trở thành như một thứ quy luật biện chứng tất yếu của lịch sử toàn bộ xã hội, mà Mác đã
tin chắc như đinh đóng cột, là quy luật đó, cuối cùng nhất thiết sẽ phải dẫn đến
chính hình thức xã hội xã hội chủ nghĩa, và tiếp đến là xã hội cộng sản chủ nghĩa, trên cơ sở của chính
bản thân nguyên lý biện chứng về lịch sử như trên đã nói. Cũng do đó, mà chính
quan điểm đấu tranh giai cấp theo kiểu giáo
điều, mang tính chất duy tâm, siêu hình đó, mặc dầu mang ý nghĩa duy vật,
thực tế đã đưa đến các sự kiến đấu tố, nhiều khi ngờ nghệch, dã man, đã từng xảy
ra ở một số nước, như kiểu Cách mạng Văn hóa và Hồng vệ binh ở Trung quốc, hay
kiểu tội ác của Khơ me đỏ, mà mọi người đều biết; song điều này, chắc hẵn Mác lại
chưa hề từng ngờ đến. Và đây cũng có thể coi được là lổ hổng thứ tư của học
thuyết Mác.
5/ Quan điểm kinh tế xã hội
: Mác đã cho rằng tư hữu là nguyên
nhân làm phát sinh ra giai cấp, và từ đó mà phát sinh ra mọi điều tệ hại khác
nhau của xã hội. Do vậy, Mác chủ trương xóa
bỏ tư hữu, xóa bỏ giai cấp, nhất là xóa bỏ tư hữu về tư liệu sản xuất. Mác
đã cho rằng xã hội nguyên thủy, là xã hội cộng sản, nên xã hội cuối cùng, cũng
sẽ là xã hội cộng sản; hay toàn bộ lịch sử đều chỉ là các giai đoạn trung gian,
chuyển tiếp giữa hai hình thái xã hội đó, không hơn không kém. Đây quả là một
quan niệm quá giản lược về lịch sử,
thậm chí hoàn toàn máy móc; ngoài ra,
chỉ nhìn thấy trong đó duy nhất là động cơ và yếu tố kinh tế, mà đặt ra ngoài tất cả mọi yếu tố, hay ý nghĩa hay giá trị
tinh thần khác nhau, trong cá nhân,
cũng như trong chính lịch sử xã hội của loài người. Đây cũng chính là sự nhầm lẫn,
hay sự đồng nhất một chách đơn giản giữa mục
đích và phương tiện. Bởi vì, đành
rằng kinh tế vẫn là nền tảng, nhưng điều đó không hề có nghĩa nó là nền tảng
duy nhất, hay là mục đích duy nhất của đời sống cá nhân hay xã hội con người.
Cũng do vậy, mà kết quả cuối cùng của quan điểm duy kinh tế theo cách độc tôn
đó của Mác, trong lịch sử thực tế, đã tỏ ra hoàn toàn thất bại. Sự công hữu tài
sản cũng chỉ giống như cha chung, không ai khóc, khiến cho kinh tế phải trì trệ,
sau một quãng thời gian dài trong cơ chế quan liêu, bao cấp, khiến tạo ra nhiều
hiện tượng tiêu cực khác nhau, cũng như hoàn toàn đi ngược lại với mọi điều gì
đã được tiên liệu của Mác. Bởi lẽ về thực chất, điều đó hoàn toàn đi ngược lại
với chính các quy luật tâm lý và xã hội hoàn toàn tự nhiên của con người.
Cho nên, đây cũng có thể coi được chính là một lổ hổng quan trọng thứ năm trong
lý thuyết của Mác.
6/ Quan điểm về chủ nghĩa cộng sản
khoa học : Theo đúng nghĩa, mọi quy luật hay giá trị khoa học khách
quan, chính xác đều phải được chứng minh xác đáng và được kiểm chứng bằng chính
thực tế. Đằng này, tuy chỉ là một sự dự
báo về tương lai, hay một ý nghĩa suy
diễn theo tính cách của khoa lô-gích hình thức, mà Mác vẫn mệnh danh đó chính
là một lý thuyết về xã hội cộng sản khoa học (wissenschaftlicher Kommunismus).
Thật ra, đây thật sự cũng chẳng qua do Mác rút ra từ các suy luận theo kiểu
cách suy diễn của toán học hình thức, có nghĩa chỉ dựa trên nền tảng của quy luật biện chứng, như trên đã thấy,
mà chính Mác tin tưởng tuyệt đối vào
đó. Chỉ có điều Mác quên rằng, suy luận theo kiểu tam đoạn cổ điển, hay kiểu
toán học hình thức, thì thật sự vẫn đều chỉ là những kiểu thức suy diễn trừu tượng, theo lô-gích học hình thức,
hay nói dúng là lô-gích học đơn giá, mà vẫn chưa phải là lô-gích học đa giá, hoặc
lô-gích tập mờ, cũng như theo kiểu thức quy nạp của khoa học thực nghiệm. Do vậy, một xã hội loài người
tương lai trên toàn thế giới hoàn toàn không còn nhà nước, không còn pháp luật,
không còn sản xuất hàng hóa, không trao đổi mua bán bằng tiền tệ, không còn thị
trường thương mại tự do, mà chỉ còn là sự phân công lao động xã hội và phân
chia sản phẩm được làm ra theo kiểu được kế hoạch hóa, của từng nhóm xã hội tự
giác, tự nguyện, hay bị bó buộc; và khi đó thì của cải, tài sản được tuông ra
như suối, vì mọi lực lượng sản xuất, mọi quan hệ con người đều được giải phóng,
con người được tự do hoàn toàn, buổi sáng có thể đi câu, buổi chiều có thể làm
thợ, buổi tối có thể làm thơ, hoàn toàn không còn bất kỳ một sự phân công lao động
xã hội nào, kể cả lao động chân tay và lao động trí óc theo như phương thức
truyền thống hay cổ điển nữa. Đây thật là một xã hội hoàn toàn lý tưởng, đến độ
hết sức không tưởng, tức có nghĩa
hoàn toàn không thực tế, hay kể cả đi ngược lại với chính bản chất của tiền đề
duy vật ban đầu trong lý thuyết của Mác. Bởi nếu con người chính là từ thiên
nhiên, vật chất mà ra, thì cũng không thể nào có trở nên thiên thần, trong một
xã hội hoàn toàn thần tiên, như thế được. Không một con người sinh học nào có
thể được luyện tập, để cho mọc ra cánh, và trở thành như là thiên thần được.
Đây chính là một hình ảnh của tôn giáo, hay cũng chỉ là một điều hoàn toàn ảo
tưởng, hết sức vu vơ, thiếu hẵn cơ sở khoa học khách quan, nên nhất định cũng
hoàn toàn không thể nào hiện thực được; cho dầu trong bất kỳ hoàn cảnh, hay điều
kiện thực tế nào trong tương lai; bởi vì, điều đó thật sự hoàn toàn không xác
đáng, cũng như đi ngược lại với mọi điều kiện khách quan tự nhiên của bản
chất cá nhân con người, cũng như xã hội . Đây chính là một lổ hổng quan trọng
thứ sáu trong lý thuyết của Mác.
7/ Quan niệm về quan hệ sản xuất
quan hệ xã hội : Mác cho rằng chính lực lượng sản xuất quyết định quan
hệ sản xuất, và tiếp đó chính quan hệ sản xuất lại quyết định cả quan hệ xã hội.
Có nghĩa là, khi lực lượng sản xuất còn phôi thai, thì đó là quan hệ sản xuất của
xã hội cộng sản nguyên thủy, tức là một
quan hệ cộng đồng người nguyên thủy, chưa hề có chế độ gia đình đúng nghĩa. Cho
đến khi thời kỳ lực lượng sản xuất, nhờ khoa học công nghệ mà phát triễn, thì
quan hệ sản xuất đó trở thành quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, nên đó cũng là một quan hệ xã hội hết sức phức tạp
về nhiều mặt. Cuối cùng, khi cách mạng vô sản thành cong, mới biến được chính lực
lượng sản xuất trở thành có khả năng vô hạn, và khi đó, quan hệ sản xuất sẽ phải
là quan hệ sản xuất công hữu, tức quan hệ xã hội chủ nghĩa, rồi kế đến là quan
hệ sản xuất và xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Thực chất, đây cũng chỉ là một kiểu lý luận trừu
tượng, dựa trên chính quy luật biện
chứng về lịch sử như trên kia đã
nói; nhưng Mác lại quên rằng, sự phát triễn khoa học kỹ thuật vẫn luôn là một lãnh vực riêng biệt, tương đối độc lập, hay tách biệt đối với chính mọi
hoạt động kinh tế bình thường, và cũng không phải chỉ hoàn toàn bị quan hệ kinh
tế luôn luôn chi phối. Kinh tế có thể ví chỉ như cái bụng của con người, còn khoa học và kỹ thuật là ví được với cái đầu và trí tuệ của con người, trong
khi đó, tinh thần, tình cảm, và cảm xúc, mới đúng là quan hệ xã hội giữa người và người. Đánh đồng cả ba yếu tố đó, làm
thành chỉ một cái duy nhất, theo kiểu quan điểm biện chứng duy vật và quan điểm
biện chứng về lịch sử, thì quả là hoàn toàn giản lược, làm nghèo nàn hóa đi mọi sự kiện, mọi ý nghĩa phong phú khác nhau khác
chính trong bản chất xã hội của con người. Và đó cũng chính là lổ hổng quan trọng
thứ bảy trong lý thuyết của Mác.
8/ Quan niệm về giá trị thặng dư và
sự bóc lột : Tính chất của
giá trị thặng dư và sự bóc lột đúng là một thực tại hoàn toàn khách quan. Giá
trị thặng dư là một sự kiện kinh tế học,
còn sự bóc lột lại là một hiện tượng xã hội,
không phải chỉ xảy ra trong quan hệ kinh tế, mà rất có thể xảy ra trong nhiều
trường hợp khác nữa, do chính sự bất công xã hội, hay cũng do bản chất ích kỷ tự
nhiên của con người. Điều này không phải chỉ có riêng Mác mới nhận thấy, mà thật
ra, đã từng có nhiều nhà kinh tế học trước, trong, cũng như sau thời kỳ Mác,
cũng nhận ra được tính chất này. Chẳng qua, Mác đã chỉ sử dụng lại các ý niệm
đã có đó, nhưng lại nhằm vận dụng theo một hướng
khác, đó là hướng triết học trong quan niệm duy vật lịch sử do ông tin tưởng tuyệt đối, nhưng không phải hoàn
toàn chỉ dưới góc độ kinh tế hay xã hội bình thường, như vốn nó đã có trước đó.
Do vậy, Mác phê phán tính cách của giá trị thặng dư và sự bóc lột, không phải
chỉ nhằm đi đến những giải pháp xã hội,
hoặc kinh tế cần thiết, hợp lý, hay hiệu quả như thế nào đó*,
mà thật ra, ông chỉ cốt lấy điều đó làm nền tảng, để chứng minh cho mục đích
yêu cầu cần phải thực hiện mục đích cách mạng xã hội theo quan điểm triết học của duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử là chính yếu. Ngay như trong bộ Tư bản chẳng hạn, các dữ liệu trong
đó cũng chỉ được sưu tập, qua các dữ liệu kinh tế học mà các nhà kinh tế học cổ
điển trước đó đã đưa ra, nhưng thật sự ý hướng của Mác, là chỉ nhằm qua đó, để
chứng minh nền kinh tế tư bản chỉ mang tính chất biện chứng, khiến cuối cùng nó sẽ phải bị sụp đổ, bị xóa bỏ, và chuyển thành nền kinh tế xã hội
chủ nghĩa, rồi nền kinh tế cộng sản chủ nghĩa. Nói chung, trước sau Mác đều chỉ
sử dụng kinh tế học, xã hội học, hay lịch sử học, không phải cho vì các mục
đích tự thân của những bộ môn đó, vì
Mác vẫn cho đó chỉ là những quan điểm tư sản, mà chỉ nhằm vận dụng phục vụ cho
chính quan điểm triết học duy vật về lịch sử của mình. Có nghĩa Mác chỉ đề cao,
và tin tưởng tuyệt đối vào lý thuyết biện
chứng, còn phủ nhận mọi ý nghĩa hay
mục đích bình thường khác. Và chính sự vận dụng không bình thường, không tương thích với các quan điểm xã hội và
kinh tế cần được hiểu một cách tự nhiên
như thế đó, và đây cũng có thể nói được như một lổ hổng quan trọng thứ tám
trong lý thuyết của Mác.
9/ Quan niệm về hạ tầng cơ sở và thượng
tầng kiến trúc : Mác vẫn cho rằng quan hệ kinh tế là hạ tầng cơ sở, còn
thượng tầng kiến trúc luôn không gì khác chỉ là ý thức hệ, tức là mọi quan niệm về mặt pháp lý, hay các tính chất
hoặc ý nghĩa tinh thần khác nhau, của mọi cá nhân và xã hội con người. Thật ra,
quan điểm thừa nhận đời sống kinh tế xã hội chính là nền tảng cho mọi hoạt động
của con người, vẫn luôn là một quan điểm thực tiển, mang tính chất hiển nhiên của
rất nhiều người, nhưng không phải chỉ riêng của Mác. Song ý nghĩa trọng tâm của
Mác, lại là muốn lái toàn bộ vấn đề vào chính trung tâm của quyền tư hữu. Mác cho rằng quyền tư hữu là nguồn
gốc hay đầu mối của tất cả, của sự đấu tranh giai cấp, cũng như mọi ý thức tinh
thần khác. Mác cho rằng chính là quan hệ giai
cấp, hay quan hệ phân công lao động
trong xã hội, là yếu tố quyết dịnh tất cả, và theo Mác, chính điều đó cũng đã
làm phát sinh ra mọi hậu quả hay kết quả tinh thần, ý thức khác nhau trong xã hội
của con người. Do vậy, mục đích cuối cùng của Mác, là muốn tiến tới một xã hội không còn quyền tư hữu, có nghĩa cũng
không còn giai cấp. Tức là một xã hội chỉ được điều tiết quan hệ lao động duy bằng
sự hợp tác theo kế hoạch, nên không còn lao động làm thuê, không còn nhà nước,
bởi vì mọi nhà nước theo Mác, luôn chỉ là công cụ của giai cấp thống trị và bóc
lột. Nói khác đi, đây quả thật chỉ là một hình thức xã hội theo quan niệm kiểu
vô chính phủ, nên cũng là một quan điểm hoàn toàn phi thực tế. Điều này cũng có
nghĩa Mác vẫn cứ nhầm lẫn, hay cứ đánh đồng giữa mục đích và phương tiện. Mác
quên rằng mọi sự phân lao động trong xã hội luôn là một nhu cầu hoàn toàn cần
thiết và tự nhiên, nên ý nghĩa có chăng, chỉ là tính chất của sự phân công đó
có thật sự công bằng và hợp lý ra sao; mà không thể cốt nhằm
hoàn toàn dẹp bỏ mọi sự phân công lao động, giống như Mác muốn. Nên đây cũng
chính là lổ hổng nghiêm trọng thứ chín trong lý thuyết của Mác.
10/ Quan niệm về sự phát triễn của lịch
sử và sự phát triễn của xã hội : Quan niệm về sự phát triễn chính yếu của
lịch sử và của xã hội theo Mác, chỉ là mối quan hệ về giai cấp, hay sự đấu
tranh giai cấp. Tức là theo ý nghĩa biện
chứng mà Mác quan niệm. Điều này cũng hoàn toàn dễ hiểu, là vì lý thuyết
Mác, thực chất vẫn là lý thuyết duy tâm Hegel, đã được duy vật hóa, mà chính Mác cho rằng mình đã lật ngược Hegel lại. Do
vậy, quan niệm đấu tranh giai cấp của Mác, không phải thuần túy chỉ là quan điểm
xã hội hay đạo đức thông thường, mà lại chính là quan điểm biện chứng của Hegel, nhưng đã được chuyển vị ra thành một trật tự
ý nghĩa khác. Có nghĩa, Mác tuy triệt để phản đối, và phê phán Hegel, là bởi vì
Mác là duy vật, còn Hegel thì duy tâm. Tuy nhiên, trong khi đó, Mác lại luôn
tin tưởng tuyệt đối vào chính quan điểm biện chứng của Hegel. Nên Mác cũng
không hề lựa chọn một con đường nào khác, như con đường khoa học cụ thể, thuần túy, và hoàn toàn khách quan chẳng hạn. Bởi đó, mọi lập luận của Mác, cũng chỉ là lập
luận của Hegel, mà không có Hegel, lập luận của Hegel theo quan điểm của Mác,
như trong bộ Tư bản chẳng hạn. Cũng vậy, mọi sự tham khảo hay viện dẫn khác của
Mác, như đối với các quan điểm xã hội nhân văn, hay duy vật của Feuerbach, hoặc
của Proudhon v.v… chẳng hạn, cuối cùng vẫn được Mác đưa về trong quan điểm đấu
tranh giai cấp, nhưng trên cơ sở của quy luật biện chứng theo Hegel, mà thực tế là không gì khác. Chính vì vậy,
mà nhiều khi người ta thấy được trong quan điểm lý luận của Mác vẫn chứa nhiều
sự nghịch lý, mâu thuẫn, giống như trên kia đã nói, mà thậm chí có khi còn có cả
những sự ngụy biện, hay sự lập lờ, chỉ cốt làm sao thích ứng tối đa mọi yếu tố
khách quan vào trong trung tâm quan điểm của chính Mác, về con người, về xã hội,
về lịch sử, mà nhất thiết phải khung theo cơ sở của quan điểm triết học về biện
chứng duy vật và biện chứng lịch sử, như trên chúng ta đã rõ. Mác hoàn toàn
không cho rằng sự phát triễn của con người và xã hội chỉ do sự phát triễn của tinh thần và ý thức, mà cụ thể, là sự phát triễn của nền khoa học kỹ thuật và văn hóa
về mọi mặt, luôn làm cho các thành quả về kinh tế phải được tiến lên. Nên đây
cũng có thể coi được chính là lổ hổng quan trọng thứ mười trong lý thuyết của
Mác.
Nói tóm lại, mười điểm đưa ra như trên
đây, cũng cốt chỉ nhằm khái quát hóa phần nào đó, tuy chưa thật đầy đủ toàn bộ
hệ thống tư tưởng của Mác. Nó có thể còn thiếu sót, nhưng quả đó chính là những
lổ hổng cơ bản nhất, mà nếu cần nhiều đi thêm vào thêm chi tiết, thì lại khó thể
nào chỉ vắn tắt để liệt kê ra theo tính cách đại lượt như vậy. Điều này cũng
cho thấy, lý thuyết của Mác không hoàn toàn chỉ là lý thuyết kinh tế, xã hội,
hay lịch sử theo quan điểm thông thường,
giống như trong truyền thống cổ điển vẫn có. Mác luôn luôn cho rằng tất cả những
quan niệm nào không giống Mác, đều chỉ là quan điểm của tư sản. Chỉ có lý thuyết
của Mác, mới là lý thuyết khoa học và là lý thuyết thật sự cách mạng. Sự chủ quan và mâu thuẫn này, trên kia chúng ta đã có nói. Nó chỉ cho thấy tính độc đoán và phủ nhận mọi sự đối thoại khoa
học cần thiết, mà người ta có thể thấy ra được, và điều đó không những chỉ thuần
túy là một sự ngụy biện. Bởi vậy, có khi nhiều người cũng cho rằng, sở dĩ lý
thuyết Mác đã chưa áp dụng được hoàn hảo trong thực tế, là vì do phương thực thực
hiện của những người đã từng áp dụng nó. Điều này thật sự hoàn toàn không đúng.
Bởi vì, thật ra mọi sự áp dụng đã có trong thực tế của học thuyết Mác cho tới
nay trong lịch sử, vẫn đều hoàn toàn đúng
theo lý thuyết của Mác cả. Song sở dĩ các kết quả đó đã không thành công như
mong muốn, không phải chỉ do lỗi của sự áp dụng, mà đó chính là do bản thân của
lý thuyết đó, tức nói đúng ra, đó là do những lổ hổng nghiêm trọng có trong lý thuyết của Mác, như ta đã nói đến.
Bởi vì, như đã thấy, lý thuyết của Mác thật sự chỉ là một lý thuyết triết học, nhưng lại được đưa ra dưới
danh nghĩa khoa học, hay nói khác, đó
cũng chỉ là sự tự mệnh danh, hay sự tự nhân danh là khoa học, mà thực chất, nó
vẫn luôn không phải là một lý thuyết khoa học thật sự nghiêm chỉnh, chính xác, hoặc hoàn toàn đầy đủ, giống như mọi người
từng hâm mộ lý thuyết đó có thể đã vốn trông cậy, hoặc đã từng hi vọng từ nơi bản
thân nó. Vì nói chung, ý nghĩa khoa học
nếu có trong lý thuyết của Mác, thực sự lại vẫn phụ thuộc vào chính ý nghĩa triết học trong học thuyết của Hegel, nhất
là quan điểm biện chứng, và chính điều
này, tự bản thân nó, cũng đã là một sự nghịch lý, mâu thuẫn, hay có thể nói được,
cũng là một lổ hổng lớn nhất, như đã thấy. Đó là chưa nói đến quan niệm về chuyên chính vô sản (Diktatur des Proletariats),
mà Mác là nhà triết học duy nhất từ
trước đến nay đã chủ trương. Sở dĩ Mác chính thức đưa ra điều đó, vì ông quá tuyệt đối tin tưởng vào chính bản thân triết học của mình. Thế nhưng, chính ông
lại quên, hay đã không tiên liệu được rằng, nếu vì những nguyên nhân đặc biệt
nào đó mà lý thuyết của ông không phù hợp được, thì điều đó sẽ rất có thể dễ
dàng bị lợi dụng, và thật sự sẽ tạo
nên những hậu quả nặng nề, đối với cả toàn thể nhân loại, hoặc đối với những quốc
gia nào nó đã từng áp dụng nó, về tất cả những sự lãng phí, đối với rất nhiều mặt như thế, nếu trong trường hợp lý
thuyết của Mác không thể nào thành công được. Và nếu như vậy, thì đây lại cũng
chính là một lổ hổng lớn, cũng như đồng thời là một trách nhiệm rất nặng nề của
chính bản thân Mác đối với toàn thể nhân loại, hay đối với các quốc gia, dân tộc
nào đã từng hâm mộ, và từng quyết chí đi theo con đường lý thuyết đầy tính
không tưởng và thiếu thực tế mà chính Mác đã đưa ra.
VÕ HƯNG THANH
(Sàigon 18/4/2009)
**
NÓI
VỀ BÀI VIẾT “VỀ SỰ SỢ HÃI” CỦA NGÔ BẢO CHÂU
Sau khi nhà toán học danh tiếng Ngô Bảo
Châu viết bài nói về “sự sợ hãi”, trong đó có nêu ý kiến riêng nhận xét về một
số ý kiến của ông Cù Huy Hà Vũ, và về vài khía cạnh của phiên tòa xét xử ông Vũ
có liên quan, dư luận bổng nhiên sôi nổi hẳn lên trên mạng. Kết quả đưa đến ông
Châu tuyên bố đóng cửa Blog toán học của mình mà không đưa ra lý do chính yếu
nào. Điều này khiến có nhiều người cảm thấy hụt hẫng, vừa ấm ức, vừa hối tiếc.
Đây là ý nghĩa hoàn toàn tự nhiên, bởi nó như một hệ quả dây chuyền bất ngờ và
hết sức bất đắc dĩ về tâm lý của mọi người, kể cả trong đó có ông Châu. Vậy thì
ý nghĩa ở đây chính là do hệ lụy của sự sợ hãi chưa hoàn toàn được giải thích về
nhiều mặt nào đó, trong các chiều hướng khác nhau, kể cả vì các nguyên nhân còn
ẩn giấu và chi phối nhiều đối tượng khác nhau.
Bởi vậy hôm nay thấy cũng nên nói về sự
sợ hãi, không nhằm ám chỉ riêng của ai, mà có thể của mọi người, hay chính khái
niệm sự sợ hãi nói chung.
Vậy sợ hãi hay sợ là gì ? Đó là nổi lo
âu một điều nguy hiểm nào đó có thể xảy ra, và chủ thể có liên quan đó thấy cần
phải có phương thức, hay tìm cách đối phó. Nhưng nói cho cùng, sự sợ hãi trên đời
có rất nhiều, mọi người đều có trong các khía cạnh nào đó, không ngoại trừ ai cả,
mà là chung cho tất cả.
Sự sợ hãi có khi là bản tính tự nhiên
: sợ gián, sợ chuột, sợ phấn hoa, sợ rắn, sợ tiếng ồn, hay kể cả sợ tiếng động,
sợ đêm tối v.v… thôi thì đủ thứ. Đó là lý do không thể giải thích hoặc hoàn
toàn tự nhiên.
Sự sợ hãi vì điều kiện xã hội : sợ mất
việc, sợ chỉ trích, sợ quở trách, sợ kỹ luật, sớ mất mát cái gì đó, sợ thất
sũng, sợ bị chê cười, sợ trách nhiệm, sợ nguy hiểm, sợ bị thiệt hại v.v… thôi
thì đủ thứ, và mỗi người tùy hoàn cảnh, trường hợp, vị trí hay vấn đề, đều có
thể tùy lúc mà có các mỗi lo sợ hay sợ hãi riêng.
Sợ pháp luật : đây chính là cái sợ cơ
bản nhất của con người trong xã hội. Người phạm pháp mọi loại ban đầu không sợ.
Nhưng khi bị ra tòa thì lại sợ. Bởi khi ấy mới thấy mọi phiền phức rất cụ thể
mà ban đầu có thể không thấy hết. Đặc biệt các ý nghĩa chính trị thì nhiều người
luôn luôn tránh mọi sự nhóm ngó, mọi sự nhạy cảm, phần lớn chỉ muốn an thân, tức
cầu an, tiêu cực, nói chung là sự vị kỷ, mũ ni che tai, theo cách của quan niệm
mackeno về mọi việc là chắc ăn nhất. Điều này đúng ra chỉ là nổi buồn của xã hội
mà không phải mang tính hay ho, cao quý hoặc tích cực gì.
Vậy thì sự sợ hãi nói chung là gì ? Đó
chính là tâm lý muốn tránh điều nguy hiểm và tìm sự an toàn. Khi sự sợ hãi chưa
xảy ra, người ta tìm cách tránh né, đề phòng, không muốn chạm mặt với nó. Khi sự
sợ hãi đã có, tức đã hiện diện hay trước mắt, người ta tìm cách giải quyết hay
trốn chạy, tìm đến nơi hay đến kết quả an toàn nhất.
Nói chung lại, tâm lý sợ hãi luôn luôn
là tâm lý tự nhiên. Nhưng nói chung không phải tâm lý này luôn luôn thắng tất cả.
Nói cách khác, nếu có các ý nghĩa nào đó, các lý do chính đáng nào đó, hay các
điều kiện nào đó an toàn, tức lực lượng tự thân của nó có thể giúp chiến thắng
các hậu quả của sự sợ hãi, khi đó người ta cũng không sợ hãi. Có nghĩa có
nguyên nhân nào đó mà lực lượng lớn hơn lực lượng tức sức mạnh của sự sợ hãi,
cũng triệt tiêu được sự sợ hãi, khiến người ta không còn sợ nữa. Như mặc áo mưa
thì không còn sợ mưa ước, có cây gậy đi đêm thì ít sợ bóng tối hơn, con ông
cháu cha hay gia đình đại gia thì chẳng thể sợ thiếu hụt về tài chánh hoặc ai
đe dọa cả v.v… và v.v…
Vậy thì, chung lại, mối quan hệ sợ hãi
gồm ba cơ sở : tương quan tự thân giữa mình và mình về mặt ý thức tâm lý tự
nhiên. Tương quan với người khác, tức với xã hội, và tương quan với thế giới tự
nhiên, tức tương quan vật thể. Hay nói cách khác, tương quan nhân bản, tương
quan vật chất, và tương quan pháp luật.
Tương quan nhân bản : một xã hội thật
sự tự do dân chủ thì người ta ít hay sợ hãi vô cớ. Một xã hội mà con người đều
tốt đẹp, người ta cũng ít ngờ vực, e sợ lẫn nhau. Một xã hội có độ an toàn cao
về mặt kỹ thuật, người ta cũng ít sợ các nguy hiểm của các thế lực tự nhiên. Một
xã hội mà thực chất quyền làm chủ của nhân dân cao, người dân không e sợ chính
trị, không xa lãnh chính trị, trái lại xem chính trị là sinh hoạt vui vẻ, tự
nhiên, thường xuyên, cần thiết, và hoàn toàn chính đáng.
Nói khác đi, nguyên nhân của sự sợ hãi
có thể do chính mình : bệnh nhát gan. Có thể do người khác : người khác bặm trợn
quá, ưa dùng vũ lực để khống chế, thế làm sao một người hiền lành, lịch thiệp lại
không sợ. Trong khi đó, nếu một nền pháp luật rành mạch, có hiệu quả, có tính
nhân bản cao, tất nhiên mọi người đúng đắn cũng sẽ đều không sợ pháp luật mà
còn thấy thân ái với pháp luật. Chỉ còn những người càn quấy người khác về các
mặt nào đó mới phải sợ pháp luật.
Vậy nên, nổi sợ hãi thật sự là điều
không nên có hay sự rất bất đắc dĩ nơi con người. Do vậy, yêu cầu khắc phục tức
là đức tự chủ, sự lành mạnh của xã hội, và tính nhân văn cao của toàn xã hội.
Trong ý nghĩa đó, Ngô Bảo Châu viết về nổi sợ hãi không phải không có lý. Nhưng
khi anh viết xong bài đó và đóng cửa Blog mà không giải thích hợp lý, có nhiều
người lại còn sợ hãi hơn. Sợ mất trang Blog của anh như mất một niềm vui và mất
đi một sự hữu ích xã hội. Cho nên điều này cũng cho thấy, ngoài các nguyên nhân
đã phân tích, sự sợ hãi cũng còn có ý nghĩa và kết quả của nó. Và cũng chính ý
nghĩa và kết quả đó lại trở thành điều đáng nói nhất. Nó cũng như một phép toán
mà anh Châu làm, tức kết quả, đáp số, và cách giải nào thông minh nhất, vẫn là
ý nghĩa và giá trị sau cùng nhất. Cho nên không thể trách anh Châu. Mà cái đáng
trách là tại sao mọi người hay những người cụ thể nào đó lại làm cho anh Châu
phải sợ hãi. Từ đó hành vi tiếp theo của anh Châu lại làm cho nhiều người cũng
thành sợ hãi. Đây quả thật là sự tương quan không ổn giữa con người con người
và xã hội con người. Thật ra, con người có thể sợ thiên nhiên, bởi vì đó là lực
lượng vô ý thức, mù quáng. Còn khi con người còn sợ con người vì các lý do nào
đó không chính đáng, có nghĩa là tính nhân văn trong đối xử lẫn nhau và tính
nhân văn của cả xã hội đều còn phần nào hạn chế. Một nhà nước nào đó thật sự tự
do, dân chủ thì không phải làm cho bất cứ người dân nào đều phải sợ. Vậy nên, bất
cứ ở đâu, thời nào, người cầm quyền còn làm dân sợ, đó đều chưa phải là giải
pháp hay. Làm cho dân tôn trọng pháp luật mà không hề sợ bất cứ điều gì không
chính đáng, đó mới là nhà nước lý tưởng, đúng nghĩa, mà mọi người mong muốn, dù
cho thời đại nào hay ở đâu cũng vậy.
VÕ HƯNG THANH
**
PHẦN DANH MỤC CÁC BÀI VIẾT NGẮN,
CHỚP NHOÁNG (II) – (18)
NÓI VỀ SỰ YẾU KÉM, NÔNG CẠN,
HAY TÍNH CHẤT ẤU TRĨ
CỦA MỘT HỌC THUYẾT KHOA HỌC
(01/5/2010)
Ý NGHĨA VIỆC TỔNG KẾT VÀ
ĐÁNH GIÁ VỀ LỊCH SỬ (30/4/2010)
Ý THỨC XÃ HỘI VÀ “CHỦ NGHĨA
XÃ HỘI” (01/4/2010)
MƯỜI LỔ HỔNG NGHIÊM TRỌNG
TRONG HỌC THUYẾT MÁC
(18/4/2009)
NÓI VỀ BÀI VIẾT “VỀ SỰ SỢ
HÃI” CỦA NGÔ BẢO CHÂU
**
PHẦN
DANH MỤC CHUNG CÁC BÀI VIẾT NGẮN,
CHỚP
NHOÁNG (II)
1.
KHOA HỌC CHÍNH TRỊ VÀ CẢM QUAN CHÍNH TRỊ (25/7/15)
2.
SỰ CÁI NHAU VỀ CHUYỆN CÂY CỜ (15/7/15)
3.
“NIỀM TIN VÀ HI VỌNG” (12/7/15)
4.
TỪ KHÁI NIỆM VONG THÂN TỚI KHÁI NIỆM GIÁC NGỘ
CÁCH
MẠNG MÁC XÍT (12/7/15)
5.
NÓI VỀ CẢM TÍNH, NIỀM
TIN ẢO TƯỞNG VÀ VỀ NỀN TẢNG
KHOA HỌC KHÁCH QUAN, THỰC TẾ
TRONG CÁC MỤC
TIÊU XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC TA NGÀY NAY (04/7/15)
6.
CON ĐƯỜNG CHỐNG XÂM
LĂNG ĐỂ BẢO VỆ ĐẤT NƯỚC
NGÀY NAY CỦA VIỆT NAM TA
(04/7/15)
7.
THỰC CHẤT NGÀY NAY CHỈ CÓ NGƯỜI YÊU NƯỚC
VÀ NGƯỜI
KHÔNG YÊU NƯỚC, MÀ KHÔNG CÓ
GÌ KHÁC (27/6/15)
8.
NÓI
VỀ LÒNG YÊU NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG (27/6/15)
10.
CÁCH
MẠNG VÀ BÁO CHÍ (24/06/2015
at 22:36)
11.
NÓI
VỀ CHỮ I VÀ CHỮ Y TRONG KÝ ÂM TIẾNG VIỆT
12.
LÃNH
ĐẠO VÀ TỰ DO BÁO CHÍ (21/06/2015
at 06:10)
13.
NÓI
VỀ NGUYÊN LÝ TỰ DO DÂN CHỦ TRONG XÃ HỘI LOÀI
NGƯỜI (20/06/2015
at 22:17)
14.
PHƯƠNG
PHÁP LUẬN VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ NHẰM ĐÁNH
GIÁ VỀ Ý NGHĨA VÀ VỊ TRÍ CỦA
ÔNG HỒ CHÍ MINH TRONG
GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ
CẬN ĐẠI CỦA ĐẤT NƯỚC TA
15.
LUẬN
VỀ NGƯỜI VIỆT (15/06/2015
at 23:06)
16.
LỊCH
SỬ VÀ SỰ QUY CHỤP (15/06/2015
at 06:15)
17.
KHI
CHỐNG XÂM LƯỢC NƯỚC NGOÀI CẦN PHẢI DẸP MỌI KIỂU
CHÍNH TRỊ TƯ RIÊNG NỘI BỘ
SANG MỘT BÊN
18.
NÓI
VỀ TRÌNH ĐỘ DÂN TRÍ (15/06/2015
at 21:18)
19.
PHÁT
TRIỂN XÃ HỘI TỰ NHIÊN VÀ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI PHẢN
TỰ NHIÊN (14/06/2015
at 23:32)
20.
HAI
THẾ HỆ HAI BÀI THƠ (14/06/2015
at 22:41)
21.
KHOA
HỌC VÀ CHÍNH TRỊ (13/06/2015
at 21:16)
22.
NÓI
VỀ MỘT CHIẾN LƯỢC XÃ HỘI (11/06/2015
at 03:01)
23.
TỪ
CHUYÊN CHÍNH VÔ SẢN ĐẾN TẬP TRUNG DÂN CHỦ
24.
TỪ
LÝ THUYẾT ĐẾN THỰC HÀNH (10/06/2015
at 03:46)
25.
TẠI
SAO CÓ THỂ NÓI ĐƯỢC CÁC MÁC LÀ MỘT TAY ĐẠI PHẢN
ĐỘNG TRONG LỊCH SỬ TƯ
TƯỞNG NHÂN LOẠI ?
26.
NGƯỜI
DÂN HIỆN NAY CÓ QUYỀN PHÊ PHÁN HỒ CHÍ MINH
HAY KHÔNG ?
(09/06/2015
at 22:58)
27.
TỪ
CHỦ NGHĨA QUỐC TẾ VÔ SẢN ĐẾN CHỦ NGHĨA TƯ BẢN
SƠ KHAI (08/06/2015
at 21:28)
28.
NÓI
VỀ QUAN ĐIỂM CỦA ÔNG BÙI TÍN ĐỐI VỚI ÔNG TRẦN
ĐỨC THẢO (07/06/2015
at 21:46)
29.
NÓI
VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
30.
THẾ NẢO LÀ MỘT XÃ HỘI KHÔN NGOAN ?
(05/6/15)
31.
NÓI VỀ Ý NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ CỦA VIỆC THỐNG
NHẤT ĐẤT
NƯỚC (04/6/15)
32.
BẢN
CHẤT CON NGƯỜI VÀ CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN
33.
NÓI
VỀ NỀN DÂN CHỦ PHƯƠNG TÂY (03/06/2015
at 22:48
34.
TIẾN
SĨ VÀ SỰ ĐÀO TẠO (30/5/15)
35.
SỰ
KHÁC NHAU TRONG CHIẾN TRANH GIỮA NƯỚC TỰ DO VÀ
NƯỚC ĐỘC TÀI NÓI VỀ CÁI QUẤY VÀ
CÁI HÈN TRÊN THẾ
GIỚI (28/5/15)
36.
NGÔN
NGỮ VÀ CON NGƯỜI (28/5/15)
37.
LỊCH
SỬ VÀ CHÍNH TRỊ (28/5/15)
38.
BÀN
CHƠI CHUYỆN ĐÁNH NHAU GIỮA MỸ VÀ TRUNG QUỐC
(28/5/15)
39.
KINH TẾ XÃ HỘI THƯƠNG MẠI VÀ CHÍNH TRỊ
(24/5/15)
40.
HỌC
THUYẾT CỦA CÁC MÁC ĐỐI VỚI VẬN MỆNH, Ý NGHĨA VÀ
GIÁ TRỊ CỦA NHÂN
LOẠI (20/05/2015
at 21:07)
41.
CÁI
NGU DỐT THỨ 16 CỦA KARL MARX : LÝ THUYẾT BIỆN
CHỨNG HAY SỰ MÊ TÍN VÀO QUAN
ĐIỂM BIỆN CHỨNG
LUẬN
CỦA HEGEL (18/05/2015
at 04:35)
42.
TIÊU
THỔ KHÁNG CHIẾN (18/05/2015
at 05:08)
43.
DỐT
ĐẶC CÁN MAI (18/05/2015
at 22:17)
44.
NÓI
VỀ SỰ NGU DỐT THỨ 15 CỦA KARL MARX : CHỦ NGHĨA
XÃ HỘI VÀ CHỦ NGHĨA
CỘNG SẢN ĐƯỢC MỆNH
DANH LÀ KHOA HỌC (17/05/2015
at 22:20)
45.
NÓI
VỀ CÁ NHÂN CON NGƯỜI VÀ CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ
46.
NÓI
VỀ CÁI NGU DỐT THỨ 14 CỦA KARL MARX : HẠ TẦNG
CƠ SỞ QUYẾT ĐỊNH THƯỢNG TẦNG
KIẾN TRÚC
47.
ĐIỀU
NGU DỐT THỨ 13 CỦA KARL MARL : THỦ TIÊU NGƯỢC
NGẠO VÀ SAI TRÁI QUYỀN TỰ DO
DÂN CHỦ CỦA CON
NGƯỜI (14/05/2015
at 21:37)
48.
NÓI
VỀ CÁI NGU DỐT THỨ 12 CỦA KARL MARX : SỨ MẠNG
LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂNLÀ
NHẰM XÂY DỰNG
MỘT XÃ HỘI CỘNG SẢN CHỦ NGHĨA
PHI GIAI CẤP, LÀM
THEO NĂNG LỰC HƯỞNG THEO NHU CẦU
13/05/2015
at 03:31
49.
NÓI
VỀ CÁI NGU DỐT THỨ 11 CỦA KARL MARX : LỖ HỔNG
NGHỊCH LÝ KHỔNG LỒ CỦA
LÝ THUYẾT
50.
NÓI
VỀ CÁI NGU DỐT THỨ 10 CỦA KARL MARX : HIỂU SAI VỀ
CON NGƯỜI VÀ VỀ LỊCH SỬ XÃ
HỘI LOÀI NGƯỜI
51.
NÓI
VỀ ĐIỀU NGU DỐT THỨ 9 CỦA KARL MARX : XÃ
HỘI CỘNG
SẢN KHOA HỌC (09/05/2015
at 21:02)
52.
NÓI
VỀ CÁI NGU DỐT THỨ 8 CỦA KARL MARX : CHỦ NGHĨA
CÔNG HỮU THAY CHO TƯ HỮU MỘT
CÁCH TOÀN DIỆN
53.
NÓI
VỀ CÁI NGU DỐT THỨ 7 CỦA KARL MARX : LÝ THUYẾT
SỰ BÓC LỘT VÀ THẶNG DƯ GIÁ
TRỊ (08/05/2015
at 00:28)
54.
NÓI
VỀ CÁI NGU DỐT THỨ SÁU CỦA KARL MARX : CHUYÊN
CHÍNH VÔ
SẢN (06/05/2015
at 23:34)
55.
NÓI
VỀ SỰ NGU DỐT THỨ NĂM CỦA KARL MARX : LÝ THUYẾT
BIỆN CHỨNG LỊCH
SỬ (05/05/2015
at 03:40)
56.
NÓI
VỀ CÁI NGU DỐT THỨ TƯ CỦA KARL MARX : CHỦ NGHĨA
VÔ
SẢN (05/05/2015
at 09:23)
57.
NÓI
VỀ CÁI NGU THỨ BA CỦA KARL MARX : DUY VẬT BIỆN
CHỨNG (04/05/2015
at 04:40)
58.
NÓI
VỀ SỰ NGU DỐT THỨ HAI CỦA KARL MARX : CHỦ THUYẾT
DUY VẬT THUẦN
TÚY (03/05/2015
at 21:36)
59.
HỒI TƯỞNG LẠI LÁ CỜ CỦA MẶT TRẬN GIẢI
PHÓNG MIỀN NAM
60.
CHIẾN
TRANH VIỆT NAM : TÂN TAM QUỐC CHÍ
61.
NHÌN
VÀO LỊCH SỬ (02/05/2015
at 02:41)
62.
KIÊU
NGẠO CỘNG SẢN HAY MẶC CẢM CỘNG SẢN ?
63.
NHÂN
QUYỀN VÀ HIẾN PHÁP (29/4/2015
at 5:15)
64.
VÀI
Ý NGẮN TRAO ĐỔI CÙNG TÁC GIẢ BÙI TÍN VỀ CUỘC CHIẾN
TẠI VIỆT NAM VỪA
QUA (27/04/2015
at 00:04)
65.
NÓI
VỀ MỘT TRONG NHỮNG CÁI NGU DỐT CỦA CÁC MÁC
66.
QUÁ
KHỨ, HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI (20/04/2015
at 22:33)
67.
CÁ
NHÂN MỖI NGƯỜI VÀ LỊCH SỬ XÃ HỘI NÓI CHUNG
68.
VỀ
CÁI NGU HIỆN TẠI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI
69.
NÓI
VỀ TRẬT TỰ HAY QUYỀN LỰC TRÊN THẾ GIỚI NGÀY NAY
70.
VIỆC
CẢI CÁCH VÀ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC NGÀY NAY
71.
TỪ
HÀNH VI XÂM LƯỢC ĐẾN THỰC TẾ GIẢI QUYẾT
72.
KHÔNG
HỀ CÓ CÁI LÝ CỦA KẺ MẠNH (14/04/2015
at 03:36)
73.
KHOA
HỌC VÀ SỰ TỰ DO DÂN CHỦ (13/04/2015
at 20:31)
74.
NÓI
CHO CÙNG NHÂN QUYỀN LÀ GÌ ? (11/04/2015
at 06:42)
75.
TẠI
SAO CỨ MÃI OÁN TRÁCH ĐƠN PHƯƠNG NHỮNG NGƯỜI
CỘNG SẢN ? (06/04/2015
at 22:21)
76.
QUYỀN
PHÁP LUẬT, QUYỀN DÂN CHỦ, VÀ QUYỀN BIỂU TÌNH
77.
THỰC
CHẤT CỦA CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT Ở VIỆT NAM 1955-56
78.
PHÁP
LUẬT VÀ CHÍNH TRỊ (01/04/2015
at 22:48)
79.
TỪ
CHỦ NGHĨA QUỐC TẾ VÔ SẢN ĐẾN CHỦ NGHĨA TOÀN
CẦU HÓA
(03/6/15)
80.
THỬ
LẠM BÀN VỀ CHÍNH TRỊ (31/3/15)
81.
TÊN
GỌI VÀ THỰC CHẤT (22/6/15)
82.
TINH
HOA (07/01/2015
at 17:16)
83.
BẢN
CHẤT NGƯỜI VIỆT NAM CÓ LƯỜI BIẾNG HAY KHÔNG ?
84.
TỪ
DARWIN ĐẾN MARX (06/01/2015
at 14:52)
85.
CƠ
SỞ MỘT SỰ TIÊN ĐOÁN KHOA HỌC (05/01/2015
at 05:47)
86.
CHÍNH
BIỆN VÀ NGỤY BIỆN (05/01/2015
at 20:37)
87.
QUÂN
ĐỘI LÀ CỦA AI ? (27/12/2014 at 23:15)
88.
BẢN
CHẤT ĐA MẶT CỦA CHÍNH TRỊ (01/12/2014)
89.
ĐÃ
HẾT THUỐC CHỮA RỒI (29/11/2014 at 19:49)
90.
MỐI
TƯƠNG LIÊN GIỮA CON NGƯỜI VÀ CON NGƯỜI TRONG
XÃ
HỘI (29/11/2014 at 08:06)
91.
HỒ
CHÍ MINH, THỰC CHẤT VÀ HUYỀN THOẠI
92.
Ý KIẾN NGẮN VỀ GIÁO DỤC (13/8/14)
93.
TRUNG
VỚI AI ? (12/8/14)
94.
LUẬN
VỀ CHÍNH TRỊ XÃ HỘI (11/8/14)
95.
VIỆT
NAM KHÔNG THIẾU GÌ NHỮNG CON NGƯỜI
CHÍNH
ĐÁNG (09/8/14)
96.
BÌNH
BÁT (03/8/14)
97.
KHOA HỌC VỀ GIAI CẤP (02/8/14)
98.
ỔN ĐỊNH ĐỂ PHÁT TRIỂN, HAY PHÁT TRIỂN ĐỂ ỔN ĐỊNH ?
(02/8/14)
99.
SỨ MỆNH HIỆN THỰC XÃ HỘI CỦA NHÀ VĂN (02/8/14)
100. CẦN PHÂN BIỆT TÔN GIÁO VÀ ĐẤT NƯỚC (02/8/14)
101. LẠI CÒN NGU HƠN NỮA !
(01/8/14)
102. TỔ QUỐC VÀ TÔN GIÁO
(01/8/14)
103. LÀM GÌ ĐỂ CỨU ĐẤT NƯỚC ?
(01/8/14)
104. CON NGƯỜI CÁ NHÂN VÀ CON
NGƯỜI XÃ HỘI (31/7/14)
105. LÃNG XẸT ! (31/7/14)
106. ĐẠI LƯU MANH (30/7/14)
107. XÃ HỘI PHÁP TRỊ
(30/7/14)
108. HOAN HÔ VÀ HOAN HÔ
(30/7/14)
109. TỘI NGHIỆP CHO NGUYỄN
TUÂN (30/7/14)
110. PHƯƠNG PHÁP LUẬN SỬ HỌC
(29/7/14)
111. CÁI KỲ DỊ Ở ĐỜI TỪNG XẢY
RA TẠI VIỆT NAM (28/7/14)
112. TỘI NGHIỆP CHO NGUYỄN
TUÂN (28/7/14)
113. CHUYỆN QUÁ DỄ (28/7/14)
114. ĐIỀU QUAN TRỌNG NHẤT CỦA
ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY LÀ CẦN
NHỮNG CON NGƯỜI ĐỘC LẬP (28/7/14)
115. MỌI SỰ MÙ QUÁNG LỖI THỜI
CHỈ TAI HẠI VÀ LỐ BỊCH
(27/7/14)
116. MẤT ĐẢNG HAY MẤT NƯỚC !
(27/7/14)
117. KHÔNG CÓ CÁI GI GỌI LÀ
THẾ GIỚI HẬU HOA KỲ CẢ (26/7/14)
118. VIẾT SỬ HAY NHÀ SỬ HỌC
(26/7/14)
119. PHIẾM BÀN CHUYỆN LỊCH SỬ
(24/7/14)
120. ĐI HƠI QUÁ RỒI CÙ HUY HÀ
VŨ ƠI ! (24/7/14)
121. CÁC VỊ VUA YÊU NƯỚC CỦA
TRIỀU ĐẠI PHONG KIẾN VIỆT
NAM DƯỚI
THỜI PHÁP THUỘC (24/7/14)
122. PHONG TRÀO ĐẤU TRANH DÂN
CHỦ TẠI VIỆT NAM NGÀY NAY
(23/7/14)
123. CÁI KHÙNG ĐIÊN HAY CÁI
NGU NGỐC CỦA CÁC MÁC VỀ
PHƯƠNG DIỆN LỊCH SỬ XÃ HỘI
(23/7/14)
124. NGHĨA VÀ LỢI (23/7/14)
125. ĐIỀU HỐI TIẾC CỦA DÂN
TỘC VÀ ĐÂT NƯỚC (23/7/14)
126. CÁ NHÂN CON NGƯỜI VÀ CHẾ
ĐỘ XÃ HỘI (22/7/14)
127. CỘNG SẢN VÀ NHO GIÁO
(22/7/14)
128. CHỦ YẾU LÀ Ở ÔNG HỒ CHÍ
MINH (21/7/14)
129. NGÔN NGỮ VÀ SỰ TRUNG THỰC
TRONG Ý NGHĨA CỦA
LỊCH SỬ KHÁCH QUAN (20/7/14)
130. KHÔNG CÓ GÌ PHẢI PHỨC
TẠP HÓA QUÁ MỨC VẤN ĐỀ
(20/7/14)
131. NÓI VỀ HIỆN TƯỢNG BÙI
TÍN (20/7/14)
132. CHỦ NGHĨA MÁC VÀ TRÍ
THỨC (20/7/14)
133. NHÀ MÁC XÍT TRẦN ĐỨC
THẢO (19/7/14)
134. CẦN NÊN PHÂN BIỆT GIỮA
KHÁI NIỆM “PHẢN ĐỘNG” VÀ
KHÁI NIỆM “ĐỘT PHÁ” (18/7/14)
135. CÓ BỐN LOẠI NGƯỜI TRONG
XÃ HỘI (18/7/14)
136. TỪ XÃ HỘI TƯ SẢN TƯ BẢN
ĐẾN XÃ HỘI CỘNG SẢN VÔ SẢN
MÁC XÍT (17/7/14)
137. CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN VÀ
CON NGƯỜI NHÂN VĂN (16/7/14)
138. GÓP Ý RẤT ĐÚNG (16/7/14)
139. THOÁT MÁC (13/7/14)
140. THẬT KHÔNG HIỂU NỔI LÃNH
ĐẠO MIỀN BẮC TRƯỚC
NĂM 1975
(13/7/14)
141. CÂU CHUYỆN TRIẾT HỌC :
TỪ CÁI NGU CỦA MÁC ĐẾN CÁI
NGU CỦA THẢO (13/7/14)
142. NGÔN NGỮ VÀ Ý THỨC CON
NGƯỜI (13/7/14)
143. CHÍNH TRỊ VÀ XÃ HỘI CON
NGƯỜI (12/7/14)
144. CON THUYỀN VIỆT NAM NGÀY
NAY (11/7/14)
145. NÓI THÊM CHUYỆN NĂM HAY
SÁU SAO VÀ GỬI ĐI ĐÀO TẠO
CÁN BỘ ! (08/7/14)
146. LIỆU VN SẼ CÓ KIỆN TRUNG
QUỐC RA TÒA ÁN QUỐC TẾ ?
(08/7/14)
147. CON DAO HAI LƯỠI
(06/7/14)
148. CẦN NHÌN THẲNG VÀO VẤN
ĐỀ (06/7/14)
149. CHÍNH YẾU TỐ CON NGƯỜI
MỚI LÀ CÁI CỐT LÕI
MỌI
SỰ ! (05/7/14)
150. TRẦN ĐỨC THẢO : CHỨNG TÍCH CHO MỘT
GIAI ĐOẠN BI KỊCH
CỦA VIỆT NAM (04/7/14)
151. QUÁ KHỨ – HIỆN TẠI –
TƯƠNG LAI (04/7/14)
152. ĐIỀU TỆ HẠI NHẤT CỦA CHẾ
ĐỘ TOÀN TRỊ ĐỘC TÀI (04/7/14)
153. NGUYÊN TẮC PHÊ BÌNH NHÂN
VẬT CHÍNH TRỊ (04/7/14)
154. CÁI NGU HAY CÁI DẠI, VÀ CÁI KHÔN HAY
CÁI SÁNG SUỐT CỦA
GIÁO DỤC (03/7/14)
155. LUẬN ANH HÙNG : PHAN BỘI CHÂU, PHAN
CHU TRINH (01/7/14)
156. VẠN SỰ KHỞI ĐẦU HAY (30/6/14)
157. NGUỒN GỐC CỦA “BỆNH KIÊU
NGẠO CỘNG SẢN” NẾU QUẢ
CÓ THẾ !
(28/6/14)
158. ĐÓA HOA HY LẠP (28/6/14)
159. VẤN ĐỀ GIAI CẤP CÔNG
NHẤN VÀ NÔNG DÂN (25/6/14)
160. CHÍNH TRỊ VÀ LỊCH SỬ
(24/6/14)
161. NHÂN QUYỀN, CHÍNH TRỊ VÀ
LUẬT PHÁP (23/6/14)
162. Ý NGHĨA CỦA YÊU CẦU
THOÁT TRUNG VÀ SỰ CẦN THIẾT
CỦA VIỆC
PHÂN BIỆT VẤN ĐỀ XÃ HỘI VỚI CHÍNH TRỊ
(23/6/14)
163. TIÊU CHUẨN NGƯỜI LÃNH
ĐẠO (22/6/14)
164. CÓ BA ĐIỀU HỐ LỚN NHẤT
CỦA MIỀN BẮC VIỆT NAM
TRƯỚC ĐÂY (23/6/14)
165. VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
BIỂN ĐÔNG GIỮA VN-TQ
SẼ ĐI ĐẾN ĐÂU ? (21/6/14)
166. NGƯỜI CÓ TÀI VÀ NGƯỜI CÓ
HỌC (21/6/14)
167. CẦN NHÌN NGHIÊM TÚC VỀ
VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC
(21/6/14)
168. NHÂN QUYỀN (18/6/14)
169. NÓI GẦN NÓI XA KHÔNG QUA
NÓI THẬT : ĐẢNG QUYỀN
HAY CHỦ QUYỀN ? (18/6/14)
170. TRĂM NGHE KHÔNG BẰNG MỘT
THẤY ! (18/6/14)
171. KHI CHÍNH TRỊ LẤN ÁT TẤT
CẢ (18/6/14)
172. ĐỪNG ĐỂ MẤT TRÂU RỒI MỚI
RÀO CHUỒNG ! (18/6/14)
173. THỰC CHẤT HAY Ý NGHĨA
CỦA VẤN ĐỀ VIỆT NAM TRONG
HIỆN TẠI
(17/6/14)
174. DẪN ĐƯỜNG (17/6/14)
175. VỤ GIÀN KHOAN VÀ CON
NGƯỜI TQ (17/6/14)
176. QUÁI CHIÊU TRẦN ĐỨC THẢO
(17/6/14)
177. CỘNG SẢN TÀU (16/6/14)
178. LIỆU VIỆT NAM CÓ ĐUỐI LÝ
HƠN TRUNG QUỐC TRONG VIỆC
TRANH
CHẤP HIỆN NAY VỀ QUẦN ĐẢO HOÀNG SA HAY
KHÔNG ? (16/6/14)
179. CẦN NHÌN VÀO THỰC TẾ CỦA
TRUNG QUỐC (16/6/14)
180. BÀN VỀ HỒ CHÍ MINH VÀ
NGÔ ĐÌNH DIỆM (15/6/14)
181. KHÁI NIỆM SAI LẦM VỀ ĐẤU
TRANH GIAI CẤP VÀ VỀ CHUYÊN
CHÍNH VÔ SẢN CỦA CÁC MÁC (15/6/14)
182. CHÍNH KIẾN (14/6/14)
183. ĐỘC TÀI VÀ DÂN CHỦ
(14/6/14)
184. TRUNG QUỐC KIỆN AI RA
LHQ VÀ BẰNG CHỨNG SÁCH GIÁO
KHOA (13/06/2014 at 04:55)
185. PHẢN BÁC “LẬP TRƯỜNG”
NGANG BƯỚNG CỦA TRUNG QUỐC
TRONG VIỆC
HỌ TỰ NHẬN BỪA BẢI HAI QUẦN ĐẢO
186. HOÀNG SA, TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM LÀ CỦA HỌ
187. TRONG THẾ GIỚI VĂN MINH
NGÀY NAY MỌI THAM VỌNG
ĐẾ QUỐC NGÀY
XƯA CHỈ CÀNG TỎ RA HOÀN TOÀN
PHI LÝ
VÀ CẦN PHẢI CÁO CHUNG (12/06/2014 at 05:03)
188. NHÂN TỐ CON NGƯỜI (12/06/2014 at 04:15)
189. SỰ HỤT HẪNG CHÍNH TRỊ (11/06/2014 at 04:27)
190. ĐÂU LÀ LỰC LƯỢNG CỨU NƯỚC
NGÀY NAY ?
191. MƯỜI SÁU CHỮ VÀNG (VÀ BỐN
TỐT) (10/06/2014 at 23:26)
192. CŨNG NÊN NÓI TRƯỜNG HỢP
HÀ SĨ PHU VÀ TRƯỜNG HỢP
TRẦN ĐỨC THẢO
(10/06/2014 at 22:50)
193. SUY NGHĨ VỀ BÀI VIẾT CỦA
ÔNG PHẠM QUẾ DƯƠNG
194. CŨNG CẦN NÊN NÓI THÊM VỀ
Ý NGHĨA CỦA HAI KHÁI NIỆM
“THOÁT
TRUNG” VÀ “THOÁT CỘNG” HIỆN NAY
195. LÁ CỜ VÀ CHỦ NGHĨA (10/06/2014 at 01:06)
196. TỪ SỰ THÔNG MINH SẮC SẢO
CỦA ARISTOTE ĐẾN SỰ KHỜ
KHẠO,
NÔNG CẠN CỦA K. MARX (09/06/2014 at 07:28)
197. LÀM THẾ NÀO XÂY DỰNG ĐƯỢC
MỘT ĐẤT NƯỚC
LÝ TƯỞNG ? (08/06/2014 at 08:14)
198. TỪ NHO SĨ THỜI PHONG KIẾN
ĐẾN NGƯỜI TRÍ THỨC HIỆN ĐẠI
199. NÓI VỀ NGUỒN GỐC CỦA TƯ
TƯỞNG CHÍNH TRỊ
200. TƯ TƯỞNG VÀ CHÍNH TRỊ (07/06/2014 at 09:07)
201. QUỐC GIA VÀ CHÍNH TRỊ (07/06/2014 at 00:23)
202. CÁI TỆ HẠI CỦA TRUNG QUỐC
(06/06/2014 at 23:12)
203. MỸ, NGA, TRUNG QUỐC (06/06/2014 at 04:06)
204. SỰ THẬT MẤT LÒNG (06/06/2014 at 05:35)
205. TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ VÀ
TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ
206. NÓI SÂU THÊM VỀ QUAN ĐIỂM
ĐẤU TRANH GIAI CẤP CỦA
NGƯỜI CỘNG SẢN (04/06/2014 at 07:04)
207. NHẬN DIỆN LỊCH SỬ (03/06/2014 at 21:43)
208. TỪ BỨC CÔNG HÀM TỚI LỜI
PHÁT BIỂU (02/06/2014 at 01:07)
209. TRIẾT LÝ LỊCH SỬ (02/06/2014 at 22:14)
210. NÓI VỀ SỰ SÁNG SUỐT CỦA
ÔNG PHẠM VĂN ĐỒNG !
211. “LẠC QUAN CÁCH MẠNG” (30/05/2014 at 00:25)
212. CHÂN LÝ VÀ PHÁP LÝ (28/05/2014 at 03:30)
213. BA THỰC THỂ XÃ HỘI (02/06/2014 at 05:24)
214. CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ VÀ CHÍNH
TRỊ QUỐC NỘI
215. HÃY CẦN HÀNH ĐỘNG NHƯ CON NGƯỜI VIỆT
NAM VÀ ĐẤT
NƯỚC VIỆT NAM THUẦN TÚY (13/05/2014
at 22:43)
216. LÀM THẾ NÀO ĐỂ TRONG TƯƠNG LAI ĐẤT
NƯỚC TRUNG
QUỐC SẼ KHÔNG CÒN Ý ĐỒ XÂM
LĂNG ĐẤT NƯỚC VIỆT
NAM ? (12/05/2014
at 04:09)
217. TỪ HIỆN TƯỢNG CÁC MÁC ĐẾN
HIỆN TƯỢNG LÊNIN
218. SỰ KIỆN VÀ NHÂN VẬT (12/10/13)
219. MỨC VÀ VƯỢT MỨC (12/10/13)
220. TỰ DO VÀ VĂN HÓA (12/10/13)
221. TƯỚNG GIÁP VÀ Ý NGHĨA CỦA LỊCH SỬ
VIỆT NAM (12/10/13)
222. SỰ NGHIỆP VÀ CÁ NHÂN CON NGƯỜI
(12/10/13)
223. HÃY XỨNG ĐÁNG LÀ NGƯỜI VIỆT NAM THẬT
SỰ (08/10/13)
224. TỪ LÝ THUYẾT ĐẾN THỰC TẾ (08/10/13)
225. THỜI CUỘC VÀ CÁ NHÂN (08/10/13)
226. TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC (07/10/13)
227. TẤT CẢ CHÚNG TA ĐỀU LÀ NGƯỜI VIỆT
HÔM NAY (07/10/13)
228. VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC (07/10/13)
229. TRÍ THỨC CẦN PHẢI CÓ TIẾNG NÓI CHUNG
(07/10/13)
230. LUẬN ANH HÙNG (05/10/13)
231. CHỦ NGHĨA VÀ QUAN ĐIỂM (05/10/13)
232. TƯ HỮU VÀ CÔNG HỮU (05/10/13)
233. XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ NỀN CỘNG HÒA
(03/10/13)
234. SỞ HỮU VÀ TỰ DO (03/10/13)
235. KINH TẾ NHÀ NƯỚC, KINH TẾ TẬP THỂ,
KINH TẾ TƯ NHÂN,
XÃ HỘI DÂN SỰ (03/10/13)
236. THAM NHŨNG : SỰ KIỆN VÀ NGUYÊN TẮC
(28/09/2013)
237. SUY NGHĨ VỀ HỒ CHÍ MINH (26/9/13)
238. CÁI SAI CÁI ĐÚNG TRONG XÃ HỘI
(25/9/13)
239. RÁC RƯỞI (24/9/13)
240. CHÍNH TRỊ VÀ HIẾN PHÁP (24/9/13)
241. TÍNH NGHỊCH LÝ TRONG CUỘC ĐỜI
(23/9/13)
242. CHÍNH QUYỀN VÀ SỰ SỤP ĐỔ (23/9/13)
243. ĐẠO VÀ ĐỜI (23/9/13)
244. TRUYỀN THÔNG : CHÂN VÀ GIẢ (23/9/13)
245. CHÚA VÀ PHẬT (23/9/13)
246. NGƯỜI TRÍ THỨC ĐÚNG NGHĨA (23/9/13)
247. NHÌN NGƯỜI BIẾT TA (19/09/2013)
248. CHỐNG NHAU VÀ KHÔNG CHỐNG NHAU
(19/9/13)
249. CẢM TÍNH VÀ LÝ TÍNH (18/9/13)
250. QUỐC TẾ CỘNG SẢN : TỪ KHÔNG TƯỞNG
ĐẾN NGÂY THƠ
(17/9/13)
251. CHÂN LÝ VÀ SỰ HAM MUỐN (17/9/13)
252. NGƯỜI
LÀM VIỆC NƯỚC VÀ SỰ THẤU HIỂU Ý DÂN (16/09/2013)
253. CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI (16/09/2013)
254. SỰ KHÁCH QUAN VÀ LUẬT PHÁP
(16/09/2013)
255. THAY VÌ (16/09/2013)
256. ĐẤT ĐAI VÀ TÀI SẢN (14/09/2013)
257. ĐIỀU GÌ NGƯỜI DÂN VÀ ĐẤT NƯỚC VN CẦN
NHẤT NGÀY NAY
(11/09/2013)
258. CÁI HỐ CỦA NHỮNG DANH TỪ
(09/09/2013)
259. CHÍNH TRỊ VÀ LỊCH SỬ (08/09/2013)
260. LÀM THUÊ VÀ LÀM CHỦ (07/09/2013)
261. ĐƯỜNG BIÊN GIỚI QUỐC GIA
(07/09/2013)
262. TRÁI BÓNG KINH TẾ (06/09/2013)
263. KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ (06/09/2013)
264. CON NGƯỜI VÀ CHỦ NGHĨA (06/09/2013)
265. NĂM ĐIỀU QUÝ NHẤT NƠI CON NGƯỜI
(06/09/2013)
266. DANH CHÍNH NGÔN THUẬN (04/09/2013)
267. CHÍNH TRỊ VÀ NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU
HIỆN NAY (03/09/2013)
268. ĐƯỢC VÀ MẤT (03/09/2013)
269. HIẾN PHÁP VÀ MỘT ĐẤT NƯỚC
(02/09/2013)
270. NÓI
VỀ VẤN ĐỀ ĐA NGUYÊN ĐA ĐẢNG TRONG XÃ HỘI NƯỚC
TA NGÀY
NAY (02/09/2013)
271. CHÍNH BẢN CHẤT CON NGƯỜI QUYẾT ĐỊNH
TẤT CẢ
(02/09/2013)
272. CƠ SỞ TỰ NHIÊN VÀ KHÁCH QUAN CỦA
NIỀM TIN : LÒNG YÊU
NƯỚC TRONG SÁNG THẬT SỰ
(30/8/13)
273. SỰ KIỆN VÀ CON NGƯỜI (28/8/13)
274. NGƯỜI VIỆT NAM NÊN NHÌN ĐÚNG VỀ LỊCH
SỬ VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ CẬN VÀ HIỆN ĐẠI (26/8/13)
275. NÓI
VỀ CON ĐƯỜNG RA CHO XÃ HỘI, ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM
NGÀY NAY (26/8/13)
276. NÓI LẠI Ý NIỆM “ĐấU TRANH GIAI CẤP” THEO QUAN ĐIỂM MÁC
XÍT CỦA NGƯỜI CỘNG SẢN (25/8/13)
277. SƠ ĐẲNG VỀ NHẬN THỨC LUẬN (24/8/13)
278. THAI NGHÉN (24/8/13)
279. TRONG VÀ NGOÀI (23/8/13)
280. BÀI TOÁN CỦA XÃ HỘI CON NGƯỜI LUÔN
LUÔN KHÓ
NẾU KHÔNG CÓ ĐƯỢC SỰ SOI
SÁNG, SỰ MINH BẠCH,
SỰ LÀNH MẠNH, VÀ SỰ TỰ DO DÂN
CHỦ THẬT SỰ ĐÚNG
NGHĨA
NHẤT (23/8/13)
281. SARTRE VÀ THẢO (22/8/13)
282. CON NGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ NHẬN THỨC CHÂN
LÝ KHÁCH QUAN
(22/8/13)
283. MỤC ĐÍCH THẬT CỦA HIẾN PHÁP, LUẬT
PHÁP (22/8/13)
284. NGHĨA VỤ, TRÁCH NHIỆM, VÀ TÍNH CÁCH CỦA NGƯỜI LÃNH
ĐẠO ĐẤT NƯỚC (22/8/13)
285. BÀN PHIẾM (22/8/13)
286. Ý NGHĨA CỦA XÃ HỘI DÂN SỰ HAY QUYỀN
DÂN CHỦ XÃ HỘI
(22/8/13)
287. NÓI
LẠI Ý NIỆM “ĐẤU TRANH GIAI CẤP” THEO QUAN ĐIỂM
MÁC XÍT CỦA NGƯỜI CỘNG SẢN (21/8/13)
288. DÂN ĐEN VÀ TRÍ THỨC (20/8/2013)
289. VẤN ĐỀ GIAI CẤP VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI (20/8/2013)
290. SỰ NGÂY THƠ HAY ẤU TRĨ CỦA TRẦN ĐỨC
THẢO (20/8/2013)
291. ÔNG LÊ HIẾU ĐẰNG VÀ VIỆC YÊU CẦU CHO
PHÉP LẬP NÊN
CÁC ĐẢNG ĐỐI LẬP VỚI ĐẢNG CỘNG
SẢN VN HIỆN TẠI
(20/8/2013)
292.
VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA CỦA TRÍ
THỨC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
(20/8/2013)
293.
NHẬN
XÉT VỀ ‘NHỮNG ĐIỀU NHỮNG ĐIỀU NÓ RÕ THÊM’
CỦA ÔNG
LÊ HIẾU ĐẰNG (20/8/2013)
294. NHỮNG
NGƯỜI ĐÃ TỪNG ĐI THEO HỌC THUYẾT MÁC
(20/8/2013)
295.
ĐẤU TRANH XÃ HỘI (19/8/2013)
296. NÓI VỀ KHÁI NIỆM “VONG THÂN” TRONG HỌC THUYẾT
MÁC (18/8/2013)
297.
VÀI NHẬN XÉT ĐỐI VỚI BÀI
VIẾT “LUẬN ĐỀ” CỦA TÁC GIẢ
NGUYỄN TÙNG
HIẾU (16/8/2013)
298. LUẬN ANH HÙNG : GIỮA CÁC ĐẤT NƯỚC
VỚI NHAU (03/7/13)
299. TẠI
SAO CHUYỆN VIỆT NAM VẪN BẾ TẮT ? (13/6/13)
300. CHÍNH QUYỀN VÀ NHÂN DÂN (30/5/13)
301. ĐỌC LẠI BẢN “ĐỀ CƯƠNG VĂN HÓA VIỆT
NAM” NĂM 1943
302. CỦA TRƯỜNG CHINH (28/5/2013)
303. NÀO VỄNH TAI LÊN MÀ NGHE ÔNG TRINH
ƠI ! (25/5/13)
304. TÍNH NGHỊCH LÝ CỦA LOÀI NGƯỜI NGÀY
NAY (24/5/13)
305. ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM VÀ VIỆC SỬ DỤNG
TÊN GỌI (20/5/13)
306. BÀN VỀ VẤN ĐỀ ĐỔI TÊN NƯỚC HIỆN
NAY (20/5/2013)
307. PHÊ PHÁN TỔNG QUAN HỌC THUYẾT GIAI
CẤP ĐẤU TRANH
CỦA MÁC (18/5/2013)
308. BẢN CHẤT DÂN CHỦ VÀ NGUYÊN TẮC DÂN
CHỦ
309. NGƯỜI VIỆT, NGƯỜI PHÁP, NGƯỜI MỸ
(17/5/13)
310. Ý NGHĨA CỦA ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP VÀ NỀN
DÂN CHỦ PHÁP TRỊ
(17/5/13)
311. PHÊ PHÁN KHÁI NIỆM “VÔ SẢN” CỦA CÁC
MÁC (14/5/13)
312. NÓI VỀ ĐẢNG PHÁI VÀ Ý NGHĨA CHÍNH
TRỊ (14/5/2013)
313. THẾ NÀO GỌI LÀ GIẢI PHÁP CHO VIỆT
NAM HIỆN NAY (14/5/13)
314. LỊCH SỬ VÀ CHÍNH TRỊ (13/5/13)
315. SỰ HÈN YẾU CỦA CON NGƯỜI (13/5/13)
316. ĐÀO CÔNG KHAI (13/5/13)
317. VÔ MINH TRONG NGHI NGỜ (13/5/13)
318. CÓ THỂ NÀO VN THƯƠNG LƯỢNG VỚI TQ
ĐƯỢC KHÔNG ?
(13/5/13)
319. VỀ YÊU CẦU TÍNH HIỆN ĐẠI VÀ TÍNH
KHOA HỌC (12/5/13)
320. TINH HOA TIẾNG VIỆT (12/5/13)
321. NGÀY XƯA NGÀY NAY (11/5/13)
322. THỰC CHẤT VỀ “QUYỀN CON NGƯỜI” LÀ GÌ
? (10/5/13)
323. CÓ GÌ ĐÂU ĐỂ PHẢI CA THÁN ĐỐI VỚI
GIỚI TRÍ THỨC CỦA
NƯỚC
NHÀ NGÀY NAY (09/5/13)
324. LÀM GÌ CÒN CÓ “CỘNG SẢN” NỮA ĐỂ MÀ
CHỐNG (09/5/13)
325. SỰ THẬT VÀ PHẢN SỰ THẬT (09/5/13)
326. SỰ NHẦM LẪN CHẾT NGƯỜI VỀ “CHỦ NGHĨA
XÃ HỘI” (08/5/13)
327. VIỆC LÃNH ĐẠO ĐẤT NƯỚC VÀ VIỆC LÀM
CÁCH MẠNG
(08/5/13)
328. NÓI VỀ TẦNG LỚP SĨ PHU NHO SĨ Ở THỜI
XƯA VÀ GIỚI TRÍ
THỨC HIỆN ĐẠI CỦA ĐẤT NƯỚC
TA NGÀY NAY (07/5/13)
329. CẦN
PHẢI HIỂU ĐÚNG Ý NGHĨA, VAI TRÒ VÀ CHỨC NĂNG CỦA
NHÀ NƯỚC
(07/5/13)
330. CẦN
SUY NGHĨ NGHIÊM TÚC VỀ CÁC MÁC (06/5/13)
331. VÀI
GÓP Ý ĐỐI VỚI MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA DỰ THẢO LUẬT
ĐẤT ĐAI (SỬA ĐỔI) TRONG NƯỚC
HIỆN NAY (06/5/13)
332. CỘNG
SẢN QUÁ KHÍCH VÀ CHỐNG CỘNG QUÁ KHÍCH
(02/5/2013)
333. TINH THẦN VÀ Ý THỨC KHÁCH QUAN, KHOA
HỌC (02/5/13)
334. CÁI
CỐT LÕI CỦA ĐẠO NHO (30/4/2013)
335. LUẬN VỀ SỰ ĐỘC TÀI (30/4/2013)
336. LUẬN
VỀ BÀI THƠ ‘KẺ SĨ’ CỦA NGUYỄN CÔNG TRỨ (25/4/13)
337. LUẬN CHƠI VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
(29/4/13)
338. TỰ
DO VÀ KHÔNG TỰ DO (25/4/13)
339. TUỔI TRẺ VÀ LÝ TƯỞNG (24/4/13)
340. Ý NGHĨA KHÁCH QUAN TỰ NHIÊN CỦA XÃ
HỘI DÂN SỰ
(24/4/13)
341. KẺ
SĨ THỜI XƯA VÀ KẺ SĨ THỜI NAY (21/4/13)
342. CA NHẠC VIỆT NAM THỜI TIỀN CHIẾN VÀ
THỜI HIỆN ĐẠI
(21/4/13)
343. PHẢI
NÓI LẠI CHO ĐÚNG (20/4/13)
344. NÓI
THÊM CHÚT ÍT VỀ KHÁI NIỆM “BÓC LỘT” TRONG QUAN
ĐIỂM CỦA
MÁC (18/4/13)
345. PHÊ
BÌNH VÀ SÁNG TẠO (17/4/13)
346. TÊN
GỌI VÀ THỰC CHẤT CỦA MỌI SỰ VẬT (16/4/13)
347. NÓI
VỀ NHỮNG ĐIỀU CỰC ĐOAN TRONG KINH TẾ VÀ XÃ HỘI
(15/4/13)
348. NÓI
VỀ CƠ CHẾ XÃ HỘI VÀ CƠ CHẾ NHÀ NƯỚC TRONG
KINH TẾ (15/4/13)
349. HỌC
THUYẾT MÁC SAI Ở ĐÂU VÀ ĐÚNG Ở ĐÂU ? (12/4/13)
350. NGƯỜI
THỨC GIẢ NHÌN VÀO THẾ GIỚI HIỆN NAY
(12/4/13)
351. TRỞ
VỀ ĐIỀU CỐT LÕI (09/4/13)
352. NHẬN
DIỆN LẪN NHAU (08/4/13)
353. KHỔNG
GIÁO CÓ LỤI TÀN HAY KHÔNG LỤI TÀN ? (08/4/13)
354. SỰ
DUY Ý CHÍ VÀ DUY KHOA HỌC (06/4/13)
355. HIẾN
PHÁP VÀ SỰ TỰ DO DÂN CHỦ THỰC SỰ (06/4/13)
356. BÀN
THÊM VỀ SỰ NGHIỆP TƯ DUY CỦA CÁC MÁC (06/4/2013)
357. PHÁT
BIỂU VỂ NỀN MÓNG DÂN CHỦ (05/4/2013)
358. CÓ NHỮNG TÊN NGU LÀM
CHÍNH TRỊ (03/4/2013)
359. KHI
TRẦN MẠNH HẢO BÀN VỀ SỰ NGỤY BIỆN CỦA
NGUYỄN TRẦN BẠT (27/9/12)
360. VỀ
Ý NGHĨA CỦA VẤN ĐỀ CỘNG SẢN HAY KHÔNG
CỘNG SẢN TẠI VIỆT NAM NGÀY
NAY (26/9/12)
361. NGÀY
XƯA VÀ NGÀY NAY CỦA XÃ HỘI CON NGƯỜI
(06/9/12)
362. CÁI
ĐẦU VÀ CÁI CUỐI (06/9/12)
363. THỬ
PHÂN TÍCH TÍNH LÔ-GÍCH VÀ TÍNH KHOA HỌC TRONG
ĐIỀU 4 CỦA HIẾN PHÁP
CHXHCNVN HIỆN THỜI (05/9/12)
364. Ý
NGHĨA CHUNG NHẤT CỦA XÃ HỘI DÂN SỰ (04/9/12)
365. NÓI
VỀ DÂN TRÍ (04/9/12)
366. NGƯỜI ANH HÙNG VÀ NGƯỜI YÊU NƯỚC (02/9/12)
367. NÓI
THÊM VỀ SỰ KIỆN HÀ SĨ PHU (01/9/12)
368. NÓI
VỀ CHÂN LÝ KHÁCH QUAN VÀ MỤC ĐÍCH CHÍNH
ĐÁNG CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI (01/9/12)
369. NÓI
THÊM VỀ PHÁP QUYỀN VÀ PHÁP TRỊ (28/8/12)
370. CHỮ
VÀ NGHĨA (27/8/12)
371. DÂN
VÀ NƯỚC (21/8/12)
372. ĐẦU
TIÊN VÀ KẾT THÚC (21/8/12)
373. VUA
KHÔNG NGAI (19/8/12)
374. BỆNH
HÁO DANH TRƠ TRẼN VÀ VÔ LÝ CỦA MỘT
“NHÀ THƠ” (19/8/12)
375. VỀ
MỐI TƯƠNG LIÊN MẬT THIẾT GIỮA CON NGƯỜI VÀ
CON NGƯỜI TRONG XÃ
HỘI (19/8/12)
376. VẤN
ĐỀ CHÍNH YẾU BAO GIỜ CŨNG CHỈ LÀ Ý NGHĨA
377. VỀ
CON NGƯỜI (19/8/12)
378. TINH HOA VÀ GIAI CẤP (17/8/12)
379. QUAN
ĐIỂM VỀ DÂN TỘC VÀ ĐẤT NƯỚC (16/8/12)
380. ĐÚNG
LÀ CÁI KHÓ Ở ĐỜI (16/8/12)
381. THẬT
VÀ GIẢ (16/8/12)
382. ÔI,
LUẬN ÁN TIẾN SĨ (15/8/12)
383. HAI
ĐIỀU NHẦM LẪN LỚN LAO CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
CHO TỚI NAY (12/8/12)
384. TẤT
CẢ ĐỀU TẠI CÁC MÁC (12/8/12)
385. THỬ
PHÁT HỌA MỘT CÁI NHÌN GIẢN ĐƠN VỀ TRUNG QUỐC
(19/7/12)
386. CÂU
CHUYỆN GIỮA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI (19/7/12)
387. KHÁCH
QUAN VÀ CHỦ QUAN (18/7/12)
388. KHÔN LÕI VÀ NGU SÂU (17/07/2012 at 03:
389. NHỮNG
CÁ NHÂN CON NGƯỜI TRONG XÃ HỘI (17/7/12)
390. THẾ
NÀO LÀ NHỮNG CON NGƯỜI ĐẤU TRANH LÝ TƯỞNG
(16/7/12)
391. KHI
MỘT ÔNG KỸ SƯ NÓI VỀ KHOA HỌC XÃ HỘI
LẪN TRIẾT HỌC (16/7/12)
392. LẠI
NÓI VỀ THƠ CỦA ÔNG NGUYỄN KHOA ĐIỀM (16/7/12)
393. NGƯỜI
THẬT, VIỆC THẬT (16/7/12)
394. ĐẠO
ĐỨC QUỐC TẾ VÀ ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI (15/7/12)
395. CON
ĐƯỜNG HỘI TỤ (15/7/12)
396. ĐÁNG
LÝ RA (15/7/12)
397. CÁI
CAO NHẤT (15/7/12)
398. NHỮNG
NGUYÊN TẮC VÀ Ý NGHĨA CƠ BẢN VỀ XÂY DỰNG
HIẾN PHÁP (14/7/12)
399. DIỄN
ĐÀN CÔNG KHAI (14/7/12)
400. LÀM
THƠ (14/7/12)
401. NIỀM
TIN VÀ NỖI SỢ (14/7/12)
402. THẾ
KÉO CO HIỆN NAY GIỮA TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM
(14/7/12)
403. CUỘC
XÂM LĂNG CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI VIỆT NAM
ĐÃ BẮT ĐẦU CÀNG NGÀY CÀNG LỘ LIỄU
VÀ CÓ VẺ NHƯ
KHÔNG CÓ MỨC
DỪNG LẠI (13/7/12)
404. THẾ
NÀO LÀ CON ĐƯỜNG VIỆT NAM ĐÍCH THỰC VÀ THIẾT
YẾU NGÀY NAY ?
(13/7/12)
405. LÀM
CHÍNH TRỊ (13/7/12)
406. CẦN
NÊN PHÂN BIỆT ĐẤT NƯỚC, QUỐC GIA, DÂN TỘC VỚI
THỂ CHẾ, CHẾ ĐỘ, NHÀ
NƯỚC (13/7/12)
407. NÓI
CHO ĐÚNG (13/7/12)
408. KHÔNG
CÓ GÌ QUÝ HƠN SỰ ĐỘC LẬP VÀ SỰ TỰ DO
(12/7/12)
409. MỘT
LÀ, HAI LÀ (12/7/12)
410. ĐỌC
BÀI VIẾT CỦA LỮ PHƯƠNG – LỊCH SỬ NHÌN LẠI
(12/7/12)
411. QUỐC
GIA VÀ NHÀ NƯỚC HAY CHÍNH PHỦ (12/7/12)
412. CHÍNH
XÁC VÀ CHƯA CHÍNH XÁC (12/7/12)
413. ĐỘC
ĐẢNG VÀ ĐA ĐẢNG (12/7/12)
414. AI
SẼ QUYẾT ĐỊNH TƯƠNG LAI CỦA VIỆT NAM ? (12/7/12)
415. VỀ
VẤN ĐỀ “CỜ ĐỎ”, “CỜ VÀNG” TẠI VIỆT NAM (12/7/12)
416. CHỈ
LÀ CHUYỆN GẶP GỠ THƯỜNG TÌNH (12/7/12)
417. THẾ
TẤT YẾU CỦA VIỆT NAM NGÀY NAY SẼ PHẢI ĐI ĐẾN
ĐÂU, ĐI
ĐẾN CÁI GÌ ? (10/7/2012)
418. VĂN
CAO VÀ QUỐC CA VIỆT NAM (09/7/2012)
419. CHUYỆN
NÀY (09/7/2012)
420. VIỆC
QUAY NGOẮT 180 ĐỘ (08/7/12)
421. THỂ
CHẾ VÀ CHẾ ĐỘ (06/7/2012)
422. CHÍNH
TRỊ LÀ GÌ ? (06/7/2012)
423. QUÂN
CHỦ VÀ DÂN CHỦ (06/7/2012)
424. NHÀ
NƯỚC LÀ AI ? (06/7/2012)
425. LẠI
NÓI VỀ Ý NGHĨA CỦA NHÂN TÀI TRONG XÃ HỘI
(05/7/12)
426. TỪ
KHẲNG ĐỊNH TỚI PHỦ ĐỊNH (05/7/12)
427. TRÁI
ĐẤT TRÒN (05/7/12)
428. LỘ
TRÌNH CON ĐƯỜNG XÂM LƯỢC CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI
VỚI VIỆT NAM
TỪ LÂU NAY (05/7/12)
429. Ý
NGHĨA THỰC CHẤT CỦA VẤN ĐỀ QUYỀN LỰC
TRONG MỘT
THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ (05/7/12)
430. “CON
ĐƯỜNG VIỆT NAM” VÀ CON ĐƯỜNG CỘNG SẢN
MÁC XÍT TRONG HOÀN CẢNH
HIỆN TẠI (04/7/12)
431. XÃ
HỘI DÂN SỰ – ĐÓ CHÍNH LÀ SỰ TỰ DO (04/7/12)
432. CẦN
XÓA BỎ MỌI SỰ HOANG TƯỞNG VỀ Ý NGHĨA CON
NGƯỜI
VÀ XÃ HỘI (03/7/12)
433. BẢN
CHẤT CỦA THƠ KHÁC VỚI HIỆN TƯỢNG CON NGƯỜI
NHÀ THƠ (03/7/12)
434. CẦN
CHÍNH XÁC HÓA Ý NIỆM VỀ THƠ (03/7/12)
435. VÔ
THẦN VÀ HỮU THẦN (01/7/12)
436. QUYỀN
LỰC XÃ HỘI (01/7/12)
437. HIẾN
PHÁP VÀ SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP (30/6/12)
438. TINH
THẦN XÃ HỘI VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI ĐÍCH THỰC
(29/6/12)
439. CON
NGƯỜI TỰ DO VÀ CON NGƯỜI TRONG HỆ THỐNG
MẠNG LƯỚI (29/6/12)
440. HOÀNG
SA VÀ CHỦ QUYỀN ĐẤT NƯỚC VN TA HIỆN NAY
(27/6/12)
441. NÓI
VỀ TRIỂN VỌNG DÂN CHỦ CỦA VIỆT NAM (26/6/12)
442. NÓI
VỀ “THẾ GIỚI THƠ CA CỦA PHẠM NGỌC THÁI”
(26/6/12)
443. ÔI,
ÔNG TIÊU DAO BẢO CỰ (25/6/12)
444. CÁI
NGỐ CỦA NHÀ THƠ TỐ HỮU (25/6/12)
445. THỰC
CHẤT VÀ Ý NGHĨA (25/6/12)
446. CÁI
HAY CỦA MỘT CON NGƯỜI (25/6/12)
447. ĐÚNG
LÀ MỘT KIỂU NÓI THEO CÁCH VUỐT ĐUÔI CON THẰN
LẰN (25/6/12)
448. XUẤT
XỨ CỦA LÒNG YÊU NƯỚC (24/6/12)
449. SỰ
GIẢI PHÓNG THỰC SỰ CỦA CON NGƯỜI NGÀY NAY
(24/6/12)
450. CON
SÂU LÀM RẦU NỒI CANH (24/6/12)
451. NÓI
VỀ ĐIỀU NỔI BẬT VÀ QUAN TRỌNG NHẤT CỦA LUẬT
BIỂN
VN HIỆN NAY (23/6/12)
452. NÓI
VỀ NHÀ THƠ TẾ HANH (23/6/12)
453. TRẦN
MẠNH HẢO VÀ NGUYỄN QUANG THIỀU (20/6/12)
454. TRONG
GIÁC ĐỘ NHÌN VỀ QUÁ KHỨ CỦA MỘT ĐẠI TÁ CÔNG
AN (18/6/12)
455. KHÁCH
QUAN VÀ CHỦ QUAN (18/6/12)
456. TÌNH
THẬT VÀ THẬT TÌNH (17/6/12)
457. SO
CỰA (17/6/12)
458. ĐỪNG
GIỠN MẶT THẾ GIAN (17/6/12)
459. BÀ
LỚN, ÔNG LỚN (17/6/12)
460. THỬ
LẠM BÀN THÊM MỘT TÍ CHÚT VỀ THƠ (17/6/12)
461. ÔI
! CHẾ LAN VIÊN ! (17/6/12)
462. NGUYÊN
LÝ KHÁCH QUAN (16/6/12)
463. VIỆC
CỦA VIỆT NAM NGÀY NAY (16/6/12)
464. HỠI
ÔI ĐÀ LINH VÀ THẾ DŨNG (15/6/12)
465. ĐẢNG,
CỦNG CỐ VÀ CHỈNH ĐỐN ĐẢNG (15/6/12)
466. CHÍNH
TRỊ VÀ SỰ TRUNG THỰC (14/6/12)
467. CON
ĐƯỜNG CỘNG SẢN (14/6/12)
468. TỘI
VÀ KHÔNG TỘI (14/6/12)
469. CON
NGƯỜI VÀ BẢN NĂNG (13/6/12)
470. KHOA
HỌC VÀ PHÁP LUẬT (12/6/12)
471. THƠ
VĂN VÀ KHÁI NIỆM “HIỆN THỰC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA”
(12/6/12)
472. THỬ
NHẬN ĐỊNH VÀ PHÊ PHÁN SƠ BỘ HỌC THUYẾT CHỦ
NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC VÀ HỌC
THUYẾT CHỦ NGHĨA
CỘNG SẢN KHOA HỌC CỦA KARL MARX (11/6/12)
473. DÂN
CHỦ VÀ QUYỀN HÀNH (11/6/12)
474. CHỦ
NGHĨA CÁ NHÂN VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI (11/6/12)
475. LUẬT
PHÁP VÀ TÍNH NHÂN VĂN HAY TÍNH VĂN HÓA
(08/6/12)
476. TỪ
CÁC MÁC ĐẾN CÁC MÁC (08/6/12)
477. DÂN
TRÍ VÀ SỰ TỰ GIÁC (08/6/12)
478. DÂN
TRÍ VÀ SỰ TỰ DO DÂN CHỦ (07/6/12)
479. VÀI
SUY NGHĨ VỀ NGƯỜI VIỆT NAM VÀ NGƯỜI CỘNG SẢN
VN
NGÀY NAY (07/6/12)
480. THAN
ÔI, THỰC CHẤT “THƠ” VIỆT NAM NGÀY NAY
(07/6/12)
481. QUYỀN
LỰC VÀ SỰ CHÍNH NGHĨA (05/6/12)
482. THỰC
CHẤT NGƯỜI VN ĐÃ CHƯA BAO GIỜ THÀNH THẬT
VỚI NHAU (04/6/12)
483. THẾ
NÀO LÀ ĐẠO ĐỨC CÁ NHÂN VÀ ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI ?
(02/6/12)
484. VỀ
BẢN CHẤT THẬT CỦA KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ
ĐÚNG
NGHĨA (02/6/12)
485. NÓI
VỀ CHÍNH Ý NGHĨA CỦA QUY LUẬT KHÁCH QUAN
(01/6/12)
486. SỰ
KHÁC NHAU GIỮA Ý NGHĨA CỦA HIẾN PHÁP DÂN CHỦ
VÀ Ý NGHĨA CỦA HIẾN PHÁP PHI
DÂN CHỦ (29/5/12)
487. DÂN
TỘC TÍNH VÀ HOÀN CẢNH XÃ HỘI (29/5/12)
488. NGHỆ
THUẬT THI CA TRONG THƠ TỐ HỮU (17/5/2012)
489. TRIẾT
HỌC KHÔNG BAO GIỜ CHẾT (17/5/2012)
490. CHỈ
CÓ BỌN TRẺ CON (15/5/12)
491. TRIẾT
HỌC LUÔN MANG TÍNH TRUNG CHUYỂN GIỮA
VĂN HÓA VÀ
KHOA HỌC (15/5/12)
492. KHOA
HỌC VÀ SỰ TỰ DO (15/5/12)
493. CÁI
NGỚ NGẨN CỦA ÔNG LỮ PHƯƠNG VỀ HỌC THUYẾT
CÁC MÁC
(14/5/12)
494. HIẾN
PHÁP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG QUANH CỦA NÓ
(12/5/12)
495. ĐIỀU
GÌ LÀ QUAN TRỌNG NHẤT (12/5/12)
496. CÓ
MỘT ĐIỀU TINH TẾ CẦN PHẢI BIẾT CỦA MỌI NGƯỜI
VIỆT
NAM HIỆN NAY (05/5/12)
497. CÓ MÁC VÀ KHÔNG CÓ MÁC (05/5/12)
498. TẠI
SAO PHẢI CHẠY TRỐN HAY KHÔNG CHẠY TRỐN (05/5/12)
499. NGUYÊN
LÝ DUY NHẤT ĐÚNG ĐẮN VÀ VĨNH CỬU CỦA
XÃ HỘI LÀ NGUYÊN LÝ TỰ DO VÀ DÂN
CHỦ : HAY
CHÂN LÝ KHÁCH QUAN VÀ ĐÚNG
NHẤT (04/5/12)
500. SỢI
CHỈ ĐỎ XUYÊN SUỐT (01/5/12)
501. SỰ
LẾU LÁO HAY TẾU TÁO CỦA LỊCH SỬ (30/4/12)
502. HÃY
NÊN CÙNG TRỞ VỀ VỚI BẢN CHẤT CỦA NGƯỜI
VIỆT NAM BẢN LAI DIỆN MỤC
(26/4/12)
503. NHẬN
DIỆN VỀ MỘT CON NGƯỜI NGHỆ SĨ (25/4/12)
504. PHÂN
TÍCH CÁC Ý NIỆM “TỔ QUỐC” VÀ “NHÂN DÂN”
CHỈ Ở TRONG MỘT ĐÔI DÒNG
CỰC NGẮN (24/4/12)
505. VỀ
Ý NGHĨA SỰ SÒNG PHẲNG TRÊN CHÍNH TRƯỜNG
CỦA CỦA ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM THỜI
HIỆN ĐẠI (23/4/12)
506. DỊCH
HAY CHUYỂN NGỮ CÁC TÁC PHẨM (23/4/12)
507. SỰ
TẬP HỢP QUẦN CHÚNG KIỂU PHI NHÂN (22/4/12)
508. CÁC
MÁC VÀ CHÍNH TRỊ (22/4/12)
509. XÃ
HỘI CON NGƯỜI VÀ CHỦ NGHĨA (21/4/12)
510. DI
SẢN CỦA CÁC MÁC (21/4/12)
511. ĐÂU
LÀ SỰ THẬT (20/4/12)
512. CHẾ
ĐỘ CẤU KẾT, CHẾ ĐỘ BẢO HỘ, VÀ CHẾ ĐỘ TỰ DO
DÂN CHỦ(20/4/12)
513. SỰ
TIẾN HÓA CỦA THỜI GIAN (20/4/12)
514. NHÀ
SƯ VÀ CHÍNH TRỊ (19/4/12)
515. CHÍNH
TRỊ VÀ SỰ NÓI DỐI (19/4/12)
516. KHÔNG
AI CÓ THỂ ĐƯA TAY CHE MÃI MẶT TRỜI (18/4/12)
517. THÂN
PHẬN HẬU THUỘC ĐỊA (17/4/12)
518. THẬT
LÀ KHÓ NÓI (16/4/12)
519. TƯ
SẢN VÀ VÔ SẢN (16/4/12)
520. THƯƠNG
THAY VIỆT NAM (16/4/12)
521. NGUYÊN
LÝ VÀ THỰC TIỂN (16/4/12)
522. CHỦ
NGHĨA MÁC (13/4/12)
523. TUYÊN
TRUYỀN VÀ LÃNH ĐẠO (13/4/12)
524. BA
HẠNG NGƯỜI TA (13/4/12)
525. THẾ
NÀO LÀ PHẦN TỬ CƠ HỘI (13/4/12)
526. BA
HÌNH THỨC DỄ THẤY NHẤT CỦA NẠN ĐỘC TÀI
(12/4/12)
527. TẠI
SAO ĐA SỐ THANH NIÊN VIỆT NAM NGÀY NAY LẠI
MẤT HƯỚNG (11/4/12)
528. PHẨM
CHẤT CẦN CÓ CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO ĐẤT NƯỚC
(11/4/12)
529. TÂM
TÌNH MỘT CHÚT ĐỈNH CÙNG LÂM VŨ (11/4/12)
530. TINH
THẦN XÃ HỘI VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI (11/4/12)
531. NGUỒN
GỐC CỦA SỰ NÓI DỐI (10/4/12)
532. BÉ
CÁI LẦM (10/4/12)
533. SÁCH
VÀ NGƯỜI (09/4/12)
534. ĐẢNG
NHỮNG NGƯỜI YÊU NƯỚC (08/4/12)
535. CHÍNH
NGHĨA CỦA VIỆT NAM HIỆN GIỜ Ở ĐÂU ? (07/4/12)
536. THƠ
VĂN VÀ THUỐC PHIỆN (07/4/12)
537. NGUYÊN
LÝ NHÂN QUẢ (07/4/12)
538. CÁC
MÁC VÀ CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN (07/4/12)
539. TRUNG
QUỐC VÀ CHỦ NGHĨA MÁC (07/4/12)
540. THƠ
VÀ NGƯỜI (05/4/12)
541. SỰ
NGHI NGỜ VÀ Ý NGHĨA KHOA HỌC (30/3/2012)
542. ĐIỀU
TỆ HẠI CỦA NGƯỜI VIỆT NAM (30/3/2012)
543. CHUYỆN
CŨ XÌ (29/3/2012)
544. ÔNG HÀ SĨ PHU THƠ NGÂY CÒN LÃO NGOAN ĐỒNG GIẢ CẦY
(27/3/2012)
545. CÁC
MÁC LÀ AI ? (25/3/2012)
546. TRUNG QUÂN ÁI QUỐC” (25/3/2012)
547. GIẢ
TỪ NGOẠI TRỊ (25/3/2012)
548. NGƯỜI
THỢ MỘC VÀ SẢN PHẨM ĐƯỢC LÀM RA (24/3/2012)
549. TÍNH
HIỆN ĐẠI VÀ HÌNH ẢNH TRONG THƠ (24/3/2012)
550. MAO,
MÁC, VÀ TÔN TRUNG SƠN (23/3/2012)
551. LÒNG
THAM CỦA CÁC TRÙM TÀI CHÁNH Ở WALL STREET
23/3/2012)
552. TIỀN
HAY TÀI CHÁNH TRONG XÃ HỘI TƯ BẢN (22/3/2012)
553. BÀN
VỀ VIỆC DỊCH SÁCH KINH ĐIỂN HIỆN TẠI Ở NƯỚC TA
(21/3/2012)
554. ĐÁNG
LẼ RA ĐÃ KHÔNG CÓ ĐIỀU NHƯ VẬY (19/3/2012)
555. TÀU
VÀ TA (19/3/2012)
556. HIẾN
PHÁP VÀ Ý NGHĨA CỦA DÂN CHỦ (21/3/2012)
557. ĐIỀU
SAI HỎNG CỐT LÕI CỦA HỌC THUYẾT CÁC MÁC
(17/03/2012)
558. TÍNH
PHỨC TẠP HAY SỰ TÍNH TẾ CỦA TIẾNG VIỆT
559. GIÁO
DỤC VÀ Ý THỨC DÂN TỘC (17/03/2012)
560. NGÔN
NGỮ VÀ HÀNH ĐỘNG (17/03/2012)
561. GẠCH
NỐI GIỮA ĐỘC QUYỀN VÀ THAM NHŨNG (12/3/12)
562. SỰ
NGỐC NGHẾCH CỦA CÁC MÁC (12/3/12)
563. XÃ
HỘI CON NGƯỜI VÀ SỰ GIẢ DỐI (11/3/12)
564. HỒI
TRƯỚC VÀ HỒI NAY (10/03/2012)
565. NHẬN
DIỆN XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI (10/03/2012)
566. CÁI
GÌ LÀ NỀN TẢNG CHO CÁI GÌ (10/03/2012)
567. SỰ
TINH HOA VÀ XÃ HỘI CON NGƯỜI (09/03/2012)
568. HAI
KHUYNH HƯỚNG NỔI BẬT (09/03/2012)
569. TRÒ
HỀ HAY KHÔNG LÀ TRÒ HỀ (09/03/2012)
570. LUẬN
ÁN KHOA HỌC VÀ NHỮNG CON NGƯỜI CỦA
CÔNG CHÚNG
(08/03/2012)
571. BẢN
CHẤT CỦA THI CA (06/03/2012)
572. MỘT
VẤN NẠN NHỎ VỀ TRƯỜNG HỢP NHÀ VĂN NHẤT LINH
(06/03/2012)
573. TIÊU
CHUẨN KHOA HỌC VÀ TIÊU CHUẨN TRIẾT HỌC
(06/03/2012)
574. VĂN
NGHỆ VÀ CHÍNH TRỊ (05/03/2012)
575. NHÂN
QUYỀN CỘNG SẢN VÀ NHÂN QUYỀN TƯ SẢN
(04/03/2012)
576. CÓ
HƠI QUÁ BỐC (04/03/2012)
577. TINH
THẦN VÀ Ý THỨC NHÂN VĂN (04/03/2012)
578. LUẬN
SỬ (04/03/2012)
579. CHỈ
CÓ BA ĐIỀU QUAN TRỌNG NHẤT NGÀY NAY (04/03/2012)
580. ĐỐI
VỚI VIỆT NAM, TRUNG QUỐC LÀ ĐÁNG SỢ
581. HAY
KHÔNG ĐÁNG SỢ ? (03/03/2012)
582. THẬT
SỰ NGỠ NGÀNG (03/03/2012)
583. ĐẢNG
CỘNG SẢN (03/03/2012)
584. CÁI
QUYẾT TÂM CỦA CÁC MÁC (03/03/2012)
585. CHÍNH
TRỊ TÔN GIÁO (01/03/2012)
586. NGƯỜI
THƯỜNG VÀ NHÂN VẬT (01/03/2012)
587. PHÉP
THỬ (01/03/2012)
588. ĐIỂM
QUA LỊCH SỬ VÀI NƯỚC VÀ THẾ GIỚI (01/03/2012)
589. SỰ
CẦN THIẾT, HAY MONG ĐỢI MỘT HIẾN PHÁP
THUÀN TÚY VIỆT NAM NGÀY
NAY (30/02/12)
590. KHIẾU
KIỆN VÀ XỬ KIỆN (29/02/12)
591. CHÍNH
ĐẢNG VÀ NHÂN DÂN (29/02/12)
592. BẢN
NĂNG HOANG DÃ TRONG CHIẾN TRANH (28/02/12)
593. CHIẾN
TRANH VÀ HÒA BÌNH (27/02/12)
594. NGƯỜI
TRUNG QUỐC VÀ NGƯỜI VIỆT NAM (27/02/12)
595. SỰ
SỢ HÃI HAY TÍNH CÁCH VÔ TRÁCH NHIỆM (25/02/12)
596. CON
NGƯỜI VÀ CÁI SỐ (25/02/12)
597. THỰC
CHẤT CỦA XÃ HỘI DÂN SỰ (23/02/12)
598. TRÍ
THỨC TỐI ĐA VÀ TRÍ THỨC TỐI THIỂU (15/02/12)
599. CỨT
VÀ KHÔNG CỨT (14/02/12)
600. TỪ
ÔNG ĐỖ HỮU CA ĐẾN ÔNG LÊ HIẾU ĐẰNG (14/02/12
601. CÁI
CỐT LÕI CỦA DÂN CHỦ VÀ ĐỘC TÀI (10/02/12)
602. NGẪM
ĐỜI MÀ NGÁN CHO ĐỜI (09/02/12)
603. TẦM
NHÌN DÀI VÀ NGẮN TRONG CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA
(09/02/12)
604. CẦN CHÍNH XÁC HÓA THÊM MỘT
CHÚT Ý NIỆM “TRÍ THỨC”
(08/02/12)
605. CẦN
NÓI THÊM VỚI LỚP TRẺ NGÀY NAY Ý NGHĨA
TỰ NHIÊN CỦA KHÁI NIỆM TRÍ THỨC
(08/02/12)
606. TỪ
SỢI CHỈ ĐỎ XUYÊN SUỐT TRONG CHỦ NGHĨA MÁC
LÊNIN ĐẾN QUYỀN LỢI VÀNG MUÔN
THUỞ VÀ DUY NHẤT
CỦA ĐẤT NƯỚC VÀ DÂN TỘC
VIỆT NAM (06/02/12)
607. CHỦ
NGHĨA MÁC LÊNIN VÀ THỜI ĐẠI NGÀY NAY (03/02/12)
608. GÓP
Ý VỚI ÔNG ĐOÀN VIẾT HOẠT (03/02/12)
609. BÀN
VỀ Ý NGHĨA CỦA CON NGƯỜI (03/02/12)
610. ĐẢNG
CŨNG CHỈ LÀ NHỮNG CÁ NHÂN CON NGƯỜI
(02/02/12)
611. TRỞ
LẠI SỰ KHÁC BIỆT HIỆN NAY TRONG QUAN ĐIỂM
CỦA ÔNG BÙI TÍN VÀ ANH NGÔ BẢO CHÂU
(02/02/12)
612. PHẢN
BIỆN CỦA PHẢN BIỆN (02/02/12)
613. HAI
THỰC THỂ CỦA CHÂN LÝ (02/02/12)
614. CẢ
HAI ĐỀU ĐÚNG (02/02/12)
615. LAO
ĐỘNG VÀ TƯ HỮU (01/02/12)
616. ĂN
KHÔNG NÓI CÓ (30/01/12)
617. TRỞ
LẠI KHÁI NIỆM PHÁP QUYỀN VÀ PHÁP TRỊ (30/01/12)
618. TỪ
NGÔ ĐÌNH DIỆM ĐẾN HỒ CHÍ MINH (30/01/12)
619. CON
NGƯỜI VÀ PHÁP LUẬT (29/01/12)
620. TRÍ
THỨC VÀ XÃ HỘI (29/01/12)
621. AI
CỨU AI (29/01/12)
622. CHÍNH
TRỊ VÀ VĂN HÓA (28/01/12)
623. VĂN
DĨ TẢI ĐẠO NHẰM PHỤC VỤ CHO MỤC TIÊU
XÃ HỘI HÓA CHÍNH TRỊ (28/01/12)
624. TRÍ
THỨC VÀ CHÍNH TRỊ (27/01/12)
625. SỰ
NGHIỆP CHÍNH TRỊ (27/01/12)
626. CHÍNH
TRỊ, KHOA HỌC, VÀ ĐẠO DỨC (27/01/12)
627. CƠ
SỞ PHÂN TÍCH VỀ KINH TẾ XÃ HỘI (26/01/12)
628. NHÂN
ĐẦU NĂM NÓI CHUYỆN LÀM BÁNH VÀ CHIA BÁNH
(24/01/12)
629. NGHỆ
THUẬT CÂU ĐỐI Ở NGOÀI THƠ VÀ Ở TRONG THƠ
(24/01/12)
630. VIỆT
VÀ HÁN (24/01/12)
631. CON
NGƯỜI, DÂN TỘC, ĐẤT NƯỚC, HAY ĐẢNG
VÀ GIAI CẤP ? (20/01/12)
632. DÂN
VÀ NƯỚC (20/01/12)
633. CÁI
LÝ KHÁCH QUAN CỦA SỰ VẬT (20/01/12)
634. KHI
CHỦ NGHĨA KHOA HỌC TIẾN LÊN (20/01/12)
635. “NGHỆ
THUẬT” THƠ CỦA TỐ HỮU (15/01/12)
636. ĐẠO
ĐỨC VÀ CHÍNH TRỊ (10/01/12)
637. CHỦ
NGHĨA CÁ NHÂN VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
(10/01/12)
638. TRAO
ĐỔI CÙNG ÔNG HOÀNG TỤY (09/01/12)
639. TRẢ
LỜI ÔNG TẬP LÀM VĂN (17/12/2011)
640. HƯ
VÀ THẬT (17/12/2011)
641. CÁ
NHÂN VÀ XÃ HỘI (08/12/11)
642. HIẾN
PHÁP VÀ TÍNH CÁCH HAY Ý NGHĨA VỀ KHOA HỌC
(08/12/11)
643. NÓI
VỀ SỰ KHỞI ĐẦU HOÀN TOÀN PHI LÔ-GÍCH CỦA HỌC
THUYẾT MÁC (29/9/11)
644. ĐỘC
TÀI VÀ DÂN TRÍ (22/9/11)
645. PHÁP
QUYỀN LÀ GÌ ? (21/9/11)
646. THAM
NHŨNG VÀ CHỐNG THAM NHŨNG (16/9/11)
647. NGUYÊN
LÝ VÀ THỰC TIỂN (16/9/11)
648. PHÊ
PHÁN VÀO CHÍNH ĐIỂM CỐT LÕI NHẤT TRONG HỌC
THUYẾT
CỦA MÁC (15/9/11)
649. NÓI
THÊM VỀ LỊCH SỬ VÀ CON NGƯỜI (13/9/11)
650.
BỘ MẶT THẬT
CỦA CON NGƯỜI VÀ CỦA XÃ HỘI
CON NGƯỜI
(13/9/11)
651. TÔI
ĐỌC BÀI VIẾT CỦA ÔNG HOÀNG LẠI GIANG (12/9/11)
652. TỪ
LÝ THUYẾT ĐẾN THỰC TẾ (12/9/11)
653. NÓI
VỀ CÁI ĐUÔI CỦA SỰ ĐỘC TÀI ĐỘC ĐOÁN XÃ HỘI
(10/9/11)
654. NÓI
THÊM MỘT CHÚT VỀ QUAN ĐIỂM HỌC THUYẾT
655. DUY
VẬT LỊCH SỬ CỦA CÁC MÁC (09/9/11)
656. VẤN
ĐỀ Ý THỨC HỆ (09/9/11)
657. NHẬN
ĐỊNH Ý NGHĨA CỐT LÕI VỀ QUAN ĐIỂM ĐẤU TRANH
GIAI CẤP TRONG XÃ HỘI CỦA HỌC
THUYẾT MÁC
(09/9/11)
658. THẾ
NÀO GỌI LÀ ĐẦU ÓC VỌNG NGOẠI CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
(03/9/11)
659. THƠ
VÀ TÀI THƠ (01/9/11)
660. HỌC
ĂN HỌC NÓI HỌC GÓI HỌC MỞ (30/08/2011)
661. CHUYỆN
NHỎ, CHUYỆN LỚN (26/8/11)
662. TÚI
KHÔN CỦA LOÀI NGƯỜI (23/8/11)
663. ỚT
NÀO MÀ ỚT CHẲNG CAY (21/8/11)
664. CHUYỆN
“RUỒI BU” (10/8/11)
665. ĐÃ
CÓ BỐN NGƯỜI KHÔNG GIỐNG AI TỪNG SINH RA
TRONG THỜI KỲ CẬN ĐẠI CỦA LỊCH
SỬ NHÂN LOẠI
(10/8/11)
666. VẺ
ĐẸP CỦA NGÔN NGỮ TIẾNG VIỆT (10/8/11)
667. TINH
THẦN XÃ HỘI VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI (06/8/11)
668. THỰC
CHẤT LỜI TUYÊN BỐ CỦA ÔNG PHẠM VĂN ĐỒNG
(23/7/11)
669. MỌI
VIỆC CHỈ DO TỪ MỘT XUẤT PHÁT ĐIỂM RẤT
NGUY HIỂM CÓ THỂ THẤY ĐƯỢC NGAY TỪ
ĐẦU (20/7/11)
670. VỀ
SỰ KIỆN PHẠM VĂN ĐỒNG (08/7/11)
671. TINH
THẦN YÊU NƯỚC VÀ TINH THẦN XÃ HỘI CỦA NHÀ CHÍ SĨ
CÁCH MẠNG
PHAN BỘI CHÂU (10/5/2011)
672. SỰ
TUYÊN TRUYỀN CHÍNH TRỊ TRONG DÂN (03/5/2011)
673. HỌC
THUYẾT MÁC THỰC CHẤT LÀ MỘT HỌC THUYẾT
QUÁI DỊ
TỪ CỔ CHỈ KIM TRONG XÃ HỘI
LOÀI NGƯỜI (30/4/2011)
674. CẢM
TÍNH, TUYÊN TRUYỀN, NIỀM TIN, VÀ QUÁN TÍNH
(28/4/2011)
675. CHÍNH
TRỊ THEO KIỂU MÁCXÍT VÀ CHÍNH TRỊ KHÔNG THEO
KIỂU
MÁCXIT (25/4/2011)
676. THẾ
NÀO LÀ TỰ DO, DÂN CHỦ ? (13/4/2011)
677. CẦN
NÓI VỀ MỘT NỀN CHÍNH TRỊ HIỆN ĐẠI (09/4/2011)
678. BÀN
VỀ THỰC CHẤT CỦA TỰ DO, DÂN CHỦ (08/4/2011)
679. CẦN
NÓI THÊM VỀ VỤ ÁN CÙ HUY HÀ VŨ (06/4/2011)
680. NÓI
VỀ CHUYỆN LĂNG VÀ XÁC ƯỚP LÊNIN (03/4/2011)
681. CHÍNH
TRỊ VÀ VĂN HÓA (02/4/2011)
682. KHÁI
NIỆM TỰ DO DÂN CHỦ VÀ Ý NGHĨA CỦA VẤN ĐỀ
Ý THỨC
HỆ (01/4/2011)
683. THẾ
NÀO LÀ THỰC CHẤT CỦA TỰ DO, DÂN CHỦ TRONG
XÃ HỘI THỰC TẾ
(31/3/2011
684. CHÍNH
TRỊ THỰC TIỂN, TỪ Ý NGHĨA CAO QUÝ ĐẾN SỰ TẦM
THƯỜNG
(28/3/2011)
685. NHÀ
THƠ, NHÀ TƯ TƯỞNG, NHÀ CHÍNH TRỊ (27/3/2011)
686. ĐIỀU
CẤU THÀNH CÁI CỐT LÕI CỦA NGƯỜI TRÍ THỨC
(26/3/2011)
687. BÀN
VỀ BẢN CHẤT ĐÍCH THỰC CỦA NGƯỜI TRÍ THỨC
(25/3/2011)
688. NHÂN
NGÀY GIỖ PHAN CHU TRINH CẦN NÓI VỀ VÀI TẬT XẤU
NGUY HIỂM CỦA NGƯỜI
VIỆT NAM (24/3/2011)
689. THỬ
NHÌN LẠI NON MỘT THẾ KỶ NGUYỆN VỌNG “KHAI DÂN
TRÍ, CHẤN DÂN KHÍ, PHỤC DÂN CHÍ,
HẬU DÂN SINH” CỦA
NHÀ CHÍ SĨ PHAN
CHÂU TRINH (23/3/2011)
690. NÓI
VỀ HIỆN TƯỢNG CHUỘNG HƯ DANH CỦA XÃ HỘI VIỆT
NAM
HIỆN NAY (23/3/2011)
691. CẦN
NÓI THÊM VỀ TRÌNH ĐỘ DÂN TRÍ (22/3/2011)
692. THẾ
NÀO LÀ MỘT NỀN GIÁO DỤC HỢP LÝ VÀ MỘT NỀN GIÁO
DỤC PHẢN HỢP LÝ (20/3/2011)
693. TÍNH
HÀO KHÍ CỦA THƠ CHÍNH TRỊ (19/3/2011)
694. CHÍNH
TRỊ, TỪ THỰC TIỂN ĐẾN LÝ THUYẾT (17/3/2011)
695. DÂN
CHỦ TỰ DO, TỪ THỰC TIỂN ĐẾN LÝ THUYẾT (16/3/2011)
696. THI
CA VÀ TƯ TƯỞNG – MỘT TRƯỜNG HỢP ĐIỂN HÌNH
TRONG TÁC PHẨM THI CA CỦA NHÀ
THƠ TỐ HỮU
(15/3/2011)
697. ĐI
TÌM KHÁI NIỆM TRÍ THỨC VIỆT NAM (14/3/2011)
698. THẾ
NÀO LÀ MỘT XÃ HỘI THEO ĐỊNH HƯỚNG KHOA HỌC,
KHÁCH
QUAN, THỰC TIỂN 13/3/2011)
699. SỰ
ĐẤU TRANH VÌ QUYỀN LỢI VÀ SỰ ĐẤU TRANH VÌ Ý THỨC
(12/3/2011)
700. LẠI
NÓI VỀ XÃ HỘI, PHÁP LUẬT VÀ CHÍNH TRỊ (11/03/2011)
701. CÁI
ĐỨC CỦA NHÀ CẦM QUYỀN (10/3/2011)
702. VỀ
VẤN ĐỀ CỜ XÍ VÀ CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ (08/03/2011)
703. THẾ
NÀO LÀ NHỮNG THÀNH PHẦN ƯU TÚ CỦA MỘT DÂN TỘC
(07/3/2011)
704. CẦN
NÓI THÊM VỀ SỰ GIÀU NGHÈO VÀ VẤN ĐỀ GIAI CẤP XÃ
HỘI (26/02/2011)
705. VÀI CẢM NGHĨ NHÂN ĐỌC “BÀI PHẬT GIÁO VIỆT NAM”
(25/02/2011)
706. NÓI
THÊM MỘT LẦN CHO DỨT KHOÁT VỀ KHÁ NIỆM “CỘNG
SẢN”
(24/02/2011)
707. NÓI
VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VÀ CON NGƯỜI
TRONG XÃ HỘI (23/02/2011)
708. THẾ
NÀO LÀ MỘT XÃ HỘI THAM NHŨNG (21/02/2011)
709. THẾ
NÀO LÀ MỘT NỀN CHÍNH TRỊ TOÀN DÂN (19/02/2011)
710. THẾ
NÀO LÀ QUẦN CHÚNG VÀ LÃNH TỤ (18/02/2011)
711. THẾ
NÀO LÀ NHỮNG CÔNG DÂN (17/02/2011)
712. TRIẾT
HỌC KHÔNG BAO GIỜ CHẾT (17/02/2011)
713. THẾ
NÀO LÀ MỘT NGƯỜI LÃNH ĐẠO ĐẤT NƯỚC (16/02/2011)
714. RỒI
LỊCH SỬ VẪN CỨ LUÔN TRÔI ĐI (15/02/2011)
715. CẦN
BÌNH LẠI MỘT BÀI THƠ ĐỂ ĐỜI CỦA NHÀ THƠ TỐ HỮU
(15/02/11)
716. CHÍNH
TRỊ NHƯ MỘT KHOA HỌC VÀ CHÍNH TRỊ NHƯ MỘT
PHẠM
TRÙ ĐẠO ĐỨC (14/02/2011)
717. NGƯỜI
TA RÚT RA ĐƯỢC ĐIỀU GÌ TỪ VIỆC TỔNG THỐNG AI
CẬP TỪ CHỨC
(13/02/2011)
718. CÂU
CHUYỆN ĐỜI THƯỜNG (11/02/2011)
719. THẾ
NÀO LÀ NHỮNG CHÍNH PHỦ THÔNG MINH (10/02/2011)
720. NÓI
THÊM VỀ Ý NGHĨA KINH TẾ, VĂN HÓA, XÃ HỘI VÀ ĐỜI
SỐNG CỦA QUAN ĐIỂM CHỦ
NGHĨA NHÂN VĂN KHOA
HỌC
(08/02/2011)
721. NÓI
SÂU THÊM VỀ CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN (04/02/2011)
722. CHO
VÀ NHẬN (02/02/2011)
723. CHỦ
NGHĨA NHÂN VĂN VÀ VẤN ĐỀ GIAI CẤP XÃ HỘI
(01/02/2011)
724. NÓI
VỀ MỘT XÃ HỘI TỰ DO, DÂN CHỦ VÀ NHÂN VĂN
(30/01/2011)
725. TƯ
SẢN – VÔ SẢN – CỘNG SẢN (27/01/2011)
726. NÓI
VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA
(25/01/2011)
727. CHỦ
NGHĨA NHÂN VĂN (23/01/2011)
728. BẢN
CHẤT CỦA XÃ HỘI DÂN CHỦ VÀ NỀN CHUYÊN CHÍNH
ĐỘC TÀI (22/01/2011)
729. BẢN
CHẤT SÂU XA CỦA CHỦ NGHĨA QUỐC TẾ VÔ SẢN
(18/01/2011)
730. ĐIỀU
CỐT LÕI CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN (16/01/2011)
731. NHÌN
LẠI QUÁ TRÌNH LỊCH SỬ TỪ MỘT XÃ HỘI NÔNG DÂN
(02/01/2011)
732. SỰ
HÈN YẾU NƠI CON NGƯỜI (07/12/2010)
733. SỰ
COI TRỌNG BẰNG CẤP, HỮU DANH VÔ THỰC (15/11/10)
734. VÀI
SUY NGHĨ NHỎ QUA BA BÀI BÁO (12/11/10)
735. THỬ PHÂN TÍCH BÀI VIẾT CỦA ÔNG LỮ PHƯƠNG (01/11/2010)
736. NÓI
VỀ SỰ ĐỒNG THUẬN TRONG XÃ HỘI (18/11/2010)
737. NÓI
VỀ SỰ YẾU KÉM, NÔNG CẠN, HAY TÍNH CHẤT ẤU TRĨ
CỦA MỘT HỌC THUYẾT
KHOA HỌC (01/5/2010)
738. Ý
NGHĨA VIỆC TỔNG KẾT VÀ ĐÁNH GIÁ VỀ LỊCH SỬ (30/4/2010)
739. Ý
THỨC XÃ HỘI VÀ “CHỦ NGHĨA XÃ HỘI” (01/4/2010)
740. MƯỜI
LỔ HỔNG NGHIÊM TRỌNG TRONG HỌC THUYẾT MÁC
(18/4/2009)
741. NÓI
VỀ BÀI VIẾT “VỀ SỰ SỢ HÃI” CỦA NGÔ BẢO CHÂU
**
No comments:
Post a Comment